Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Chuyện Ma Thời Đức Phật - Tương Ưng Ác Ma 1B

2026-03-03 00:56:06
CHUYỆN MA THỜI ĐỨC PHẬT

TƯƠNG ƯNG ÁC MA 1B

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Khổ căn PAGEREF _Toc77838432 \h 1

II. Lòng tham vô tận PAGEREF _Toc77838433 \h 2

III. Thọ mạng ngắn ngủi PAGEREF _Toc77838434 \h 5

I. Khổ căn

Người ta nghĩ rằng mình cố gắng đi làm cực khổ, vất vả để dành dụm tiền để sau này lớn hưởng, về già hưởng, nhưng họ không ngờ về già bệnh, về già khổ. Tức là, họ ảo tưởng về tương lai, nghĩ rằng sau này sẽ được sướng, nghĩ rằng sau cơn mưa thì trời lại sáng, bĩ cực thái lai – khổ cùng cực rồi cũng đến lúc thư thái, thong thả, vui sướng sẽ đến. Nhưng họ không ngờ là hết cái cực này lại đến cái khổ kia, hết khổ kia thì đến cái sầu nọ.

Vì bản chất của ngũ uẩn là vậy, là sầu, bi, khổ, ưu não, là vô thường, biến đổi, tan nát, hủy hoại, hoại diệt mà nếu không hiểu, không biết, không thấy cái đó nên mới ao ước một ngày mai, ảo tưởng một tương lai rồi ảo tưởng đến cả đời sau nữa, nhưng nếu đời sau sinh ra nếu nghiệp quả nữa thì thôi rất khủng khiếp nên “Người sầu vì sanh y. Không sanh y không sầu”, là chấm dứt trong sự tái sanh, sanh tử này.

Vì tất cả những khổ căn cứ trên thân này, đó là cái thô nhất để mình thấy, như chúng ta nói đói là cái gì đói? Là có bụng nên đói. Nóng thì cái gì nóng? Lạnh là gì lạnh? Khát là gì khát? Đều là căn cứ trên thân này nên người tu đạt đến chỗ phá thân kiến - không có thân, không có thân thì sẽ hết những cái khổ đó, không tái diễn, tái lập những thân hình, máu mủ, ruột gan, phèo phổi gì nữa, không muốn tham muốn, ưa thích, cầu mong như vậy nữa, đó chính là phá sanh y.

Những cảm giác, nghĩ tưởng cũng vậy, bản chất là vô thường nên biến xoay như chong chóng, trở như nướng bánh phồng, bánh tráng, cứ lật qua lật lại liên tục. Những suy nghĩ, cảm giác, nghĩ tưởng của mình cứ lật qua lật lại nên lúc tối mình đã có nói: đen muốn thành trắng, trắng lại muốn thành đen, mập muốn thành ốm, ốm lại muốn thành mập, đó giống như trở bánh phồng vậy.

Ở thành phố thì lại thích ở nhà lá, có ao, ở quê thì lại thích biệt thự, thì thân này cũng vậy, nếu như còn chỗ dựa của tái sanh của đời sau là còn chất chứa sầu bi, khổ, ưu não. Đây là trí huệ của bậc Thánh mới hiểu, còn nếu không thành tựu Chánh tri kiến thì dù cho có tu đến già, đến chết cũng mong sanh y cho tốt hơn bây giờ mà không biết rằng cái thâm sâu trong sầu đau là dục ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã, là sự khao khát.

II. Lòng tham vô tận

Nên trong Tương Ưng Ác Ma có bài kinh Ác ma đã nói với Thế Tôn như sau:

“Và Bạch Thế Tôn, nếu Thế Tôn muốn núi Tuyết Sơn, vua các loài núi trở thành vàng, Thế Tôn có thể quyết định như vậy, và ngọn núi có thể trở thành vàng.”

(Thế Tôn):

6) Dầu cho cả ngọn núi,

Trở thành toàn vàng ròng,

Cho đến hóa gấp đôi,

Cũng không thỏa mãn được,

Tham vọng của một người.

Biết vậy để hành trì,

Ai thấy rõ đau khổ,

Và nguyên nhân đau khổ,

Làm sao người như vậy,

Có khuynh hướng ái dục?

Sau khi biết sanh y

Là ràng buộc ở đời,

Người biết vậy nên học,

Giải trừ mọi buộc ràng.

7) Rồi Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta", sầu khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy.”

(Bài kinh Thống Trị - Phẩm Thứ hai – Chương IV. Tương Ưng Ác Ma

– Tương Ưng Bộ Kinh)

Ác ma nói với Đức Thế Tôn là ý nghĩ của Ngài muốn núi đó, tuyết sơn thành núi vàng là lập tức nó biến thành núi vàng ngay, đó là do oai lực của Đức Phật. Nhưng Đức Thế Tôn nói dù cho tuyết sơn đó có biến thành vàng thì lòng tham, lòng khát ái của con người cũng chưa đầy đủ.

Đây là nơi thâm sâu, Thánh trí mới có thể thấy được, dù cho ngọn núi này biến thành kim cương từ đỉnh đến chân thì cũng không thỏa mãn được long tham của con người, đó chính là chỗ khổ sầu của chúng sanh.

Như có câu chuyện vui của một người nông dân cuốc đất làm ruộng, cuốc trúng gì nghe tiếng “kẻng”, nghe như mẻ cái cuốc thì đào xuống là một tượng La Hán bằng vàng khối. Rồi gia đình ăn mừng, mời làng xóm đãi tiệc mấy chục bàn, ai nấy đều hoan hỷ thì nhìn thấy mặt ông đó lại sầu, buồn. Mọi người tự hỏi “Sao lạ kì, đào được trúng tượng La Hán bằng vàng, giờ đang đãi mọi người thì sao lại buồn?”. Ông ấy nói “La Hán thường có thập bát – mười tám tượng, tượng này ở đây vậy không biết mười bảy tượng kia ở đâu. Một bộ thường có mười tám nhưng ở đây chỉ có một tượng!”

Chúng ta thấy được tính chất lòng tham của con người là như vậy, chính sự tham muốn, khao khát không ngừng nghỉ làm cho chúng sanh đau khổ, mà người ta không biết, người ta chỉ nghĩ là do thiếu tiền khổ, thiếu ăn khổ hay thiếu những gì khác là khổ, nhưng đó chỉ là những chuyện nhỏ. Thật ra nhu cầu đời sống của con người không nhiều, như chúng ta ở đây thì chúng ta có chết đói không? Giả sử không có gì thì mình trồng rau, trồng cỏ thì mình ăn cũng được, cái nhu cầu là không nhiều, thiết yếu là không nhiều nhưng lòng tham thì vô tận.

Để quý Phật tử thấy rõ được chỗ này, chính lòng tham vô tận làm cho mình khổ, nó đòi hỏi, leo thang, nó cứ tăng trưởng, phát triển mãi mà không chịu dừng lại. Đó là làm cho mình khát ái.

Chúng ta thấy như bây giờ, chưa có gia đình thì muốn có gia đình, đã có gia đình rồi thì lại muốn có thêm vợ bé, vì lúc chưa có gia đình nghĩ là được sống với người đó là “Hạnh phúc trọn vẹn rồi, không còn muốn gì nữa hết!” nhưng đến khi sống được với người đó rồi thì lại muốn kiếm thêm người khác. Đó là khát ái.

Rồi đến với những vị vua có tam cung lục viện, có đến mấy trăm người, nhưng vẫn không thỏa mãn mà vẫn đi tìm thêm, rồi cũng đau khổ. Điểm căn bản, dục, ái là gốc rễ của khổ đau.

Dục vọng, tham vọng, tham muốn đều không có ranh giới, không có đích đến, điểm dừng là nguyên nhân sâu sắc mà Đức Thế Tôn gọi là vô minh và khát ái. Nên mình tu trong dòng pháp này, mình suốt ngày tu diệt được vô minh, tham ái đó là rất hạnh phúc, không còn đi tìm những đối tượng bên ngoài nữa, mà chỉ diệt bên trong thôi. Vì mình đã chạy theo bên ngoài trăm ngàn, vạn đối tượng mà nhiều đời, vạn kiếp sau mình tìm cũng không bao giờ thỏa mãn, mà quay về chỗ này mình diệt cảm giác tham dục, thúc giục, đòi hỏi, thèm khát đó mình diệt chúng. Và chỉ cần diệt xong là “Sanh đã tận. Phạm hạnh đã thành. Việc cần làm đã làm, Không còn trở lui cảm giác thèm khát, khao khát, đòi hỏi các thèm muốn này nữa. Tâm hoàn toàn an tịnh, lắng dịu, tịch tịnh, bình an”. Đó gọi là “Không sanh y, không sầu.”

Điều đó rất vi diệu, thần diệu, Thánh diệu, chỉ diệt bên trong là mọi việc biển yên sóng lặng, còn đối với bên ngoài là cứ chạy mãi, chạy đến chết mà tâm khao khát dục vọng chưa nguôi, thì đến khi chết còn chưa nguôi ngoai nên buộc dây nhảy sông, thắt cổ, nhảy lầu, nhảy cầu…Thân thì đã hết, đã mòn mỏi, hết sức, nhưng tâm còn rất mạnh.

Nên những vụ án gần đây rất khủng khiếp, như người tám mươi tuổi mà xâm hại trẻ nhỏ, thật rùng rợn, kinh hãi, đọc đến làm tay chân bủn rủn. Hay như vụ một người thanh niên đòi hỏi dục vọng với người vợ đang mang thai, vừa sanh con, cơn dục vọng đã khiến người đó quăng đứa con vào tường làm chết tại chỗ, người vợ lại bị hành hạ trong dâm dục, đau khổ vậy, mẹ vợ vẫn phải cắn răng chịu vì ở chung, rồi sàm sỡ đến cả mẹ vợ. Đó chính là do cơn khát ái.

Đọc đến làm tay chân mình rụng rời, bủn rủn, đó chính là quỷ dục vọng, là ma đã phá vỡ mọi thứ. Vậy nên “không sanh y, không sầu”, Đức Thế Tôn dạy quay trở lại nhiếp phục và đoạn tận lòng khao khát, thèm thuồng bên trong này.

Chúng ta cảm thấy thật tối thượng, vô thượng Thánh trí, phải quay trở lại, chỉ thấy là diệt, nhìn vào diệt nó, ngày đêm diệt, tác ý, quán chiếu, đánh đuổi, diệt tận cho đến lúc dập tắt hoàn toàn, tịch tịnh, thanh lương, mát mẻ, diệt tận sanh y thì khát ái chấm dứt.

Chúng ta thấy làm gì có con đường thứ hai? Chúng ta thực hành được điều này làm chúng ta rất hạnh phúc, bị sắc, thanh, hương, vị, xúc ở ngoài làm cho đau khổ, những pháp trong lòng mình cứ diệt, mình tránh sắc, thanh, hương, vị, xúc ở ngoài rồi quay trở vào xem pháp trần ở bên trong, những thọ, tưởng, hành nhiếp phục, diệt tận, đánh đuổi nó.

Phải niềm tin bất động, nỗ lực tinh cần, tinh tấn, rồi chúng ta sẽ thấy kì tích xuất hiện, kì tích vượt hơn ngàn tỉ lần những sự thành tựu của thế giới này.

III. Thọ mạng ngắn ngủi

Ác ma đi đến Thế Tôn và nói bài kệ:

“Loài Người thọ mạng dài,

Người lành chớ âu lo,

Bú sữa no, hãy sống

Tử vong đâu có đến.

(Thế Tôn):

5) Loài Người thọ mạng ngắn,

Người lành phải âu lo,

Như cháy đầu, hãy sống,

Tử vong rồi phải đến.

6) Rồi Ác ma, biết được "Thế Tôn đã biết ta...", liền biến mất tại chỗ.”

(Bài kinh Tuổi thọ - Phẩm Thứ hai – Chương IV. Tương Ưng Ác Ma

– Tương Ưng Bộ Kinh)

Ý Ác ma nói con người sống rất lâu, nên mình là người lành thì không phải lo âu, vì mình là người lành, người thiện, mình biết bố thí, cúng dường, làm phước, biết tu hiền thì đừng lo. Đó là lời của Ác ma, lời này giờ rất nhiều, rất ghê gớm, là những người bà con của Ác ma.

Thế Tôn đáp lại “Loài Người thọ mạng ngắn. Người lành phải âu lo,” Vậy Minh Thành nói có giống với Thế Tôn không? Ngày nào Minh Thành cũng kêu đại chúng lo âu, lo lắng, sợ hãi. Ác ma lại nói là “Mình như vậy là tốt rồi, tu như vậy là được rồi, cố gắng làm chi nhiều, chịu không nổi đâu, chỉ tu vừa vừa thôi, đừng tu dữ quá!” Đó chính là lời của Ác ma, chỉ kêu “An phận đi, như vậy được rồi!”.

Đức Thế Tôn nói “Như cháy đầu, hãy sống, Tử vong rồi phải đến.” còn Ác ma thì nói “Bú sữa no, hãy sống. Tử vong đâu có đến.” – kêu cứ uống sữa nhiều vô, cho ăn đồ ngon thì sẽ sống, “như vậy thì dễ gì chết, người ta dịch bệnh chứ mình thì không đâu!”. Lại nói đến dịch bệnh, hôm qua đã gần một ngàn ca nhiễm, Sài Gòn thì vượt mức năm ngàn ca nhiễm, Lâm Đồng đã có bốn ca. Có nhiều câu bình luận làm mình đọc thấy ý nghĩa và vui, nhiều khi vừa thông báo bảng dịch ở trên thì bên dưới ghi là “Tới nữa rồi!”

Vậy nên chúng ta đừng nghĩ là mình sẽ an ổn như vậy hoài, đừng bao giờ suy nghĩ rằng mình bình thường như vậy hoài, đó là suy nghĩ vô minh, si ám, ngu muội, phải đặt mình vào trong tình trạng nguy hiểm, tai họa, sống như lửa cháy trên đầu, như là cháy nón, cháy khăn, cháy áo, cháy tóc. Đó mới là thương mình, là từ bi.

Tuổi thọ của con người rất ngắn ngủi, “người lành phải âu lo”, phải biết mà lo âu, không biết lo âu thì không phải là người lành, người thiện. Người thiện là người biết lo âu, lo lắng, bất an và sợ hãi. Phải làm cho mình biết sanh tử thường mãi đi, vậy là tốt. Lúc nào cũng thấy tội lỗi, lo lắng, sợ hãi những dục ái, tham, sân, si, bản ngã, vô minh này. Lúc nào cũng rất lo lắng, sợ hãi, bất an, thao thức, trăn trở, để tâm, đó là “Người lành phải lo âu”.

Hiện tại nước chúng ta đã vượt lên, đợt dịch sau đã hơn 15.000 ca, cả hai đợt đã gần 20.000 ca rồi. Ở Indonesia một ngày trên 25.000 ca nhiễm, chết không có nơi chôn cất, những người đào mộ họ kiệt sức, mệt mỏi, rã rời, mỗi ngày họ phải chôn hàng trăm người chết. Đã lan rộng ở Đông Nam Á, lan rộng ở nước mình và các nước lân cận. Biến chủng này chỉ cần đi ngang F0 là có khả năng nhiễm bệnh, không nói chuyện, không giao tiếp, người đó chỉ cần đi ngang là mình bị nhiễm. Giờ WHO cảnh báo đại dịch này đến mức cực kì nguy hiểm cho nhân loại. Với tình trạng này và ngày càng biến thể thì những gì đã tiên đoán lúc đầu của các nhà chuyên môn là có khả năng sẽ xảy ra, nhân loại sẽ chết hơn một nửa trên hành tinh này. Đến ở Sài Gòn, mỗi ngày hàng trăm ca nhiễm không biết nguồn lây.

Vậy nên chúng ta phải lo lắng, lo tu, lo hành, lo học pháp, cảm giác như lửa cháy trên đầu, tử vong rồi sẽ đến. Giờ mình sống như vầy, đến khi chết thì mình cười thôi, vì đã chuẩn bị sẵn sàng hết. Nhưng nếu mình sống trong quên lãng, trong ngơ ngáo, lững lờ, si mê, ám muội, trong sự lãng quên, thì đến chết mình sẽ hoảng loạn, lo lắng, hãi hùng, kinh hoàng, đó là “Người lành phải lo âu. Như cháy đầu, hãy sống. Tử vong rồi phải đến.”

Phải ngày đêm siêng năng, nỗ lực thiền chí, thiền quán, định huệ, song hành, như lý giác sát, như lý tác ý, siêng năng, làm những việc phước lành, phước đức chung quanh mình, học pháp, hành pháp trước khi cái chết xảy đến, sau đó là mình bình an, mìm cười nói “Đã đến rồi, tới thì tới, đã chuẩn bị xong xuôi hết rồi, đi thôi!” chứ không phải là “Đã đến rồi sao?”. Hay quán “Như vậy là khỏe, giải thoát được cái thân năm uẩn tứ đại, phiền não, khổ đau, sầu bi này. Được giải thoát là khỏe.” Nếu chưa được giải thoát, cứu cánh cùng cực thì là thay áo mới đẹp hơn áo cũ.

“1) Tại Ràjagaha (Vương Xá).

Tại đây, Thế Tôn nói như sau:

-- Này các Tỷ-kheo, ngắn ngủi thay là tuổi thọ loài Người ở đời này, rồi phải đi trong tương lai! Hãy làm điều lành. Hãy sống Phạm hạnh. Không có gì sanh ra lại không bị tử vong. Này các Tỷ-kheo, người sống lâu chỉ có một trăm năm, hoặc ít hơn, hoặc nhiều hơn.”

(Bài kinh Tuổi thọ - Phẩm Thứ hai – Chương IV. Tương Ưng Ác Ma – Tương Ưng Bộ Kinh)

Đức Thế Tôn đang nói ở thời kì hơn 2600 năm trước, còn bây giờ thì có thể chết sớm hơn. Chỉ mới ngày hôm qua, hai người bạn thanh niên rủ nhau đi chơi, chiếc xe hư nên một người dẫn vào tiệm sửa xe, một người qua quán nước ngồi chờ, trong quán có võng. Nhưng người bạn sửa xe xong qua gọi thì người kia đã nằm chết trên võng. Bây giờ những cái chết như vậy rất nhiều, như tài xế đang lái xe thì gục xuống chết…

Đó là do ác nghiệp của con người nên tuổi thọ giảm xuống.

“2) Rồi Ác ma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói lên

bài kệ này với Thế Tôn:

Ngày đêm không trôi qua,

Thọ mạng không chấm dứt,

Thọ mạng người xoay vần,

Như vành theo trục xe.

(Thế Tôn):

3) Ngày đêm có trôi qua,

Thọ mạng có chấm dứt,

Mạng người phải khô cạn,

Như suối nhỏ đầu non.

4) Rồi Ác ma biết được: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta", buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ ấy”

(Bài kinh Tuổi thọ - Phẩm Thứ hai – Chương IV. Tương Ưng Ác Ma

– Tương Ưng Bộ Kinh)

Chúng ta thấy trong mình có khi nào suy nghĩ là “Mình còn sống lâu lắm, sẽ cứ như vậy hoài!” Đó là suy nghĩ của Ác ma hay Ác ma đang trong tâm, ý niệm đó là Ác ma. Còn khi nghĩ “Đời này nhanh chóng lắm, vô thường lắm, bất kì lúc nào cũng có thể chết. Hãy tinh tấn lên, như lửa cháy trên đầu!” thì lúc đó trí giác xuất hiện trong tâm mình, lời nói của Đức Thế Tôn vang vọng trong đó. Còn lúc nào nghĩ là “Mình còn trẻ lắm, khỏe lắm, còn tươi lắm!” thì lúc đó là ma đang ở trong suy nghĩ.

“1) Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakuta (Linh Thứu).

2) Lúc bấy giờ Thế Tôn ngồi giữa trời, trong bóng đêm tối, và trời mưa từng hột một.

3) Rồi Ác ma muốn làm Thế Tôn sợ hãi, hoảng sợ, lông tóc dựng ngược, liền đi đến Thế Tôn, sau khi đến, xô những tảng đá lớn rơi xuống không xa Thế Tôn bao nhiêu.

4) Rồi Thế Tôn biết được: "Đây là Ác ma", liền nói bài kệ với Ác ma:

Dầu Ông làm chấn động, Toàn bộ núi Linh Thứu, Cũng không làm rung động, Bậc Giác Ngộ, Giải Thoát.

5) Rồi Ác ma được biết: "Thế Tôn đã biết ta, Thiện Thệ đã biết ta", buồn khổ, thất vọng, liền biến mất tại chỗ.”

(Bài kinh Hòn Đá - Phẩm Thứ hai – Chương IV. Tương Ưng Ác Ma

– Tương Ưng Bộ Kinh)

Dù Ác ma có làm chấn động toàn bộ núi Linh Thứu, sụp đổ hết thì cũng không thể làm lay rộng, rung động một chút nào trong tâm của Bậc Giác Ngộ, Giải Thoát, vì Ngài không xem xác thân này, cảm thọ này, ngũ uẩn này là mình thì làm sao bị dao động khi hãm hại mình. Nếu như mình có chút thần thông thì khi Ác ma làm vậy thì mình làm sao? Dùng phép để đá bay ngược lại? Đó là tâm của phàm phu.

Vì Ngài không còn thấy bản ngã, sân hận, ta là người nữa, “Ta là Phật còn ông là ma”. Ngài chỉ dùng từ ngữ thế tục nhưng tâm của Ngài là đại bi. Ác ma cũng là ngũ uẩn đáng thương, tham, sân si, vô minh, bản ngã nên “Dầu Ông làm chấn động, Toàn bộ núi Linh Thứu, Cũng không làm rung động, Bậc Giác Ngộ, Giải Thoát.”

“1) Trú ở Sàvatthi. Lúc bấy giờ Thế Tôn đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo về năm thủ uẩn, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ. Và các Tỷ-kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm tư, lóng tai nghe pháp.

2) Rồi Ác ma suy nghĩ: "Sa-môn Gotama này đang thuyết pháp cho các Tỷ-kheo về năm thủ uẩn, khích lệ, làm cho phấn khởi, làm cho hoan hỷ, và các Tỷ- kheo ấy hết sức chú tâm, hết sức chú ý, tập trung mọi tâm tư, lắng tai nghe pháp. Vậy ta hãy đi đến Sa-môn Gotama và làm mờ mắt (các Tỷ-kheo ấy)".

3) Lúc bấy giờ có nhiều bình bát được đặt ra ngoài trời (để phơi cho khô).

4) Rồi Ác ma biến hình thành con bò đực và đi đến các bình bát ấy.

5) Rồi một Tỷ-kheo nói với một Tỷ-kheo khác:

- Này Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, con bò đực này sẽ làm bể các bình bát.

6) Khi nghe nói vậy, Thế Tôn nói với các Tỷ-kheo ấy:

- Này Tỷ-kheo, nó không phải con bò đực. Nó chính là Ác ma muốn đến làm mờ mắt các ông.

7) Và Thế Tôn biết được: "Đây là Ác ma", liền nói lên bài kệ cho Ác ma:

Sắc, thọ, tưởng, hành, thức,

Cái ấy không phải tôi,

Cái ấy không của tôi,

Như vậy đây ly tham,

Ly tham vậy, tâm an,

Mọi kiết sử siêu thoát,

Dầu tìm mọi xứ sở,

Ma quân không gặp được.

8) Ác ma biết được: " Thế Tôn đã biết ta...", liền biến mất tại chỗ ấy.

(Bài kinh Bình Bát - Phẩm Thứ hai – Chương IV. Tương Ưng Ác Ma

– Tương Ưng Bộ Kinh)

Thế Tôn muốn ám chỉ bình bát đó “Không phải của tôi!” Các Tỳ-kheo cứ tiếp tục an tịnh, lắng dịu và tập trung nghe pháp, đừng lo cho cái bình bát bị bể để Ác ma làm cho mờ mắt, phải tập trung vào pháp.

Ví như chúng ta đang ngồi nghe pháp mà bên ngoài có một cái kiếng rơi vỡ thì vẫn tập trung nghe pháp, ly tham, sắc đó không phải là của mình, không là mình.

Phải giữ tâm bất động trong Thánh trí chứ không phải giữ cái kiếng đó, vì dù chạy lại thì nó cũng đã bể rồi. Thậm chí dù nhà ngoài kia có sập xuống, vẫn ngồi nghe pháp tiếp, nghe xong lúc sau tính, đó là giữ tâm bất động.

“Như vậy đây ly tham,

Ly tham vậy, tâm an,

Mọi kiết sử siêu thoát,

Dầu tìm mọi xứ sở,

Ma quân không gặp được.”

Tâm ly tham rồi thì đã được giải thoát khỏi ngũ uẩn, Ác ma sẽ không tìm được vì chỉ tìm trong ngũ uẩn còn khi thoát khỏi ngũ uẩn thì không thấy được.

“8) Ác ma biết được: " Thế Tôn đã biết ta...", liền biến mất tại chỗ ấy.”

Tức Thế Tôn đã dùng chánh giác và đại bi để cảm hóa, không bao giờ Ngài dùng thần thông, dùng đối trị với tâm bình thường, phàm phu như mình nghĩ “Sao Phật mà để cho Ác ma làm vậy? Sao lại không dùng oai lực?” Đó chính là suy nghĩ của phàm phu, của bản ngã. Cũng như câu “Tại sao Ác ma dám làm vậy mà Đức Phật nhận lời?” Không phải vậy, vì Đức Phật tâm bình đẳng, tâm bình an, từ bi, không có cái tôi, cái của tôi. Vì duyên nên Đức Thế Tôn theo nhân duyên, theo pháp như vậy.

Ngày hôm nay chúng ta nghe sơ lượt về những câu chuyện của Ác ma, trong đó chúng ta cũng thấy được những Thánh trí tối thượng của Đức Phật, để cho chúng ta có thêm được sự thấy biết trong sự tu học cũng như trong những cái nhìn về những thế lực siêu hình, ở ngoài những hình sắc mà chúng ta thấy, chúng ta nên cố gắng tu tập.

Kính chúc tất cả đại chúng, tất cả các Phật tử từ xa có một ngày tốt lành, tinh tấn trong tu học.