Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

BẬC TÔN KÍNH NHẤT ĐỜI (Khóa tu Nikaya chùa HP lần 3, phần 3)

2026-03-03 00:52:31
Khóa Tu Nikāya Chùa Hoằng Pháp Lần 3 (Phần 3)

BẬC TÔN KÍNH NHẤT ĐỜI

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Đế vương và Pháp vương PAGEREF _Toc75503953 \h 1

II.Hỏi đáp PAGEREF _Toc75503954 \h 7

III.Tri ân bậc đạo sư PAGEREF _Toc75503955 \h 10

Đế vương và Pháp vương

Thưa quý thầy, quý sư cô, quý đại chúng! Hình ảnh hiện lên trên màn hình chính là vua Ba Tư Nặc lạy Đức Phật.

Kinh Trung Bộ, bài kinh số 89, “Kinh Pháp Trang Nghiêm”:

Năm đó nhà vua tám mươi tuổi, Đức Thế Tôn cũng tròn tám mươi tuổi. Vua Ba Tư Nặc sau khi đi quốc sự, nhà vua dừng xe ngoài tinh xá và đi vào trong. Nhà vua mới hỏi các thầy Tỷ-kheo:

- Thất của Đức Thế Tôn ở chỗ nào?

Lúc đó, các Tỷ-kheo, có vị ngồi dưới gốc cây, có vị ngồi ở tảng đá, có vị đang kinh hành giữa trời, có vị Tỷ-kheo chỉ cho nhà vua:

- Bệ hạ đến hướng chỗ đó, ở trước mái hiên, khảy móng tay ba lần, đằng hắng, gõ vào cánh cửa thì Đức Thế Tôn sẽ mở cửa cho bệ hạ.

Nhà vua đến khảy móng tay và tằng hắng để báo hiệu để gặp Đức Phật. Đức thế Tôn mở cửa, vua Ba Tư Nặc lạy xuống và đem đỉnh đầu đặt lên bàn chân của Đức Phật. Đức Thế Tôn mới hỏi:

- Vì lý do gì bệ hạ lại làm hành động hết sức tôn kính đối với Như Lai?

Nhà vua trả lời:

- Bạch Thế Tôn con tám mươi tuổi, Thế Tôn cũng tám mươi tuổi. Con là dòng dõi vua chúa, Thế Tôn cũng là hoàng tộc. Con tỏ lòng tôn kính đối với Thế Tôn. Bạch Thế Tôn con đem hết tất cả tấm lòng tôn kính đối với Thế Tôn. Thế Tôn là bậc thấu suốt tận cùng sự thật của thân tâm. Thế Tôn là bậc tri giả, kiến giả, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, bậc nhìn thấy, bậc thấu suốt tận cùng tất cả các lậu hoặc cấu nhiễm, thân tâm hoàn toàn thanh tịnh. (Trung Bộ Kinh, 89. Kinh Pháp Trang Nghiêm)

Đức Phật rất xúc động và nhà vua rất xúc động, đó là Đế Vương và Pháp Vương. Nhà vua nói rất nhiều những pháp tôn kính trong “Kinh Pháp Trang Nghiêm”. Nhà vua là Đế vương, Đức Phật là Pháp Vương. Chúng ta đang nhìn thấy sự tôn kính tột độ cùng cực của một vị thiên tử đối với Đức Phật. Chúng ta thấy một vị là Thái Tử bỏ ngôi vua, diệt tận tất cả tham, sân, si, vô minh và chấp thủ. Còn vị kia đang tại vị là hoàng đế, bằng tất cả tấm lòng chân thành cung kính, lạy dưới chân của Đức Phật.

Hôm nay là ngày Nhà giáo, sáng nay quý Phật tử có gởi lời tri ân đối với Tam Bảo, nhân hình ảnh này chúng ta thắp lên trong lòng mình một niềm cung kính, biết ơn vô hạn đối với Đức Phật, đối với bậc Đại Đạo Sư, bậc thầy vĩ đại của chúng sanh trong tam giới ba cõi.

Lời tán thán của vua Ba Tư Nặc đối với Đức Phật:

Bạch Thế Tôn, con có pháp truyền thống (Dhammanvaya) này đối với Thế Tôn. "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác, Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử của Thế Tôn khéo tu tập hành trì".

Ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy nhiều vị Sa-môn, Bà-la-môn hành trì Phạm hạnh có giới hạn trong mười năm, hai mươi năm, ba mươi năm, bốn mươi năm. Những vị này, sau một thời gian, khéo tắm, khéo phấn sáp, với râu tóc khéo chải chuốt, sống thụ hưởng một cách sung mãn, đầy đủ năm dục trưởng dưỡng.

Những vị này sau một thời gian lại trở về hưởng thụ cuộc sống của dục lạc.

Ở đây, Bạch Thế Tôn, con thấy các Tỷ-kheo sống hành trì Phạm hạnh viên mãn, thanh tịnh cho đến trọn đời, cho đến hơi thở cuối cùng.

Đệ tử của Thế Tôn những Tỷ-kheo, Tỷ-kheo Ni tu tập theo lời dạy của Ngài, sống cuộc đời thanh tịnh, thanh bạch, tròn đầy đến trọn đời, đến hơi thở cuối cùng.

Bạch Thế Tôn, con không thấy ngoài đây ra có một Phạm hạnh nào khác viên mãn, thanh tịnh như vậy. Bạch Thế Tôn, đây là pháp truyền thống của con đối với Thế Tôn. "Thế Tôn là bậc Chánh Đẳng Giác. Pháp được Thế Tôn khéo giảng, chư Tăng đệ tử, Thế Tôn khéo tu tập, hành trì".

Bạch Đức Thế Tôn, vua chúa cãi lộn với vua chúa, quan quyền cãi lộn với quan quyền, tu sĩ cãi vã với tu sĩ, gia chủ cãi lộn với gia chủ, mẹ cãi với con, con cãi với mẹ, vợ cải với chồng, bạn bè cãi với nhau.

Còn ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy các Tỷ-kheo sống với nhau thuận hòa, thân hữu, không cãi lộn nhau, hòa hợp như nước với sữa, nhìn nhau với cặp mắt ái kính. Bạch Thế tôn, con không thấy ngoài đây ra có phạm hạnh nào khác viên mãn thanh tịnh như vậy.

Đó là pháp truyền thống mà vua Ba Tư Nặc cung kính Đức Thế Tôn, cho nên dù tám mươi tuổi, là Đế Vương mà vẫn lạy dưới chân của bậc Pháp Vương.

Lại nữa bạch Thế Tôn, con đi du hành tản bộ từ công viên này đến công viên khác, từ vườn thượng uyển này đến vườn thượng uyển khác. Con thấy những vị tu hành gầy mòn, khốn khổ, da xấu, bạt nhợt, tay chân gân nổi hình như không có gì đẹp mắt để người ta nhìn.

Những người tu khổ hạnh, tu không đúng Chánh Pháp, nhìn xấu xí, ốm o, gầy mòn, khổ sở.

Bạch Thế tôn, con suy nghĩ như sau: "Thật sự các các bậc Tôn giả này thật là không có đáng nhìn". Con đi đến các vị ấy và nói: "Vì sao chư Tôn giả lại gầy mòn, khốn khổ, da xấu, bạc nhợt, tay chân gân nổi, hình như không có gì đẹp mắt để người ta nhìn?".

Các vị ấy trả lời như sau: "Tâu Đại vương, chúng tôi bị bệnh gia truyền".

Còn ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy các Tỷ-kheo hân hoan, phấn khởi, hỷ lạc, các căn thoải mái, không dao động, bình tĩnh, sống dựa vào (sự hỷ cúng) của người khác, với tâm tư như con thú rừng. Bạch Thế Tôn, con thật là tôn kính đệ tử của Thế Tôn và Thế Tôn. Như vậy là Pháp Truyền thống con kính Đức Thế Tôn.

Quý vị có thấy đang hân hoan, phấn khởi, hỷ lạc, các căn thoải mái không? Có thấy mình thanh tịnh, trang nghiêm, hòa hợp và an lạc suốt ngày nay không?

Lại nữa Đức Thế Tôn, con là một vị vua có thể hành quyết những ai đáng bị hành quyết, trừng phạt những ai đáng bị trừng phạt, trục xuất và đuổi đi những ai đáng bị đuổi. Nhưng Bạch Đức Thế Tôn, khi con ngồi xử kiện có người đôi khi nói ngắt lời của con, và con không có dịp để nói: "Này Quý vị, chớ có ngắt lời nói của ta, khi ta đang ngồi xử kiện. Quý vị hãy chờ cho đến khi ta nói xong". Bạch Thế Tôn, thế mà có người vẫn ngắt lời nói của con.

Dù là vua, trong lúc xử kiện mà vẫn có người ngắt lời chen vào không cho Ngài nói.

Còn ở đây, bạch Thế Tôn, con thấy các Tỷ-kheo, trong khi Thế Tôn thuyết pháp cho đồ chúng hàng trăm người, trong khi ấy không có một tiếng nhảy mũi hay tiếng ho khởi lên. Bạch Thế Tôn, thuở xưa, trong khi Thế Tôn thuyết pháp cho đồ chúng hàng trăm người, có người đệ tử Thế Tôn ho lên. Một đồng Phạm hạnh khẽ đập vào đầu gối và nói: "Tôn giả hãy im lặng, Tôn giả chớ có làm ồn. Thế Tôn, bậc Đạo Sư của chúng ta đang thuyết pháp".

Chỉ cần ho lên một tiếng mạnh là có người vỗ lên đầu gối: “Thầy, Thế Tôn đang thuyết pháp đừng có làm ồn”.

Bạch Thế Tôn, con khởi lên ý nghĩ như sau: "Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Thính chúng này thật khéo được huấn luyện, không gậy, không kiếm. Bạch Thế Tôn, con không thấy ngoài đồ chúng này có một đồ chúng nào khác được khéo huấn luyện như đồ chúng này. Đó là lý do tại sao con tôn kính Như Lai.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, có một số người quan quyền, bác học tế nhị, nghị luận, biện luận, biện bác như là chia chẻ sợi tóc. Những vị này đi chỗ này, chỗ kia muốn đả phá các tà kiến các trí huệ của họ. Những vị này, nghe Thế Tôn đi thăm ngôi làng nào đó, họ nghĩ rằng họ muốn đến để mà chấn vấn Đức Phật, họ đi tìm những câu hỏi hóc búa, những lý luận sắc bén để họ tới họ muốn chất vấn. Nhưng những vị này đi đến gặp Đức Thế Tôn, thì Đức Phật khích lệ họ làm cho họ phấn khởi, làm cho họ hoan hỷ, những câu hỏi mà họ muốn chất vấn thì họ quên, trái lại họ trở thành đệ tử của Thế tôn.

Lúc đầu họ muốn chất vấn gây sự, nhưng đến với từ tâm vô lượng của Đức Phật, với sự điềm tỉnh đại định của Như Lai, với một trí tuệ rực sáng, Đức Phật đã bằng từ bi trí tuệ thiền định, nhiếp hóa những người bác học ngang ngược khó dạy và họ đã đến quy phục dưới chân Đức Phật, làm đệ tử của Như Lai. Đó là lý do tại sao mà đức vua kính ngưỡng, đặt đầu xuống dưới tận bàn chân của Thế Tôn.

Có vị đến để chất vấn Đức Phật, nhưng sau khi lý luận, tranh luận, lại cạo tóc đi tu theo Đức Phật và chứng thành Thánh quả, thành những bậc Thánh Tăng.

Lại nữa, bạch Thế Tôn, Isidatta và Purana là hai quan giữ ngựa, ăn cơm của con, đi xe của con, sinh sống do con cho, và chính con đem danh vọng lại cho họ. Nhưng họ không hạ mình đối với con như họ hạ mình đối với Thế Tôn.

Thưở xưa, trong khi hành quân con muốn thử thách hai vị quan giữ ngựa này, con đến một căn nhà chật hẹp. Hai người này sau khi đàm luận về Chánh Pháp đến hơn nửa đêm, nằm xuống ngủ với đầu của họ hướng về chỗ nghe rằng Đức Thế Tôn đang ở chỗ đó, còn chân họ thì duỗi vô con.

Bạch Thế Tôn, con suy nghĩ như sau: "Thật vi diệu thay! Thật hy hữu thay! Hai quan giữ ngựa Isidatta và Purana này ăn cơm của ta, đi xe của ta, sinh sống do ta cho, và chính ta đem danh vọng lại cho họ. Nhưng họ không hạ mình đối với ta như họ hạ mình đối với Thế Tôn. Thật sự những vị này ý thức được một sự tối thắng thù diệu nào trong giáo lý Thế Tôn, một sự thành đạt tuần tự". Vì vậy, mà con tôn kính Đức Như Lai.

Bạch Thế Tôn, Thế Tôn thuộc dòng vua chúa, con cũng thuộc dòng dõi vua chúa. Thế Tôn là người nước Kosala, con cũng là người nước Kosala, Thế Tôn được tám mươi tuổi, con cũng tám mươi tuổi. Nên con sẵn sàng hạ mình tột bực đối với Thế tôn và biểu lộ tình thân ái, sự cung kính, sự biết ơn vô hạn đối với Thế Tôn.

Sau khi vua Ba Tư Nặc thưa hết các pháp cung kính: "Bạch Thế Tôn, nay chúng con phải đi, chúng con nhiều công việc, có nhiều bổn phận phải làm".

Khi vua Pasenadi nước Kosala ra đi không bao lâu, Thế Tôn cho gọi các Tỷ-kheo:

- Này các Tỷ-kheo, đấy là vua Ba Tư Nặc, nước Kosala. Sau khi nói lên những pháp trang nghiêm, vua đã từ chỗ ngồi đứng dậy và ra đi. Này các Tỷ-kheo, hãy học các pháp trang nghiêm. Hãy thấu triệt các pháp trang nghiêm. Này các Tỷ-kheo, hãy thọ trì các pháp trang nghiêm. Này các Tỷ-kheo, các pháp trang nghiêm này liên hệ đến mục tiêu, là căn bản của Phạm hạnh. (Trung Bộ Kinh, 89. Kinh Pháp Trang Nghiêm)

Đó là nguồn cơn bức ảnh trước mặt. Nhân ngày Nhà Giáo, chúng ta cùng nhau xưng tán bậc Đại Đạo Sư của chúng ta. Mượn lời của vua Ba Tư Nặc để thắp lên trong lòng mình một ngọn đèn biết ơn, nhớ ơn, cảm ơn, báo ân và đền ơn đối với Tam Bảo, đối với Chánh Pháp, đối với sự truyền trì dòng pháp tối thượng gần 3.000 năm của các bậc Hiền Thánh Tăng, hòa thượng hượng Minh hạ Châu – Huyền Trang Tam Tạng pháp sư của Việt Nam. Ngài đã để ta cho chúng ta một kho tàng Thánh Pháp tối thượng. Chúng ta có dịp hãy về viện Nghiên cứu Phật học, Thiền viện Vạn Hạnh để lễ lạy tháp của Hòa thượng. Ngài là người có công vĩ đại trong việc phiên dịch toàn bộ những lời dạy vô giá của Đức Như Lai. Sau này, Linh Quy Pháp Ấn sẽ làm lễ kỷ niệm hàng năm đối với bậc ân sư, tôn sư, chính là cố đại lão Hòa Thượng thương Minh hạ Châu.

Hãy thắp sáng, hãy làm trào dâng, thắm đượm trong lòng sự ngọt ngào và dào dạt tâm biết ơn đối với Đức Phật, đối với Pháp, đối với Tăng. Hãy tưới tẩm, chăm sóc, tăng trưởng, phát triển làm cho lớn mạnh, thành tựu lòng tin bất động đối với Thế Tôn, bậc tri giả, bậc kiến giả, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.

Con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với Thế Tôn.

Con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với Chánh Pháp Ly Tham, Giải Thoát.

Con nguyện thành tựu lòng tin bất động đối với bốn đôi tám chúng Hiền Thánh Tăng, là ruộng phước vô thượng ở trên đời.

***

Quý vị mới vừa tham dự một vài khóa nhận diện ngũ uẩn, phải cố gắng tập nhận diện ngũ uẩn, như vậy sự tu học của chúng ta mới có thể thực hiện được. Nếu không nhận diện được ngũ uẩn thì sự tu học ở trong dòng pháp này sẽ không thể thực tập được. Bởi vì sự nhận diện ngũ uẩn giống như cổng chùa, nếu không bước qua cổng thì không thể vào chùa. Thành ra, dầu cho có nghe nhiều, hiểu biết nhiều, nhưng không nhìn thấy năm uẩn của chính mình thì sự tu học chỉ ở trên suy nghĩ, tưởng tượng.

Các quý vị về nhà cố gắng tập nhận diện ngũ uẩn, mở trang linhquyphapan.vn có bài “Ngũ Uẩn Là gì?”. Có thời gian thì hãy xem những bài có chữ “ngũ uẩn”, nghe nhiều lần để đi theo kịp đại chúng.

Minh Thành sẽ nhắc lại ngũ uẩn trong khi quý vị nghe bài “Kinh Pháp Trang Nghiêm”. Lúc nghe kể lại vua Ba Tư Nặc vào gõ cửa và bước vào lạy dưới chân Đức Phật, trong tâm quý vị có hình bóng hiện lên, đó là tưởng; cảm giác rất ngọt ngào cung kính, quý kính Đức Phật cũng như nhà vua, đó là thọ; có suy nghĩ về nhà vua về Đức Phật, đó là hành; biết tâm mình đang có hình bóng đó, cảm giác đó, suy nghĩ đó, rõ biết, đó là thức ; thân mấy chục ký lô đang ngồi đây là sắc, cái bông hoa là sắc, cái chuông là sắc, tất cả là sắc.

Quý vị cố gắng về thực tập, để ý nhìn lại nhiều hơn. Nhất là những lúc giận, những lúc buồn, những lúc tâm bực bội, cọc cằn càng phải nhận diện và trải tâm từ. Buổi sáng nay là chúng ta học trải tâm từ, quý vị khóc nước mắt đầm đìa, chính những dòng nước mắt đó tẩy rửa những cảm giác sân hận. Đó là nước mắt của trí tuệ, nước mắt của sự hiểu biết, thấy biết, rõ biết, hiểu biết, nước mắt của sự chạm đến sự thật. Đó là nước mắt của trí tuệ để gội rửa cảm giác bực bội, gắt gỏng, cau có, cộc cằn, hơn thua để cho tâm mình được ngọt ngào, sâu lắng, hiền hoà, dễ thương, từ bi.

Trong suốt ngày hôm nay, chúng ta hãy nhớ thực tập trải tâm từ. Khi về nhà mỗi một ngày trước khi ngủ, lúc mới thức dậy đều phải thực tập để khơi dậy trong ta tình thương và từ tâm.

Hỏi đáp

Câu 1: Con mới học kinh Nikāya, nên con không biết khóa tu Nikāya nghĩa là gì? Kính xin thầy khai thị cho con được biết.

Minh Thành đã có nói rồi, hôm nay Minh Thành chỉ nói đơn giản, quý vị chịu khó tìm hiểu thêm. Nikāya là những lời dạy gốc nguyên chất được truyền thừa, các bậc Thánh tăng kết tập từ khi Đức Phật còn tại thế. Những lời dạy nguyên chất cội gốc mà Đức Phật truyền trao gần 3.000 năm nay. Nội dung của kinh Nikāya là tất cả những lời dạy giúp cho mình nhìn thấy được thân tâm của tự thân. Từ đó, giúp cho mình nhìn thấy được không có cái tôi mà chỉ có năm uẩn kết hợp, duyên sanh vô thường; nhìn thấy được cảm giác nghĩ tưởng trong tâm để phát giác ra được những tham muốn, nóng giận, si mê, bản ngã trà trộn lẫn lộn ở trong năm uẩn, chúng ta sẽ nhìn thấy được rác bẩn, cấu nhiễm, lậu hoặc, ô uế trong tâm mà làm cho mình khổ. Khi chưa học thì nghĩ tại người này, người kia, hoàn cảnh đưa đẩy làm cho mình khổ, nhưng khi học kinh Nikāya rồi thì sẽ thấy do tham, sân, si, vô minh, bản ngã của chính mình làm cho chúng ta khổ đau. Chúng ta sẽ thấy được nguyên nhân thật sự tại vì sao mà mình khổ, khi thấy được rồi thì mình có khả năng chặn đứng nguyên nhân ấy, làm cho hết khổ bớt khổ và sẽ được đại bình an.

Trước giờ chúng ta không biết tại sao mình khổ, kinh Nikāya sẽ dạy cho mình biết tại sao mình khổ, cái gì làm cho mình khổ. Điều này không phải chỉ nghe người ta nói, mà chính bằng con mắt tâm, bằng trí tuệ của mình nhìn thấy được cái gì làm cho mình khổ. Bằng sự nỗ lực tinh tấn, siêng năng giống như quét nhà, lau nhà, dọn nhà, tẩy chùi, tổng vệ sinh thì căn nhà sạch sẽ, mát mẻ, gọn gàng. Cũng vậy, căn nhà nội tâm của mình sẽ được thanh tịnh, trong sạch, mát mẻ, xinh tươi. Như vậy sự tu học này là làm sạch căn nhà nội tâm, rất là thực tế, đơn giản, rõ ràng. Quý vị sẽ nhìn thấy tham hoạt động, dục hoạt động, sân, si và bản ngã hoạt động, khi đó tự mình sẽ có những khả năng đối trị từng thứ. Chẳng hạn, lúc ngồi trải tâm từ, quý vị không hề khởi lên tâm tức giận, sân hận với ai hết, đó chính là tâm từ trị tâm sân.

Lúc sáng chúng ta uống thuốc bổ tâm linh. Chúng ta cứ uống vitamin, sữa để bổ, những không biết rằng thuốc bổ tâm linh vô cùng quan trọng. Vì vậy, mỗi lần đi tu Nikāya là mỗi lần chúng ta được uống thuốc bổ tâm linh, đạo tràng Nikāya cho thuốc bổ tâm linh!

Câu hỏi 2: Thiền Tứ Niệm Xứ và thiền trong Nikāya khác nhau không?

Tứ Niệm Xứ là trong kinh Nikāya, nhưng sự vận dụng như thế nào là do người hướng dẫn, chứ Tứ Niệm Xứ thì không khác nhau. Vị hướng dẫn có khi tâm đắc quán thân thì chuyên môn dạy về quán thân; có người tâm đắc quán thọ, quán tâm hay quán pháp thì sẽ tương ứng chuyên môn dạy quán thọ, quán tâm hay quán pháp. Tuy nhiên, trong kinh Nikaya thì Đức Phật dạy phải đầy đủ tất cả các pháp quán. Cho nên Tứ Niệm Xứ là trong kinh Nikāya nhưng có được hướng dẫn đầy đủ, trọn vẹn hay không còn tùy vào người hướng dẫn.

Câu hỏi 3: Lúc hành thiền trong đầu con hay suy nghĩ nhiều thứ, khi nhận biết con quay về thì lại tái diễn, mong thầy hoan hỷ giải đáp giúp con?

Quý vị có ngồi thiền thì hay suy nghĩ nhiều thứ, kéo tâm về nhưng một lát tâm lại đi, do tâm ưa thích đi chơi, ưa thích lang thang. Do đó cần phải tập thực hành ba pháp: rõ biết trước mặt; cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm giác toàn thân; định tâm trên thân. Chúng ta phải từ từ thực tập sự an định. Khi trú trên cảm giác toàn thân thì có được sự định tĩnh nhiều hơn, kiểm soát những suy nghĩ nhiều hơn. Nếu không nắm vững cách tu, có lúc ngồi được yên thì mừng, hôm nào suy nghĩ nhiều thì buồn. Khi tu tại đây, quý vị hãy thực tập cho kỹ, trước tiên là thực hành ba pháp và nhận diện năm uẩn, sau đó sẽ có được tâm thuần thục trong sự thực tập.

Câu hỏi 4: Kính bạch thầy, chúng con có câu hỏi, khi ở trong đạo tràng tu học thì không có tham, sân, si và luôn hứa phải tinh tấn tu học, nhưng khi về nhà hay đi làm thì không kiểm soát được những hành vi của mình. Như vậy làm sao khi có tham, sân, si, hờn giận nổi lên mình có thể quay về và nhớ lại những lời dạy của Thầy, của Thế Tôn đã dạy để tu sửa.

Đây là bệnh chung, khi vào tu thì có thể kiểm soát được đôi phần, nhưng khi trở về nhà thì lại rơi rớt. Cho nên ngay trong khóa tu, ngoài giờ thiền thì mình cũng phải ngồi thiền, vì xả thiền chúng ta sẽ nói chuyện, không có hộ trì căn, các quý vị mới vào nên học thuộc hộ trì căn. Do mình quen như lúc ở nhà, khi lên bàn Phật thì tu, ra khỏi bàn Phật thì hết tu. Khi thực tập theo kinh Nikāya, không phải tu ngay trong khóa tu, hay trước bàn Phật, mà phải luôn luôn thực tập cảm giác toàn thân. Cảm giác toàn thân vô cùng quan trọng, luôn luôn cảm nhận cảm giác trong cơ thể như thế nào, nếu có gì thì lập tức lau chùi, quét dọn, thực tập an trú ngay.

Nếu tâm tham khởi lên quán chiếu sự vô thường, sự tan hoại của đời sống. Tâm sân khởi lên thì lấy tâm từ trị. Bản ngã khởi lên lập tức tác động tâm ý để cho khiên hạ nhúng nhường. Phải thực hành từ từ thì mới quen dần. Kiên trì thực tập đúng cách thì nhất định sẽ có kết quả!

Câu hỏi 5: Nhận diện ngũ uẩn để làm gì ? Khi ngồi thiền những hình ảnh bên ngoài hiện lên trong tâm và công việc gia đình, như vậy con phải làm gì ?

Minh Thành mời quý vị lên Trang linhquyphapan.vn, có bài “Nhận diện Ngũ uẩn làm gì?”. Nhận diện Ngũ uẩn để nhìn thấy được bên trong tâm có gì: nếu bất thiện, xấu thì diệt; nếu thiện thì phát huy tăng trưởng.

Trong khi ngồi thiền, có những hình ảnh hiện lên trong tâm, thì xem đó hình ảnh gì: nếu là hình ảnh Đức Phật thì quán chiếu cho sanh khởi tăng trưởng từ bi; nếu hình ảnh mặt người mình giận hiện lên, thì nghĩ

“Giận gì mà giận, cơn giận làm khổ mình, đốt cháy mình, đốt cháy người, cơn giận đã làm khổ vô lượng vô biên kiếp. Thôi mình cũng khổ vì cơn giận, người ta cũng khổ vì cơn giận, tất cả chúng sanh là nạn nhân của cơn giận, thôi hãy tha thứ cho nhau. Mỗi người một nổi khổ, mỗi người một niềm đau, xin hãy thông cảm nhau, hãy tha thứ cho nhau, đừng tạo thêm đau khổ nữa. Khổ quá trời rồi, còn muốn khổ nữa hay sao ? Thôi tha thứ đi, trải tâm từ đi. Ta khơi dậy trong ta, tình thương và từ tâm. Ta có nhiều tình thương, ta có nhiều từ tâm. Ta nguyện sẽ lan tỏa tình thương, lan tỏa từ tâm này để dập tắt những ngọn lửa sân hận đang thiêu đốt chính mình và thiêu đốt mọi người chúng sanh. Ta nguyện sẽ sống trong một cảm thọ an tịnh, lắng dịu, mát mẻ, ngọt ngào”.

Tri ân bậc đạo sư

Sư Cô Hạnh Đức:

Mô Phật! Con kính trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đạo tràng. Cho con xin trước tiên là sám hối, bởi vì theo thường lệ 4 giờ là kết thúc. Đạo tràng Nikaya tại Sài Gòn cùng hưởng ứng trên tinh thần tri ân, nhớ ân và báo ân, mong được trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đạo tràng từ bi hoan hỷ cho đạo tràng Nikāya sài Gòn được tri ân trên sư phụ.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Phật tử:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Kính thưa sư phụ, kính thưa quý thầy, kính thưa quý sư cô, kinh thưa toàn thể đạo tràng!

Hôm nay, đạo tràng Nikāya chúng con xin được phép mượn ngày tri ân thầy cô của đời để chúng con xin được tri ân lên sư phụ và những bậc thiện tri thức trong dòng pháp này. Chúng con xin thành kính tri ân lên sư phụ, vị ân sư, vị thầy mang đầy lòng từ bi đã cho phép chúng con thành lập đạo tràng, đã che chở, đã bảo vệ, đã hướng dẫn, đã dạy dỗ cho chúng con. Sư phụ giúp chúng con đã và đang huấn luyện điều phục những tâm tánh phàm phu của mình để bước lên tâm của bậc Thánh nhân. Một đạo tràng duy nhất, duy nhất dạy dỗ cho chúng con quay lại để nhìn thấy được mình, thấy được thân tâm này có những cấu uế gì, thấy được đâu là khổ, và dạy cho chúng ta cách diệt khổ, thoát khổ và thoát sanh tử.

Với tất cả tâm thành kính và biết ơn thành kính của chúng con, chúng con xin được tri ân lên sư phụ, tri ân lên quý thầy, xin được tri ân lên quý cô đã dạy dỗ cho chúng con, và chúng con nguyện cố gắng học tập, học hỏi tu tập, thực thấy pháp để đáp đền ân nghĩa cao dày này.

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Sư Cô Hạnh Đức:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!

Cùng với lời tri ân, đạo tràng chúng con hôm nay khóa tu lần thứ ba tại chùa Hoằng Pháp gởi lời tri ân chân thành, tha thiết với tâm từ bi của sư phụ đã dẫn dắt chúng con một khóa tu thật an lạc, thật ý nghĩa, thật bình an và thật hạnh phúc. Chúng con đê đầu đảnh lễ tam bái.

Sư Phụ:

Minh Thành xin kính thỉnh quý thầy, quý sư cô, tất cả đại chúng hướng tâm về Đức Thế Tôn, bậc Đại Đạo Sư, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.

Kính mời tất cả đạo tràng hướng tâm về cố Đại lão Hòa thượng Thượng Minh hạ Châu, bậc ân sư vĩ đại.

Xin tất cả đại chúng hướng tâm về bậc tri thức đã dầy công tìm ra Thánh đạo lộ cho đạo tràng Nikāya.

Xin mời tất cả đại chúng hướng tâm về Thượng tọa Viện chủ, bậc ân sư đại từ bi đã bảo bọc, hỗ trợ đạo tràng Nikaya tại chùa Hoằng Pháp, cùng chư Tăng tại bổn tự và tất cả quý Phật tử tại nơi đây.

./.