Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Phân Biệt Sáu Thức

2026-03-03 00:56:06
Khóa Tu NIKĀYA Hà Nội Lần 2

PHÂN BIỆT SÁU THỨC

Thích Minh Thành

Phật tử A: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên quý thầy cùng toàn thể đại chúng, xin sư phụ phân tích thêm ý thức, rõ biết trong ngoài sáu trần.

Sư Phụ: Chúng ta sẽ rất bất ngờ trước trí tuệ của Đức Phật, chúng ta nghĩ rằng thế giới này muôn màu muôn vẻ, bao la, đầy màu sắc nhưng với con mắt Đức Phật thì không phải vậy mà chỉ có hai thôi.

Này các Tỳ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về cả hai. Hãy lắng nghe. Này các Tỳ-kheo, thế nào là cả hai?

Mắt và các sắc, tai và các tiếng, mũi và các hương, lưỡi và các vị, thân và các xúc, ý và các pháp. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là cả hai. (Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (b), Phần Hai - Năm Mươi Kinh Thứ Hai, IV. Phẩm Channa, IX. Cả Hai)

Mình gọi là thế giới mà trong trí huệ của Đức Phật chỉ có hai cái: Mắt và sắc, tai với tiếng, mũi với mùi, lưỡi với vị, thân với sự xúc chạm, ý với những thọ; tưởng; hành bên trong. Sau khi mắt thấy sắc thì sanh khởi lên sự rõ biết các sắc và sau đó là thương hoặc ghét, thích hoặc không thích, tham hoặc sân sanh khởi lên, chúng ta có đi đến đâu thì cũng chỉ vậy thôi, chỉ là con mắt và các sắc. Vô vàn âm thanh khác nhau trên đời này cũng chỉ là lỗ tai và tiếng, sau khi nghe cũng khởi lên thích hoặc không thích, ưa hoặc ghét. Vì thế trong kinh Tứ Niệm Xứ đã nói chế ngự tham ưu ở đời, tham là ưa, ưu là ghét, Đức Phật đưa hai cái này để đại diện cho tất cả phiền não, hễ thấy đẹp là thích, xấu là ghét bỏ, tiếng khó chịu là bực mình, sân hận, tiếng ngọt ngào thì ưa thích nhưng khi ra khỏi đó rồi mà âm thanh đó vẫn còn vang vọng trong đầu, mấy năm sau vẫn còn vang lại, đó là thanh tưởng vang lại trong nội tâm. Khi âm thanh đó vang lại trong nội tâm thì một là mình thích hai là mình sân hận, hai loại âm thanh đó là hai loại nổi cộm mà mình cất giữ trong tim. Như vậy mình có sáu sự rõ biết, con mắt nhìn có sự rõ biết sắc, lỗ tai nghe tiếng sẽ có sự rõ biết âm thanh… như vậy sáu căn tiếp xúc với sáu trần, con mắt tiếp xúc với các sắc và những màu sắc này dễ làm sanh khởi lên bụi đời nên gọi là sắc trần, không phải những người đi lang thang ngoài mới gọi là bụi đời mà con mắt chỉ cần nhìn thấy thôi đã vấy bụi, đó là sắc trần làm cho tâm mình bị mờ tối. Sáu trần là sáu thứ bụi đời, sáu đối tượng đó làm vấy bụi nội tâm mình vì thế Đức Thế Tôn nói sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp và mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý có khả năng làm cho sanh khởi kiết sử, sai khiến chúng ta. Chính vì vậy tu là giảm bớt tiếp xúc những thứ có thể làm sanh khởi lòng dục, lòng tham, mình phải đề phòng, canh chừng kĩ càng.

Khi nghe âm thanh khởi lên sự rõ biết âm thanh, khi có mùi thì rõ biết mùi, có vị thì rõ biết các vị, thân đụng chạm thì rõ biết chỗ đụng chạm, đó là năm thức trước, gọi là tiền ngũ thức, đối tượng của nó là ngũ trần. Sự rõ biết các sắc gọi là nhãn thức, rõ biết âm thanh là nhĩ thức, rõ biết mùi là tỷ thức, rõ biết các vị là thiệt thức, sự rõ biết đụng chạm ở thân là thân thức. Năm thứ này biết ở ngoài nhưng ý thức là biết bên trong, ý thức chỉ biết được những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm. Khi nhận diện năm uẩn là nhắm mắt hướng vào bên trong nội tâm để nhận diện, còn khi mở mắt hướng ra ngoài nhìn người này người kia, cảnh này cảnh nọ, nghe âm thanh tâm sẽ bị phân tán, pháp bên trong không hiện rõ ra. Vì vậy trừ những người đã tu tập thuần phục, thiện xảo, khéo léo tuy con mắt mở bình thường nhưng thấy rất rõ bên trong, còn người mới tu cần đóng các căn bên ngoài lại, nhìn vào một thứ bên trong để các pháp bên trong hiện rõ ra, gọi là pháp trần. Pháp trần gồm có cảm giác, hình bóng và những suy nghĩ, nếu không nhìn vào bên trong mà cứ nhìn ra ngoài thì lúc đó chỉ là sự hướng ngoại, rõ biết bên ngoài còn bên trong không biết, lúc đó tham có, ái có mà mình không biết. Nhưng mình lại là chuyên gia hướng ngoại, nói về bên ngoài mình rành rẽ nhưng trong nội tâm mình lại không biết, vì thế mà năm thức trước rất bén nhạy với ngoại cảnh. Ý thức là rõ biết bên trong, ngồi thiền là nhằm nội soi bên trong, khi nhìn lại bên trong mới thấy cảm giác như thế nào, có hình bóng gì, đang suy nghĩ cái gì, đó là ý thức nhưng quan trọng là phải để ý trở lại bên trong thì pháp mới hiện ra, còn không để ý quán sát pháp không hiện ra. Ví dụ khi nhìn rõ khung hình mới thấy bên trong khung hình có hình rồng bằng kim tuyến, khi mình để ý pháp nào thì pháp đó hiện ra. Khi mình để ý vào vai hoặc lưng thì cảm giác ngay đó hiện ra còn không để ý thì không có cảm giác. Nhưng mình phải để ý bằng cách khách quan, đúng đắn, chân xác, đúng như sự thật sẽ khác với để ý vì nghi ngờ, tưởng tượng. Vợ chồng thường hay ghen tuông do để ý nhau bằng sự nghi ngờ, suy tưởng không đúng sự thật. Còn Đức Phật dạy thiền là nó như thế nào thì thấy đúng sự thật như thế, như vậy mới gọi là như thật tri kiến, là thấy biết đúng sự thật. Khi mình để ý lại trong tâm có hình bóng gì hiện ra hình bóng đó, có suy nghĩ gì thì đọc được suy nghĩ đó, có cảm giác gì thì biết cảm giác đó. Bây giờ mình để ý lại cảm giác thấy đang có hỷ thọ, một cảm giác lâng lâng trong pháp, lát sau nghe tiếng kèn trống đám tang lớn lên thì có cảm giác ưu thọ nhưng cái buồn này tốt. Vui mừng theo ngũ dục là không tốt vì cái vui mừng đó làm ái tham dục tăng trưởng, còn vui mừng trong pháp sẽ đưa đến ly tham cho nên chúng ta đang nói đến cái hỷ của đạo pháp, cái hỷ không liên hệ đến vật chất. Cái ưu là buồn lo, nghe tiếng đám ma mình biết cuộc đời này vô thường, phải cố gắng tu tập vì bệnh tật, già nua rồi, thì cái ưu lo của đạo, làm tăng trưởng sự viễn ly, giải thoát nên cái ưu đó cần đó, không phải tu là không có buồn vì cái buồn này tốt lành, buồn vì trí tuệ thì cái buồn đó là thiện pháp. Cần buồn để tu cho nên có những cái buồn là tốt, đừng sợ buồn. Buồn vì tu hoài mà vẫn sân hận, hở chút là sân, hở chút là giận nên buồn, ưu lo thì cái ưu lo này là thiện pháp công đức. Còn ưu lo những cái ngũ dục bên ngoài là ưu lo của thế gian, có cái nhà lại muốn thêm cái nữa rồi lo tính bạc đầu. Cho nên phải nhớ cái ưu lo làm xa rời tham sân si, nhiếp phục bản ngã thì ưu lo đó là thiện pháp công đức, đó là tàm quý, tức là xấu hổ và sợ hãi đối với ác bất thiện pháp. Mình ưu lo với tánh nóng của mình, hở chút là la lối, mắng chửi, hở chút là sân si, tức giận thì phải đáng lo, mình làm cho gia đình bất an, không vui vẻ, lúc nào cũng đốt lên ngọn lửa bực bội nên phải lo để dập tắt cái này thì cái lo đó rất quý, cái lo đó sẽ giúp tu tiến bộ. Mình có bệnh thì lo tìm thầy thuốc trị bệnh, thân có bệnh thì lo mà sao tâm bệnh lại không lo? Bậc Thánh nhân chỉ lo tại sao không diệt được tham sân si, bản ngã, lo tại sao nó cứ hoành hành, quậy phá mình, lo cảnh sanh, già, bệnh, chết. Từ mối lo này các ngài mới vượt lên và giải thoát, Thái Tử Tất-đạt-đa thấy cảnh sanh, già, bệnh, chết nên ngài ưu tư, lo lắng, muốn tìm ra một lối thoát và chính cái lo đó mới đưa ngài đi xuất gia tầm đạo và chứng ngộ, vì thế cần phải lo. Lo cái đáng lo, lo cái nên lo, lo cái phải lo, nhiều lúc mình đặt tâm sai hướng lo những chuyện không cần lo, đến chuyện cần lo lại không lo.

Tâm của chúng ta không phải là một cái biết trọn vẹn mà nó là những cái biết riêng lẻ, những cái biết riêng biệt, gọi là nhãn thức giới, tỉ thức giới, nhĩ thức giới, thiệt thức giới, thân thức giới, ý thức giới. Tức là mỗi cái rõ biết có một lãnh vực, phạm trù cho nên nhãn thức chỉ rõ biết sắc chứ không rõ biết âm thanh, nhĩ thức chỉ rõ biết âm thanh chứ không thể biết mùi được. Khi ngồi thiền phải tập nhận diện nhãn thức, tỉ thức, thiệt thức… Thiệt thức chỉ rõ biết các vị chứ không thể rõ biết sắc được, thân thức chỉ rõ biết sự đụng chạm của thân thôi, ý thức thì biết thọ; tưởng; hành. Như vậy sáu cái biết đó riêng biệt, do nhân duyên mà sanh khởi ra các cái biết đó, do xúc sanh ra thọ căn trần, tương tác với nhau sanh khởi ra thức. Cái thức này là duyên sanh, là sự lắp ráp, là điều kiện, là sự kết hợp, mình không để ý là mình không biết, mình ngồi ca hát chơi đùa mà không để ý là không thấy con rắn ngay sát mình, vì thế mà cái biết của mình rất hạn chế, rất vô thường, tạm bợ, nhỏ hẹp cho nên đừng tin tưởng vào cái biết này. Thức cộng với thọ; tưởng; hành làm ra một cái biết mà cái biết này do dục ái, do nghiệp, do thọ. Khi xúc sẽ sanh ra cảm giác, sanh ra sự ham muốn, thói quen cho nên xúc sanh thọ, sanh dục, sanh nghiệp. Ví dụ đang ngồi mà hình bóng của người mình tức giận hiện lên trong tâm, sanh ra cảm thọ khó chịu, suy nghĩ bực bội đi theo cho nên đừng tin tưởng vào cái biết, thậm chí mắt thấy tai nghe nhưng đừng phản ứng vội mà hãy bình tĩnh, điềm tĩnh, nếu mình không thâu nhiếp, không phòng hộ, không bảo vệ, không nhiếp phục sẽ đem lại khổ đau. Mắt thấy tai nghe, cảm xúc như vậy nhưng chưa chắc đúng sự thật vì cái thấy biết của mình ở trong vô minh và tham ái, cứ bình tĩnh rồi từ từ quán chiếu sâu sắc rồi hãy quyết định. Chỉ cần nghe có người nói mình như vậy là mình giận bừng bừng lên nhưng có phải như vậy không hay chỉ là tin tức giả tạo, cho nên trong sự tiếp xúc, sự nhận thức của mình cần phải trầm tĩnh, sức niệm – định – tuệ cực kì quan trọng, sự chánh niệm ở nơi thân thể, cảm giác, nội tâm và cái gì đang diễn ra bên trong, đây cũng là Tứ Niệm Xứ, quán thân – thọ – tâm – pháp. Tức là nhìn thân thể, những cảm giác, trong nội tâm đang có gì vận hành trong đó cần nhìn rõ ràng, minh bạch, tường tận. Nhìn với ánh nhìn của trí tuệ mà bậc Chánh Đẳng Giác truyền trao vì thế thức là sự rõ biết nhưng trí tuệ là phải do tu tập mới có. Trước khi học dòng pháp này, trước khi biết nhận diện năm uẩn thì không biết năm uẩn là gì, mình không biết cái nào là sắc; thọ; tưởng; hành; thức, mình không biết cái gì tập khởi ra sắc; thọ; tưởng; hành; thức, mình không biết làm sao để nó chấm dứt, không biết con đường đưa đến sự chấm dứt vô minh, tham ái, chấp thủ với ngũ uẩn, không biết vị ngọt, sự nguy hiểm và tác hại của nó, không biết con đường thoát ra khỏi nó. Trước đó mình toàn sử dụng tình thức, thường thức, vọng thức, là cái biết trong tưởng tri, thức tri chứ không phải cái biết trong tuệ tri. Trước khi học Chánh Pháp thì mình vẫn biết nhưng cái biết đó là cái biết của vô minh, biết theo nghiệp, biết theo thường tình, thế tình thông thường nhưng đến khi tu học, nhận diện ngũ uẩn, nhận diện cảm giác tham sân si, bản ngã, học thành tựu trí huệ về Khổ - Tập Thánh Đế, mình biết những thứ này là nguyên nhân sanh ra khổ, mình muốn hết khổ thì phải chế ngự, nhiếp phục, đoạn tận nó thì cái biết này là trí tuệ, do sự tu học và thực tập Chánh Pháp mới có cái biết này và kẻ phàm phu, không phải là bậc Đa văn Thánh đệ tử, không thực tập đúng Chánh Pháp thì không thể có trí tuệ này vì đây là trí tuệ của bậc Thánh, tức là trí tuệ giác ngộ do bậc Chánh Đẳng Giác chứng ngộ và truyền trao, mình là người được nghe, được hiểu, được thực tập thấy biết trí tuệ này. Khi mình nghe hiểu, thực tập mới có ra trí tuệ này và trí tuệ này có ra là do sự nghe, tư duy và tu tập ở mức độ nào thì trí huệ này sanh khởi, tăng trưởng, phát triển theo mức độ đó. Đến một mức nào đó là Nhập Lưu, tức là trí huệ này đầy đủ để thấy biết về sự đau khổ, sự vô thường, vô ngã trong ngũ uẩn. Đến khi trí huệ này tăng trưởng, phát triển quảng đại phá được những phần tham sân si, vô minh, bản ngã sẽ có các tầng Thánh quả. Lúc trước chưa học, chưa tiếp xúc Thánh Pháp thì mình không biết được cốt lõi, hồng tâm vận hành thế giới là tham dục, bây giờ mình đã thấy đã biết, đi đâu cũng chỉ là tham sân si, đau khổ, đó là trí tuệ đã thành tựu mới nhìn thấy được, lúc trước nhìn đâu cũng tươi đẹp, tưởng tượng một ngày mai, một tương lai tương sáng hơn hiện tại, còn giờ nhìn thì hỡi ơi chỉ toàn tham dục, sân hận, bản ngã, không có gì khác ngoài những thứ này. Toàn bộ thế giới này chỗ nào cũng vậy nên mới gọi là dục giới, thế giới của dục. Khi đã biết như vậy, cảm xúc như vậy là từ trí tuệ mới có, cho nên rõ biết là thức, thức là rõ biết nhưng trí tuệ là do tu tập mà thành tựu.

Sự tu này trải qua ba bước, là văn – tư – tu, bậc Đa văn Thánh đệ tử phải nghe nhiều Chánh Pháp, sau đó tư duy, nghiền ngẫm thật sâu sắc, vận dụng vào tu tập để thành tựu trí tuệ. Trí tuệ này là bất cộng, phàm phu không có, không chung cùng với phàm phu, đây là sự khác nhau giữa thức và trí. Thức là thấy biết, cảm nhận, thấy cái nào cũng là thật, cái nào cũng gắn tôi vào đó, cái nào cũng dục, tham ái, sân si, bản ngã, còn cái biết này là tuệ tri, không phải tưởng tri là cái biết do suy tưởng, do tưởng tượng, không phải là thức tri, là cái biết do học hỏi những kiến thức, kinh nghiệm từng trải. Cái biết do nghe pháp, nghiền ngẫm, suy tư, quán chiếu đúng với Thánh trí tuệ, do thực tập liên tục, chiêm nghiệm thật nhiều, cảm nhận thật sâu sắc bằng sự thẩm thấu về chân tướng của sự thật thân tâm này thì sanh khởi ra cái biết đó thì gọi là Thánh trí tuệ, là trí tuệ của bậc Thánh. Nhưng cái biết này chỉ mới khởi động nơi thân tâm vì thế khi mờ khi tỏ, khi sáng khi tối, lúc có lúc không, còn nếu cứ duy trì sáng hoài thì thể nhập, không bị mất đi thì Nhập Lưu, lúc nào cũng thấy đúng như vậy, không còn quay ngược lại thì gọi là Thánh đệ tử. Còn lúc thì thấy đúng như vậy, lúc lại thấy theo cái dục, thói quen thường ngày thì đó là phàm, là mê, sống với thức tình chứ không phải sống với trí tuệ, khi nào thấy đúng với chân lý, đúng sự thật Chánh Pháp, y chỉ ly tham, y chỉ viễn ly, y chỉ đoạn diệt hướng đến từ bỏ thì cái đó là trí tuệ, lúc đó người đó không phải phàm phu vì phàm phu không thể có được cái thấy biết trí huệ đó. Phàm phu là đau khổ, là phiền não, là rối bời như tơ vò trăm mối không có đường ra, vì thế khi trú trong trí tuệ nhìn ra các pháp thì tâm đó là tâm bình an, không đau khổ, dù cho vô thường đến với người thân thương nhất của mình trong gia đình nhưng khi đã trú trong trí tuệ của bậc Thánh thì mình vẫn không đau khổ, còn ra khỏi trí huệ để trở về với cái thường tình, tham ái, chấp thủ thì mình sẽ khổ, trú trong trí tuệ sẽ bớt khổ, ít khổ cho đến không khổ cho nên trí tuệ cần phải được tu tập.

Tu tập trí tuệ bằng cách quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm, quán pháp trên pháp. Tu tập trí tuệ bằng cách thường xuyên Như lý tác ý, nhắc nhở bản thân đừng đi theo con đường thế tình vì nó là con đường sanh tử thấp kém của đau khổ, của hạ liệt, của vô minh, si ám. Còn con đường kia là con đường cao thượng, trí tuệ, giác ngộ giải thoát, an lạc. Hãy đi con đường thanh tịnh, an lạc của các bậc Thánh, mình đặt tâm theo hướng này, mỗi lần đi sai hướng phải kéo lại, kéo cho đến chừng nào đi lên con đường này luôn là thành tựu, đó gọi là nhất hướng đối với Niết-bàn, hướng về Niết-bàn, nghiêng về Niết-bàn, nhập vào Niết-bàn, xuôi thuận vào dòng Niết-bàn. Người mới vào dòng pháp này nghe nói đến thân bất tịnh, nhơ nhớp sẽ bị bất ngờ nhưng tu được một thời gian sẽ chấp nhận sự thật này, những dòng nước mắt tuôn chảy dòng nước mắt của cảm xúc trí tuệ, nước mắt của chân lý sự thật và sự thể nhập vào Thánh trí bằng sự thấy biết tận mắt thân tâm mình và những đời sống xung quanh. Từ từ mình sẽ đi vào thể nhập, thâm nhập và khi đã chứng nhập thì cái thấy biết đó không bị mất đi nữa, được duy trì liên tục và an trú trong đó, đó là lúc tuyệt vời nhất, vinh quanh nhất của chúng ta. Chúng ta đã cầm ngọn cờ bất tử vẫy trong đỉnh vinh quang của tam giới, "chiến thắng bất tử".

May lắm cho chúng ta, phước báu cho chúng ta, vi diệu hiếm có khó gặp cho chúng ta vì đến giờ phút này chúng ta còn được nghe, còn được học, còn được hành trì, còn được thấy ngũ uẩn, thấy được tâm lậu hoặc của mình, đó là trí tuệ của Đức Phật, trí tuệ của bậc Thánh bắt đầu khởi động trong thân tâm chúng ta. Hạnh phúc, công đức tuyệt vời, chúng ta hãy luôn sống trong thế giới biết ơn, cảm ơn Thánh Pháp của Đức Phật, mỗi lần lạy trước tượng Phật là để cảm xúc biết ơn, tri ân, cảm ơn của mình phát triển dào dạt, sung mãn cùng khắp Trời Đất, lan tỏa ra sự cung kính, sự chân thành, sự biết ơn đối với bậc tôn quý nhất trên thế gian này, đối với Thánh Pháp tối thượng này, đối với chúng Tăng thành tựu chánh kiến này. Tưới tẩm, tăng trưởng, phát triển và nuôi lớn tịnh tính bất động, lòng tin không lay chuyển đối với Phật, đối với Pháp, đối với Tăng và đối với Thánh giới. Đó là bốn Dự Lưu phần mà hằng ngày mình phải tưới tẩm: Lòng tin với Đức Phật, lòng tin đối với giáo Pháp, lòng tin đối với chúng Tăng đi đúng con đường của Phật và lòng tin đối với Thánh giới, bốn cái này là điều kiện giúp chúng ta thể nhập vào dòng trí tuệ, gọi là bốn Dự Lưu phần, giúp chúng ta tham dự vào dòng Thánh Pháp trí tuệ vi diệu, tuyệt vời.

Phật tử A: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch thầy, qua buổi tu tập này con rất biết ơn và cám ơn thầy đã mang dòng pháp này đến trao truyền cho chúng con. Khi nghe thầy truyền đạt con thấy được những điều rất tốt đẹp và tự soi lại tâm mình xem mình từ trước đến giờ đã có những việc làm, thái độ, hành vi với chúng sanh khác ra sao. Bản thân con khi cảm nhận được cái sai, cái đúng muốn sửa tâm mình cho trong sạch, loại trừ hết những điều không tốt trong tâm. Hôm nay là buổi đầu tiên con được nghe về pháp, con rất xúc động và cảm thấy may mắn được biết đến dòng pháp để tu tập thoát khỏi khổ và đem đến an lành cho chúng sanh khác. Con cảm ơn thầy.

Phật tử B: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch quý thầy, con kính bạch sư cô, con kính thưa toàn thể đạo hữu. Trong thời pháp hôm nay con đã cảm thọ được về sự vô thường của cuộc đời này, không biết nhân duyên thế nào mà hôm sư phụ về Hải Dương giảng thì chúng con cũng được nghe và quán về đám tang, hôm nay chúng con lên đây dự khóa tu cũng được quán chiếu về vô thường, mất mát của thân ngũ uẩn này, khi ở nhà cũng đều có đám tang diễn ra, con thấy nhàm chán trong cuộc đời này. Từ khi con tu học dòng pháp Nikāya này con đã khóc rất nhiều, thời pháp sáng nay con cũng thọ nhận sự khổ thọ và ưu tư, những người đem đến đau khổ cho con hoặc làm con khổ đau thì con quay lại tri ân tất cả chúng sanh đã làm con khổ đau, cũng là những bài tập thật quý giá cho con tu học để con nhàm chán, để con nhận ra toàn bộ sự thật cuộc đời này, chỉ do căn và trần mà diễn ra các pháp nhưng do vô minh, si ám, chấp thủ vào ngũ uẩn này để nó lôi kéo mình đi. Hôm nay con có được dòng sữa pháp mà thầy truyền trao từ Đức Thế Tôn cho con tu học, con cảm thấy vô cùng thấm thía và vô cùng tri ân đến Đức Thế Tôn, con vô cùng tri ân đến Hòa Thượng Thích Minh Châu, con vô cùng tri ân đến sư phụ, con vô cùng tri ân đến cô Chơn Tín Toàn. Trong cuộc đời này con đã được thân người đầy đủ, được học Phật, được tiếp nhận dòng Thánh Pháp này, hôm nay trước Tam Bảo, trước sư phụ, trước quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đạo hữu, con xin hướng tâm về những người đã làm con khổ trên đời này, con xin tri ân và con cảm ơn đến thiện tri thức đã hướng dẫn cho con để con tu học nhưng vì vô minh, thiếu trí tuệ trong vô lượng kiếp này nên cái thọ của con hãy còn dục, còn chấp thủ. Hôm nay trước Tam Bảo, đối trước quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng, sư phụ là một bậc Chân nhân, là một bậc tu hành chân chánh, sư phụ đã tiếp nhận dòng Thánh Pháp vi diệu tối thượng này, sư phụ và một bậc đại diện cho bậc chân nhân của chư Tăng trên toàn thế giới hướng dẫn Thánh Pháp cho chúng con tu học. Con vô cùng sung sướng, con xin đảnh lễ, sám hối trước Tam Bảo cùng đại chúng để con diệt trừ được bản ngã và tham sân si, nay con đã biết tàm quý xấu hổ để con diệt trừ về sau và tiến tu vào dòng Thánh Pháp này. Thật sự con đã nhàm chán cuộc đời vô thường này lắm rồi, con chỉ muốn giải thoát khỏi các tham sân si, phiền não, khổ đau trên đời này, con chỉ thấy căn – trần đầy rác, sắc thân này cũng đầy rác, con đi đến chỗ nào cũng thấy rác bẩn, dù vẫn chưa nhiếp phục được nhưng con đã chán ngán lắm rồi, con chỉ muốn được yên thân tu tập, con không muốn chạy theo bên ngoài nữa. Sức tu của con vẫn còn yếu, con bộc bạch với thầy và các sư cô giúp đỡ để con tiêu trừ được nghiệp chướng này, con nhàm chán cuộc đời này lắm rồi, con chỉ muốn giải thoát khỏi nó thôi. Con xin sư phụ chứng minh cho con.

Sư Phụ: Nhân duyên này có cô Phật tử xin quy y Tam Bảo nên chúng ta cùng nhau hộ niệm để cô được thành tựu ba Pháp quy y.

Thầy Pháp Nghĩa:

Con chân thành đảnh lễ

Phật Thích Ca Mâu Ni

Đời này con xin nguyện:

“Thấy biết rõ ngũ uẩn,

Thấy biết rõ tự thân,

Thành tựu chánh tri kiến,

Thể nhập vào Thánh quả,

Con nguyện xứng đáng là

Người con Phật chân chánh”.

Con xin đảnh lễ Ngài

Phật Thích Ca Mâu Ni

Bậc đoạn tận tham ái,

Bậc đoạn tận sợ hãi,

Tâm Ngài không dao động,

Tâm không nhiễm thế gian.

Con xin đảnh lễ Ngài

Phật Thích Ca Mâu Ni

Bậc Vô Thượng giải thoát

Ngài là thầy của con

Ngài - vị dẫn đường con

Ngài - vị con quy ngưỡng

Con chân thành quy hướng

Đảnh lễ bậc Vô Thượng

Đảnh lễ bậc Chánh Giác

“Con xin quy phục Ngài,

Con xin làm đệ tử,

Làm con ngoan của Ngài”. (3 lần)

“Con xin quy phục Pháp,

Quy phục Pháp Tám Đúng,

Nguyện thành tựu Tám Đúng”. (3 lần)

“Con xin tôn kính Tăng,

Tôn kính đời Giới Đức,

Nguyện thành tựu Giới Đức”. (3 lần)

Sư Phụ: Con xin về nương Đức Phật, con xin về nương Chánh Pháp, con xin về nương chúng Tăng. Từ nay cho đến mạng chung, trọn đời con quy ngưỡng. (ba lần).

Cô chắp tay hướng về Tam Bảo và đại chúng cùng nói theo để tăng ích thọ giới, làm cho giới Pháp được tăng trưởng thêm lên.

Con xin suốt đời tác động tâm ý từ bỏ sát sanh.

Con xin suốt đời tác động tâm ý từ bỏ trộm cắp.

Con xin suốt đời tác động tâm ý từ bỏ tà dâm.

Con xin suốt đời tác động tâm ý từ bỏ nói dối, từ bỏ nói lời hung ác, từ bỏ nói lưỡi đôi chiều, từ bỏ nói lời phù phiếm.

Con xin suốt đời tác động tâm ý từ bỏ sử dụng sử dụng những chất say sưa, nghiện ngập. Nguyện sống đời tỉnh thức, trí tuệ, từ bi.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

Trong đạo tràng Nikāya của chúng ta, pháp quan trọng là pháp tâm hiền từ nên những người quy y sẽ lấy chữ "hiền", tức là nhắc nhở mình thực tập tâm hiền cộng với tên của mình. Pháp danh của cô là "Hiền Anh", tức là tâm luôn hiền từ và tinh anh, đó là Pháp danh của cô. Mình sanh ra ngoài đời sẽ có tên đời, sanh ra trong giáo pháp sẽ có tên đạo, từ nay cô hãy nhớ tên pháp danh của mình và luôn nuôi dưỡng tâm hiền từ, tâm từ ái, tâm trí tuệ để làm một người Phật tử chân chánh để có hạnh phúc, an lạc trong Chánh Pháp của Đức Như Lai.

./.