Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Lối Vào Thánh Đạo

2026-03-03 00:56:05
LỐI VÀO THÁNH ĐẠO

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Lối vào Thánh đạo PAGEREF _Toc76979561 \h 1

1.Thực hành ba pháp PAGEREF _Toc76979562 \h 1

2.Nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc76979563 \h 2

3.Chiếu phá sắc thủ uẩn PAGEREF _Toc76979564 \h 2

II.Sự quan trọng của pháp cung kính PAGEREF _Toc76979565 \h 8

Lối vào Thánh đạo

Hôm nay là ngày hạnh phúc của chúng ta vì chúng ta cùng nhau quay trở về những lời dạy gốc của Đức Phật để thấy được lối vào Thánh đạo. Trong sự tu học, để có được sự thấy biết chân xác về giáo pháp là cả một công trình, cả một sự tha thiết, chân thành tầm cầu cung kính và phải dám xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo, xả cái bản ngã để tiến đến chứng nhập vô ngã. Hôm nay là ngày mở đầu khóa tu đạo tràng Nikāya, Minh Thành muốn chia sẻ với tất cả đại chúng lối vào Thánh đạo, đây là những điều y cứ vào lời của Đức Phật. Từ kinh nghiệm bản thân Minh Thành chia sẻ đến cho tất cả quý vị những yếu tố và điều kiện căn bản nhất để có thể bước những bước thật vững chắc trên con đường Thánh đạo.

Thực hành ba pháp

Đầu tiên chúng ta phải thực hành cho thuần thục ba pháp, phải luôn luôn thực tập hành trì ba pháp: rõ biết trước mắt; trở về hơi thở, cảm giác toàn thân; nội tâm tỉnh giác. Quý vị nào chưa nắm vững thì vào trang linhquyphap.vn trong đó Minh Thành có hướng dẫn nhập thất chia sẻ chỉ cách ngồi thiền. Nếu không nắm vững và không thực hành thuần thục ba pháp này thì mình sẽ không có chân đứng trong con đường tu học của kinh Nikāya. Vì vậy, chúng ta phải thực hành ba pháp này cho thuần thục.

Điều quan trọng hơn hết là thực hành cảm giác toàn thân, phải luôn luôn nhớ đó là căn nhà của chúng ta, bằng không, dù mình học, mình nghe thì thấy hay, thấy thích, hiểu sâu sắc rồi trở ra không thực tập thì tất cả cái đó cũng vẫn chỉ ở trong kinh sách của thầy, của cô. Cho nên, cảm giác toàn thân là phải luôn luôn an trú để mình rõ biết, cảm nhận cái cảm giác trong toàn bộ cơ thể của mình mọi lúc, mọi nơi. Để khi có giặc xuất hiện và tấn công thì lúc đó mình phát giác, phát hiện và có phương pháp xử lý. Giặc ở đây chính là những cảm giác đang biến động, còn cảm giác an tịnh, lắng dịu là bình an. Chúng ta phải soi xét thật kỹ và có phương pháp xử lý thích hợp khi cảm giác bị biến động.

Cho nên, bước đầu tiên – thực hành ba pháp là bước quan trọng, quyết định trong sự tu học và hành trì về đường lối kinh tạng Nikāya.

Nhận diện ngũ uẩn

Bước thứ hai là thực tập nhận diện năm uẩn, thường trực nhận diện năm uẩn sao cho thấy sắc ra sắc; cảm giác, cảm thọ ra thọ; tưởng thì phải thấy rõ những hình bóng bên trong; hành là thấy rõ những suy nghĩ ý hành và thức là phải nhận rõ. Minh Thành thường nói cho dễ nhớ là phải biết tên tuổi, mặt mũi và tánh tình của ngũ uẩn. Tên của nó mà mình còn không nhớ và mặt ra làm sao mình không biết, tánh tình như thế nào mình không rõ thì làm sao mình nhiếp phục được nó. Ví dụ, lỡ có ai gặp mình bất thình lình, họ nói: "Sao nữa nay chị nhìn tiều tụy quá, có bệnh gì không?" và thậm chí là có những lời chỉ trích về dáng vẻ, thân thể của mình, nếu có thường trực nhận diện năm uẩn, cụ thể ở đây là nhận diện sắc uẩn thì mình nói: "đống thịt mấy chục kí lô này hôi là đương nhiên rồi, là đúng rồi, người đó nói đúng rồi, người đó là người thiện tri thức nhắc mình nhận diện lại sắc uẩn", Còn nếu không thực tập nhận diện sắc uẩn thường trực, chỉ bằng một lời nói, một hành động, một sự phê bình về thân thể thì mình bị dao động ngay lập tức.

Chiếu phá sắc thủ uẩn

Vì vậy, Minh Thành có hướng dẫn quán về ba mươi hai thể trược bất tịnh, thiền quán về tứ đại ung nhọt, thiền quán về chín giai đoạn của một tử thi. Đối với Thân Hành Niệm, Đức Phật gọi là hương vị bất tử thì phần này hết sức quan trọng. Cảm giác hay nghĩ tưởng, nhận thức luôn luôn sanh khởi và chấp trước xung quanh thân người mình, cho nên, muốn vào cửa pháp, cánh cửa của Thánh trí, cánh cửa thể nhập thì phải hạ thủ công phu là ngay chỗ thân mình. Nếu không từ chỗ sắc uẩn này hạ thủ, mà bắt tay vào quán chiếu một cách sâu sắc, thấu triệt thì cái thọ của mình không yên tịnh, cảm giác không lắng dịu, các tưởng không dừng được, những suy nghĩ ý hành không thể yên được. Đó là vì tâm này chạy loanh quanh ở trong sắc uẩn, sự bám chắp vào trong sắc uẩn là vô cùng kinh khủng.

Cho nên, Đức Phật cho chúng ta một chữ "sắc thủ uẩn", đây là cả một sự Chánh Đẳng Chánh Giác của Đức Thế Tôn. Tại sao Đức Phật nói là sắc thủ uẩn? Sắc uẩn tức là một đống sắc chất, một đống máu thịt, một đống xương da, một đống ruột; phèo; phổi và một đống tứ đại này. Một chữ "thủ" thật là to lớn gắn vào trong sắc uẩn, chữ thủ là một sự dính mắc, dính chặt, luôn luôn lúc nào cũng suy nghĩ sắc này là tôi, sắc này là của tôi, sắc này là tự ngã của tôi. Thế nên, phần nhận diện sắc uẩn là cả một công trình tu tập bên trong, chứ không phải chỉ nói "sắc là tứ đại, sắc do tứ đại tạo thành" là xong. Sắc uẩn được phát ra từ trong bậc Chánh Đẳng Chánh Giácm mình đọc là chỉ có đọc thôi chứ chưa thấy thật sự, chỉ thấy đơn giản đống thịt mấy chục kí này là sắc, chứ chưa thấy mình gắn một chữ tôi to lớn, đi đâu làm gì cũng “tôi làm”, “tôi nói”, “tôi hiểu”, “tôi thấy biết”… Cho nên mỗi thời khóa tu là phải lạy bài "Sám hối diệt ngã", bài này là Thánh trí để phá vỡ chữ "thủ", chữ "ta", chữ "ngã". Vì vậy, sự nhận diện về sắc uẩn là không chỉ đơn sơ mà nhận diện rằng "tôi đang đi", "tôi đang ăn", "tôi đang nằm"… Phải thấy được sắc đang đi, đang uống, cục thịt sáu chục kí này đang nằm, đang động chuyển, mình gỡ chữ "tôi" trong suy nghĩ, phải tẩy não vì trong đầu đã gắn chữ "tôi" vào tủy não rồi.

Cánh cửa đầu tiên của Đức Phật là "sắc không phải là tôi","thọ không phải là tôi","tưởng không phải là tôi", "hành không phải là tôi"," thức không phải là tôi". Chúng ta phải niệm và nhắc nhở cho ngấm từ từ rồi mình Như Lý Tác Ý, nghe pháp và quán chiếu nghiềm ngẫm thâm sâu thì mới tách ra để thoát ra đối với năm uẩn, xuất ly vô minh và khát ái đối với năm uẩn. Vô minh là sự không thấy không biết thân tâm này là năm thứ tạo thành, không hiểu rõ năm nhóm này là một tổ hợp, cứ cho rằng năm thứ này là một cái “mình” nguyên khối, duy nhất “tôi” và “của tôi”.

Nhận diện sắc uẩn này không đơn giản, phải nhận diện sắc uẩn qua sáu khía cạnh:

Nhận diện về hơi thở;

Nhận diện về oai nghi;

Nhận diện về hành động;

Nhận diện về tứ đại;

Nhận diện ba mươi hai thể trược;

Nhận diện chín giai đoạn của một xác chết.

Đây là sáu phương diện niệm thân, gọi là phá thân kiến, là sáu vũ khí của Thánh trí mà Đức Phật trao cho mình để phá cái nhìn sai lầm về sắc uẩn. Từ đó, gỡ chữ "thủ" ra từ trong nhận thức, từ trong quan niệm, từ trong cách nhìn, từ trong cảm giác và suy nghĩ. Tháo gỡ ra được thì quý vị có hướng bắt đầu chấp nhận lời Đức Phật dạy, đó là thấy được “không phải tôi”, “không phải của tôi”. Quý vị đang thực tập con đường tháo gỡ ra thì quý vị đã bước vào hàng bốn đôi tám chúng, chính là Hướng Dự Lưu, hướng về trí huệ tháo mở chấp thủ đối với năm uẩn, khi đó, mình phải vui, tinh tấn, hoan hỷ và phấn khởi.

Cả một sự nhận diện về sắc uẩn như hơi thở vào ra thì mình phải kèm theo chữ "hơi thở này không phải là tôi, không phải là của tôi", điều này hết sức quan trọng dựa trên kinh nghiệm thực tập mà Minh Thành chia sẻ cho quý vị. Quý vị nhớ rằng, khi thở, không phải quý vị nghĩ là "tôi đang thở", mà cần phải rõ biết hơi thở này chỉ là phong đại, ngay lúc đó là mình đang nhận diện tứ đại ngay hơi thở, chứ không phải chỉ là "tôi đang thở". Thành ra, chữ “tôi” trong Tứ Niệm Xứ gây ra hiểu lầm, vì chữ mà Đức Phật sử dụng không có chấp thủ, còn mình sử dụng là mình bị dính liền. Bình thường, khi chúng ta nói "tôi đang thở", "tôi đang đi" thì đã có quan niệm về tôi ở trong đầu, cho nên, khi thực tập mình hãy bỏ chữ “tôi”, chỉ là phong đại đang thở, trong hơi thở này không có gì là tôi, không có gì là của tôi. Như vậy mỗi một lần thở, mỗi lần quay về hơi thở là một lần mình gỡ sự trói cột, bám chặt trong đó, và chính cái buộc chặt này làm mình khổ. Cho nên, nhận diện về hơi thở là mình tháo gỡ chấp thủ về tôi, rõ biết hơi thở này là phong đại không có tôi, không có của tôi trong hơi thở này. Như vậy, chúng ta không những biết rõ hơi thở vào ra một cách sáng tỏ mà còn tháo gỡ cái chấp thủ trong hơi thở.

Niệm oai nghi là đi, đứng, nằm, ngồi. Mình không dừng lại ở chỗ đi biết đi, đứng biết đứng, nằm biết nằm mà mình còn niệm nhận diện về tứ đại. Lúc đó tứ đại đang đi, đang đứng, đang ngồi, đang nằm. Sắc uẩn đang đi, đứng, nằm, ngồi. Cục thịt, cái bong bóng da đang đi, đang đứng, đang ngồi, đang nằm. Hãy gỡ cái tôi ra, cái bản ngã ra, mở cái tự ngã ra. Trong cảm giác, suy nghĩ của quý vị thì quý vị mở từ từ, nhiều khi mình nói "tôi tu Tứ Niệm Xứ" mà lúc nào cũng tôi trong đó, đó chưa phải là Tứ Niệm Xứ chánh thống của Như Lai.

Chính vì vậy, chúng ta phải nhớ cái bị thịt này, nhiều năm mình khổ luyến ân tình vì bao máu mủ này, bao nhiêu năm mình sầu, bi, khổ, ưu, não vì cái bao thịt này, ai đụng vào là phựt lửa, ai nói tới là ăn không ngon ngủ không yên, chỉ cần một lời phê phán chỉ trích là sân hận. Mình đã khổ bao nhiêu với bao máu mủ này rồi. Mình đã nhọc nhằn bao nhiêu với đống thịt này, mình đã chảy bao nhiêu dòng lệ với lớp xương da này. Mình đã suy nghĩ bao nhiêu vạn lần để lo cho bong bóng này. Mình đã tạo bao nhiêu những thứ ác nghiệp để tô bồi cho bộ xương khô này. Mình đã bao nhiêu ngàn lần mừng giận thương ghét cho đống thịt bầy nhầy này, đã bao nhiêu lần mình tham, dục, ái cho túi thịt máu này.

Chúng ta phải có sự quán chiếu thật là sâu sắc, thật là quán triệt, mỗi ngày phải thực tập quán chiếu, phải dùng ngọn đèn của mình mồi vào ngọn lửa Thánh trí của Đức Phật trong những lời kinh Nikāya giảng giải. Nghe, như lý tác ý, tư duy, quán chiếu, tu tập để hiện rõ bản chất của sắc uẩn này là trống rỗng, là vô thường, là bất tịnh. Đó là một sự thật! Đâu phải Đức Phật nói xa xôi mà mình không thấy sự thật, mình chạy theo dục, chạy theo tham, chạy theo ái. Đòi hỏi, tìm kiếm, chạy đuổi suốt cuộc đời không thỏa mãn, "các dục chưa thỏa mãn, đã bị chết chinh phục rồi"(Kinh Pháp Cú, Phẩm Hoa).

Khổ! Khổ cho đống xương da này, khổ vì đống máu thịt đã bốn năm chục năm, khổ vì tấm thân vô thường, tạm bợ mong manh, mê đắm thân này, ái thân này, si ở trong thân này, mù lòa ở trong thân này, mù lòa với những hình sắc này. Khi con mắt nhìn thấy, tiếp xúc là mù lòa, khi phát sanh ra những cảm giác thì trong những cảm giác đó cũng mù lòa, trong sự ưa thích đó càng mù lòa sân hận, mù lòa si mê, mù lòa bản ngã, mù lòa đối với tất cả. Tất cả chúng ra đang sống trong sự mù lòa. Nếu không thực tập nhận diện năm uẩn là mình sống trong mù lòa mãi mãi. Mù lòa với tim, gan, bao tử, tỳ phế thận, chỉ cần một lớp da phủ lên là mình bị lừa dối ba bốn chục năm, một khi phanh phui lớp da thì trào ra bộ đồ lòng, máu mỡ tràn ra, lộ ra đầu lâu, một đống phân và nước tiểu. Khổ! Khổ là một đời sống mù lòa không thấy, không biết, không mở được con mắt pháp, không khai được tuệ nhãn, không nghe lời Đức Phật mà nghe lời của dục tham ái, nghe lời của sân, của bản ngã. Như thế nó lôi chúng ta đi trong đau đớn, cay đắng, hoạn nạn.

Thương thay cho một cuộc đời vô minh, khát ái, một cuộc đời bị dối lừa từ trẻ đến già bạc đầu. Suốt đời làm nô lệ để phục dịch, cung phụng cho tấm thân này. Làm đầy tớ cung phụng cho nó và cuối cùng nằm trên gường bệnh thoi thóp lên những hơi thở khó khăn, rồi đứt hơi. Thân này nằm dài trên đất. Gió đã đi ra, lửa cũng không còn chỉ còn thân thể lạnh ngắt, xanh xao, bầm đen. Bắt đầu năm, bảy ngày sau là nứt nẻ, máu mủ chảy ra, những chất dịch chảy ra và bốc mùi nồng nặc, hôi thối không chịu nổi. Những con kền kền, diều hâu, quạ, chó rừng… gặm nhắm, tranh nhau ngoạm từng miếng thịt, ruồi nhặng bu vào, dòi từ bên bò ra lúc nhúc ăn hết bộ đồ lòng, từ hai khóe mắt tuôn dòi ra ăn hết, lúc nhúc những còn dòi từ trên đầu xuống chân. Máu lần lần khô quắt, còn lại một đống xương da và vài cọng gân. Một, hai năm rệu rã hết da, rệu rã gân không còn, vương vãi một ít là những giọt máu, lần lần máu khô hết rồi bày ra một bộ xương trắng như vỏ ốc. Vài năm sau xương cũng rã ra, đây là xương xọ, kia là xương sườn, chỗ nọ là xương ống chân, xương tay, xương ngón chân. Lần lần những bộ xương này cũng mục rã và cuối cùng nát ra thành tro bụi, không còn lại gì nữa, chẳng còn một gì nữa, không có cái gì là tôi, là của tôi ở đây nữa. Đó là thành quả của sáu bảy chục năm hơn thua, đố kỵ, ganh tị, chấp ngã, cống cao, khen mình chê người, dương dương tự đắc, cả một cuộc đời tạo nghiệp. Hãy nhìn bằng con mắt trí huệ để xuyên thủng lớp da, khối thịt này. Mình đã khổ với nó như vậy là đủ rồi, mình đam mê tham đắm như vậy là vừa rồi, dục ái đến đây là đủ rồi. Trong đống sắc uẩn này không có gì là tôi, không có gì là của tôi.

Đó là chúng ta nhận diện sắc uẩn, mỗi một ngày phải thực tập. Minh Thành sẽ đem những bài quán chiếu để trong trang linhquyphapan.vn, quý vị chỉ cần mở lên và ngồi thực tập theo. Thực tập cái này thì lợi ích và an lạc của nó là siêu việt thời không, bất khả tư nghị, nó sẽ giải quyết được tất cả sầu bi khổ ưu não và bản ngã ở trên cuộc đời này, không có gì nó không giải quyết được. Đây là Thánh trí có công năng xuyên thủng khối vô minh uẩn to lớn và dập tắt tất cả khát ái trong ngũ uẩn, được truyền thừa từ Đức Thế Tôn trong ba ngàn năm qua. Những người mới sẽ có tâm lý sợ, nhưng mọi người đừng sợ! Phải vui sướng, hân hoan vì Đức Thế Tôn đã “phơi bày những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối để những người có mắt có thể thấy được rõ ràng các sắc để dựng lại những gì đã ngã đổ”, đây là công năng của Chánh Pháp tối thượng ly tham, thiết thực và hiện tại, có hiệu quả tức thời.

Khi nãy Minh Thành đã hướng dẫn một chút thiền quán cho quý vị. Quý vị có cảm thấy ngao ngán hay bớt ham muốn với thân này không? Đó là kết quả thiết thực hiện tại, không có trải qua thời gian. Thực hành ngay chỗ đó là có hiệu quả lập tức, đó là công năng của giáo pháp ly tham, đó mới thật sự là Thánh trí, Thánh pháp, Thánh đạo và sẽ đưa đến Thánh quả. Đừng sợ! Cứ việc thực tập từ từ rồi sẽ thẩm thấu từng chút một. Minh Thành biết cái vòi trong nhà vệ sinh bị hỏng, cái vòi chảy ra từng giọt nước. Để thau rỗng hứng thì Minh Thành về núi đến một tuần sau quay về thì cái thau đầy nước, Minh Thành quát nhiên đại ngộ. Chỉ cần một ngày vài giọt thôi, một ngày quý vị thiền quán nghe và thiền quán 45 phút thì những giọt nước đó sẽ làm cho quý vị tràn đầy cái thiền định và giải thoát cho quý vị. Quan trọng là phải đều, bền bỉ và ý chí kiên định. Phải làm cho đều đặn và liên tục thì quý vị sẽ thấy kết quả của nó là không thể tưởng tượng được.

Phần Thân Hành Niệm là tuyệt đối quan trọng. Nếu không thực tập cái này thì quý vị đừng mong nhiếp phục được ngũ uẩn, nếu được thì chỉ đôi phần nhỏ nhỏ thôi. Thân Hành Niệm này là bước quan trọng. Phần niệm thọ, niệm tâm hay niệm pháp thì Đức Phật nói đơn giản, nhưng phần niệm thân là Đức Phật phơi bày hết tất cả những gì bị giấu kín. Những cái đó Đức Phật không nói thì tới chết mình cũng không biết, trừ bác sĩ làm bên giải phẫu, còn không là mình không thấy được bên trong. Phơi bày những gì bị che kín là Thánh trí của Đức Phật.

Nhận diện về thọ uẩn, về cảm giác thì Minh Thành chia sẻ rất nhiều, quý vị tìm nghe bài "Cảm giác nhận chìm thế giới 1,2,3". Phải nhận diện cảm giác để mình nhiếp phục, luôn luôn thực tập cảm giác toàn thân, an trú những tưởng, những hình bóng trong nội tâm phải tập nhìn, tập thấy biết. Phải tập nhận rõ những suy nghĩ, đang có suy nghĩ gì và cái suy nghĩ đó là thiện hay bất thiện, đó là trạch pháp giác chi trong thất giác chi. Mình phải biết suy nghĩ đó có tham, có sân, có si hay không, có suy nghĩ về sân, về hại, về dục không. Trong nhận thức mình phải thấy rõ các pháp duyên sanh.

Đó là Minh Thành nói bước quan trọng thứ hai là nhận diện sắc uẩn, nhận diện ngũ uẩn.

Sự quan trọng của pháp cung kính

Bây giờ đến bước quan trọng trong căn bản tu tập chính là sự cung kính, thiếu cái này thì người này không thể nào bước đi trên lối vào Thánh đạo. Sự cung kính phải đặt lên hàng đầu, nếu một người có bản ngã to lớn thì người này học pháp không bao giờ đi đến được viên mãn.

Đức Phật dạy giáo pháp muốn được hưng thịnh thì người đó phải cung kính đạo sư, cung kính pháp, cung kính Tăng, cung kính thiền định và cung kính đón tiếp các bậc trưởng thượng hay đón tiếp tất cả mọi người. Cung kính Đức Phật tuyệt đối và cung kính vị hướng dẫn pháp cho mình một cách tuyệt đối, thiếu sự cung kính thì mình học pháp sẽ không thành công đến chỗ trọn vẹn. Mà sự cung kính này được phát khởi từ một tâm chân thành do thấy, do biết, do hiểu giá trị vĩ đại của Phật, pháp, Tăng và Thánh giới. Nó được thiết lập trên bốn Dự lưu phần chứ không phải sự cung kính máy móc hay bằng hình thức, nó phải sâu thẳm từ bên trong sự thấy biết của trí huệ, thấy biết cái lợi ích vĩ đại của Tam bảo, Thánh giới.

Minh Thành từng chứng kiến rất nhiều, khi đứng lớp giảng dạy cho hàng ngàn Tăng Ni, cạo tóc cho nhiều người xuất gia, tiếp xúc rất nhiều Phật tử ở nhiều giới, Minh Thành thấy người nào có tâm cung kính chân thành thì người đó thành tựu pháp. Còn người nào có bản ngã to lớn dù cho có làm gì đi nữa mà họ không nhìn lại để nhận diện thì cuối cùng họ rơi rớt, thối đọa. Cho nên, sự cung kính là hết sức quan trọng, phải cung kính Phật, cung kính pháp, cung kính Tăng, cung kính bậc đạo sư đã chỉ dẫn con đường cho mình. Hơn thế nữa, không những phải cung kính những bậc trưởng thượng, trưởng lão mà ngay cả những bậc ngang hàng với nhau, thậm chí với người thấp hơn mình thì chúng ta cũng phải có sự tôn trọng.

Chúng ta hãy nhớ rằng, bằng tâm hiền thiện, chân chánh, người chân thành, chân chánh thì mới có thể bước vào pháp chân chánh, bằng tâm chân thành của mình thì mình mới đạt được pháp tối thượng. Còn học theo kiểu nghe pháp này coi được hay không, nghe thử rồi làm thử thì như vậy cái được của mình chỉ có hai, ba chục phần trăm chứ không đến được cái pháp thật sự trọn vẹn, rốt ráo.

Riêng kinh nghiệm bản thân Minh Thành ba chục năm đi tìm đạo khắp trong ngoài nước, từ các bậc đại Hòa Thượng, Danh Tăng, Cao Tăng, trưởng lão đức độ, lãnh đạo tối cao của giáo hội cho đến những vị tu hành bình thường không có chức phận thì Minh Thành đi lạy từng vị, đảnh lễ cầu pháp, thậm chí là nhất bộ nhất bái, mà không phải lạy trên chỗ láng mịn, lạy trên đá sỏi. Trong bộ Tôn Túc pháp ngữ thì Minh Thành đi lạy khoảng ba mươi vị Cao Tăng từ Bắc chí Nam, bất cứ chỗ đạo tràng nào có Danh Tăng, Cao tăng đức độ là đi tới thưa thỉnh, học hỏi, lạy lục. Đối với những vị cư sĩ thì Minh Thành vẫn cung kính, thậm chí là đảnh lễ nếu những vị đó thật sự có Chánh Pháp. Không có hàng cột trên hình thức mình là thầy, là tu sĩ còn người kia là cư sĩ hay là Phật tử, hay mình là trụ trì. Tất cả những cái đó mình phải dẹp hết thì mình mới có thể đi vào được Thánh trí của Đức Phật, mới thấy được Chánh Pháp.

Cuối cùng, nói theo dân gian là "hoàng thiên bất phụ hảo tâm nhân", ông trời không phụ lòng người tốt, thậm chí có lúc Minh Thành không muốn sống nữa, nhưng sau ba mươi năm gian khổ khó khăn thì ngày hôm nay Chánh Pháp rực sáng và đang xoay chuyển Linh Quy Pháp Ấn và Bửu Liên Tự.

./.