Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

TẠNG KINH NIKAYA QUÝ BÁU - TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ 2 - VÔ THƯỜNG KHỔ VÔ NGÃ NGOẠI

2026-03-03 00:56:05
TẠNG KINH NIKAYA QUÝ BÁU!

TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ 2

VÔ THƯỜNG - KHỔ - VÔ NGÃ NGOẠI

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Phương châm học đạo PAGEREF _Toc89882311 \h 1

II.Vô thường, khổ, vô ngã ngoại PAGEREF _Toc89882312 \h 4

1.Vô thường ngoại PAGEREF _Toc89882313 \h 5

2.Khổ ngoại PAGEREF _Toc89882314 \h 7

III.Vô thường, khổ, vô ngã nội ở quá khứ, hiện tại và vị lai.. PAGEREF _Toc89882315 \h 13

IV.Tác ý mãnh liệt tu học PAGEREF _Toc89882316 \h 18

Phương châm học đạo

Minh Thành xin chia sẻ đôi lời về phương châm học đạo. Minh Thành từng nói, khi nghe pháp thì chúng ta không nên cầu mong những gì mới lạ, khác lạ mà mình hãy tìm cầu sự thật. Sau đây là những góc độ khác nhau trong kinh nghiệm thấy pháp của Minh Thành.

Trước tiên, chúng ta đừng sợ khó dễ, đừng tìm hợp hay không hợp, đừng tìm những thứ thường tình mà hãy tìm sự thật, có như vậy thì sự cầu pháp của chúng ta mới đạt đến pháp tánh. Cũng như bây giờ chúng ta đang tìm hiểu vào Tương Ưng Sáu Xứ, đây là pháp cứu cánh, pháp này sẽ không thuận theo tình người. Khi nghe nói vậy nếu nghĩ là “khó quá, mình không tu được” thì suy nghĩ đó là chướng ngại trong việc thể nhập tri kiến. Cho nên, đừng đặt nặng vào khó hay dễ mà điều quan trọng là bây giờ mình được nghe sự thật, được nghe những điều chưa từng nghe, được hiểu những điều chưa từng hiểu và được thấy những điều chưa từng thấy trong vô lượng vô biên kiếp vừa qua. Vì vậy, hãy tác ý hoan hỷ, khát ngưỡng, cung kính, một lòng nghe và học Thánh Pháp này. Một trong những điều phát nguyện của Thiền phái Trúc Lâm là: “Nguyện mở lòng nghe Phật dạy”, nghĩa là mỗi khi nghe phải mở hết tâm của mình ra để cho sự thật đi vào.

Cho nên, trong sự tu này chúng ta đừng sợ khó dễ, đừng tìm pháp nào thích hoặc không thích và cũng đừng tìm những tình cảm thường tình, thương ghét, mặn lạt của mọi người trong đạo tràng. Thay vào đó, hãy đặt tâm đứng hướng vào việc“tìm cầu sự thật” thì chúng ta sẽ đạt được pháp tánh, tức là đạt được bản chất của pháp. Còn nếu đặt tâm sai hướng thì đầu sẽ tìm cái mới lạ; thứ hai sẽ tìm cái khó dễ; thứ ba sẽ tìm cái ưa hoặc không ưa, hợp hoặc không hợp; thứ tư sẽ tìm những tình cảm thường tình của thế gian… như vậy thì vĩnh viễn và mãi mãi không thể nào học được pháp tánh. Tức là không học được sự thật cứu cánh của pháp, hoặc nếu học được thì chỉ là học được nhân thiên pháp, học những thiện pháp thông thường của thế gian.

Đó là những thấy biết, những kinh nghiệm mà Minh Thành đã trải qua trong quá trình cầu đạo của bản thân. Khi đi cầu pháp, học đạo, nghe giáo lý thì chúng ta phải gạt qua mọi thứ và điều duy nhất chỉ là tìm cầu sự thật, như vậy mình sẽ học được pháp tánh, học được bản chất, bản tánh của pháp, học được thực tính của pháp và học đến tận cùng của pháp. Nói chung, Tạng kinh Nikāya không thuận theo tình người mà chỉ học theo chân lý. Khi thuyết pháp thì Đức Phật sẽ giảng theo căn cơ, hoàn cảnh, nhân duyên của người nghe. Riêng phần Tương Ưng Sáu Xứ chúng ta đang học thuần túy là khế lý chứ không có khế cơ, nghĩa là phần này chỉ nói về sự thật rốt ráo.

Vì vậy, chúng ta phải cố gắng lắng nghe, cảm nhận và ghi nhớ. Mọi người đừng nghĩ khó quá, làm không được nên không nghe mà những sự thật này sẽ giúp chúng ta định hướng cho sự thấy biết được chân chánh. Chính sự thấy biết này giúp chúng ta bào mòn cái nhìn sai lầm, thói quen xấu dở và chiều hướng vô thường, tham ái, chấp thủ sẽ đượ c sự thấy biết này soi rọi dần dần. Ở đây, Minh Thành dùng từ “dần dần”, quý vị cần nhớ kỹ từ này, nghĩa là chúng ta đừng gấp gáp mau tu chứng, mà trước hết hãy tu tập, huân tu chánh kiến, nghe và quán chiếu sự thật thì sẽ thấm dần dần. Nhờ đó có công năng gội rửa, tẩy sạch, nhiếp phục, hóa giải và đi đến chỗ đoạn tận mọi rác bẩn. Khi đã có cái thấy biết thấu đáo, trọn vẹn thì tự động trong cái thấy biết đó có một động lực đưa mình về phía trước. Đây là những điều rất quan trọng trong sự học đạo của chúng ta.

Hơn nữa, mỗi một lần nghe pháp là mỗi một lần chúng ta được nhắc nhở, được đồ đậm, được tô vẽ thêm trí tuệ. Vì vậy, mỗi một thời pháp là mỗi một thời văn huệ và tư tuệ. Ngay tại chỗ ngồi nghe pháp cũng là lúc tu tuệ nếu chúng ta khéo léo tác ý, quán chiếu, tẩy sạch những cảm thọ, suy nghĩ, hình bóng ác, bất thiện pháp, chống đối sự thật trong tâm, như vậy, lúc đó có đầy đủ cả văn – tư –tu tuệ. Sau khi lấy được vốn Thánh trí tuệ, thấy được sự thật của Đức Phật trong mỗi bài pháp thì chúng ta chất chứa, gom góp, tích tập, tích lũy, tích trữ và dần dần cái thấy biết về sự thật của mình được lớn mạnh, đầy đủ, sung mãn, lúc đó là lúc mình có sức mạnh để bức phá, đột phá, phá diệt, đoạn tận các lậu hoặc, phiền não.

Cho nên, điều đầu tiên Minh Thành mong muốn là tất cả chúng ta đều kiên trì trong sự học pháp, đây là bước rất quan trọng, nếu bước này không có thì những điều phía sau không thành tựu được. Đức Phật thường dùng từ “Đa văn Thánh đệ tử” vì từ này hết sức quan trọng, nói lên khẩu quyết của người tu, vì “đa văn” nghĩa là nghe nhiều, mà là nghe nhiều Nikāya. Chỉ một từ này nhưng hàm chứa trong đó cả một khẩu quyết, bí quyết, bí pháp, yếu pháp, yếu nghĩa bên trong. Tại sao Đức Phật không dùng từ nào khác như là “đa tuệ”, “đa giải thoát”, “đa giới” mà lại dùng từ “đa văn”? Từ đó chúng ta hiểu được rằng, điều quyết định thành tựu những sự nhìn nhận đúng chính là từ chỗ nghe pháp. Sau đó thì những suy nghĩ, lời nói, hành động, cách sống, sự siêng năng, sự quán xét, sự tu tập, sự định tâm của mình đều được đúng hướng. Như vậy, tất cả đều bắt đầu từ chỗ văn – tư, đa văn – đa tư, chữ “tư” này nghĩa là Chánh tư duy, là sự quán chiếu. Cho nên, người không chịu nghe kinh, không thích nghe pháp là người này không vào được cửa của sự tu tập. Ngày xưa, khi chưa vào dòng pháp Nikāya này, Minh Thành ấn định mình phải nghe pháp tám tiếng đồng hồ mỗi ngày và trong suốt mười năm không thay đổi. Cho nên, chúng ta phải cố gắng đọc, nghe và nghiền ngẫm pháp. Cứ trú vào pháp hoài như vậy thì những sự thật của pháp sẽ có công năng loại bỏ từ từ những sự giả, loại bỏ những cái nhìn sai, cái nghĩ sai về thân, tâm, đời sống và thế giới.

Thời này không giống như thời 3000 năm về trước, không phải nghe tóm tắt lời Phật dạy rồi ở tu một mình thì chứng đắc A-la-hán. Nghĩ vậy là chúng ta không thấy được mình, không thấy được ta, không thấy được thời, không thấy được thế, không thấy được tình trạng thực tế. Chúng ta phải biết ở thời đại trước là Đức Phật là một bậc như thế nào, con người lúc đó thuần thiện như thế nào, các bậc Thánh chúng hướng dẫn như thế nào, còn thời đại bây giờ như thế nào? Nói như vậy không phải là bi quan, tiêu cực mà chúng ta cần phải biết người, biết ta, biết nhìn pháp và nhìn thời thế, nhìn tập khí, nhìn hoàn cảnh xã hội bây giờ để vận dụng pháp thế nào cho tăng thượng. Trong sự tu học Chánh Pháp này, chúng ta vẫn lấy việc nghe pháp và quán chiếu, tác ý làm cương lĩnh, cùng với sự thiền định và thực hành giới pháp. Tuy nhiên, trong thời đại này, chẳng hạn khi mở khóa tu, cho đại chúng ngồi thiền im lặng một tiếng là gục lia gục lịa hết, còn khi thiền quán thì nước mắt ràn rụa, xúc động và muốn trình pháp. Cho nên, sự đa văn, nghe pháp là rất quan trọng, có những tác động mạnh vào tâm ý của mình rất nhiều. Chúng ta phải nhờ bước này trước rồi dần dần sự thấy biết của mình được sâu sắc, vững chắc thì mình mới đi vào tâm định.

Những thời pháp này là chúng ta đang học về Chánh tri kiến, từ đó giúp mình nuôi dưỡng, tăng trưởng cái thấy biết chân xác sự thật về thân xác này, tâm thức này, đời sống này và cả thế giới này. Đừng nghe xong, học xong thì thấy mình làm không nổi rồi bỏ cuộc, mà hãy nhớ đây là sự thấy biết, sự chứng ngộ của Đức Phật. Chúng ta phải lắng nghe, ghi nhớ, tự nhắc nhở mình để thấm dần dần Thánh trí tuệ và nhờ đó mới từ từ buông xả được những tập khí tham, sân, si, vô minh, khát ái của mình. Hiểu như vậy thì chúng ta mới có định hướng đúng trong sự nghe pháp, điều này giúp mình thành tựu chánh kiến trong hiện tại và tương lai.

Vô thường, khổ, vô ngã ngoại

Chúng ta tiếp tục nghe Đức Thế Tôn khai thị về sự thật trong Tương Ưng Sáu Xứ. Hôm trước, mình đã tìm hiểu phần Vô thường – Khổ - Vô ngã Nội, tức là ở bên trong và tiếp theo chúng ta tìm hiểu phần Vô thường – Khổ - Vô ngã Ngoại, tức là ở bên ngoài. Qua đó, chúng ta thấy rằng, Đức Thế Tôn nói lên tất cả những khía cạnh, góc độ về sự thật. Nghĩa là Đức Phật không nói một hướng, một chiều hay một pháp mà Ngài nói một cách đa diện, đa cạnh, đa phương để chúng ta thấy được toàn cục diện, toàn cảnh của thế giới, của thân tâm, của ngũ uẩn, của tứ đại, của căn, trần, tức, xứ, giới, uẩn này. Nhờ vậy, khi chúng ta nhìn nhận, quán chiếu thì không còn một góc nào bị bỏ sót, không còn một thứ nào làm cho mình nghĩ nó là còn hoài, là bền chắc, là đẹp đẽ, là đáng để ưa thích, là có tự ngã.

Cho nên, đầu tiên vào là Đức Phật nói về vô thường, khổ, vô ngã trong và ngoài, ở cả quá khứ, hiện tại, vị lai rồi sau đó Ngài mới nói về hộ trì căn, chứ mới vào tu Ngài không dạy phải hộ trì căn ngay. Điều này giúp chúng ta thấy được riêng Tương Ưng Sáu Xứ này là Đức Phật cho chúng ta sự thấy biết về chánh kiến trước và khi có chánh kiến, có sự thấy đúng thì sự hộ trì căn mới sâu sắc và tự nguyện. Còn không có chánh kiến thì sự hộ trì chỉ là kiếm chế, tuy nhắc mình “không nhìn” nhưng dù không nhìn bằng mắt thì cũng nhìn bằng tâm.

Có câu chuyện về một thiền sư qua đò của một cô lái đò xinh đẹp. Khi đò cập bến thì cô thu tiền thiền sư gấp đôi người bình thường. Thiền sư ngạc nhiên hỏi vì sao thì cô lái đò trả lời do thiền sư nhìn cô ấy. Thiền sư lặng lẽ trả tiền và bước lên bờ. Một hôm thiền sư lại qua sông. Lần này cô lái đòi tiền “gấp ba”. Thiền sư ngạc nhiên, hỏi vì sao. Cô trả lời là do thiền sư đã nhìn cô dưới nước. Thiền sư nín lặng trả tiền gấp ba bình thường và bước lên bờ. Vài hôm sau, thiền sư lại qua sông. Vừa bước lên đò thiền sư nhắm nghiền mắt lại đi vào thiền định. Đò cập bến cô lái đò thu tiền "gấp năm" lần. Thiền sư ngạc nhiên, hỏi vì sao. Cô lái đò nói rằng tuy mắt thiền sư không nhìn nhưng thiền sư nhìn bằng tâm. Câu chuyện này có nghĩa là dù hộ trì con mắt nhưng tâm không được hộ trì, dù mắt không nhìn nhưng tâm vẫn nhìn, tức là thọ, tưởng, hành bên trong vẫn có hình bóng của cô lái đò này.

Thế nên, đầu tiên Đức Phật nói cho chúng ta thấy trước bản tính, bản chất của các pháp, sau đó mới đến phần hộ trì và sự hộ trì lúc đó mới thật sự là hộ trì.

Vô thường ngoại

Chúng ta tìm hiểu bài kinh đầu tiên là “Vô Thường 2 Ngoại”:

-- Sắc, này các Tỷ-kheo, là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".

Các tiếng... Các hương... Các vị... Các xúc...

Các pháp là vô thường. Cái gì vô thường là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".

Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các hương, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các xúc, nhàm chán đối với các pháp. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí biết rằng: "Ta đã giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". (Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a) - Phần I. Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, I. Phẩm Vô Thường , bài kinh Vô Thường 2 Ngoại)

Đức Phật nói rằng, sắc là vô thường. Cái gì vô thường là khổ đau. Cái gì khổ đau là vô ngã. Cái gì vô ngã, không có tự ngã thì cần phải quán xét đúng sự thât với một trí tuệ chân chánh rằng những cái đó không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi.

Các âm thanh; các mùi hương; các vị; các sự tiếp xúc; các thọ, tưởng, hành bên trong là vô thường. Cái gì vô thường là khổ đau. Cái gì khổ đau là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán xét với trí tuệ chân chánh rằng những cái vô thường, khổ, vô ngã đó không phải là của tôi. Những cái biến đổi, đổi thay, chóng vánh, bất an, khổ não, khổ đau, bệnh hoại, trống rỗng, không có tự thể này không phải của tôi, không phải là tôi, không phải tự ngã của tôi.

Nhờ thấy vậy nên các vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các hương, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các xúc, nhàm chán đối với các cảm giác, hình bóng, nghĩ, tưởng trong tâm. Do nhàm chán, vị ấy lìa tham, không còn tham nữa. Do lìa tham nên vị ấy thoát ra, thoát khỏi tất cả những sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Trong sự thoát ra đó, vị này khởi lên trí tuệ, biết rõ rằng: Ta đã thật sự thoát ra khỏi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Ta đã thật sự thoát ra khỏi sáu trần, đi ra khỏi sáu đống bụi của thế gian này: đống bụi của sắc, đống bụi của âm thanh, đống bụi của những mùi hương, đống bụi của các vị, đống bụi của những sự tiếp xúc, đống bụi của những cảm giác, nghĩ, tưởng bên trong. Khi đã ra khỏi sáu trần, vị ấy biết rõ đời sống tiếp nối phía sau sẽ chấm dứt, đức hạnh cao thượng đã được viên thành, những việc nên làm đã xong, không còn trở lui về trạng thái ở trong sáu đống bụi đó nữa.

Khổ ngoại

Bài kinh thứ hai là bài kinh “Khổ 2 Ngoại”, cũng giống bài kinh trên nhưng thay chữ “vô thường” bằng chữ “khổ”:

Các sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".

Các tiếng... Các hương... Các vị... Các xúc... Các pháp là khổ. Cái gì khổ là vô ngã. Cái gì vô ngã cần phải như thật quán với chánh trí tuệ là: "Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi".

Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với các sắc, nhàm chán đối với các tiếng, nhàm chán đối với các hương, nhàm chán đối với các vị, nhàm chán đối với các xúc, nhàm chán đối với các pháp. Do nhàm chán, vị ấy ly tham. Do ly tham, vị ấy giải thoát. Trong sự giải thoát, khởi lên trí biết rằng: "Ta đã giải thoát". Vị ấy biết rõ: "Sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc nên làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa". (Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a) - Phần I. Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, I. Phẩm Vô Thường , bài kinh Khổ 2 Ngoại)

Đức Phật nói sắc chất này là khổ đau, hình sắc này là khổ đau, hình tướng này là khổ đau, hình dáng này là khổ đau, tướng mạo này là khổ đau, hình hài này là khổ đau, là bệnh tật, là lo lắng, là sợ hãi, là bất an, là đề phòng, là canh chừng, là nơm nớp, là hồi hộp. Chẳng những hình tướng đang mang này là khổ mà những thứ kề cận xung quanh, cái nào thuộc về hình tướng thì những cái đó đều mang lại khổ đau. Dù cho hình tướng đó là thù thắng, là đẹp nhất và dù hình tướng đó ở bên trong hay bên ngoài; ở quá khứ, hiện tại hay vị lai; thô hay tế… miễn là hình sắc thì đó chính là khổ.

Những lời dạy này của Đức Phật hay vô cùng hay nhưng ngày xưa đọc vào thì mình không hiểu. Minh Thành sẽ ví dụ để đại chúng chúng dễ thấy hình sắc là khổ. Chẳng hạn cái ti vi mình mới mua mấy chục triệu, mà có người lấy búa đập nó trước mặt mình; hoặc có người khiêng ti vi mà sảy tay làm rớt bể thì mình có bị hình sắc này làm khổ không? Hoặc một món đồ mình vô cùng yêu thích nhưng có người làm cháy chỉ còn lại đống tro thì có khổ không? Vậy mà ngày xưa chúng ta cứ nghĩ cái khổ nằm trong cái tâm nên mình bị khổ tâm, đó là do trí tuệ của mình không nhìn thấy được hết tất cả các pháp. Hơn nữa, đối với những món đồ nhỏ mà còn khổ sầu như thế thì đừng nói chi đến thân thể, cục vàng, đống tiền, căn nhà, miếng ruộng của mình bị ai đụng tới, vì vậy mới xảy ra chuyện anh em giành nhau mấy tấc đất mà giết nhau chết. Cho nên Đức Phật mới dạy rằng các sắc là khổ chính là như vậy.

Vì vậy, chúng ta phải hiểu chữ sắc này bao trùm trái đất, chứ sắc không phải chỉ là sắc đẹp của nữ sắc, hiểu như vậy là cái hiểu của phàm phu. Chữ sắc này bao trùm tất cả những hình hài, hình thể, hình dáng, hình tướng và bao trùm tất cả nhà cửa, xe cộ, tiền bạc, ruộng vườn, đất đai, ti vi, tủ lạnh, dây chuyền, cà rá, đôi giày, mắt kính, quần áo, túi xách hàng hiệu… Những thứ đó chính là hình sắc và hình sắc này là khổ. Trí tuệ vĩ đại như vậy thì làm sao phàm phu có thể nhìn ra được!

Bình thường mỗi ngày nhìn hàng trúc trong chùa đẹp nên rất thích, nhưng vào thất vài hôm đi ra thì hàng trúc bị người ta chặt đi hết thì lúc đó mình bị hình sắc làm khổ. Tại sao vậy? Chính vì tâm dục tham ở chỗ nào thì sự chấp thủ ở chỗ đó, mà sự chấp thủ ở chỗ nào thì khổ đau ở chỗ đó. Tại vì tâm tham ái bị buộc vào sắc nên sẽ khổ đau, còn khi thấy sắc mà không cho rằng đó là của mình thì không có khổ. Nếu bụi trúc nhà người khác bị chặt thì mình không có khổ, ti vi nhà bên cạnh bị bể thì mình cũng không khổ. Nhưng khi cho rằng những thứ đó là của mình, gắn chữ “của tôi” vào món đồ nên có tham ái, có dục tham, có sự nắm giữ, chấp thủ, sở hữu trong đó nên mình khổ.

Cho nên, các sắc là đau khổ, mà cái đau khổ đó không phải là tự ngã, không phải là thường còn, không phải là bất biến, không phải là chủ thể. Chúng ta không thể ra lệnh cho nó đừng hủy hoại, đừng bệnh tật, đừng sa sút, đừng hư hao. Các sắc đó già thì vẫn cứ già, bệnh thì vẫn cứ bệnh, hủy hoại thì cứ hủy hoại, tan nát thì cứ tan nát, vì nó hoàn toàn vô chủ, vô ngã, vô thường. Đối với cái răng mình cũng hoàn toàn không có một chút quyền nào, nó muốn rụng thì rụng. Hoặc đối với bao tử, gan, thận trong cơ thể bị bệnh thì mình cũng không thể kêu nó hết bệnh và khỏe lại được, đó chính là vô ngã, vô chủ, vô thường. Chúng ta thường xuyên nhìn bằng trí tuệ, nhìn bằng tư duy để thấy các sắc là khổ như vậy thì đó là mình nhìn bằng Thánh trí. Còn cứ nghĩ rằng các sắc là tôi, là của tôi như phàm tình thì mình sẽ tiếp tục khổ đau.

Tất cả những gì xảy ra ở hiện tại đang làm rực sáng Tạng kinh Nikāya hơn bao giờ hết. Đức Phật tuyên bố các tiếng là khổ. Tiếng karaoke ở bên nhà to cũng có thể gây nên án mạng. Hai nhà hàng xóm với nhau nhưng nhà bên cạnh làm nghề mộc, vì tiếng ồn của máy làm gỗ và mạt cưa văng qua nhà kế bên nên nhà bên này bực tức rồi chạy qua gây gổ, dẫn đến hai bên đánh nhau, chém nhau và xảy ra án mạng. Có khi nghe một tiếng nói là mình bủn rủn tay chân, nhưng cũng có khi nghe một tiếng nói là mình sừng sộ, phẫn nộ, sân hận đùng đùng, tam bành lục tặc nổi dậy. Hoặc chỉ vì nghe một lời nói mà bạn trở thành thù, thầy trò quay lưng, vợ chồng trở thành người dưng…

Chính vì vậy, càng chiêm nghiệm câu “các tiếng là khổ” thì càng thấm thía, vì nó bao trùm cả trời đất này, chứ không phải đọc phớt qua là xong bài kinh. Chúng ta đọc xong thì phải ngồi suy ngẫm, nhìn nhận thân, tâm chính mình, những người xung quanh và xã hội, thế giới, hành tinh này để thấy cuộc đời này thật sự là khổ. Cho nên những từng câu kinh này là khẩu quyết, là định lý chứng ngộ của Đức Phật.

Còn nếu nghe câu “các tiếng là khổ” nhưng không thấy khổ, mà nghe chim hót thấy vẫn thấy sướng tai, nghe tiếng tắc kè kêu thấy lạ lạ, thích thú… là mình không biết chúng cũng đang kêu trong cái khổ. Cũng như truyện cổ tích Thạch Sùng không tìm được mẻ kho, khi chết hóa thành con thạch sùng, kêu trong sự tiếc của, đau khổ, đau đớn. Hoặc mỗi khi nghe tiếng chó sủa mình cũng thấy đau khổ chứ không sung sướng gì, bên trong nó là sự bức xúc, bực bội, sân hận, phẫn uất. Chỉ cần nghe tiếng sủa của những con chó xung quanh là nó cũng sủa theo dù không biết chuyện gì. Nó sủa hăng say, bức xúc, sân giận mà không biết cái gì. Từ âm thanh mà trở thành thân súc sanh, từ âm thanh mà sanh khởi lên những bức xúc, từ âm thanh mà sanh khởi ra sân hận, từ âm thanh mà con chó này cắn người ta cho đến chết và có khi nó cũng bị người ta đập chết.

Có người nói ra một câu là hối hận suốt đời, có người nói ra một câu là tan nát cửa nhà, có người nói ra một câu là huynh đệ tương tàn. Có hai anh em nọ, ngay trong cúng 49 ngày của cha mà đánh lộn, đâm nhau chết cũng vì vài lời nói. Chỉ một tiếng nói nhưng ác độc như vậy! Nếu không có sự chánh niệm tỉnh giác, không có sự hộ trì tu tập thì tiếng nói này có thể gây ra đau khổ, làm người khác suy sụp cả cuộc đời. Chỉ một tiếng nói nhưng có thể làm người ta tức giận, dẫn đến tai biến, tăng xông mà chết. Trong Tam Quốc Chí, có nhiều người chưa cần đánh trận, chỉ cần chọc tức, nói chuyện khiêu khích làm các vị tướng khác tức giận, ói máu mà chết. Lời nói dễ sợ như vậy đó! Âm thanh này ghê gớm, khủng khiếp như thế đó!

Chỉ một câu “các tiếng là khổ” của Đức Thế Tôn nhưng vô cùng thấm thía, nghe xong rúng động toàn thân, rụng rời tay chân. Chỉ có bậc tối thượng tối tôn mới nói ra được câu như vậy, người phàm làm sao nói ra được! Khổ đau là những âm thanh này. Vì không có chánh niệm, không có hộ trì, không có tỉnh thức, không có tu tập, không có thu nhiếp mà tạo nên bao đau khổ. Đây chính là ngoại khổ, tức là những nỗi khổ từ bên ngoài. Như vậy, tất cả trong, ngoài, chặn giữa, giới, xứ, uẩn đâu đâu cũng là khổ, chúng kết hợp với nhau tạo ra biết bao đau khổ. Chỉ nói qua nói lại với nhau mấy câu là xách dao, xách mã tấu, xách súng, xách đạn đến hơn thua với nhau. Chỉ một ánh nhìn, một cái liếc mắt vô tình của người xung quanh thì người ta cho rằng đó là nhìn đểu họ và gây sự, kiếm chuyện với nhau. Đừng nói chi người ngoài đường, ngay cả anh em ruột, mẹ con, cha con, chị em với nhau, nếu không tu tập, không có tâm từ ái, không có lòng thương yêu, tha thứ thì chỉ một cái nhìn, cái nói cũng đủ làm tan nhà nát cửa.

Đức Phật nói “các vị là khổ”, chúng ta hiểu đơn giản đồ ăn ngon là khổ thì cũng đủ làm rực sáng câu này. Tại sao món đồ ăn ngon lại là khổ? Vì chúng ta phải chạy tìm, kiếm tìm món ăn ngon ở khắp nơi nhưng dù có ăn suốt đời cũng không đã thèm, mà cứ thèm khát hoài. Chúng ta cứ chạy tìm những hương vị, mùi hương không ngừng nghỉ và Đức Phật cũng nói “các hương là khổ”, đây là những nỗi khổ ở bên ngoài và chúng chỉ là trống rỗng.

Sâu sắc hơn là phần “các pháp là khổ”, các pháp gồm có thọ, tưởng, hành, tức là những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ. Những hình bóng mình đã nhìn thấy và thọ nhận vào bên trong thì những hình bóng đó là khổ. Hình bóng đó vốn dĩ ở bên ngoài, dù mình đem nó vào trong nhưng nó vẫn thuộc phần ngoại khổ, ví dụ, hình bóng của một người đẹp, hình bóng của một ánh mắt, cử chỉ, hoặc hình bóng giận dữ của một người nào đó ám ảnh trong tâm mình. Và những cảm giác, suy nghĩ về những hình bóng đó cũng là khổ. Chúng ta phải chiêm nghiệm những điều này vì đây là những pháp quán, nếu chỉ đọc tụng phớt qua thì không thấy được vô thường, khổ, vô ngã. Vì vậy, phải đọc và nhìn sâu vào bên trong.

Đức Phật nói“các xúc là khổ”, cụ thể mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân tiếp xúc, ý nhận thức các pháp chính là đau khổ. Có một người đàn ông tên là Amoo Hadji, người Iran, khi còn trẻ tỏ tình với một cô thôn nữ nhưng bị từ chối và ông rất đau khổ. Sau đó ông này sống lang thang lang và quyết định không tắm nữa. Cũng chỉ vì sự tiếp xúc mà sau đó hơn 60 mươi năm người đàn ông này không tắm và được mệnh danh là người đàn ông bẩn nhất thế giới. Câu chuyện này cũng là ví dụ về giới cấm thủ, nhiều người tự đặt ra những điều bậy bạ và tự mình giữ điều đó. Họ tự đặt ra cho mình những điều vô lý, sai lầm, lầm lạc và tự mình ngăn cấm mình, tự mình chấp thủ, không chịu buông ra và tự làm cho mình đau khổ, như vậy gọi là giới cấm thủ. Hoặc có người tuyên bố phải nhập thất ba năm nhưng vào thất có ba tháng là không chịu nổi rồi không tu nữa, điều này có nghĩa là có những việc khi làm thì mình phải biết ý nghĩa thật sự của nó, chứ không phải tự đặt ra những điều không có ý nghĩa. Đối với việc giữ gìn các giới cũng vậy, chúng ta phải ý thức tự nguyện về nhân quả để hành trì chứ không phải vì lo sợ nếu làm ác là bị quả báo, chẳng hạn như bị bắt xuống địa ngục nên mới giữ giới, như vậy cũng chưa phải là giữ gìn bằng sự thấy biết nhân quả.

Như vậy, chỉ hai chữ “các xúc” của Đức Phật nhưng bao trùm hết tất cả, gồm mắt thấy, tai nghe, mũi ngửi, lưỡi nếm, thân xúc chạm, ý nhận thức các pháp thọ, tưởng, hành bên trong. Cho nên, trí tuệ trong kinh Nikāya vô cùng siêu việt, những từ trong tạng kinh rất khúc chiết, cô đọng. Chỉ hai chữ “các xúc” nhưng bao trùm cả thế giới, vì vậy, chúng ta phải quán chiếu thật sâu sắc hai chữ này. Có người chỉ vì nhìn thấy điều gì không hay là buồn, không muốn tu học, ngồi thiền gì nữa; hoặc mới nghe cuộc điện thoại từ gia đình gọi lên nói chuyện không vui, rồi nghe huynh đệ nói gì không vừa lòng cũng buồn, không muốn học nữa. Tất cả cũng vì xúc mà tạo nên khổ đau như vậy. Xúc sanh thọ, xúc sanh dục, xúc sanh nghiệp, tức là tiếp xúc sanh ra cảm giác, tiếp xúc sanh ra ham muốn, tiếp xúc dẫn đến tái tạo những thói quen, như vậy tiếp xúc là khổ.

Còn khi xúc với pháp, xúc với thiện, xúc với Thánh trí thì những sự tiếp xúc đó đưa đến an lạc, bình an. Ngược lại, những sự tiếp xúc với ác, bất thiện pháp thì đưa đến đau khổ. Mỗi ngày chúng ta nhìn mây, nhìn núi, nhìn kinh sách, ngồi nghe pháp, quán tưởng các pháp thì đó là mình đang xúc với thiện pháp, xúc với trí tuệ, xúc với sự thật. Mặc dù là tiếp xúc với trí tuệ nhưng có khi cũng khổ, vì thân tứ đại này mệt mỏi, bệnh đau, những lậu hoặc, dục, ái, bản ngã trong tâm thì chống đối với sự thật. Khi nhìn sâu sắc như vậy thì chúng ta mới thật sự thấy chữ khổ của Nikāya là như thế nào. Hơn nữa, không chỉ nghèo khổ, không có ăn, bệnh tật, ốm đau, tai nạn, chết chóc mới là khổ mà từ những ý niệm, cảm thọ, hình bóng sanh khởi bên trong cũng làm cho mình khổ, vì vậy, Đức Phật dạy “các pháp là khổ”. Khi chúng ta ngồi thiền, người bên ngoài nhìn vào chỉ thấy mình ngồi trang nghiêm, thanh tịnh, an lạc, nhưng lúc đó bên trong mình vận hành thế nào thì không ai biết được. Trong khi đó, vì còn những sân si, lậu hoặc, cấu nhiễm nên chúng ta tàm quý, hổ thẹn, đau khổ, nhưng không ai thấy được, cho nên, các pháp thọ, tưởng, hành bên trong cũng là khổ.

Vô thường, khổ, vô ngã nội ở quá khứ, hiện tại và vị lai

Kế tiếp, chúng ta trở lại tìm hiểu phần vô thường nội nhưng là sự vô thường trong cả ba thời: quá khứ, hiện tại và vị lai.

Mắt, này các Tỷ-kheo, là vô thường, kể cả quá khứ và vị lai, còn nói gì (mắt) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với mắt quá khứ, không còn hoan hỷ đối với mắt tương lai, đối với mắt hiện tại; đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

Tai là vô thường... Mũi là vô thường... Lưỡi là vô thường... Thân là vô thường.... Ý là vô thường, kể cả quá khứ và vị lai, còn nói gì đến ý hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử, không tiếc nuối đối với ý quá khứ, không có hoan hỷ đối với ý tương lai, đối với ý hiện tại; đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a) - Phần I. Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, I. Phẩm Vô Thường , bài kinh Vô Thường 3 Nội)

Đức Phật tuyên bố rằng mắt, lỗ tai, lỗi mũi, lưỡi, thân, ý từ xưa kia đã là vô thường, xưa kia đã là khổ, xưa kia đã là trống rỗng, vô ngã, không tự thể và sau này nó cũng là biến đổi, bệnh hoạn thì còn nói gì đến hiện tại. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý này luôn ở trong trạng thái dịch chuyển, thiên lưu, đổi dời, đi tới… quá khứ đã vậy, sau này cũng vậy thì nói gì là hiện tại.

Chính vì thấy sáu căn là vô thường, khổ, vô ngã nên vị Đa văn Thánh đệ tử:

Không tiếc nuối đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý ở quá khứ;

Không hoan hỷ đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý ở tương lai;

Thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý ở hiện tại.

Chỗ này chính là pháp hành, ba điều trên là Đức Phật dạy cách tác ý, thiền quán, chánh tư duy. Chúng ta sẽ dùng từ “thân xác” để chỉ gọn cho sáu căn “mắt, tai, mũi, lưỡi, thân”. Đức Phật dạy phải nhìn thân xác này qua khía cạnh đổi thay của nó; thường nhớ nhìn thân xác này trong tính chất bệnh khổ của nó; thường nhìn thân xác này trong bản chất trống rỗng, trống không, vô chủ, vô ngã, không có tự thể của nó. Mỗi khi nhìn ngó, quán sát, nghĩ ngợi, cảm giác về thân này thì hãy nhận thức tính chất đổi thay; suy tư về tính chất vô thường; nghiền ngẫm, tư duy về tính chất tan hoại, đổ vỡ, tan hoại, bệnh hoạn, đau khổ của nó. Tại vì chiều suy nghĩ bình thường của vô văn phàm phu luôn ngược lại với những tính chất này, tức là lúc nào cũng nghĩ là thân này là thường còn, vui sướng, có tôi ta trong đó. Còn vị Đa văn Thánh đệ tử phải thấy được mấu chốt của sự quán chiếu là thường nghĩ về sự vô thường, khổ, vô ngã của thân xác này.

Ví dụ, khi bị đau bụng, phải chạy vào nhà vệ sinh liên tục thì không nên bị dính mắc vào trong khổ thọ đó rồi thấy bực bội, khó chịu hoài, như vậy là không khéo tu. Thay vào đó, chúng ta phải biến cái khổ đó thành trí tuệ, tức là, phải thấy bản chất của thân thể này là bệnh hoạn, do vì có thân thể yểu thọ, được sanh ra từ sự vô minh và khát ái nên mới có những cảm giác đau đớn, khổ sở, mệt mỏi như thế. Khi nhìn vào những thứ bày tiết ra thì càng thấy được tính chất bất tịnh, dơ bẩn, xú uể, xấu xa, hèn hạ, thấp kém, bẩn thỉu, không đáng ưa thích, không đáng tham muốn, không đáng dính mắc, không đáng chấp thủ. Thứ này là thứ vô thường, thứ này là thứ khổ đau, bệnh tật, nhơ bẩn, bất tịnh, vô ngã, rỗng không, chúng ta phải chuyển suy nghĩ theo chiều trí tuệ như vậy.

Hơn nữa, chính cảm thọ đau khổ, khó chịu, bệnh hoạn đó là chỗ cho chúng ta nuôi dưỡng trí tuệ nhàm chán, xuất ly. Dù vẫn là cảm thọ khổ nhưng cái khổ này đưa đến Thánh trí, chứ không phải cái khổ đưa đến sự bực bội, phiền não. Đó là sự khác biệt giữa người khéo tác ý, quán chiếu và người không khéo, tuy cùng là bị bệnh nhưng đưa đến những kết quả khác nhau. Thông thường mọi người đều vướng vào khổ thọ tương ưng với phiền, não, tham, sân, si, vô minh, sân hận, bực bội và những người chăm sóc cho người bệnh cũng khổ. Nhiều người bị bệnh, nằm một chỗ, đại tiểu tiện không kiểm soát được thì họ rất sân hận, vì họ không được học sự thật. Nếu ngay chỗ ấy nhìn được các đặc tánh của sự thật và thân tâm này thì họ sẽ lấy cái khổ đó để nuôi lớn trí tuệ nhàm chán, ly tham và xuất ly. Cho nên, có nhiều vị Thánh đệ tử, Tỳ-kheo ngày xưa khi nhập diệt thì chứng được Thánh quả A-la-hán. Bởi vì các Ngài đã nắm vững được pháp, ngay những lúc đó thì các Ngài quán tột cùng về sự nhàm chán, ly tham, từ bỏ, xuất ly và thành tựu Thánh quả, đó sự là khéo léo trong việc vận dụng tu tập.

Như vậy, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, thể xác, hình hài này là biến đổi, là khổ đau, là trống rỗng, không có tự ngã kể cả ở quá khứ và vị lai thì nói gì ở hiện tại. Chúng ta nhìn lại thấy ông mình chết, bà mình chết, những bậc trưởng thượng mình từng nhìn thấy cũng chết, những người xung quanh bị bệnh, khổ – đây là vô thường, khổ, vô ngã ở quá khứ. Sau này, con mình, cháu mình cũng sẽ già, bệnh, chết, cũng sống trong tham, sân, si, ganh đua, hơn thua, bản ngã và đau khổ, cũng sẽ chạy theo những thứ trống rỗng, đuổi hình bắt bóng trong những dục vọng, tham ái, sân si, vô minh. Tự thân mình hiện tại nhìn lại cũng vô thường, khổ đau vì tham, sân, si, dục, ái, bản ngã, hơn thua, tranh giành. Cho nên, kể cả quá khứ, vị lai và hiện tại thì sáu căn này đều vô thường, khổ, vô thường.

Nhìn sâu hơn vào bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp đã qua chúng ta đều có mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp đã qua chúng ta ngã xuống, sụp xuống, đổ xuống, chết đi và tạo thành biết bao những bộ xương, những nấm mồ, những dòng máu, những giọt lệ trong vòng luân hồi này. Đức Thế Tôn nói nước mắt trong vòng luân hồi này nhiều hơn cả bốn biển. Nhìn lại ngũ uẩn trong quá khứ, cũng toàn là dục, ái, tham, sân, si, bản ngã và bây giờ cũng vậy, cho nên, tiếp tục những đời sau, trong vị lai cũng là những ngũ uẩn dục, tham, bản ngã đó. Sự vô thường, khổ, vô ngã ở hiện tại thì quá rõ ràng, chúng ta thực chứng, thực thấy, thực biết sờ sờ những sự thật như lời Đức Phật dạy. Mình đang mang vác một thân xác bệnh khổ, bên trong là những cảm xúc sôi sục, thúc giục, khao khát, thèm thuồng, đòi hỏi, hướng ngoại, rong rủi, chạy đuổi, kiếm tìm không ngừng.

Thấy vậy, vị Đa văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý trong quá khứ, không tiếc nuối đối với thân xác ngày xưa. Không yêu thích, không hoan hỷ, không vui sướng đối với thân xác sau này. Và thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý ở hiện tại

Có nhiều người lâu lâu đem hình lúc trẻ ra xem, hoặc già rồi nhưng lấy hình lúc trẻ làm ảnh nền điện thoại. Gặp ai cũng khoe hình mình lúc trẻ, hơn nữa còn chọn tấm hình ưng ý nhất, đem in ra lộng khung treo ngay phòng khách. Có lúc nhìn hình ảnh hiện tại già yếu của mình rồi so sánh với hình lúc trẻ thì tiếc nuối vì hiện tại hình hài mình quá tàn tạ, tả tơi, tan nát. Đó là tiếc nuối hình bóng, tiếc nuối các sắc, tiếc nuối hình thể, tiếc nuối hình hài, tiếc nuối hình tướng của quá khứ.

Hoan hỷ với tương lai là mong muốn ngày sau sẽ tốt hơn, đẹp hơn, giàu hơn, thành công hơn, danh tiếng hơn, được nhiều người biết hơn. Người này luôn hy vọng, mong chờ, mong ước, trông ngóng vào tương lai, đó là hoan hỷ với tương lai.

Đối với hiện tại thì si mê, không nhìn thấy sắc là tứ đại; không nhìn thấy các thọ là duyên sanh, do duyên tiếp xúc mà sanh ra cảm giác; không nhìn thấy các tưởng, các hành trống rỗng như cây chuối, khi lột từng bẹ ra thì không có cốt lõi bên trong; không nhìn thấy các nhận thức chỉ là pháp duyên sanh, vô thường, khổ, vô ngã. Hiện tại cứ mờ mịt, vô minh rồi yêu thích, tham ái, tham đắm, nắm giữ, chấp thủ.

Vô văn phàm phu là vậy, cả đời nuối tiếc quá khứ, ưa thích tương lai và đam mê, ngu muội trong hiện tại đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức; đối với sáu căn: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; đối với sáu trần: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp.

Còn bậc Đa văn Thánh đệ tử thì không tiếc nuối hình hài của quá khứ, không tiếc nuối con mắt ở quá khứ rồi trách than rằng ngày xưa nhìn được, đi được, bây giờ không thấy đường nên không đi được nên tiếc nuối, mong ước mắt sáng lại như xưa. Đó là tiếc nuối quá khứ, mà tiếc nuối là khổ. Cho nên, chúng ta không được tiếc nuối quá khứ, mà phải hiểu rằng xưa là xưa, nay là nay, hôm qua là hôm qua, ngày nay là ngày nay, tháng trước là tháng trước, bây giờ là bây giờ và không thể mong muốn trở lại như xưa được.

Thế giới luôn đi tới, bánh xe thời gian luôn quay, chứ không thể đi lùi như chiếc xe bình thường được. Chiếc xe thời gian này cứ chạy và nghiền nát hết mọi thứ. Nó nghiền nát tuổi thanh xuân, nghiền nát sức khỏe, nghiền nát sự tươi trẻ, nghiền nát những thứ tươi thắm của chúng ta. Quán chiếu như vậy thì mình không còn sự tiếc nuối nào đối với quá khứ. Bất chợt có ngã ra chết thì mình cũng không tiếc nuối đối với bất cứ căn, trần, thức nào. Tại vì thực pháp đang hiện hữu, sự vô thường, tan rã luôn diễn ra và chúng ta phải chấp nhận sự thật ngay trong hiện tại, không nghĩ về quá khứ.

Có một bài kinh kể về việc Thế Tôn và các vị Thánh Tăng đến thăm một vị cư sĩ, Thế Tôn dạy không nên suy nghĩ gì nữa. Vị cư sĩ nói mọi việc ông đã an lòng, chỉ suy nghĩ một điều là không biết đứa con của ông có khổ không. Nghe vậy, Đức Thế Tôn và Ngài Xá Lợi Phất dạy ông không suy nghĩ nữa, mà hãy an trú vào pháp. Chúng ta cũng vậy, phải tập không suy nghĩ về con cháu nữa, vì mỗi người đều có nghiệp, có phước, có nhân quả riêng. Việc cần làm là tự mình trong những giây phút quan trọng sau cùng không được tiếc nuối vào quá khứ, không tiếc nuối con mắt, lỗ mũi, lỗ tai, gương mặt, hình hài của tháng trước. Và cũng không hoan hỷ, không trông mong, không đợi chờ mai mốt sẽ trở lại giống như lúc xưa. Thay vào đó, phải thực hành sự nhàm chán ngay trong hiện tại, vì thân này là thứ tan rã, bệnh tật, biến đổi và hoại diệt. Chúng ta ưa thích, yêu thương, hoan hỷ, hy vọng, tiếc nuối đối với mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý này làm gì trong khi nó là thứ đáng nhàm, đáng chán, là thứ đồ gốm dễ vỡ, dễ bể, dễ nát, dễ hoại. Khi món đồ gốm này đã bể, đã nứt chảy thì tiếc nuối, hy vọng vào nó để làm gì? Sáu căn này không phải là thứ đáng tin cậy, không phải thứ đáng hy vọng, không phải thứ đáng đợi chờ, không phải thứ để cho mình ước mơ. Sáu căn này là thứ đáng nhàm chán, đáng không tham, đáng từ bỏ, đáng chấm dứt, đáng xả ly.

Thấy vậy, đối với con mắt hiện tại, vị Ða văn Thánh đệ tử thực hành sự nhàm chán, ly tham, chấm dứt, từ bỏ. Đối với lỗ mũi, lỗ tai, đôi môi ở hiện tại, vị này thực hành sự nhàm chán. Đối với hình hài đang mang vác ở hiện tại, vị này thực hành sự không tham, không ưa, không thích, không ái, không luyến và có ý niệm chấm dứt nó. Chấm dứt không phải là giết nó chết mà chấm dứt ở đây nghĩa là không tạo những điều kiện để nó tiếp tục tái diễn, tái sanh, tái hợp, tái tạo nữa. Vì đến bây giờ là vừa đủ để nhàm chán, đến bây giờ là đủ khổ đau, bệnh hoạn, sợ hãi, lo lắng, bất an, đến bây giờ là vừa đủ những sự mệt mỏi, ngao ngán, nhàm chán.

Như vậy, đối với cả ba thời quá khứ, hiện tại, vị lai thì vị ấy không ưa thích, không tiếc nuối, không nắm giữ. Khi nghĩ về quá khứ thì thấy vô thường, khổ, vô ngã; khi nghĩ về tương lai cũng thấy vô thường, khổ, vô ngã và ngay trong hiện tại, vị này thực hành sự nhàm chán, nhìn tất cả sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ đều là khổ. Vị này thấy sự tiếp xúc là khổ, thấy sự đòi hỏi là khổ, thấy sự nóng giận, hơn thua là khổ, thấy sự ta đây với mọi người là khổ, thấy sự tiếc nuối không đem đến lợi ích gì ngoài đau khổ, thấy sự hoan hỷ không đi tới đâu, cuối cùng cũng là đau buồn. Cho nên, vị này thực hành sự nhàm chán đối với các pháp bại hoại, hủ bại, băng hoại, hủy hoại, hoại diệt, đoạn diệt, nhàm chán đối với các pháp bị tiêu diệt, tiêu ma, diệt tận này.

Tác ý mãnh liệt tu học

Thế giới hiện giờ đã hơn hai trăm triệu người nhiễm dịch Covid-19 và chết hơn năm triệu người. Mọi người đều sống trong bất an, lo lắng, sợ hãi, hồi hộp như vậy thì chúng ta còn mải mê đi tìm kiếm điều gì nữa? Ngoài Thánh trí tuệ của Đức Phật để lại thì tất cả những thứ khác đều là khổ pháp. Những tổ hợp của sắc chất dù là thù thắng, tối thượng thì sâu trong đó vẫn là khổ. Nhiều minh tinh, ngôi sao điện ảnh nổi tiếng thế giới nhưng lại phạm tội và bị kêu án tử hình, phá sản, rơi vào cảnh tù tội. “Càng tài, càng sắc, càng dâm – Càng thêm đọa lạc, càng lầm mà thôi”. Càng giành giật, càng tranh đấu thì càng khổ đau. “Càng cao danh vọng, càng dài gian nan”.

Cuối cùng tất cả đều đi đến chỗ rã nát, diệt tận, tiêu ma và bại hoại. Những ca sĩ, những nghệ sĩ lớn tuổi đến cuối đời bị bệnh không ai nuôi, tay chân co quắp không làm gì được phải lên keu gọi mọi người cứu giúp, cho tiền mua thuốc. Có những người ngày xưa là hoa hậu, là diễn viễn nổi tiếng tầm cỡ châu lục nhưng bây giờ bị điên khùng, thần kinh, lang thang, xin ăn ngoài vỉa hè. Có những người từng là tỷ phú, triệu phú nhưng bây giờ phải đi xin cơm. Có người mình gặp lần đầu khi còn là đứa trẻ mười mấy tuổi khỏe khoắn, đẹp đẽ nhưng lần sau gặp lại đã có ba đứa con, thân hình tiều tụy. Vì vậy, tất cả đều là biến hoại pháp, không gì có thể đứng vững, các pháp cứ đẩy tới, các hành cứ đi tới. Tất cả đều nằm trong sự vận hành của sự biến đổi, hoại diệt, rã tan, đổ nát.

Đây chỉ là mới nói về phần hình tướng, còn lại bên trong là nơi chất chứa biết bao sự tham muốn, nóng giận, tranh đua, hơn thua, giành giật, ganh ghét, đố kị, ganh tỵ. Chúng ta phải nhìn sâu vào bản chất như vậy chứ đừng chỉ nhìn bề ngoài, nếu chỉ nhìn bề ngoài là sẽ bị gạt. Những cú lừa ngoạn mục của sắc pháp; những cú lừa ngoạn mục của tổ hợp cảm giác; những cú lừa ngoạn mục của tổ hợp hình bóng; những cú lừa ngoạn mục của tổ hợp suy tư, nghĩ ngợi si mê, ngu muội; những cú lừa ngoạn mục, những trò ảo thuật siêu đẳng của tâm thức… đã lừa gạt tất cả chúng sanh. Hãy nhìn sâu vào những điều đó để cảm giác nhàm chán này đi thẳng vào da, chạy vào thịt, ngấm vào xương, đi sâu vào tủy não.

Nhìn khắp thế gian này chẳng có gì đáng để mình ưa thích, khoan khoái, tìm kiếm. Vì vậy, hãy an trú thật vững vàng vào Thánh Pháp tối thượng, tu tập tịnh tín bất động đối với Đức Thế Tôn, đối với Thánh Giới, Thánh Pháp, Thánh Trí Huệ và sự chứng ngộ của Ngài. Đây mới là chỗ quy y tối thượng, là chỗ nương dựa vững chắc, tối tôn quý trong tam giới. Vua Trời còn phải khát ngưỡng được nghe những lời của Đức Phật, huống chi những người bình thường, dù là vua của thế gian cũng không là gì, dù sống vạn kiếp, tỷ kiếp cũng chưa chắc gì nghe được những lời này.

Thế nên, chúng ta phải tác ý trân trọng, trân quý sự thật tối thượng mà bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã truyền trao. Rồi ngày mai đây, không bao lâu nữa, sẽ chẳng còn ai được nghe những lời kinh này. Chúng ta đừng nghĩ dễ dàng được nghe Chánh Pháp, vì vài trăm năm nữa sẽ không còn ai giảng thuyết, không còn ai tu học theo đường lối này. Khi đó, những dục vọng ác tham của con người sẽ lừng lẫy, sẽ sung mãn, sẽ áp đảo toàn thế giới, sẽ xâm chiếm tất cả các thiện pháp. Nếu có người chân tu đi nữa thì các vị này cũng sẽ ẩn tu nơi núi thẳm, trong thâm sơn cùng cốc, không lộ diện nữa vì con người sẽ rất hung ác, dục vọng ác tham vô cùng khủng khiếp, họ không còn chấp nhận những lời dạy thật sự, chân chánh, rốt ráo và cứu cánh của Đức Như Lai.

Chính vì vậy, chúng ta phải cố gắng mở lòng nghe Phật dạy và đặt để Chánh Pháp này vào sâu trong xương tủy, tâm não để mình có chút vốn luyến, vì nếu không may tai nạn, tật bệnh đến, mình phải ra đi thì vẫn có hành trang trí tuệ này. Chúng ta đừng nói câu “sống hôm nay thì biết hôm nay”, vì các pháp ở buổi sáng, buổi trưa và chiều tối luôn đổi khác, không buổi nào giống buổi nào. Hơn nữa, chỉ một tích tắc là có thể qua đời khác, lên một chuyến xe là có thể chết không thể quay về, lên một chuyến máy bay thì có thể bỏ mạng. Thậm chí, tiếp xúc với một người cũng có thể dẫn đến mất mạng, dịch bệnh Covid-19 minh họa rất rõ ràng điều này. Những biến thể mới của dịch bệnh ngày càng nguy hiểm, có thể đưa đến những hiểm họa không lường.

Điều quan trọng nhất là mọi người đừng nghĩ mỗi ngày đều có thể cùng nhau ngồi học kinh, nghe pháp rồi xem thường Pháp bảo, quý trọng thân mình hơn quý pháp. Thay vào đó, mọi người phải trân trọng thời gian còn được tu học, vì những đại thảm họa lúc nào cũng có thể xảy ra. Chúng ta hãy thực hành sự nhàm chán, ly tham, chấm dứt, từ bỏ đối với hình hài này. Đừng mê muội trong hình sắc, đừng dại khờ trong hình tướng, đừng ảo tưởng, lầm tưởng, vọng tưởng, hư tưởng, huyễn tưởng, mộng tưởng thêm nữa. Hãy nhìn sâu vào bản chất vô thường, khổ, vô ngã của các pháp để có cái nhìn thật chính xác và tìm đường để thoát ra. Vì nếu chết bất thình lình thì mình tu không kịp nữa, lúc đó vẫn chưa xong việc đang làm, chánh kiến vẫn chưa thành tựu. Tất cả là vì lúc bình thường mình xem thường Chánh Pháp, không trân trọng Thánh trí của Đức Phật.

Vì vậy, phải lấy sinh mạng của mình để đổi lấy Thánh tri kiến, dù có gục ngã chết tại chỗ tu, dù có vì Chánh Pháp mà chết thì cũng là điều vinh hạnh tối thượng trong vô lượng kiếp. Nếu được ngồi trong pháp hội nghe kinh Nikāya mà có ngã ra chết thì đó là đại vinh hạnh chưa từng có được trong vô lượng vô biên kiếp sanh tử vừa qua và chắc chắn người đó sẽ sanh vào nhân gian thiên thượng trong dòng Thánh tri kiến này. Chúng ta cần phải tác ý như vậy mỗi khi nghe pháp, mỗi khi tu học. Chúng ta cần phải đội Thánh Pháp này lên đầu. Dù cho có chết ngàn cái mạng này để học được Thánh Pháp thì mình cũng mãn nguyện và ngậm cười nơi chín suối.

Chúng ta ngồi tu học, nghe pháp mà đau nhức, mệt mỏi một chút là chuyện quá bình thường. Nhiều người rất khổ cực vì miếng cơm manh áo, suốt ngày quần quật mười mấy tiếng đồng hồ để kiếm sống. Có người phải lấy cả sinh mạng của họ ra làm việc chỉ vì đổi lấy miếng ăn. Hiện giờ, những người tài xế, những người buôn bán không phải họ không biết giữ mạng, không phải họ không sợ dịch bệnh, mà họ bắt buộc phải thức khuya dậy sớm, thức suốt đêm để đánh đổi được đồng tiền bát gạo. Những điều dưỡng, những y tá, những dược sĩ phải tiếp xúc với những bệnh nhân bị nhiễm dịch hàng ngày, hàng giờ không phải vì họ không sợ bệnh, không phải vì họ không biết khổ, mà họ phải làm vì cứu người, vì công việc. Có khi một ngày họ chỉ nghỉ được vài tiếng, mà còn phải nằm dài xuống nền bệnh viện, nằm dài ở ngoài đường để nghỉ ngơi.

Còn chúng ta tu học mà lại ngao ngán đối với Thánh Pháp thì đó là sự xấu hổ, hạ liệt, hèn kém, ngu si của mình. Người ta sống đi chết lại một ngàn kiếp cũng không nghe được một câu kinh này, còn mình được nghe, được tu học mà không biết trân trọng thì vô cùng đáng tiếc và nhục nhã. Khi tác ý như vậy thì mọi lo sợ, mệt mỏi không còn là gì hết, dù có ngã ra chết tại chỗ nghe pháp thì cũng được sanh thiên. Tất cả người tu chúng ta phải xem thường mạng sống của mình để xem trọng Chánh Pháp. Bồ Tát Tất Đạt Đa trong vô lượng vô kiếp phải xem thường sanh mạng của bản thân để tìm cầu Thánh Pháp và thành tựu Chánh Đẳng Chánh Giác. Nếu Ngài quý trọng sanh mạng của mình thì Ngài đã không bỏ cung vua để vào rừng.

Vì vậy, mỗi ngày dù cho có tu nhiều hơn, dù cho có nghe ba thời pháp cũng vẫn vui sướng, hân hoan, hoan hỷ, như vậy mới gọi là thành tựu quy y Pháp, thành tựu sự tôn kính Pháp. Những vị cao tăng từ các triều đại ngày xưa phải bỏ mạng, phải chết trên đường đi thỉnh kinh rất nhiều. Cho nên, chúng ta phải thấy được giá trị quý báu, tuyệt diệu của Thánh Pháp này. Chỉ có pháp này mới có thể cứu mình, độ người và phá được tâm si mê. Chúng ta phải làm mọi cách để đốt lên ngọn lửa khát khao, cháy bỏng, khát ngưỡng, hãy đem tinh thần võ sĩ đạo, đem tinh thần quyết tử để cầu pháp, học pháp và hành pháp. Trong bài kinh “Mười Lực”, Đức Phật có dạy: “Chắc chắn dầu chỉ còn lại da, gân và xương trên thân, dầu thịt, máu trở thành khô cạn, mong rằng tinh tấn lực sẽ được kiên trì”. (Tương Ương Bộ Kinh II, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên, III. Phẩm Mười Lực, bài kinh Mười Lực)

./.