CỬA VÀO BẤT TỬ 5
Tinh hoa Nikāya
CỬA VÀO BẤT TỬ 5
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Trí tuệ về tưởng: PAGEREF _Toc97023712 \h 1
I.Sự nguy hại của ảo tưởng PAGEREF _Toc97023713 \h 3
II.Sự vi tế của tưởng uẩn PAGEREF _Toc97023714 \h 6
III.Các pháp quán tưởng PAGEREF _Toc97023715 \h 8
Trí tuệ về tưởng:
Chúng ta tiếp tục bước qua phần tìm hiểu về tưởng uẩn.
Sắc tưởng: là hồi tưởng lại bóng dáng cảnh vật, người, đồ đạc, tứ đại hiện khởi trong tâm.
Thanh tưởng: là hồi tưởng lại lời nói đã được nghe, bóng dáng của âm thanh.
Hương tưởng: là hồi tưởng lại mùi hương đã từng được ngửi (mùi thơm, hôi...).
Vị tưởng: là hồi tưởng lại vị đã từng nếm (chua, cay, mặn, ngọt...).
Xúc tưởng: là hồi tưởng lại sự đụng chạm, xúc chạm, tiếp xúc.
Pháp tưởng: là hồi tưởng lại hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đã từng có, từng gặp. Bóng dáng của cảm thọ và tưởng, hành hiện khởi trong tâm chính là pháp tưởng.
Trong đó, sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng có thể chúng ta dễ hiểu. Đầu tiên, sự hồi tưởng lại hình bóng của một người đã từng gặp, một món đồ đã từng thấy, hay hồi tưởng lại một cảnh vật, một nơi đã từng đi đến thì bóng dáng về con người, món đồ, nơi chốn đó được gọi là sắc tưởng. Đây chính là Thánh trí tuệ mà Đức Phật đã chứng ngộ, vậy nên chúng ta phải nhớ thật kỹ và thực tập nhận diện sắc tưởng trong tâm. Sự hồi tưởng lại âm thanh, lời nói của một người nào đó, lời nói có thể ngọt ngào, êm ái, yêu thương, dễ chịu, có thể đắng cay chua chát, xỉ nhục, chưởi mắng, đó được gọi là thanh tưởng. Sự hồi tưởng về một mùi hương mình đã được ngửi, mùi hương từ một người đã gặp, mùi thơm từ trầm hương, nhiên liệu, gỗ quý, mùi hương từ các món ăn,... đó là hương tưởng. Thông thường, các mùi từ thức ăn có liên hệ đến các vị, cho nên, khi có sự hồi tưởng về các vị chua, cay, mặn, ngọt... được gọi là vị tưởng. Ví dụ: khi ăn me chua chấm nước tương pha đường, ớt khi ăn vào sẽ có đủ các vị chua cay mặn ngọt. Nghe đến đây là chúng ta có hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng của lưỡi…
Những từ ngữ trên tuy nghe thấy lạ nhưng thật chất chúng ta đã sử dụng từ rất nhiều từ nhỏ tới lớn và từ nhiều kiếp nhưng mình không biết tên gọi, đó là vô minh. Và Đức Thế Tôn là bậc đã chỉ ra cho chúng ta từng loại trí tuệ, từng sự thấy biết nhỏ nhiệm của các pháp. Hơn nữa, từng khía cạnh, từng góc độ, từng phương diện về thân tâm của mình đều được thấy biết một cách toàn diện, như vậy mới được gọi là Toàn Giác, Chánh Giác, Vô Thượng Giác, Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Không có phương diện, khía cạnh, góc độ nào của ngũ uẩn và không có một pháp nhỏ nào mà Đức Phật không thấy, không biết một cách viên mãn, thấu đáo, trọn vẹn, triệt để, cứu cánh, cùng cực, vì vậy Ngài được gọi là bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Riêng về phần pháp tưởng thì chúng ta cần nhận thức thật kỹ càng, vì nếu không được học, không được hướng dẫn thì dù có ngồi thiền suốt đời cũng không thể hiểu được pháp tưởng là gì. Ở đây, pháp tưởng là bóng dáng của cảm thọ, tưởng, hành hiện khởi trong tâm. Như đã ví dụ về trái me, hồi tưởng lại hình bóng trái me là sắc tưởng; vị chua, cay, mặn, ngọt của me khi chấm nước tương, ớt, đường là vị tưởng; mùi thơm của me và nước chấm là hương tưởng.... Như vậy, cảm giác, hình bóng, suy nghĩ của mình về trái me, về mùi vị của nó gọi là pháp tưởng.
Hoặc hồi tưởng về hình bóng của một người đã tiếp xúc, mình thấy họ dễ chịu, dễ thương, những suy nghĩ của mình về họ chính là pháp tưởng về con người. Tức là hồi tưởng lại hình bóng của người đó, cảm giác khi mình tiếp xúc và suy nghĩ về người đó.
Hoặc khi thấy một căn nhà đẹp ngoài đường, lúc về nhà thì hình bóng căn nhà đẹp đó hiện lên trong tâm, mình có cảm giác thích thú, khoan khoái, lạc thọ và có suy nghĩ “mong có được căn nhà như vậy”. Sự hồi tưởng lại hình bóng, cảm giác và suy nghĩ khi mình tiếp xúc với căn nhà đẹp đó chính là pháp tưởng. Chúng ta cần phân biệt rõ, khi nhìn thấy căn nhà trực tiếp, hiện hữu trước mắt, có thể đụng chạm được ngay lúc ấy thì đó là sắc pháp, sắc uẩn. Mặt khác, lúc mình đi về, không còn tiếp xúc với căn nhà đẹp đó nữa nhưng lại có hình bóng căn nhà hiện đó lên trong tâm sau khi đã nhìn thấy thì đó mới là sắc tưởng.
Cũng vậy, âm thanh khi nghe trực tiếp là thanh trần; sau khi nghe xong, hồi tưởng lại thì là thanh tưởng. Mùi hương, vị giác, xúc giác... mà chúng ta cảm nhận ngay trực tiếp gọi là hương trần, vị trần... nhưng khi chúng ta hồi tưởng lại nó thì đó mới được gọi là hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng...
Sự nguy hại của ảo tưởng
Tiếp theo Minh Thành sẽ nói về ảo tưởng, đây là thứ làm chúng ta khổ rất nhiều. Những ảo tưởng, vọng tưởng, hư tưởng, huyễn tưởng, mộng tưởng, mơ tưởng... đều là pháp duyên sanh do tiếp xúc, đưa đến cái khổ cho con người. Do mình nhìn thấy, nghe thấy con người, cảnh vật, đồ vật đó nên sau đó mình mới hồi tưởng lại, còn nếu không thấy, không nghe thì không có gì để mình hồi tưởng. Hơn nữa, có những cái tận mắt thấy, tận tai nghe nhưng đến lúc tự mình hồi tưởng thì còn bị sai lệch, huống chi những cái không thấy, không nghe mà tự suy tưởng ra thì còn sai lệch đến mức nào, đó gọi là tưởng tượng. Như vậy, tưởng uẩn gồm có mơ tưởng, vọng tưởng, ảo tưởng, tưởng tượng, huyễn tưởng, hư tưởng, điên đảo tưởng – đây là bảy danh từ chỉ ra bảy khía cạnh sai lầm, mê muội của tưởng.
Ví dụ, có một ngày chồng đi làm về trễ, gọi điện thoại không bắt máy, không liên lạc được. Bình thường là sáu giờ chiều đã đến nhà nhưng hôm nay đã chín giờ tối nhưng người chồng vẫn chưa về vì ông phải tăng ca, kẹt xe, điện thoại hết pin. Thế nhưng người vợ ở nhà đã tưởng ra biết bao cái ảo tưởng, tưởng tượng, vọng tưởng. Hoặc khi đi vào chùa, mình chào quý cô, chào quý thầy mà quý thầy, quý cô không nhìn mình thì chúng ta sẽ có rất nhiều cái tưởng, dù lúc đó thầy đang thiền quán, suy tư vấn đề gì đó hoặc đang bận việc, còn mình đứng khuất tầm nhìn nên thầy không thấy mình, nhưng mình lại tưởng ra đủ chuyện. Đối với con cái, anh em, cha mẹ, gia đình mình, nếu chúng ta sống nhiều với cái tưởng sẽ khiến mình rất đau khổ, lo lắng, bất an, dẫn đến dễ hờn giận, dễ nghi ngờ, dễ hiểu lầm, dễ ngộ nhận, dễ lầm lạc, dễ rạn nứt, dễ chia rẽ, dễ phân ly...
Cho nên, Đức Phật dạy có ba loại biết: tưởng tri, thức tri và tuệ tri.
Tưởng tri: biết theo sự tưởng tượng, cái biết này thường là sai. Chúng ta thường nói “tưởng vậy nhưng không phải vậy”, đó chính là tưởng tri, cái biết bằng những sự tưởng tượng, vọng tưởng sai trật, lầm lạc.
Thức tri: biết bằng nhận thức, kinh nghiệm, kiến thức, đây là cái biết có được nhờ sự từng trải, biết được qua sự học hỏi, hiểu biết về một vấn đề.
Tuệ tri: biết bằng trí tuệ.
Vậy, ảo tưởng làm con người khổ đau như thế nào? Người ở miệt vườn thì ao ước được sống trong nhà lầu như người thành phố; trong khi đó, người ở thành phố lại mong ước được hòa mình vào thiên nhiên, được ở nhà lá như người ở miệt vườn. Người đen mong muốn được trắng, họ nghĩ da trắng mới đẹp, cho nên vì để trắng mà họ làm đủ cách, thậm chí sinh bệnh, có người còn dẫn đến cái chết; người trắng lại mong muốn được đen vì nghĩ da đen, rám nắng mới là mạnh khỏe, mới đẹp. Người thấp thì muốn cao, mỗi ngày phải mang giày cao, có người thì chấp nhận mọi đau đớn để đi kéo chân; ngược lại, người cao quá lại muốn thấp đi. Nhà vua mong được như dân thường, sống cuộc sống tự do, tự tại, thích được thưởng thức thú thanh nhàn của một con người bình thường; trong khi đó, biết bao người dân bình thường lại ao ước được làm vua, để được hưởng thụ sung sướng, nghĩ rằng dù được làm vua một ngày rồi chết cũng được. Không chỉ vậy, có người cư sĩ thì muốn cạo trọc, trong khi có người đi tu lại muốn để tóc...
Tất cả những cái đó chính là điên đảo tưởng, là ảo tưởng, là vọng tưởng... làm cho con người cứ mãi khổ đau. Do con người không chịu an trú tại vị trí của chính mình, không tìm ra niềm vui, không biết đủ ở ngay trong địa vị, cương vị, những cái hiện hữu mình đang có. Chúng ta không biết trân trọng, không cảm nhận, không thưởng thức, không an phận, không hài lòng với những gì mình đang có, cả đời vẫn cứ mong muốn những cái mình không có, đứng núi này trông núi nọ. Đến cuối cùng, tất cả cũng chỉ là ảo tưởng, vọng tưởng, viễn tưởng, mộng tưởng, mơ tưởng, điên đảo tưởng. Và chính những cái tưởng này làm cho con người đau khổ, vì cứ tưởng rồi lại ao ước, mong chờ, hy vọng, khao khát, thèm muốn. Đức Thế Tôn gọi đó là khát ái.
Vợ chồng khi mới quen nhau thì mong ước được về chung sống cùng nhau. Thế nhưng khi về chung một nhà trong thời ngắn thì đã ngán ngẫm nhau, vì lúc sống chung thì những tật xấu của đối phương mới bắt đầu phơi bày. Tất cả cũng chỉ do lúc quen nhau chúng ta đã ảo tưởng về nhau, ảo tưởng về cuộc sống khi ở cùng nhau. Chúng ta cứ thường sống với những ảo tưởng, tưởng tượng, vọng tưởng, mà không nhìn nhận đúng sự thật về con người, món đồ, sự việc, cảnh vật. Ví dụ, nhìn cảnh vật trên núi đẹp đẽ, hùng vĩ nên thích lên đây sống nhưng lên ở rồi mới biết nơi này lúc nào cũng có chuột chạy, sâu bắn, kiến bò, đường sình trơn trợt, rắn rít vây quanh.
Sở dĩ tâm chúng ta không yên, không biết đủ, không an trụ vững chắc là bởi vì chúng ta cứ sống với những ảo tưởng, mộng mơ. Trong gia đình, với bạn bè, anh em hay với tất cả mối quan hệ khác, sở dĩ có sự hiểu lầm lẫn nhau là do chúng ta thường đi theo ảo tưởng. Khi có chuyện, chúng ta nên ngồi lại với nhau để hỏi han, tìm hiểu thấu đáo, chứ đừng chỉ nghe tin tức vỉa hè, nghe những lời thị phi, để rồi dẫn đến tưởng, sau đó hiểu lầm, ngộ nhận, mâu thuẩn, rạn nứt, chia lìa, tan vỡ, đổ nát, bạn biến thành thù, yêu biến thành hận, thương biến thành ghét… Tất cả điều này cũng là do tưởng tượng, ảo tưởng và vì cứ sống với cái ảo tưởng nên chúng ta phải chịu nhiều khổ đau.
Trong cái tưởng của mình, chúng ta tưởng nhiều về ác bất thiện pháp hay tưởng nhiều về thiện pháp? Chúng ta nghĩ tưởng nhiều về tình thương, về lòng xót xa, trắc ẩn hay nghĩ tưởng nhiều về giận ghét, buồn phiền? Chúng ta nghĩ tưởng nhiều về sự rời xa, thoát ra những ràng buộc hay nghĩ tưởng nhiều trong những thứ trói trăn, hệ lụy, đam mê? Chính những tưởng bất thiện pháp, sai lầm đã dẫn dắt mình đi vào con đường tạo nghiệp và nhận lại toàn quả báo khổ, vì cả đời mình cứ sống với những ảo tưởng tham lam, sân hận về thức ăn, cảnh vật, đồ vật, con người.
Cho nên chúng ta phải thực tập nhận ra những hình bóng trong tâm là tưởng – đây là định nghĩa ngắn gọn nhất để chúng ta thực tập nhận diện tưởng uẩn. Khi có bất kỳ hình bóng gì trong tâm thì chúng ta phải tập nhận diện nó, đó chính là sự nhận diện tưởng uẩn. Chúng ta phải nhận ra được các tổ hợp của hình bóng trong tâm và phải khẳng định nó chỉ là tưởng, không phải là mình, không phải của mình, không phải tự ngã của mình. Vì vậy, phải tập tách mình ra khỏi tưởng, đồng thời nhìn lại nó, làm chủ nó, nhiếp phục, chế ngự nó, không để nó dẫn dắt mình.
Sự vi tế của tưởng uẩn
Một người tu thiền, thực tập thiền nhiều sẽ có trạng thái tâm lặng yên, một lúc nào đó vọng tưởng sẽ mất hết, lắng dịu, tâm không còn hình bóng gì cả, không còn nói năng lầm thầm, cảm thọ cũng được yên tịnh, lắng dịu. Với những người không biết về ngũ uẩn, không nhận diện về ngũ uẩn một cách sâu sắc thì họ sẽ cho rằng trạng thái đó là tự tâm, là chân tâm của mình, là Phật tánh, là tánh biết.
Khi tu thiền, Minh Thành có kinh nghiệm là đôi khi chúng ta sẽ có những giây phút tĩnh lặng trong một thời gian dài. Lúc ấy, chúng ta nghĩ rằng mình đã đạt được điều gì đó nên sẽ khoan khoái, thích thú, thấy tâm sáng ra và hiểu ra được những công áng trong thiền tông. Tuy nhiên, khi học kinh Nikāya và đã nhận diện ngũ uẩn thì mình mới nhận ra đó chỉ là cái tưởng vi tế. Còn với người không nhận diện ngũ uẩn sâu sắc thì sẽ không thể biết đó là tưởng, đa số sẽ nghĩ đó là chân tâm, cho rằng mình đã đến chỗ rốt ráo, giữ được tâm rỗng lặng.
Có những tưởng rất là vi tế
Rất khó nhìn, khó biết trong tâm
Như nội tâm an tịnh, lặng yên,
Cảnh an tịnh trong tâm là tưởng,
Tưởng này được gọi là Pháp tưởng.
Đây chẳng qua là bầu trời không có áng mây, là trạng thái không bị những hình bóng hiện ra trong tâm, không bị những lời nói lầm thầm có ý hành của hành uẩn. Tức là hình bóng an tịnh – tưởng an tịnh; những lời nói lầm thầm an tịnh – hành uẩn an tịnh; cảm giác, cảm thọ lúc đó hoàn toàn lắng dịu, an tịnh. Khi có một cái tưởng rỗng không, an tịnh, lặng yên như vậy thì cái cảnh an tịnh ở trong tâm đó là tưởng vi tế. Tuy nhiên, chính nhờ sự tu tập có tiến bộ thì mới có được tâm lắng dịu, nhưng đây cũng chỉ là trạng thái lắng dịu của tưởng, thọ, hành. Nếu không biết đây là tưởng thì chúng ta sẽ nhầm lẫn đó là tự tâm, chân tâm, bản tâm của mình, cho rằng mình đã được giác ngộ nhưng khi đối duyên xúc cảnh thì tham, sân, si lại quay trở lại như thường. Sau này khi ngồi thiền lại nhưng mình không được yên như vậy thì luyến tiếc và mong tìm lại được trạng thái lắng dịu ban đầu.
Đây là điểm quan trọng để chúng ta nhận biết được tâm của chúng ta thâm sâu vô lượng, không dễ để hiểu được, chỉ có những bậc Thánh chứng ngộ riết ráo mới thấy biết hết được bản chất của tâm. Còn đa số phàm phu chỉ rành những cái nhỏ nhặt, chỉ để tấm đến sự sanh diệt vô thường, vay mượn tạm bợ ở bên ngoài, trong khi nội tâm của tự thân mình thì không rành, không rõ. Cho nên chúng ta bị chính nội tâm mình đánh lừa rất nhiều, lừa đau lừa đớn, lừa cay lừa đắng với những cú lừa ngoạn mục mà mình hoàn toàn không hay không biết. Và chỉ có sự thực tập ngũ uẩn giúp con người bớt mê, bớt bị lừa gạt bởi chính tâm của mình, bởi vì không ai khác, chính những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác trong tâm lừa gạt mình.
Các pháp tưởng thật là khó thấy
Ví như tâm rỗng lặng, rỗng không
Bóng dáng rỗng không, rỗng lặng này
Đây cũng được gọi là Pháp tưởng.
Bóng dáng rỗng lặng, rỗng không, bao la, rộng lớn như hư không, vô biên vô tận, không vô biên xứ. Đó là định không vô biên sứ, cũng thuộc về tưởng vi tế của tâm.
Các pháp tưởng thật là vi tế,
Dễ sai lầm nhận đó là mình
Hễ sai lầm thì phải tử sanh
Dòng sanh tử sẽ không chấm dứt.
Bởi lẽ, chúng ta nhận cái tưởng về mình trong khi cái tưởng là pháp sinh diệt, pháp vô thường, nằm trong sự dịch chuyển, thiên lưu, dời đổi, sanh diệt. Vì cho nó là mình nên mình phải chịu tử sanh, vì vậy “dòng sinh tử sẽ không chấm dứt”. Đây là điểm sâu sắc trong sự tu, vì vậy, khi thực tập theo lời dạy nguyên chất của Đức Phật thì mình phải tập nhận diện hình hài này có tính chất nó làm bằng ci gì, cấu tạo như thế nào, bản chất nó ra sao. Tập nhìn ra cảm giác như thế nào, trong đó có cái gì, vận hành ra làm sao. Tập nhìn ra hình bóng trong tâm, một cách rõ ràng, phân biệt các hình bóng thật chính xác, không để lẫn lộn, nhầm lẫn, sai lầm.
Các pháp quán tưởng
Để đối trị những cái tưởng sai lầm như ảo tưởng, mộng tưởng, vọng tưởng, huyễn tưởng thì Đức Phật đã dạy chúng ta về các pháp quán tưởng. Vì chúng ta tưởng sai, tưởng trong vô minh, tưởng trong tham ái, tưởng trong sân si, tưởng trong bản ngã, cho nên Đức Phật dạy tưởng về sự thật.
Đầu tiên, Đức Phật dạy về cửu tưởng quán, tức là quán thân này khi nằm xuống sẽ phân bầm, nứt nẻ, phân hủy, rã rời, tan nát da thịt, cuối cùng còn bộ xương nhưng rồi xương cũng rã ra thành cát bụi, thành hư không. Đức Phật dùng những tưởng của sự thật để phá đi hư tưởng của mình. Như vậy, pháp quán tưởng tức là dùng thật tưởng để phá đi hư tưởng, dùng cái chân tưởng để phá đi cái ngụy tưởng. Đây cũng là tưởng nhưng chúng ta tưởng sự thật, tưởng chân lý, tưởng về pháp, tưởng về Thánh trí tuệ. Chính cái tưởng trí tuệ này sẽ phá đi cái tưởng của u mê, tưởng của vọng.
Thứ hai, tưởng về hình bóng mình đang quỳ, chắp tay, cúi đầu, lạy xuống đất, rất khiêm tốn, khiêm nhường theo phương pháp sám hối diệt ngã. Thực tập sao cho mỗi khi nghĩ về tự thân mình thì luôn tưởng về hình bóng mình đang cúi đầu xuống, thậm chí tưởng mình đang lạy xuống, rất dễ thương, khiêm hạ. Chúng ta cũng có thể tưởng đến hình bóng bản thân đang lạy dưới chân mọi người giống như lạy Phật. Hơn nữa, không chỉ lạy Đức Phật mà mình còn lạy tất cả mọi người như cha mẹ, anh chị em, hay thậm chí là lạy những người sân hận, hủy nhục mình. Chúng ta thực tập trong tư tưởng như vậy để xóa đi sân si, bản ngã, hơn thua, cao thấp, giai cấp. Lúc nào cũng đặt mình trong hình ảnh cúi đầu, cung kính, khiêm hạ của bản thân. Đây là pháp mà bậc Thánh và Đức Phật đã dạy chúng ta, tức là dùng tưởng khiêm hạ để phá đi tưởng kiêu căng, ngạo mạn, ta đây, bản ngã.
Thứ ba, Ngài Xá Lợi Phất dạy chúng ta tưởng mình giống như nùi giẻ rách. Ngài là bậc Thánh Tăng, tướng quân của Chánh Pháp nhưng Ngài lại an trú mình trong tưởng nùi ghẻ rách, chỉ là cái để chùi chân, lau chân. Ngài đã quán tưởng như vậy nên Ngài mới thành bậc đại Thánh, bậc tướng quân của Chánh Pháp, bậc thượng thủ của Thánh chúng. Vậy nên mỗi khi bước vào nhà, thấy tấm chùi chân thì mình hãy nhớ: “Thân này giống như cái nùi ghẻ rách, tâm này nên an trú như tấm chùi chân, khăn lau nhà”. Dù ai muốn dẫm đạp, hơn thua, phải quấy thì mình cũng dễ dàng xóa bỏ, tha thứ. Để người ta chùi cho sạch, để người ta dẫm lên thì công năng, tác dụng, lợi ích, giá trị của cái nùi ghẻ mới được phát huy. Còn nếu không ai chùi, không ai dẫm lên thì tấm chùi chân không còn tác dụng, rất là uổng phí. Như vậy, chúng ta đã quán chiếu thêm được hình ảnh cái nùi ghẻ rách.
Đức Phật đã dạy rất nhiều hình ảnh hay trong pháp quán tưởng. Ngài dạy người hay sân hận phải quán từ bi. Quán từ bi là quán mình giống như một hồ nước lớn, rộng, trong xanh, sạch, mát mẻ, ngọt ngào. Xung quanh hồ là những đóa hoa sen nở rộ. Hồ nước này giúp cho mọi người được giải khát, giải nhiệt, làm cho người ta lắng dịu cơn khát giữa trưa hè. Cho nên, khi sân hận phải quán mình như hồ nước ngọt ngào, đầy tình thương từ tâm, trong mát. Đó là mình dùng cái tưởng này để hóa giải, chuyển hóa, giải phá, giải phóng, giải thoát cái tưởng kia, như vậy mới chính là sự tu tập bằng các pháp quán tưởng. Thế nên, nhờ học cách nhận diện tưởng uẩn nên chúng ta biết thêm các phương pháp quán tưởng.
Khi gặp người đến gây gỗ, mắng nhiếc, chưởi rủa mình thậm tệ thì hãy quán đây là người đang mắc phải bệnh tâm. Hơn nữa, cơn giận còn đồng nghĩa với một cơn điên ngắn, giận lên không còn bình tĩnh, việc làm và lời nói đều sai quấy, thậm chí còn phá hoại, hủy diệt. Với người đang bệnh như vậy thì mình không nên giận, không nên sân, không nên hơn thua, thay vào đó, chúng ta cần đem thuốc, hoặc dẫn họ đến bác sỹ, thầy thuốc để khám bệnh. Cần trải tình thương đối với họ, vì mình biết đây là người bệnh, đây chính là tâm bi. Chúng ta trải tình thương, xót thương cho họ, quán chiếu họ là người bệnh, là nạn nhân của cơn giận. Mình trải tình thương, trải lòng bi mẫn, trải sự tha thứ, bao dung, độ lượng lên họ.
Đức Phật ví dụ giống như mình lấy một tấm vải lụa trắng, mềm mại, đẹp đẽ phủ lên người họ từ đầu xuống chân, bao bọc họ. Cũng vậy, chúng ta lấy tình thương của mình bao bọc họ giống như đem tấm vải lụa trắng phủ lên người họ. Người ta đang bị bệnh khổ, đang bị thiêu đốt nóng bức, đang bị bệnh hoạn, đang rất cần tình thương, cần sự tha thứ, cần sự cảm thông, cần giúp đỡ, hỗ trợ. Vì vậy, chúng ta không những không giận, không sân, không những không hơn thua mà mình còn thấy xót thương, trải tâm thương đến họ, dùng một tấm lụa trắng trải lên trên họ, bao trùm lấy họ. Đó là dùng tưởng để hóa giải tưởng.
Như vậy, các hình ảnh ta đã quán tưởng là:
Chín giai đoạn của một tử thi để phá cái tưởng sai lầm về thân, dùng cái tưởng trí tuệ, tưởng chân thật để phá cái tưởng sai lầm về thân.
Quán tưởng hình ảnh mình cúi xuống, quỳ xuống một cách khiêm hạ, khiêm cung và lạy xuống để phá cái tâm bản ngã, ngạo mạn.
Quán thân này là nùi ghẻ rách, chỉ là thứ vô thường, vô ngã, bất tịnh/ Dùng cái thân này như nùi giẻ để rửa sạch những cái cấu nhiễm tham, sân, si của mình và giúp cho mọi ngưởi rửa sạch, lau sạch, chùi sạch, chà sạch.
Quán tưởng tâm mình là một hồ nước trong xanh, mát mẻ, rộng lớn, ngọt ngào, thấm đượm tình thương, có hoa sen nở rộ trong đó với một tâm từ để hóa giải tâm sân.
Quán những người đến kiếm chuyện, gây gỗ, sanh sự với mình là bệnh nhân, là người bệnh, là người cần được chăm sóc, cảm thông, chia sẻ, tha thứ và cần được đưa đến bác sỹ, thầy thuốc để khám bệnh. Cần giúp họ cho họ học pháp, cho họ gặp thầy, học đạo, không đấu đá, hơn thua với người bệnh hoạn, thần kinh, điên khùng mà nên xót thương, tha thứ, bi mẫn cho họ.
Quán tấm vải lụa trắng bao phủ, bao bọc cho người đang sân hận.
Đây là sáu cái tưởng, sáu hình ảnh của thiện pháp để giải phá tâm tham, sân, si, bản ngã, hơn thua, tranh đấu trên cuộc đời này. Chúng ta cần tập nhận diện các tưởng, phân biệt được sáu tưởng và thực tập được các tưởng để tẩy sạch những cấu nhiễm, rác bẩn, phiền não trong tâm, để có được những cái tưởng tươi mát, trong lành, hiền thiện, trí tuệ và yêu thương. Đây là pháp hành của chúng ta.
./.
CỬA VÀO BẤT TỬ 5
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Trí tuệ về tưởng: PAGEREF _Toc97023712 \h 1
I.Sự nguy hại của ảo tưởng PAGEREF _Toc97023713 \h 3
II.Sự vi tế của tưởng uẩn PAGEREF _Toc97023714 \h 6
III.Các pháp quán tưởng PAGEREF _Toc97023715 \h 8
Trí tuệ về tưởng:
Chúng ta tiếp tục bước qua phần tìm hiểu về tưởng uẩn.
Sắc tưởng: là hồi tưởng lại bóng dáng cảnh vật, người, đồ đạc, tứ đại hiện khởi trong tâm.
Thanh tưởng: là hồi tưởng lại lời nói đã được nghe, bóng dáng của âm thanh.
Hương tưởng: là hồi tưởng lại mùi hương đã từng được ngửi (mùi thơm, hôi...).
Vị tưởng: là hồi tưởng lại vị đã từng nếm (chua, cay, mặn, ngọt...).
Xúc tưởng: là hồi tưởng lại sự đụng chạm, xúc chạm, tiếp xúc.
Pháp tưởng: là hồi tưởng lại hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đã từng có, từng gặp. Bóng dáng của cảm thọ và tưởng, hành hiện khởi trong tâm chính là pháp tưởng.
Trong đó, sắc tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng có thể chúng ta dễ hiểu. Đầu tiên, sự hồi tưởng lại hình bóng của một người đã từng gặp, một món đồ đã từng thấy, hay hồi tưởng lại một cảnh vật, một nơi đã từng đi đến thì bóng dáng về con người, món đồ, nơi chốn đó được gọi là sắc tưởng. Đây chính là Thánh trí tuệ mà Đức Phật đã chứng ngộ, vậy nên chúng ta phải nhớ thật kỹ và thực tập nhận diện sắc tưởng trong tâm. Sự hồi tưởng lại âm thanh, lời nói của một người nào đó, lời nói có thể ngọt ngào, êm ái, yêu thương, dễ chịu, có thể đắng cay chua chát, xỉ nhục, chưởi mắng, đó được gọi là thanh tưởng. Sự hồi tưởng về một mùi hương mình đã được ngửi, mùi hương từ một người đã gặp, mùi thơm từ trầm hương, nhiên liệu, gỗ quý, mùi hương từ các món ăn,... đó là hương tưởng. Thông thường, các mùi từ thức ăn có liên hệ đến các vị, cho nên, khi có sự hồi tưởng về các vị chua, cay, mặn, ngọt... được gọi là vị tưởng. Ví dụ: khi ăn me chua chấm nước tương pha đường, ớt khi ăn vào sẽ có đủ các vị chua cay mặn ngọt. Nghe đến đây là chúng ta có hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng của lưỡi…
Những từ ngữ trên tuy nghe thấy lạ nhưng thật chất chúng ta đã sử dụng từ rất nhiều từ nhỏ tới lớn và từ nhiều kiếp nhưng mình không biết tên gọi, đó là vô minh. Và Đức Thế Tôn là bậc đã chỉ ra cho chúng ta từng loại trí tuệ, từng sự thấy biết nhỏ nhiệm của các pháp. Hơn nữa, từng khía cạnh, từng góc độ, từng phương diện về thân tâm của mình đều được thấy biết một cách toàn diện, như vậy mới được gọi là Toàn Giác, Chánh Giác, Vô Thượng Giác, Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác. Không có phương diện, khía cạnh, góc độ nào của ngũ uẩn và không có một pháp nhỏ nào mà Đức Phật không thấy, không biết một cách viên mãn, thấu đáo, trọn vẹn, triệt để, cứu cánh, cùng cực, vì vậy Ngài được gọi là bậc Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.
Riêng về phần pháp tưởng thì chúng ta cần nhận thức thật kỹ càng, vì nếu không được học, không được hướng dẫn thì dù có ngồi thiền suốt đời cũng không thể hiểu được pháp tưởng là gì. Ở đây, pháp tưởng là bóng dáng của cảm thọ, tưởng, hành hiện khởi trong tâm. Như đã ví dụ về trái me, hồi tưởng lại hình bóng trái me là sắc tưởng; vị chua, cay, mặn, ngọt của me khi chấm nước tương, ớt, đường là vị tưởng; mùi thơm của me và nước chấm là hương tưởng.... Như vậy, cảm giác, hình bóng, suy nghĩ của mình về trái me, về mùi vị của nó gọi là pháp tưởng.
Hoặc hồi tưởng về hình bóng của một người đã tiếp xúc, mình thấy họ dễ chịu, dễ thương, những suy nghĩ của mình về họ chính là pháp tưởng về con người. Tức là hồi tưởng lại hình bóng của người đó, cảm giác khi mình tiếp xúc và suy nghĩ về người đó.
Hoặc khi thấy một căn nhà đẹp ngoài đường, lúc về nhà thì hình bóng căn nhà đẹp đó hiện lên trong tâm, mình có cảm giác thích thú, khoan khoái, lạc thọ và có suy nghĩ “mong có được căn nhà như vậy”. Sự hồi tưởng lại hình bóng, cảm giác và suy nghĩ khi mình tiếp xúc với căn nhà đẹp đó chính là pháp tưởng. Chúng ta cần phân biệt rõ, khi nhìn thấy căn nhà trực tiếp, hiện hữu trước mắt, có thể đụng chạm được ngay lúc ấy thì đó là sắc pháp, sắc uẩn. Mặt khác, lúc mình đi về, không còn tiếp xúc với căn nhà đẹp đó nữa nhưng lại có hình bóng căn nhà hiện đó lên trong tâm sau khi đã nhìn thấy thì đó mới là sắc tưởng.
Cũng vậy, âm thanh khi nghe trực tiếp là thanh trần; sau khi nghe xong, hồi tưởng lại thì là thanh tưởng. Mùi hương, vị giác, xúc giác... mà chúng ta cảm nhận ngay trực tiếp gọi là hương trần, vị trần... nhưng khi chúng ta hồi tưởng lại nó thì đó mới được gọi là hương tưởng, vị tưởng, xúc tưởng...
Sự nguy hại của ảo tưởng
Tiếp theo Minh Thành sẽ nói về ảo tưởng, đây là thứ làm chúng ta khổ rất nhiều. Những ảo tưởng, vọng tưởng, hư tưởng, huyễn tưởng, mộng tưởng, mơ tưởng... đều là pháp duyên sanh do tiếp xúc, đưa đến cái khổ cho con người. Do mình nhìn thấy, nghe thấy con người, cảnh vật, đồ vật đó nên sau đó mình mới hồi tưởng lại, còn nếu không thấy, không nghe thì không có gì để mình hồi tưởng. Hơn nữa, có những cái tận mắt thấy, tận tai nghe nhưng đến lúc tự mình hồi tưởng thì còn bị sai lệch, huống chi những cái không thấy, không nghe mà tự suy tưởng ra thì còn sai lệch đến mức nào, đó gọi là tưởng tượng. Như vậy, tưởng uẩn gồm có mơ tưởng, vọng tưởng, ảo tưởng, tưởng tượng, huyễn tưởng, hư tưởng, điên đảo tưởng – đây là bảy danh từ chỉ ra bảy khía cạnh sai lầm, mê muội của tưởng.
Ví dụ, có một ngày chồng đi làm về trễ, gọi điện thoại không bắt máy, không liên lạc được. Bình thường là sáu giờ chiều đã đến nhà nhưng hôm nay đã chín giờ tối nhưng người chồng vẫn chưa về vì ông phải tăng ca, kẹt xe, điện thoại hết pin. Thế nhưng người vợ ở nhà đã tưởng ra biết bao cái ảo tưởng, tưởng tượng, vọng tưởng. Hoặc khi đi vào chùa, mình chào quý cô, chào quý thầy mà quý thầy, quý cô không nhìn mình thì chúng ta sẽ có rất nhiều cái tưởng, dù lúc đó thầy đang thiền quán, suy tư vấn đề gì đó hoặc đang bận việc, còn mình đứng khuất tầm nhìn nên thầy không thấy mình, nhưng mình lại tưởng ra đủ chuyện. Đối với con cái, anh em, cha mẹ, gia đình mình, nếu chúng ta sống nhiều với cái tưởng sẽ khiến mình rất đau khổ, lo lắng, bất an, dẫn đến dễ hờn giận, dễ nghi ngờ, dễ hiểu lầm, dễ ngộ nhận, dễ lầm lạc, dễ rạn nứt, dễ chia rẽ, dễ phân ly...
Cho nên, Đức Phật dạy có ba loại biết: tưởng tri, thức tri và tuệ tri.
Tưởng tri: biết theo sự tưởng tượng, cái biết này thường là sai. Chúng ta thường nói “tưởng vậy nhưng không phải vậy”, đó chính là tưởng tri, cái biết bằng những sự tưởng tượng, vọng tưởng sai trật, lầm lạc.
Thức tri: biết bằng nhận thức, kinh nghiệm, kiến thức, đây là cái biết có được nhờ sự từng trải, biết được qua sự học hỏi, hiểu biết về một vấn đề.
Tuệ tri: biết bằng trí tuệ.
Vậy, ảo tưởng làm con người khổ đau như thế nào? Người ở miệt vườn thì ao ước được sống trong nhà lầu như người thành phố; trong khi đó, người ở thành phố lại mong ước được hòa mình vào thiên nhiên, được ở nhà lá như người ở miệt vườn. Người đen mong muốn được trắng, họ nghĩ da trắng mới đẹp, cho nên vì để trắng mà họ làm đủ cách, thậm chí sinh bệnh, có người còn dẫn đến cái chết; người trắng lại mong muốn được đen vì nghĩ da đen, rám nắng mới là mạnh khỏe, mới đẹp. Người thấp thì muốn cao, mỗi ngày phải mang giày cao, có người thì chấp nhận mọi đau đớn để đi kéo chân; ngược lại, người cao quá lại muốn thấp đi. Nhà vua mong được như dân thường, sống cuộc sống tự do, tự tại, thích được thưởng thức thú thanh nhàn của một con người bình thường; trong khi đó, biết bao người dân bình thường lại ao ước được làm vua, để được hưởng thụ sung sướng, nghĩ rằng dù được làm vua một ngày rồi chết cũng được. Không chỉ vậy, có người cư sĩ thì muốn cạo trọc, trong khi có người đi tu lại muốn để tóc...
Tất cả những cái đó chính là điên đảo tưởng, là ảo tưởng, là vọng tưởng... làm cho con người cứ mãi khổ đau. Do con người không chịu an trú tại vị trí của chính mình, không tìm ra niềm vui, không biết đủ ở ngay trong địa vị, cương vị, những cái hiện hữu mình đang có. Chúng ta không biết trân trọng, không cảm nhận, không thưởng thức, không an phận, không hài lòng với những gì mình đang có, cả đời vẫn cứ mong muốn những cái mình không có, đứng núi này trông núi nọ. Đến cuối cùng, tất cả cũng chỉ là ảo tưởng, vọng tưởng, viễn tưởng, mộng tưởng, mơ tưởng, điên đảo tưởng. Và chính những cái tưởng này làm cho con người đau khổ, vì cứ tưởng rồi lại ao ước, mong chờ, hy vọng, khao khát, thèm muốn. Đức Thế Tôn gọi đó là khát ái.
Vợ chồng khi mới quen nhau thì mong ước được về chung sống cùng nhau. Thế nhưng khi về chung một nhà trong thời ngắn thì đã ngán ngẫm nhau, vì lúc sống chung thì những tật xấu của đối phương mới bắt đầu phơi bày. Tất cả cũng chỉ do lúc quen nhau chúng ta đã ảo tưởng về nhau, ảo tưởng về cuộc sống khi ở cùng nhau. Chúng ta cứ thường sống với những ảo tưởng, tưởng tượng, vọng tưởng, mà không nhìn nhận đúng sự thật về con người, món đồ, sự việc, cảnh vật. Ví dụ, nhìn cảnh vật trên núi đẹp đẽ, hùng vĩ nên thích lên đây sống nhưng lên ở rồi mới biết nơi này lúc nào cũng có chuột chạy, sâu bắn, kiến bò, đường sình trơn trợt, rắn rít vây quanh.
Sở dĩ tâm chúng ta không yên, không biết đủ, không an trụ vững chắc là bởi vì chúng ta cứ sống với những ảo tưởng, mộng mơ. Trong gia đình, với bạn bè, anh em hay với tất cả mối quan hệ khác, sở dĩ có sự hiểu lầm lẫn nhau là do chúng ta thường đi theo ảo tưởng. Khi có chuyện, chúng ta nên ngồi lại với nhau để hỏi han, tìm hiểu thấu đáo, chứ đừng chỉ nghe tin tức vỉa hè, nghe những lời thị phi, để rồi dẫn đến tưởng, sau đó hiểu lầm, ngộ nhận, mâu thuẩn, rạn nứt, chia lìa, tan vỡ, đổ nát, bạn biến thành thù, yêu biến thành hận, thương biến thành ghét… Tất cả điều này cũng là do tưởng tượng, ảo tưởng và vì cứ sống với cái ảo tưởng nên chúng ta phải chịu nhiều khổ đau.
Trong cái tưởng của mình, chúng ta tưởng nhiều về ác bất thiện pháp hay tưởng nhiều về thiện pháp? Chúng ta nghĩ tưởng nhiều về tình thương, về lòng xót xa, trắc ẩn hay nghĩ tưởng nhiều về giận ghét, buồn phiền? Chúng ta nghĩ tưởng nhiều về sự rời xa, thoát ra những ràng buộc hay nghĩ tưởng nhiều trong những thứ trói trăn, hệ lụy, đam mê? Chính những tưởng bất thiện pháp, sai lầm đã dẫn dắt mình đi vào con đường tạo nghiệp và nhận lại toàn quả báo khổ, vì cả đời mình cứ sống với những ảo tưởng tham lam, sân hận về thức ăn, cảnh vật, đồ vật, con người.
Cho nên chúng ta phải thực tập nhận ra những hình bóng trong tâm là tưởng – đây là định nghĩa ngắn gọn nhất để chúng ta thực tập nhận diện tưởng uẩn. Khi có bất kỳ hình bóng gì trong tâm thì chúng ta phải tập nhận diện nó, đó chính là sự nhận diện tưởng uẩn. Chúng ta phải nhận ra được các tổ hợp của hình bóng trong tâm và phải khẳng định nó chỉ là tưởng, không phải là mình, không phải của mình, không phải tự ngã của mình. Vì vậy, phải tập tách mình ra khỏi tưởng, đồng thời nhìn lại nó, làm chủ nó, nhiếp phục, chế ngự nó, không để nó dẫn dắt mình.
Sự vi tế của tưởng uẩn
Một người tu thiền, thực tập thiền nhiều sẽ có trạng thái tâm lặng yên, một lúc nào đó vọng tưởng sẽ mất hết, lắng dịu, tâm không còn hình bóng gì cả, không còn nói năng lầm thầm, cảm thọ cũng được yên tịnh, lắng dịu. Với những người không biết về ngũ uẩn, không nhận diện về ngũ uẩn một cách sâu sắc thì họ sẽ cho rằng trạng thái đó là tự tâm, là chân tâm của mình, là Phật tánh, là tánh biết.
Khi tu thiền, Minh Thành có kinh nghiệm là đôi khi chúng ta sẽ có những giây phút tĩnh lặng trong một thời gian dài. Lúc ấy, chúng ta nghĩ rằng mình đã đạt được điều gì đó nên sẽ khoan khoái, thích thú, thấy tâm sáng ra và hiểu ra được những công áng trong thiền tông. Tuy nhiên, khi học kinh Nikāya và đã nhận diện ngũ uẩn thì mình mới nhận ra đó chỉ là cái tưởng vi tế. Còn với người không nhận diện ngũ uẩn sâu sắc thì sẽ không thể biết đó là tưởng, đa số sẽ nghĩ đó là chân tâm, cho rằng mình đã đến chỗ rốt ráo, giữ được tâm rỗng lặng.
Có những tưởng rất là vi tế
Rất khó nhìn, khó biết trong tâm
Như nội tâm an tịnh, lặng yên,
Cảnh an tịnh trong tâm là tưởng,
Tưởng này được gọi là Pháp tưởng.
Đây chẳng qua là bầu trời không có áng mây, là trạng thái không bị những hình bóng hiện ra trong tâm, không bị những lời nói lầm thầm có ý hành của hành uẩn. Tức là hình bóng an tịnh – tưởng an tịnh; những lời nói lầm thầm an tịnh – hành uẩn an tịnh; cảm giác, cảm thọ lúc đó hoàn toàn lắng dịu, an tịnh. Khi có một cái tưởng rỗng không, an tịnh, lặng yên như vậy thì cái cảnh an tịnh ở trong tâm đó là tưởng vi tế. Tuy nhiên, chính nhờ sự tu tập có tiến bộ thì mới có được tâm lắng dịu, nhưng đây cũng chỉ là trạng thái lắng dịu của tưởng, thọ, hành. Nếu không biết đây là tưởng thì chúng ta sẽ nhầm lẫn đó là tự tâm, chân tâm, bản tâm của mình, cho rằng mình đã được giác ngộ nhưng khi đối duyên xúc cảnh thì tham, sân, si lại quay trở lại như thường. Sau này khi ngồi thiền lại nhưng mình không được yên như vậy thì luyến tiếc và mong tìm lại được trạng thái lắng dịu ban đầu.
Đây là điểm quan trọng để chúng ta nhận biết được tâm của chúng ta thâm sâu vô lượng, không dễ để hiểu được, chỉ có những bậc Thánh chứng ngộ riết ráo mới thấy biết hết được bản chất của tâm. Còn đa số phàm phu chỉ rành những cái nhỏ nhặt, chỉ để tấm đến sự sanh diệt vô thường, vay mượn tạm bợ ở bên ngoài, trong khi nội tâm của tự thân mình thì không rành, không rõ. Cho nên chúng ta bị chính nội tâm mình đánh lừa rất nhiều, lừa đau lừa đớn, lừa cay lừa đắng với những cú lừa ngoạn mục mà mình hoàn toàn không hay không biết. Và chỉ có sự thực tập ngũ uẩn giúp con người bớt mê, bớt bị lừa gạt bởi chính tâm của mình, bởi vì không ai khác, chính những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác trong tâm lừa gạt mình.
Các pháp tưởng thật là khó thấy
Ví như tâm rỗng lặng, rỗng không
Bóng dáng rỗng không, rỗng lặng này
Đây cũng được gọi là Pháp tưởng.
Bóng dáng rỗng lặng, rỗng không, bao la, rộng lớn như hư không, vô biên vô tận, không vô biên xứ. Đó là định không vô biên sứ, cũng thuộc về tưởng vi tế của tâm.
Các pháp tưởng thật là vi tế,
Dễ sai lầm nhận đó là mình
Hễ sai lầm thì phải tử sanh
Dòng sanh tử sẽ không chấm dứt.
Bởi lẽ, chúng ta nhận cái tưởng về mình trong khi cái tưởng là pháp sinh diệt, pháp vô thường, nằm trong sự dịch chuyển, thiên lưu, dời đổi, sanh diệt. Vì cho nó là mình nên mình phải chịu tử sanh, vì vậy “dòng sinh tử sẽ không chấm dứt”. Đây là điểm sâu sắc trong sự tu, vì vậy, khi thực tập theo lời dạy nguyên chất của Đức Phật thì mình phải tập nhận diện hình hài này có tính chất nó làm bằng ci gì, cấu tạo như thế nào, bản chất nó ra sao. Tập nhìn ra cảm giác như thế nào, trong đó có cái gì, vận hành ra làm sao. Tập nhìn ra hình bóng trong tâm, một cách rõ ràng, phân biệt các hình bóng thật chính xác, không để lẫn lộn, nhầm lẫn, sai lầm.
Các pháp quán tưởng
Để đối trị những cái tưởng sai lầm như ảo tưởng, mộng tưởng, vọng tưởng, huyễn tưởng thì Đức Phật đã dạy chúng ta về các pháp quán tưởng. Vì chúng ta tưởng sai, tưởng trong vô minh, tưởng trong tham ái, tưởng trong sân si, tưởng trong bản ngã, cho nên Đức Phật dạy tưởng về sự thật.
Đầu tiên, Đức Phật dạy về cửu tưởng quán, tức là quán thân này khi nằm xuống sẽ phân bầm, nứt nẻ, phân hủy, rã rời, tan nát da thịt, cuối cùng còn bộ xương nhưng rồi xương cũng rã ra thành cát bụi, thành hư không. Đức Phật dùng những tưởng của sự thật để phá đi hư tưởng của mình. Như vậy, pháp quán tưởng tức là dùng thật tưởng để phá đi hư tưởng, dùng cái chân tưởng để phá đi cái ngụy tưởng. Đây cũng là tưởng nhưng chúng ta tưởng sự thật, tưởng chân lý, tưởng về pháp, tưởng về Thánh trí tuệ. Chính cái tưởng trí tuệ này sẽ phá đi cái tưởng của u mê, tưởng của vọng.
Thứ hai, tưởng về hình bóng mình đang quỳ, chắp tay, cúi đầu, lạy xuống đất, rất khiêm tốn, khiêm nhường theo phương pháp sám hối diệt ngã. Thực tập sao cho mỗi khi nghĩ về tự thân mình thì luôn tưởng về hình bóng mình đang cúi đầu xuống, thậm chí tưởng mình đang lạy xuống, rất dễ thương, khiêm hạ. Chúng ta cũng có thể tưởng đến hình bóng bản thân đang lạy dưới chân mọi người giống như lạy Phật. Hơn nữa, không chỉ lạy Đức Phật mà mình còn lạy tất cả mọi người như cha mẹ, anh chị em, hay thậm chí là lạy những người sân hận, hủy nhục mình. Chúng ta thực tập trong tư tưởng như vậy để xóa đi sân si, bản ngã, hơn thua, cao thấp, giai cấp. Lúc nào cũng đặt mình trong hình ảnh cúi đầu, cung kính, khiêm hạ của bản thân. Đây là pháp mà bậc Thánh và Đức Phật đã dạy chúng ta, tức là dùng tưởng khiêm hạ để phá đi tưởng kiêu căng, ngạo mạn, ta đây, bản ngã.
Thứ ba, Ngài Xá Lợi Phất dạy chúng ta tưởng mình giống như nùi giẻ rách. Ngài là bậc Thánh Tăng, tướng quân của Chánh Pháp nhưng Ngài lại an trú mình trong tưởng nùi ghẻ rách, chỉ là cái để chùi chân, lau chân. Ngài đã quán tưởng như vậy nên Ngài mới thành bậc đại Thánh, bậc tướng quân của Chánh Pháp, bậc thượng thủ của Thánh chúng. Vậy nên mỗi khi bước vào nhà, thấy tấm chùi chân thì mình hãy nhớ: “Thân này giống như cái nùi ghẻ rách, tâm này nên an trú như tấm chùi chân, khăn lau nhà”. Dù ai muốn dẫm đạp, hơn thua, phải quấy thì mình cũng dễ dàng xóa bỏ, tha thứ. Để người ta chùi cho sạch, để người ta dẫm lên thì công năng, tác dụng, lợi ích, giá trị của cái nùi ghẻ mới được phát huy. Còn nếu không ai chùi, không ai dẫm lên thì tấm chùi chân không còn tác dụng, rất là uổng phí. Như vậy, chúng ta đã quán chiếu thêm được hình ảnh cái nùi ghẻ rách.
Đức Phật đã dạy rất nhiều hình ảnh hay trong pháp quán tưởng. Ngài dạy người hay sân hận phải quán từ bi. Quán từ bi là quán mình giống như một hồ nước lớn, rộng, trong xanh, sạch, mát mẻ, ngọt ngào. Xung quanh hồ là những đóa hoa sen nở rộ. Hồ nước này giúp cho mọi người được giải khát, giải nhiệt, làm cho người ta lắng dịu cơn khát giữa trưa hè. Cho nên, khi sân hận phải quán mình như hồ nước ngọt ngào, đầy tình thương từ tâm, trong mát. Đó là mình dùng cái tưởng này để hóa giải, chuyển hóa, giải phá, giải phóng, giải thoát cái tưởng kia, như vậy mới chính là sự tu tập bằng các pháp quán tưởng. Thế nên, nhờ học cách nhận diện tưởng uẩn nên chúng ta biết thêm các phương pháp quán tưởng.
Khi gặp người đến gây gỗ, mắng nhiếc, chưởi rủa mình thậm tệ thì hãy quán đây là người đang mắc phải bệnh tâm. Hơn nữa, cơn giận còn đồng nghĩa với một cơn điên ngắn, giận lên không còn bình tĩnh, việc làm và lời nói đều sai quấy, thậm chí còn phá hoại, hủy diệt. Với người đang bệnh như vậy thì mình không nên giận, không nên sân, không nên hơn thua, thay vào đó, chúng ta cần đem thuốc, hoặc dẫn họ đến bác sỹ, thầy thuốc để khám bệnh. Cần trải tình thương đối với họ, vì mình biết đây là người bệnh, đây chính là tâm bi. Chúng ta trải tình thương, xót thương cho họ, quán chiếu họ là người bệnh, là nạn nhân của cơn giận. Mình trải tình thương, trải lòng bi mẫn, trải sự tha thứ, bao dung, độ lượng lên họ.
Đức Phật ví dụ giống như mình lấy một tấm vải lụa trắng, mềm mại, đẹp đẽ phủ lên người họ từ đầu xuống chân, bao bọc họ. Cũng vậy, chúng ta lấy tình thương của mình bao bọc họ giống như đem tấm vải lụa trắng phủ lên người họ. Người ta đang bị bệnh khổ, đang bị thiêu đốt nóng bức, đang bị bệnh hoạn, đang rất cần tình thương, cần sự tha thứ, cần sự cảm thông, cần giúp đỡ, hỗ trợ. Vì vậy, chúng ta không những không giận, không sân, không những không hơn thua mà mình còn thấy xót thương, trải tâm thương đến họ, dùng một tấm lụa trắng trải lên trên họ, bao trùm lấy họ. Đó là dùng tưởng để hóa giải tưởng.
Như vậy, các hình ảnh ta đã quán tưởng là:
Chín giai đoạn của một tử thi để phá cái tưởng sai lầm về thân, dùng cái tưởng trí tuệ, tưởng chân thật để phá cái tưởng sai lầm về thân.
Quán tưởng hình ảnh mình cúi xuống, quỳ xuống một cách khiêm hạ, khiêm cung và lạy xuống để phá cái tâm bản ngã, ngạo mạn.
Quán thân này là nùi ghẻ rách, chỉ là thứ vô thường, vô ngã, bất tịnh/ Dùng cái thân này như nùi giẻ để rửa sạch những cái cấu nhiễm tham, sân, si của mình và giúp cho mọi ngưởi rửa sạch, lau sạch, chùi sạch, chà sạch.
Quán tưởng tâm mình là một hồ nước trong xanh, mát mẻ, rộng lớn, ngọt ngào, thấm đượm tình thương, có hoa sen nở rộ trong đó với một tâm từ để hóa giải tâm sân.
Quán những người đến kiếm chuyện, gây gỗ, sanh sự với mình là bệnh nhân, là người bệnh, là người cần được chăm sóc, cảm thông, chia sẻ, tha thứ và cần được đưa đến bác sỹ, thầy thuốc để khám bệnh. Cần giúp họ cho họ học pháp, cho họ gặp thầy, học đạo, không đấu đá, hơn thua với người bệnh hoạn, thần kinh, điên khùng mà nên xót thương, tha thứ, bi mẫn cho họ.
Quán tấm vải lụa trắng bao phủ, bao bọc cho người đang sân hận.
Đây là sáu cái tưởng, sáu hình ảnh của thiện pháp để giải phá tâm tham, sân, si, bản ngã, hơn thua, tranh đấu trên cuộc đời này. Chúng ta cần tập nhận diện các tưởng, phân biệt được sáu tưởng và thực tập được các tưởng để tẩy sạch những cấu nhiễm, rác bẩn, phiền não trong tâm, để có được những cái tưởng tươi mát, trong lành, hiền thiện, trí tuệ và yêu thương. Đây là pháp hành của chúng ta.
./.