Ngũ uẩn là gì - 10.11.2020
NGŨ UẨN LÀ GÌ?
THÍCH MINH THÀNH
Kính thưa đại chúng, do thầy giáo thọ có công việc, nên Minh Thành thay thế để chia sẻ với quý thầy. Đây cũng lần đầu tiên gặp mặt, giao lưu, chia sẻ cùng với quý thầy. Hôm nay chúng ta sẽ có một pháp đàm, nếu quý thầy có câu hỏi về những thắc mắc, khó khăn trong sự tu học, hãy nêu ra để chúng ta cùng nhau chia sẻ.
Minh Thành xin giới thiệu chuyên về pháp hành của Kinh Tạng Nikāya, tức là trở về những lời dạy nguyên bản của Đức Phật trong Kinh Tạng Nikāya. Đây là một bộ kinh được cả thế giới công nhận, cổ xưa nhất, cội gốc nhất để chúng ta có những phương pháp thực tập thiết thực căn bản trong sự tu học.
Quý thầy có thể nêu lên câu hỏi trực tiếp hay gián tiếp viết ra giấy. Trong sinh hoạt thiền môn có khó khăn gì, hay sự học pháp có điều gì chưa thông, đặc biệt trong sự thực hành, thực tập còn trở ngại khó khăn, trong khi ngồi thiền, quán chiếu, hay trong khi nhiếp phục chế ngự tâm có khó khăn gì, chúng ta có thể chia sẻ, hôm nay là buổi pháp đàm. Các thầy có thể hỏi với sự thân thiện trong sự tu học, về tinh thần Phật pháp tu học.
Câu hỏi:
1. “Kính bạch trên giáo thọ, cùng đại chúng, con xin có một câu hỏi. Bạch giáo thọ, con có câu hỏi về duy thức. Theo bên Bắc tạng thừa nhận có tám thức, có thêm mạc-na và a-lại-da thức, còn bên Kinh Nikāya không thừa nhận mạc-na và a-lại-da thức. Tại sao có sự khác biệt giữa Nam tạng và Bắc tạng. Nhân dịp này có xin có câu hỏi như thế”.
2. “Thưa thầy, cho con hỏi, con có thực tập về thiền bên hơi thở. Nhiều khi ngồi mà trên thân, tai, đầu hay mặt con lại như có con gì bò lột nhột, làm cho tâm không được an trụ một chỗ. Kính mong thầy chỉ dẫn con phương pháp nào làm cho con an tâm hơn, định tâm hơn?”.
3. “Kính bạch trên giáo thọ cùng đại chúng, con xin hỏi vấn đề về thọ giới. Vừa qua con thọ cụ túc giới nhưng thọ luôn Bồ Tát giới, hai vấn đề giới Thanh Văn và giới Bồ Tát. Đức Phật chỉ cho hàng đệ tử giới Thánh Văn, nhưng giới Bồ Tát trải rộng ra cho Phật tử tại gia để nhiếp chúng hướng về đạo giải thoát. Nhưng có nhiều quan điểm của các vị thầy lớn đưa ra là giới Bồ Tát hỗ trợ cho giới Thánh Văn để con đường hoằng pháp được thuận tiện. Xin bạch trên giáo thọ giảng dạy thêm những điều này, để không có sự giải đãi trong hàng đệ tử của Đức Phật trong hiện tại và để không có những tư tưởng đưa ra sai lầm”.
4. “Mô Phật, bạch giáo thọ, con xin có câu hỏi. Trong Thập Nhị Nhân Duyên có đề cập đến “thức” và “hành”; trong Ngũ Uẩn cũng có đề cập đến “hành uẩn” và “thức uẩn”. Xin thầy từ bi chỉ dạy cho tụi con sự khác nhau giữa thức và hành trong Ngũ Uẩn và Thập Nhị Nhân Duyên để chúng con dễ phân biệt. Mô Phật”.
5. “Bạch giáo thọ và đại chúng, con có câu hỏi. Theo con được biết thì Kinh tạng Bắc Truyền có nói về cõi Tây Phương và Đức Phật A Di Đà, do con chưa tìm hiểu về Kinh Tạng Nikāya nhiều, cho nên con muốn hỏi trong Kinh Tạng Nikāya có kinh nào nói về cõi Tây Phương và Phật A Di Đà hay không?”.
6. “Con kính bạch lên giáo thọ, cùng toàn thể đại chúng. Hôm nay con có vấn đề hỏi về nghi lễ, đám xá. Từ lúc ban sơ khi vào chùa, thầy trụ trì cũng cho mình tập sự đi cúng phụ, sau cũng biết làm đủ lễ. Con biết đi tụng đám là nương nhờ năng lực của chư Tăng và nương nhờ năng lực của mình để có thể tiếp độ. Nhưng mà con không hiểu năng lực của mình như thế nào, và năng lực thế nào là đủ để tiếp độ. Con thấy đa số ai cũng có thể đi cúng, nhưng năng lực có đủ để tiếp độ và nghi lễ có đúng hay không và có lợi ích nhiều hay không?”.
7. “Con thưa với thầy, con có câu hỏi như thế này, vì tư tưởng bây giờ người ta phân ra Nam Truyền, Bắc Truyền, như thầy nói về bộ Kinh Nikāya được cả thế giới công nhận và bộ kinh đại thừa tư tưởng là do Trung Quốc soạn ra.
Sư phụ: Điều đó ai nói?
Sư thầy: Có nhiều luồng tư tưởng mà tụi con cũng được biết.
Sư phụ: Điều đó thầy phải nói rõ, chứ Minh Thành ngồi đây chưa nói.
Con thưa với thầy là có nhiều luồng tư tưởng, người ta phân ra Nam Truyền và Bắc Truyền. Kinh Nikāya là lời Đức Phật nói chân truyền – Nguyên Thủy, còn kinh Đại Thừa là do những người sau này soạn ra và viết ra. Chúng con sau này cũng là những người hoằng pháp, mong thầy cho con những câu trả lời, để chúng con lấy đó làm kim chỉ nam để không phải bị bơ vơ hay lạc lõng trong tư duy, suy nghĩ của mình. Chúng con xin lấy đó làm đường hướng để hướng dẫn Phật tử sau này và làm nền tảng để con tu học. Con xin hết”.
***
Những câu hỏi của chúng ta rất rộng, chỉ một câu hỏi mà chúng ta có thể học đến một tháng, không phải đơn giản nói vài lời là được. Đó là cả một dòng diễn biến 2.600 năm, thành ra phải là người hết sức tha thiết học hỏi và tìm cầu.
Minh Thành xin thưa quý thầy, Minh Thành đã xuất gia 30 năm, từ ngày xuất gia là nơi nào có cao tăng, có đạo tràng tu học Minh Thành đều đến học hỏi. Minh Thành tìm cầu pháp trong nước ngoài nước từ Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản… Minh Thành đến thăm và gặp các vị Tăng trưởng, như: Trung Đài Thiền Tự của Duy Giác Trưởng Lão, Phật Quang Sơn của Tinh Vân Đại Sư, Từ Tế Hội của Ni Sư Chứng Nghiêm. Nơi nào có đạo tràng Phật giáo lớn, Minh Thành đều đi tìm cầu học, nhưng trong ba năm nay Minh Thành chỉ chuyên duy nhất Kinh Tạng Nikāya.
Vấn đề tranh luận thì Minh Thành không để tâm và không có thời gian để bàn luận đúng sai, vấn đề là mình phải thực tập học hỏi và chứng kiến sự thật.
Hôm nay Minh Thành muốn chia sẻ với các thầy để mọi người có thể nhìn thấy năm uẩn ngay tại chỗ ngồi này. Có khi tụng đọc năm uẩn 10 năm, 20 năm mà mình không biết năm uẩn thực sự là gì? Chúng ta chỉ biết từ ngữ ở trên khái niệm, ở trên suy tưởng, cho nên giáo lý năm uẩn có một thầy đề cập đến là rất quan trọng. Năm uẩn là thân tâm của mình: sắc là phần vật chất, phần thân; còn cảm giác, nghĩ tưởng, hình bóng trong tâm và nhận thức là phần tâm. Nếu không rành rọt về thân tâm thì sự thực tập tu học của mình không đi đến kết quả giống như Đức Phật nói. Chính vì vậy, do thời gian rất ngắn nên Minh Thành giới thiệu phần quan trọng nhất cho quý thầy.
Bây giờ câu hỏi đơn giản, chúng ta học năm thứ tư là chuẩn bị ra trường, tức là có những huynh đệ đã học sơ cấp, bây giờ học trung cấp là 6 năm. Minh Thành hỏi một câu, các thầy có biết tại sao mình có suy nghĩ không? Không thể nào biết được nếu không học Nikāya, tại vì đây là những định lý mà Đức Phật chứng ngộ, nếu không học sẽ không biết. Tại sao chúng ta có suy nghĩ? Suy nghĩ là hành; sắc là tứ đại, đồ vật, thân người, cảnh vật là sắc; thọ là cảm giác; tưởng là hình bóng trong tâm.
Ví dụ, mình nhớ về mẹ là hình bóng mờ mờ của mẹ hiện trong tâm, đó là tưởng. Tưởng là hình tướng, hình dáng trong tâm. Tại sao có hình bóng trong tâm? Tại sao mình có cảm giác? Đó chính là do có xúc. Tại sao mình có cảm giác? Tại sao mình có suy nghĩ? Chúng ta học về Thánh trí Năm uẩn sẽ biết rất rõ: “xúc tập khởi nên thọ tập khởi, xúc tập khởi nên tưởng tập khởi, xúc tập khởi nên hành tập khởi – thọ, tưởng, hành có được là từ xúc”. Ví dụ, khi đi đâu gặp một người nào đó, lúc trở về thì hình bóng người đó hiện ra trong tâm, nếu người đó mình thương thì có cảm giác dễ chịu, có suy nghĩ về người đó, đó là xúc tập khởi cho nên thọ, tưởng, hành tập khởi.
Buổi hôm nay Minh Thành muốn giới thiệu với các huynh đệ về phương pháp nhận diện ngũ uẩn, sau buổi học này nếu chịu khó nghe thì sẽ biết ngũ uẩn là gì? Ví dụ, có ai thích ăn me dốt không, me chấm với nước mắm chay có đường và ớt rất ngon. Xin thưa đại chúng Minh Thành đang cho ví dụ về nhận diện ngũ uẩn. Khi mình nghe nói trái me thì có hình bóng trái me hiện ra – tưởng, có cảm giác thích về trái me – thọ, có suy nghĩ về trái me – hành, lúc đó mình rõ biết đang có cảm giác đó, hình bóng đó, suy nghĩ đó – thức và trái me là sắc. Đó chính là ngũ uẩn, chúng ta sử dụng suốt ngày, suốt tháng, suốt năm nhưng không biết, Đức Phật gọi đó là vô minh.
Ví dụ, đang ngồi một mình nhớ lại người mình ghét, khi nhớ về người đó thì hình bóng hiện ra – tưởng, cảm giác khó chịu sanh khởi – thọ, suy nghĩ bực bội ghét – hành, lúc đó tâm có rõ biết đang hình bóng đó, cảm giác đó, suy nghĩ đó trong tâm – thức. Thân thể lúc đó thay đổi cảm thấy bực bội, bứt rứt, đó là ví dụ về sân.
Tiếp theo, ví dụ, nhớ một người mà mình thương yêu, thích thú, thì những hình bóng, những cảm giác, những suy nghĩ vận hành.
Như vậy, cảm thọ có ba thọ là: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc. Ở trong lạc thọ luôn luôn đi theo tham, bất cứ lúc nào lạc thọ sanh khởi là có tham, ái, thích, khoái. Bất cứ lúc nào khổ thọ sanh thì sẽ có sân trong cảm giác, sẽ cảm thaaysy bực bội, bứt rứt, khó chịu, sân hận. Cảm giác bất khổ bất lạc thọ là không ghét, không thương thì luôn luôn lúc nào cũng có si tùy miên cũng trong đó. Tại vì lúc đó không thấy pháp, không thấy duyên sanh duyên diệt, không thấy sự vô thường, sự kết hợp, không thấy lúc đó chỉ là cảm thọ, mà thấy lúc đó là “tôi dễ chịu”, “tôi vui sướng”, “tôi đang bực bội, đừng đụng vào tôi” – đây hoàn toàn chỉ là tham, sân, si. Cho nên tham, sân, si ở trong cảm thọ. Như vậy, tham, sân, si không phải là không có chỗ mà tham, sân, si chính là ở trong cảm giác.
Trong bài kinh “Cội Rễ Sự Vật”, Tăng Chi Bộ Kinh Đức Phật nói: “Tất cả pháp hội tụ trong nơi cảm thọ”. Cho nên mình muốn biết trong tâm có gì, chỉ cần trở về xem cảm giác trong cơ thể thì sẽ hiện ra hết.
Minh Thành mời quý Thầy về nghe bài “Hiệu Quả Cảm Giác Toàn Thân” trên trang linhquyphapan.vn. Bài giảng này có chỉ mình cách làm sao để thực hành cảm giác toàn thân. Khi mình có thực hành cảm giác toàn thân thì trong thân tâm có biến động cảm giác lạ là mình biết. Giống như trong phòng có gì bất bình thường là biết được, thay đổi là biết, có ai lấy đồ hay bỏ đồ vào là mình biết. Cũng vậy, có tu tập cảm giác toàn thân là mình thường thường an trú trong cảm giác toàn bộ cơ thể từ đỉnh đẩu đến gót chân. Ví dụ, khi ngồi đâu là mình đều chú ý đến toàn bộ cảm giác cơ thể, đạt được điều này cần phải có sự thực tập.
Còn một bài giảng“Nhập Thất Chia sẻ Chỉ Cách Ngồi Thiền”, bộ này có 5-7 bài, vừa hướng dẫn ngồi thiền như thế nào, cảm giác toàn thân như thế nào, và nhận diện năm uẩn như thế nào? Nếu nghe bộ này khoảng 5-6 bài, thì sẽ nắm vững được thực hành cảm giác toàn thân, cách ngồi thiền và nhận diện năm uẩn. Vì nhận diện năm uẩn tuyệt đối quan trọng. Chúng ta ngồi được ở lớp là phải qua cánh cửa trường của trường, nhận diện năm uẩn giống như cánh cửa đó, phải đi qua cánh cửa đó thì mới tu tập được. Nếu không thân tâm của mình sẽ không được rõ, hành, thức lộn xộn hết, nhìn không chuẩn xác thân tâm thì tu học không có kết quả đúng giống như Chánh pháp.
Ngũ uẩn là thân và tâm, bao trùm cả vũ trụ này không đi ra khỏi ngũ uẩn.
Phần sắc là thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại, cả thế giới này chỉ bao gồm chữ sắc. “Uẩn” là tụ tập, tập hợp hội tụ tất cả sắc pháp là sắc uẩn. Định nghĩa chữ “Sắc” là bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Tất cả những thứ chung quanh ta đều là sắc uẩn, tất cả là sắc pháp, mà sắc pháp do tứ đại. Con người do đất nước gió lửa; thức ăn, nước uống, không khí, hơi thở, nhiệt độ trong cơ thể, ánh nắng mặt trời đều là tứ đại, là đất nước gió lửa. Cho nên chữ “Sắc” bao trùm vũ trụ, từ thân người, đồ vật, cảnh vật, thế giới đều ở trong sắc.
Tâm thì không ra ngoài bốn uẩn, tất cả đều ở trong tâm. Có những nhà khoa học, bác học, triết học phát biểu là “tôi suy nghĩ”, đó chỉ là hành uẩn. Có người nói rằng, “tôi cảm giác”, đó chỉ là thọ uẩn. Có người nói rằng, “tôi nhận thức”, đó chỉ là thức uẩn. Còn sự chứng ngộ của Đức Phật là sự chứng ngộ đại viên mãn, tâm là phải đầy đủ cảm giác, hình bóng, suy nghĩ và rõ biết. Ai hỏi tâm là gì thì quý thầy phải nói đầy đủ bốn điều này, đây là tâm lý học tối thượng của Phật giáo.
Minh Thành gửi cúng dường quý thầy quyển “Nghi Thức Tu Học Nikāya”. Chúng ta về thực tập nhận diện ngũ uẩn, xem trong tâm có hình bóng gì không? Định nghĩa thứ nhất về ngũ uẩn: “Thân người là sắc; cảm giác là thọ; hình bóng là tưởng (hình bóng ở trong tâm); suy nghĩ là hành; rõ biết là thức”. Chúng ta phải về nhà thực tập, nhìn nhận lại năm uẩn một cách thưởng xuyên, khi thấy được năm uẩn thì sẽ thấy mình là gì, còn không thấy được năm uẩn thì chỉ thấy một đại ngã uẩn, một cái tôi và của tôi to tướng. Khi thấy được năm uẩn thì cái tôi vỡ thành năm mảnh, tức là thân kiến, ngã kiến, kiến chấp và một cái tôi, của tôi, tự ngã của tôi – bị Thánh trí Năm uẩn làm cho vỡ ra, bể nát ra, tan ra trong trí tuệ.
Thực tập để ý trong ba loại cảm giác. Lúc nào thấy cảm giác dễ chịu phải đề phòng, quán chiếu có tham trong đó. Lúc nào thấy cảm giác khó chịu, bực bội phải quán chiếu có tâm sân trong đó. Lúc nào thấy cảm giác trơ trơ, không ưa, không ghét, không vui, không khổ, thì phải xem cảm giác si trong đó, nhìn thấy đây là cảm giác không khổ không vui. Cảm giác chỉ là thọ uẩn, không phải là mình, không phải của mình. Chúng ta phải thực tập nhận diện các cảm giác
Ví dụ, giờ này mới 9h30, nhưng chú bảo vệ trực bấm chuông ngủ gật, lỡ bấm chuông ra về. Lúc đó thọ vui, dễ chịu sanh khởi, cảm thấy thích – thọ; hình bóng nôn nao xuống dẫn xe, chạy xe tà áo bay phất phới, hình bóng chùa hiện ra – tưởng; suy nghĩ thời gian rảnh về chùa sẽ làm gì – hành; trong tâm rõ biết ba uẩn: cảm giác, nghĩ, tưởng –thức. Thức này là thức thứ sáu – ý thức, nó chỉ rõ biết thọ, tưởng, hành, tức là chỉ rõ biết cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm, không biết những thứ ở ngoài, thức thứ sáu chỉ biết có vậy.
Chúng ta sẽ nhận diện về thức, cũng có thầy đặt câu hỏi về thức. Mỗi thức có một lĩnh vực, chúng không lẫn lộn với nhau. Tức là nhãn thức chỉ rõ biết các sắc, ngoài sắc ra là nó không biết. Nhãn thức không phải sự rõ biết của con mắt, vì lúc ngủ, hay lúc xỉu, cũng có con mắt nhưng không có sự rõ biết; hoặc lúc chết mắt mở nhưng cũng không có sự rõ biết. Thức chỉ rõ biết các sắc, không rõ biết các tiếng, gọi là nhãn thức giới. Giới ở đây không phải là giới luật mà giới này là ranh giới, biên giới, giới vực, phạm vi. Như vậy, sự rõ biết con mắt chỉ giới hạn trong sắc, chỉ rõ biết các sắc, ngoài sắc thì không biết. Cũng vậy, nhĩ thức chỉ rõ biết âm thanh, ngoài âm thanh thì sẽ không biết. Do đó, chúng ta phải ngồi thiền để nhận diện sáu thức, chứ không đơn giản như học trên chữ nghĩa: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Phải ngồi thiền tịnh tâm, lắng lại để nhận diện.
Nhĩ thức chỉ rõ biết âm thanh, rõ biết tiếng, rõ biết rất giới hạn, tức là chỉ rõ biết âm thanh ở tầm nghe được. Nếu có ai ngồi trước cổng chùa chửi thì mình không biết do không nghe, nên không có sân, nhưng có ai điện thoại đến chửi, mình nghe được thì sân khởi lên. Như vậy sân cũng vô thường, giả dối, tại do duyên xúc mới sanh ra thọ. Khi nghe người khác mắng chửi, hủy nhục thì sân giận bừng bừng lên, tưởng vận hành, suy nghĩ vận hành, ngũ uẩn vận hành. Nhưng khi có người điện thoại nói “quý thầy lắm, con kính trọng thầy”, thì thọ khởi phơi phới. Điều này phải học qua duyên sanh pháp của Kinh Tạng Nikāya, không giống như trước đây chúng ta đã học, duyên sanh pháp của Nikāya rất sâu sắc, rõ ràng.
“Do duyên có lỗ tai, có tiếng khởi lên sự rõ biết âm thanh, ba pháp này hội tụ, giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của lỗ tai, đó là nhĩ xúc”. Khi ba pháp này hội tụ, giao thoa, tiếp xúc với nhau, sanh ra cảm giác – thọ do nhĩ thức sanh. Thọ sanh lên là lạc thọ, khổ thọ hoặc bất khổ bất lạc, tương ứng với tham, sân, si. Chúng ta ái trong ba cảm thọ này.
Không chỉ cảm giác vui mới thích, mà cảm giác khổ mình vẫn thích. Nếu không thích cảm giác giận thì đã không để nó trong thân tâm của mình. Khi giận, có người năn nỉ đừng giận nhưng mình không tha thứ, như vậy ta vẫn ái trong cảm giác sân. Không chỉ lạc mới ái, mà khổ vẫn ái, chính vì vậy có người bị chồng đánh nhưng không li dị được, không bỏ được, nhiều khi chửi vẫn cười, không chửi thì thấy nhớ. Đôi khi có mùi khủng khiếp nhưng thiếu mùi không chịu được, do đó không phải êm ái là ái mà khổ thọ vẫn ái. Chính vì vậy sân mới làm tổ, căn cứ địa, sào huyệt trong thân tâm của mình. Cho nên, có người giận suốt đời, đó là ái thủ, muốn giữ cảm giác đó, “sống để dạ chết mang theo”, không phải đối với người dưng mà là anh em, cha mẹ, huynh đệ, thầy trò.
Vì vậy, xúc sanh thọ, thọ sanh ái, ái sanh thủ. Tiếp xúc sanh cảm giác, dính mắc trong cảm giác đó và nắm giữ cảm giác đó. Khi nắm giữ thì hiện hữu, khi hiện hữu thì sanh có mặt, già chết có mặt, sầu, bi, khổ, ưu, não có mặt, tiếp diễn đến đời sau giận tiếp tục, để tìm nhau rồi hành xác, hành tội với nhau. Ái cũng vậy, tiếp xúc sanh ra cảm giác thích, thích thì muốn giữ cảm giác đó, cho nên nó hiện hữu, khi đó sanh, chết, già có mặt, sầu, bi, khổ, ưu, não có mặt, để đời sau gặp nhau tiếp tục ái, tiếp tục ràng buộc, tiếp tục tham đắm, tiếp tục dính mắc. Đây gọi là vòng tái sanh, luân chuyển, luân hồi, xoay vòng, bất tận, vô lượng, vô biên kiếp của các pháp vận hành. Đó là duyên sanh pháp, trong Nikāya được dạy cực kỳ rõ.
Đến duyên sanh pháp của mắt, “Do duyên có mắt, có sắc, khởi lên sự rõ biết các sắc, ba pháp này hội tụ, giao thoa, tiếp xúc gọi nhãn xúc”. Sự tiếp xúc của con mắt sanh ra cảm giác, xúc sanh thọ – thọ do nhãn xúc sanh. Chúng ta thấy sự tiếp xúc con mắt sanh ra cảm giác, hoặc là ưa thích hoặc là ghét bỏ, hoặc là tham, hoặc là si, cho nên thọ do nhãn xúc sanh.
“Do duyên có lỗ mũi, có mùi khởi lên sự rõ biết mùi, ba pháp này hội tụ, giao thoa với nhau tạo thành tỷ xúc”. Sự tiếp xúc của lỗ mũi, sanh ra cảm thọ – thọ do tỷ xúc sanh.
“Do duyên có lưỡi, các vị, khởi lên sự rõ biết, ba pháp này hội tụ, giao thoa với nhau tạo thành thiệt xúc”. Thọ do thiệt xúc sanh, cảm giác sanh, đó là duyên sanh pháp, duyên sanh pháp của Nikāya rõ biết từng chi tiết, từng pháp.
Minh Thành mời quý thầy vào trang linhquyphapan.vn, để nắm được tổng cương lĩnh thì ta mới đi được vào Tạng Kinh Nikāya. Dù cho đọc, nghe 10 năm cũng không biết pháp nếu không nắm được ngũ uẩn, như vậy ta sẽ không có chìa khóa mở cánh cửa tu học, như vậy chúng ta sẽ lạc đường. Căn bản nhất của Nikāya là nhận diện được ngũ uẩn, nhận diện các cảm thọ, rồi chúng ta sẽ thấy tham, sân, si hoạt động như thế nào.
Đến duyên sanh pháp của ý là hết sức sâu xa, có khi ngồi thiền suốt đời cũng không biết. Nhưng nếu mình tu học đúng, có người hướng dẫn thì chúng ta sẽ thấy rõ khi ngồi thiền, khi tiếp duyên xúc cảnh hàng ngày.
Chúng ta quen trong trạng thái buông lung, phóng dật, hướng ngoại. Mắt nhìn thấy sắc, lỗ tai tìm tiếng, lỗ mũi tìm mùi hương, lưỡi tìm vị, thân tìm sự xúc chạm. Kinh Nikāya nói: “Thân này là thiếu thốn, thân này là khát khao, thân này là nô lệ cho tham ái”. Cho nên trạng thật sự của tâm chúng ta là trạng thái khát ái, luôn luôn thiếu thốn, khát khao, đòi hỏi. Ví như người giàu nhất thế giới cũng không bằng lòng với số tài sản đó, người đó luôn luôn thấy thiếu thốn. Bản chất của ngũ uẩn là thiếu thốn, khát khao, nô lệ cho tham ái. Ví như ông vua tam cung lục viện mấy trăm người nhưng vẫn tuyển thêm. Còn chúng ta không có chùa thì mong có chùa, nhiều khi có rồi nhưng lại muốn có thêm, ba cái chùa cũng không đủ, thân này luôn thiếu thốn khát khao như vậy.
Khi học Kinh Tạng Nikāya ta thấy có nhiều bất ngờ, Đức Phật chỉ ra bản chất của dục, của tham, ái hoạt động trong thân tâm, nếu không chúng ta sẽ không thấy. Cứ nghĩ rằng mình không có tham, chừng nào lấy đồ của người khác mới là tham, đó là phàm phu pháp, người không tu cũng biết đó là tham. Cho nên Đa văn Thánh đệ tử là người nhìn thấy các cảm thọ động chuyển. Chỉ cần có động chuyển trong các dòng cảm thọ, cảm giác là thấy được, nắm bắt được và nhiếp phục ngay tại chỗ, từ bên trong trứng nước, đó là trí tuệ của bậc Đa văn Thánh đệ tử. Khi trong tâm có những hình bóng, suy nghĩ cảm giác thì liền chặn đứng, không cho phát khởi ra ngoài. Do đó, phải có sự tu tập rèn luyện. Ví như đi học võ mà học có một chiêu thì không thể thành công, mà ta cần phải luyện 10 -20 năm. Cũng vậy, tâm mình còn khó hơn luyện võ, cho nên phải có sự kiên trì thực tập.
Căn bản đầu tiên là để ý cảm nhận, thường thường an trú trong cảm giác toàn thân, để xem dòng cảm thọ, cảm xúc, cảm giác đang thuộc thọ nào, trong cảm thọ có gì? Tham, sân, si, hay bản ngã? Phải để ý, từ từ sự để ý sẽ sâu sắc, bén nhạy, vi tế, rồi nắm bắt được những khoảnh khắc. Sự tu tập công phu ngày càng thâm hậu, trí huệ sắc bén cũng giống như sư tử săn mồi. Tức là khi những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ sanh khởi lên thì phải nhìn thấy và kiểm tra được. Chúng ta phải thực tập phần sắc pháp rất nhiều.
Như vậy, chúng ta đã nói khái quát về thọ, tưởng, hành, thức. Về sự phá chấp thủ trong sắc pháp là cả công trình. Phải trải qua sáu pháp Đức Phật dạy trong Kinh Niệm Xứ về thân hành niệm để phá sắc uẩn:
Niệm hơi thở
Niệm oai ghi
Niệm hành động
Niệm tứ đại
Niệm ba mươi hai thể trược
Niệm chín giai đoạn của một tử thi.
Đây là sáu pháp để phá sắc uẩn, trừ được thân kiến – kiến chấp về thân. Thứ làm cho mình khổ nhiều là sắc uẩn.
***
Câu hỏi:
“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Kính bạch trên thầy cùng toàn thể đại chúng! Vừa rồi khi giảng về ngũ uẩn có nhấn mạnh quán sát và nhận diện rõ cảm thọ khởi lên. Đặc biệt phần này có liên hệ đến thân hành niệm, tức là các pháp vận hành trong sinh hoạt đời sống thường nhật. Con xin thầy chia sẻ cho đại chúng về một vấn đề, trong khi quan sát cảm thọ và thực hành thân hành niệm. Đa số chúng ta đều có nhận thức về mặt lý thuyết nhưng khi thực hành thì lý thuyết đôi khi trở thành trở ngại. Tức là ta đã biết nhưng ta không làm được như vậy, đôi khi chính vì không làm được nên sinh ra tâm khổ, buông xuôi. Bạch thầy chia sẻ cho chúng con chuyển hóa như thế nào?”
Trong Kinh Nikāya Đức Phật có dạy rất kỹ, khi tu tập thì những suy nghĩ của mình sẽ chống đối. Ví dụ khi quán bất tịnh, nhưng có suy nghĩ là “quán làm chi, quán bất tịnh mà chỉ thấy tịnh”. Chính sự suy nghĩ đó là sự chống đối với Thánh Pháp. Chúng ta phải biết rằng sự chống đối này hết sức nguy hiểm, nó ngăn trở Thánh đạo và sẽ đào thải ra khỏi Bát Chánh, làm mình không được dự phần trong Thánh Pháp. Cho nên đầu tiên muốn tu là phải diệt tận những suy nghĩ chống đối Thánh Pháp trước khi thực hành tu.
Ví dụ, đưa hình ảnhd một xác người đang mổ xẻ để quán chiếu, lúc đó mình nghĩ: “Tu gì mà ghê quá thôi đừng tu, tu êm ái thôi”, đó là thích cái ái. Còn đây là Thánh Trí Huệ “phơi bày những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để cho những người có mắt có thể thấy được sắc, chỉ đường cho người lạc hướng” – đây là định nghĩa giáo pháp Phật.
Bước đầu tiên trong pháp hành là phải có người hướng dẫn. Nếu tự thực hành, thứ nhất là sẽ không nắm được đường đi nước bước, thứ hai là khi có những cảm giác tiêu cực sanh khởi là mìnhkhông biết trị, thứ ba là sẽ nản chí. Chính vì vậy phải cần một bậc thầy hướng dẫn, mà bậc thầy này phải là bậc Chánh Tri Kiến còn nếu không chỉ sai, hoặc nửa vời thì không đi đến kết quả trọn vẹn.
Cho nên đầu tiên trong sự thực tập về pháp hành là phải diệt những suy nghĩ chống đối, điều này hết sức quan trọng, vì suy nghĩ chống đối rất ghê gớm. Có khi giảng trên đây mà phía dưới đưa những ý kiến khác, đó là mình chưa nhìn thấy được ý hành. Tuy thấy những sự chống đối rất bình thường, nhưng sẽ phá vỡ con đường Thánh đạo của mình. Tại sao vậy? Tại sao những lời trong kinh mà lại trở ngại cho mình? Chỉ có mình chống đối kinh, chứ Đức Phật không thể đưa ra điều gì mà thừa hay thiếu, càng không thể đưa sai. Cho nên những điều trong kinh mà mình thấy sai là chính do mưu mô của ngũ uẩn, của dục, ái, vô minh, chứ không phải kinh.
Chúng ta phải nhiếp phục những suy nghĩ, cảm giác theo thường tình, theo mê chấp, theo ái. Chúng ta tu mà không thành công, không có Thánh quả là tại ưa theo ái của mình, tu mà lựa những thứ hợp ý để tu cho dễ, cho kết quả mau. Đem tâm tham, ái, dục tu thì làm sao mà thành tựu! Giáo pháp của Phật là pháp ly tham, nhiếp phục tham, đoạn tận tham, diệt tận tham ái, mà bây giờ lại chọn những thứ thích ái, dễ dàng thì sẽ rơi vào lưới ma. Cho nên bước đầu thực tập phải hết sức cẩn thận về những suy nghĩ chống đối, phải đọc được hành uẩn, suy nghĩ – chúng rất khủng khiếp.
Vì vậy, muốn tu Thánh đạo đúng như Đức Phật là cả một sự cố gắng, nỗ lực, kiên trì rất mạnh mẽ, còn người có tâm thường thường thì không thể nào tu được, vì đây là siêu phàm nhập Thánh chứ không phải chuyện thường. Cho nên đầu tiên vẫn là phải nhìn lại cảm giác để thấy được cảm giác gì, hình bóng gì, suy nghĩ gì. Phải đem ra mổ xẻ, phân tích, soi kỹ xem suy nghĩ phát xuất từ đâu: suy nghĩ từ tham ái; hay suy nghĩ tương ưng với trí huệ của Phật; hay suy nghĩ buông lung, muốn khỏe, không chịu cực khổ; hay suy nghĩ của bản ngã, cho rằng nó giỏi rồi, không cần ai dạy, tự đọc và tu – suy nghĩ như vậy là giết chết mình.
Sự tu này là chĩa mũi dùi vào tham, sân, si, vô minh và bãn ngã - đây là những tên giặc, là kẻ thù, là những chướng ngại, trở ngại. Chúng ta phải phát giác, phát hiện ra những tên giặc ở trong những cảm giác, nghĩ tưởng này, sau đó phải nhiếp phục, giành quyền làm chủ và đoạn tận nó. Như thế mới là đại thành công của sự tu học. Chính vì vậy, thành tựu đầu tiên trong sự tu của chúng ta là nhìn thấy những tên giặc bên trong, từ trước tới giờ chưa thấy là do mình hướng ngoại bên ngoài, chỉ lo nhìn sắc đẹp, nghe tiếng, ngửi hương, nếm vị, đi theo sự hướng ngoại. Còn tu pháp này là hướng nội xem cảm giác, nghĩ tưởng của mình để nhìn thấy tham, sân, si; kiểm tra suy nghĩ nếu có của tôi, có tôi, có ta đây thì phải nhiếp phục. Ctàng nhiếp phục nhiều thì sự tu tập càng vững chắc, có chân đứng trong pháp và luật.
Minh Thành gửi cúng dường sách cho quý thầy, trong quyển kinh này là những tinh túy, cốt lõi của Tạng Kinh Nikāya. Phần Căn Bản Trí số 1 trong đạo tràng Nikāya, được Phật tử, các cô thầy trên Linh Quy Pháp Ấn học thuộc hết. Quý thầy xem thử nếu hợp duyên thì học thuộc lòng phần Căn Bản Trí số 1, những điều đó giúp cho mình rất nhiều trong sự tu học, đây cũng như chìa khóa để mở Kinh Tạng Nikāya.
***
Câu hỏi:
“Mô Phật, bạch thầy, trong năm uẩn thì uẩn nào làm cho người ta đau khổ, làm cho người ta bị trầm cảm, dẫn đến vấn đề tự tử? Uẩn nào chi phối mạnh nhất, thưa thầy?”
Thực ra những đau khổ đưa đến trầm cảm, tự vẫn thì cũng vận hành hết từ trong ngũ uẩn, nhưng thông thường thì thọ uẩn là cực kỳ quan trọng, nổi trội vẫn là cảm giác. Cho nên từ “trầm cảm” đã nói lên điều đó, nhưng đầy đủ hết phải là ngũ uẩn. Do thời gian quá ngắn nên Minh Thành không trình bày được nhiều. Nhưng hệ lụy ở đây là hệ lụy về sắc uẩn, sắc uẩn đầu tiên rồi đưa đến cảm thọ, nhưng vẫn có suy nghĩ, có tưởng bên trong, vì vậy, phải đầy đủ ngũ uẩn. Cho nên phải học đầy đủ về ngũ uẩn, một uẩn thì không đủ. Cũng như chỉ biết lo cho lỗ tai trên thân thôi thì không được, chúng ta phải chăm sóc toàn bộ cơ thể./.
THÍCH MINH THÀNH
Kính thưa đại chúng, do thầy giáo thọ có công việc, nên Minh Thành thay thế để chia sẻ với quý thầy. Đây cũng lần đầu tiên gặp mặt, giao lưu, chia sẻ cùng với quý thầy. Hôm nay chúng ta sẽ có một pháp đàm, nếu quý thầy có câu hỏi về những thắc mắc, khó khăn trong sự tu học, hãy nêu ra để chúng ta cùng nhau chia sẻ.
Minh Thành xin giới thiệu chuyên về pháp hành của Kinh Tạng Nikāya, tức là trở về những lời dạy nguyên bản của Đức Phật trong Kinh Tạng Nikāya. Đây là một bộ kinh được cả thế giới công nhận, cổ xưa nhất, cội gốc nhất để chúng ta có những phương pháp thực tập thiết thực căn bản trong sự tu học.
Quý thầy có thể nêu lên câu hỏi trực tiếp hay gián tiếp viết ra giấy. Trong sinh hoạt thiền môn có khó khăn gì, hay sự học pháp có điều gì chưa thông, đặc biệt trong sự thực hành, thực tập còn trở ngại khó khăn, trong khi ngồi thiền, quán chiếu, hay trong khi nhiếp phục chế ngự tâm có khó khăn gì, chúng ta có thể chia sẻ, hôm nay là buổi pháp đàm. Các thầy có thể hỏi với sự thân thiện trong sự tu học, về tinh thần Phật pháp tu học.
Câu hỏi:
1. “Kính bạch trên giáo thọ, cùng đại chúng, con xin có một câu hỏi. Bạch giáo thọ, con có câu hỏi về duy thức. Theo bên Bắc tạng thừa nhận có tám thức, có thêm mạc-na và a-lại-da thức, còn bên Kinh Nikāya không thừa nhận mạc-na và a-lại-da thức. Tại sao có sự khác biệt giữa Nam tạng và Bắc tạng. Nhân dịp này có xin có câu hỏi như thế”.
2. “Thưa thầy, cho con hỏi, con có thực tập về thiền bên hơi thở. Nhiều khi ngồi mà trên thân, tai, đầu hay mặt con lại như có con gì bò lột nhột, làm cho tâm không được an trụ một chỗ. Kính mong thầy chỉ dẫn con phương pháp nào làm cho con an tâm hơn, định tâm hơn?”.
3. “Kính bạch trên giáo thọ cùng đại chúng, con xin hỏi vấn đề về thọ giới. Vừa qua con thọ cụ túc giới nhưng thọ luôn Bồ Tát giới, hai vấn đề giới Thanh Văn và giới Bồ Tát. Đức Phật chỉ cho hàng đệ tử giới Thánh Văn, nhưng giới Bồ Tát trải rộng ra cho Phật tử tại gia để nhiếp chúng hướng về đạo giải thoát. Nhưng có nhiều quan điểm của các vị thầy lớn đưa ra là giới Bồ Tát hỗ trợ cho giới Thánh Văn để con đường hoằng pháp được thuận tiện. Xin bạch trên giáo thọ giảng dạy thêm những điều này, để không có sự giải đãi trong hàng đệ tử của Đức Phật trong hiện tại và để không có những tư tưởng đưa ra sai lầm”.
4. “Mô Phật, bạch giáo thọ, con xin có câu hỏi. Trong Thập Nhị Nhân Duyên có đề cập đến “thức” và “hành”; trong Ngũ Uẩn cũng có đề cập đến “hành uẩn” và “thức uẩn”. Xin thầy từ bi chỉ dạy cho tụi con sự khác nhau giữa thức và hành trong Ngũ Uẩn và Thập Nhị Nhân Duyên để chúng con dễ phân biệt. Mô Phật”.
5. “Bạch giáo thọ và đại chúng, con có câu hỏi. Theo con được biết thì Kinh tạng Bắc Truyền có nói về cõi Tây Phương và Đức Phật A Di Đà, do con chưa tìm hiểu về Kinh Tạng Nikāya nhiều, cho nên con muốn hỏi trong Kinh Tạng Nikāya có kinh nào nói về cõi Tây Phương và Phật A Di Đà hay không?”.
6. “Con kính bạch lên giáo thọ, cùng toàn thể đại chúng. Hôm nay con có vấn đề hỏi về nghi lễ, đám xá. Từ lúc ban sơ khi vào chùa, thầy trụ trì cũng cho mình tập sự đi cúng phụ, sau cũng biết làm đủ lễ. Con biết đi tụng đám là nương nhờ năng lực của chư Tăng và nương nhờ năng lực của mình để có thể tiếp độ. Nhưng mà con không hiểu năng lực của mình như thế nào, và năng lực thế nào là đủ để tiếp độ. Con thấy đa số ai cũng có thể đi cúng, nhưng năng lực có đủ để tiếp độ và nghi lễ có đúng hay không và có lợi ích nhiều hay không?”.
7. “Con thưa với thầy, con có câu hỏi như thế này, vì tư tưởng bây giờ người ta phân ra Nam Truyền, Bắc Truyền, như thầy nói về bộ Kinh Nikāya được cả thế giới công nhận và bộ kinh đại thừa tư tưởng là do Trung Quốc soạn ra.
Sư phụ: Điều đó ai nói?
Sư thầy: Có nhiều luồng tư tưởng mà tụi con cũng được biết.
Sư phụ: Điều đó thầy phải nói rõ, chứ Minh Thành ngồi đây chưa nói.
Con thưa với thầy là có nhiều luồng tư tưởng, người ta phân ra Nam Truyền và Bắc Truyền. Kinh Nikāya là lời Đức Phật nói chân truyền – Nguyên Thủy, còn kinh Đại Thừa là do những người sau này soạn ra và viết ra. Chúng con sau này cũng là những người hoằng pháp, mong thầy cho con những câu trả lời, để chúng con lấy đó làm kim chỉ nam để không phải bị bơ vơ hay lạc lõng trong tư duy, suy nghĩ của mình. Chúng con xin lấy đó làm đường hướng để hướng dẫn Phật tử sau này và làm nền tảng để con tu học. Con xin hết”.
***
Những câu hỏi của chúng ta rất rộng, chỉ một câu hỏi mà chúng ta có thể học đến một tháng, không phải đơn giản nói vài lời là được. Đó là cả một dòng diễn biến 2.600 năm, thành ra phải là người hết sức tha thiết học hỏi và tìm cầu.
Minh Thành xin thưa quý thầy, Minh Thành đã xuất gia 30 năm, từ ngày xuất gia là nơi nào có cao tăng, có đạo tràng tu học Minh Thành đều đến học hỏi. Minh Thành tìm cầu pháp trong nước ngoài nước từ Sri Lanka, Myanmar, Thái Lan, Đài Loan, Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản… Minh Thành đến thăm và gặp các vị Tăng trưởng, như: Trung Đài Thiền Tự của Duy Giác Trưởng Lão, Phật Quang Sơn của Tinh Vân Đại Sư, Từ Tế Hội của Ni Sư Chứng Nghiêm. Nơi nào có đạo tràng Phật giáo lớn, Minh Thành đều đi tìm cầu học, nhưng trong ba năm nay Minh Thành chỉ chuyên duy nhất Kinh Tạng Nikāya.
Vấn đề tranh luận thì Minh Thành không để tâm và không có thời gian để bàn luận đúng sai, vấn đề là mình phải thực tập học hỏi và chứng kiến sự thật.
Hôm nay Minh Thành muốn chia sẻ với các thầy để mọi người có thể nhìn thấy năm uẩn ngay tại chỗ ngồi này. Có khi tụng đọc năm uẩn 10 năm, 20 năm mà mình không biết năm uẩn thực sự là gì? Chúng ta chỉ biết từ ngữ ở trên khái niệm, ở trên suy tưởng, cho nên giáo lý năm uẩn có một thầy đề cập đến là rất quan trọng. Năm uẩn là thân tâm của mình: sắc là phần vật chất, phần thân; còn cảm giác, nghĩ tưởng, hình bóng trong tâm và nhận thức là phần tâm. Nếu không rành rọt về thân tâm thì sự thực tập tu học của mình không đi đến kết quả giống như Đức Phật nói. Chính vì vậy, do thời gian rất ngắn nên Minh Thành giới thiệu phần quan trọng nhất cho quý thầy.
Bây giờ câu hỏi đơn giản, chúng ta học năm thứ tư là chuẩn bị ra trường, tức là có những huynh đệ đã học sơ cấp, bây giờ học trung cấp là 6 năm. Minh Thành hỏi một câu, các thầy có biết tại sao mình có suy nghĩ không? Không thể nào biết được nếu không học Nikāya, tại vì đây là những định lý mà Đức Phật chứng ngộ, nếu không học sẽ không biết. Tại sao chúng ta có suy nghĩ? Suy nghĩ là hành; sắc là tứ đại, đồ vật, thân người, cảnh vật là sắc; thọ là cảm giác; tưởng là hình bóng trong tâm.
Ví dụ, mình nhớ về mẹ là hình bóng mờ mờ của mẹ hiện trong tâm, đó là tưởng. Tưởng là hình tướng, hình dáng trong tâm. Tại sao có hình bóng trong tâm? Tại sao mình có cảm giác? Đó chính là do có xúc. Tại sao mình có cảm giác? Tại sao mình có suy nghĩ? Chúng ta học về Thánh trí Năm uẩn sẽ biết rất rõ: “xúc tập khởi nên thọ tập khởi, xúc tập khởi nên tưởng tập khởi, xúc tập khởi nên hành tập khởi – thọ, tưởng, hành có được là từ xúc”. Ví dụ, khi đi đâu gặp một người nào đó, lúc trở về thì hình bóng người đó hiện ra trong tâm, nếu người đó mình thương thì có cảm giác dễ chịu, có suy nghĩ về người đó, đó là xúc tập khởi cho nên thọ, tưởng, hành tập khởi.
Buổi hôm nay Minh Thành muốn giới thiệu với các huynh đệ về phương pháp nhận diện ngũ uẩn, sau buổi học này nếu chịu khó nghe thì sẽ biết ngũ uẩn là gì? Ví dụ, có ai thích ăn me dốt không, me chấm với nước mắm chay có đường và ớt rất ngon. Xin thưa đại chúng Minh Thành đang cho ví dụ về nhận diện ngũ uẩn. Khi mình nghe nói trái me thì có hình bóng trái me hiện ra – tưởng, có cảm giác thích về trái me – thọ, có suy nghĩ về trái me – hành, lúc đó mình rõ biết đang có cảm giác đó, hình bóng đó, suy nghĩ đó – thức và trái me là sắc. Đó chính là ngũ uẩn, chúng ta sử dụng suốt ngày, suốt tháng, suốt năm nhưng không biết, Đức Phật gọi đó là vô minh.
Ví dụ, đang ngồi một mình nhớ lại người mình ghét, khi nhớ về người đó thì hình bóng hiện ra – tưởng, cảm giác khó chịu sanh khởi – thọ, suy nghĩ bực bội ghét – hành, lúc đó tâm có rõ biết đang hình bóng đó, cảm giác đó, suy nghĩ đó trong tâm – thức. Thân thể lúc đó thay đổi cảm thấy bực bội, bứt rứt, đó là ví dụ về sân.
Tiếp theo, ví dụ, nhớ một người mà mình thương yêu, thích thú, thì những hình bóng, những cảm giác, những suy nghĩ vận hành.
Như vậy, cảm thọ có ba thọ là: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc. Ở trong lạc thọ luôn luôn đi theo tham, bất cứ lúc nào lạc thọ sanh khởi là có tham, ái, thích, khoái. Bất cứ lúc nào khổ thọ sanh thì sẽ có sân trong cảm giác, sẽ cảm thaaysy bực bội, bứt rứt, khó chịu, sân hận. Cảm giác bất khổ bất lạc thọ là không ghét, không thương thì luôn luôn lúc nào cũng có si tùy miên cũng trong đó. Tại vì lúc đó không thấy pháp, không thấy duyên sanh duyên diệt, không thấy sự vô thường, sự kết hợp, không thấy lúc đó chỉ là cảm thọ, mà thấy lúc đó là “tôi dễ chịu”, “tôi vui sướng”, “tôi đang bực bội, đừng đụng vào tôi” – đây hoàn toàn chỉ là tham, sân, si. Cho nên tham, sân, si ở trong cảm thọ. Như vậy, tham, sân, si không phải là không có chỗ mà tham, sân, si chính là ở trong cảm giác.
Trong bài kinh “Cội Rễ Sự Vật”, Tăng Chi Bộ Kinh Đức Phật nói: “Tất cả pháp hội tụ trong nơi cảm thọ”. Cho nên mình muốn biết trong tâm có gì, chỉ cần trở về xem cảm giác trong cơ thể thì sẽ hiện ra hết.
Minh Thành mời quý Thầy về nghe bài “Hiệu Quả Cảm Giác Toàn Thân” trên trang linhquyphapan.vn. Bài giảng này có chỉ mình cách làm sao để thực hành cảm giác toàn thân. Khi mình có thực hành cảm giác toàn thân thì trong thân tâm có biến động cảm giác lạ là mình biết. Giống như trong phòng có gì bất bình thường là biết được, thay đổi là biết, có ai lấy đồ hay bỏ đồ vào là mình biết. Cũng vậy, có tu tập cảm giác toàn thân là mình thường thường an trú trong cảm giác toàn bộ cơ thể từ đỉnh đẩu đến gót chân. Ví dụ, khi ngồi đâu là mình đều chú ý đến toàn bộ cảm giác cơ thể, đạt được điều này cần phải có sự thực tập.
Còn một bài giảng“Nhập Thất Chia sẻ Chỉ Cách Ngồi Thiền”, bộ này có 5-7 bài, vừa hướng dẫn ngồi thiền như thế nào, cảm giác toàn thân như thế nào, và nhận diện năm uẩn như thế nào? Nếu nghe bộ này khoảng 5-6 bài, thì sẽ nắm vững được thực hành cảm giác toàn thân, cách ngồi thiền và nhận diện năm uẩn. Vì nhận diện năm uẩn tuyệt đối quan trọng. Chúng ta ngồi được ở lớp là phải qua cánh cửa trường của trường, nhận diện năm uẩn giống như cánh cửa đó, phải đi qua cánh cửa đó thì mới tu tập được. Nếu không thân tâm của mình sẽ không được rõ, hành, thức lộn xộn hết, nhìn không chuẩn xác thân tâm thì tu học không có kết quả đúng giống như Chánh pháp.
Ngũ uẩn là thân và tâm, bao trùm cả vũ trụ này không đi ra khỏi ngũ uẩn.
Phần sắc là thân người, cảnh vật, đồ vật, tứ đại, cả thế giới này chỉ bao gồm chữ sắc. “Uẩn” là tụ tập, tập hợp hội tụ tất cả sắc pháp là sắc uẩn. Định nghĩa chữ “Sắc” là bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Tất cả những thứ chung quanh ta đều là sắc uẩn, tất cả là sắc pháp, mà sắc pháp do tứ đại. Con người do đất nước gió lửa; thức ăn, nước uống, không khí, hơi thở, nhiệt độ trong cơ thể, ánh nắng mặt trời đều là tứ đại, là đất nước gió lửa. Cho nên chữ “Sắc” bao trùm vũ trụ, từ thân người, đồ vật, cảnh vật, thế giới đều ở trong sắc.
Tâm thì không ra ngoài bốn uẩn, tất cả đều ở trong tâm. Có những nhà khoa học, bác học, triết học phát biểu là “tôi suy nghĩ”, đó chỉ là hành uẩn. Có người nói rằng, “tôi cảm giác”, đó chỉ là thọ uẩn. Có người nói rằng, “tôi nhận thức”, đó chỉ là thức uẩn. Còn sự chứng ngộ của Đức Phật là sự chứng ngộ đại viên mãn, tâm là phải đầy đủ cảm giác, hình bóng, suy nghĩ và rõ biết. Ai hỏi tâm là gì thì quý thầy phải nói đầy đủ bốn điều này, đây là tâm lý học tối thượng của Phật giáo.
Minh Thành gửi cúng dường quý thầy quyển “Nghi Thức Tu Học Nikāya”. Chúng ta về thực tập nhận diện ngũ uẩn, xem trong tâm có hình bóng gì không? Định nghĩa thứ nhất về ngũ uẩn: “Thân người là sắc; cảm giác là thọ; hình bóng là tưởng (hình bóng ở trong tâm); suy nghĩ là hành; rõ biết là thức”. Chúng ta phải về nhà thực tập, nhìn nhận lại năm uẩn một cách thưởng xuyên, khi thấy được năm uẩn thì sẽ thấy mình là gì, còn không thấy được năm uẩn thì chỉ thấy một đại ngã uẩn, một cái tôi và của tôi to tướng. Khi thấy được năm uẩn thì cái tôi vỡ thành năm mảnh, tức là thân kiến, ngã kiến, kiến chấp và một cái tôi, của tôi, tự ngã của tôi – bị Thánh trí Năm uẩn làm cho vỡ ra, bể nát ra, tan ra trong trí tuệ.
Thực tập để ý trong ba loại cảm giác. Lúc nào thấy cảm giác dễ chịu phải đề phòng, quán chiếu có tham trong đó. Lúc nào thấy cảm giác khó chịu, bực bội phải quán chiếu có tâm sân trong đó. Lúc nào thấy cảm giác trơ trơ, không ưa, không ghét, không vui, không khổ, thì phải xem cảm giác si trong đó, nhìn thấy đây là cảm giác không khổ không vui. Cảm giác chỉ là thọ uẩn, không phải là mình, không phải của mình. Chúng ta phải thực tập nhận diện các cảm giác
Ví dụ, giờ này mới 9h30, nhưng chú bảo vệ trực bấm chuông ngủ gật, lỡ bấm chuông ra về. Lúc đó thọ vui, dễ chịu sanh khởi, cảm thấy thích – thọ; hình bóng nôn nao xuống dẫn xe, chạy xe tà áo bay phất phới, hình bóng chùa hiện ra – tưởng; suy nghĩ thời gian rảnh về chùa sẽ làm gì – hành; trong tâm rõ biết ba uẩn: cảm giác, nghĩ, tưởng –thức. Thức này là thức thứ sáu – ý thức, nó chỉ rõ biết thọ, tưởng, hành, tức là chỉ rõ biết cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm, không biết những thứ ở ngoài, thức thứ sáu chỉ biết có vậy.
Chúng ta sẽ nhận diện về thức, cũng có thầy đặt câu hỏi về thức. Mỗi thức có một lĩnh vực, chúng không lẫn lộn với nhau. Tức là nhãn thức chỉ rõ biết các sắc, ngoài sắc ra là nó không biết. Nhãn thức không phải sự rõ biết của con mắt, vì lúc ngủ, hay lúc xỉu, cũng có con mắt nhưng không có sự rõ biết; hoặc lúc chết mắt mở nhưng cũng không có sự rõ biết. Thức chỉ rõ biết các sắc, không rõ biết các tiếng, gọi là nhãn thức giới. Giới ở đây không phải là giới luật mà giới này là ranh giới, biên giới, giới vực, phạm vi. Như vậy, sự rõ biết con mắt chỉ giới hạn trong sắc, chỉ rõ biết các sắc, ngoài sắc thì không biết. Cũng vậy, nhĩ thức chỉ rõ biết âm thanh, ngoài âm thanh thì sẽ không biết. Do đó, chúng ta phải ngồi thiền để nhận diện sáu thức, chứ không đơn giản như học trên chữ nghĩa: nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Phải ngồi thiền tịnh tâm, lắng lại để nhận diện.
Nhĩ thức chỉ rõ biết âm thanh, rõ biết tiếng, rõ biết rất giới hạn, tức là chỉ rõ biết âm thanh ở tầm nghe được. Nếu có ai ngồi trước cổng chùa chửi thì mình không biết do không nghe, nên không có sân, nhưng có ai điện thoại đến chửi, mình nghe được thì sân khởi lên. Như vậy sân cũng vô thường, giả dối, tại do duyên xúc mới sanh ra thọ. Khi nghe người khác mắng chửi, hủy nhục thì sân giận bừng bừng lên, tưởng vận hành, suy nghĩ vận hành, ngũ uẩn vận hành. Nhưng khi có người điện thoại nói “quý thầy lắm, con kính trọng thầy”, thì thọ khởi phơi phới. Điều này phải học qua duyên sanh pháp của Kinh Tạng Nikāya, không giống như trước đây chúng ta đã học, duyên sanh pháp của Nikāya rất sâu sắc, rõ ràng.
“Do duyên có lỗ tai, có tiếng khởi lên sự rõ biết âm thanh, ba pháp này hội tụ, giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của lỗ tai, đó là nhĩ xúc”. Khi ba pháp này hội tụ, giao thoa, tiếp xúc với nhau, sanh ra cảm giác – thọ do nhĩ thức sanh. Thọ sanh lên là lạc thọ, khổ thọ hoặc bất khổ bất lạc, tương ứng với tham, sân, si. Chúng ta ái trong ba cảm thọ này.
Không chỉ cảm giác vui mới thích, mà cảm giác khổ mình vẫn thích. Nếu không thích cảm giác giận thì đã không để nó trong thân tâm của mình. Khi giận, có người năn nỉ đừng giận nhưng mình không tha thứ, như vậy ta vẫn ái trong cảm giác sân. Không chỉ lạc mới ái, mà khổ vẫn ái, chính vì vậy có người bị chồng đánh nhưng không li dị được, không bỏ được, nhiều khi chửi vẫn cười, không chửi thì thấy nhớ. Đôi khi có mùi khủng khiếp nhưng thiếu mùi không chịu được, do đó không phải êm ái là ái mà khổ thọ vẫn ái. Chính vì vậy sân mới làm tổ, căn cứ địa, sào huyệt trong thân tâm của mình. Cho nên, có người giận suốt đời, đó là ái thủ, muốn giữ cảm giác đó, “sống để dạ chết mang theo”, không phải đối với người dưng mà là anh em, cha mẹ, huynh đệ, thầy trò.
Vì vậy, xúc sanh thọ, thọ sanh ái, ái sanh thủ. Tiếp xúc sanh cảm giác, dính mắc trong cảm giác đó và nắm giữ cảm giác đó. Khi nắm giữ thì hiện hữu, khi hiện hữu thì sanh có mặt, già chết có mặt, sầu, bi, khổ, ưu, não có mặt, tiếp diễn đến đời sau giận tiếp tục, để tìm nhau rồi hành xác, hành tội với nhau. Ái cũng vậy, tiếp xúc sanh ra cảm giác thích, thích thì muốn giữ cảm giác đó, cho nên nó hiện hữu, khi đó sanh, chết, già có mặt, sầu, bi, khổ, ưu, não có mặt, để đời sau gặp nhau tiếp tục ái, tiếp tục ràng buộc, tiếp tục tham đắm, tiếp tục dính mắc. Đây gọi là vòng tái sanh, luân chuyển, luân hồi, xoay vòng, bất tận, vô lượng, vô biên kiếp của các pháp vận hành. Đó là duyên sanh pháp, trong Nikāya được dạy cực kỳ rõ.
Đến duyên sanh pháp của mắt, “Do duyên có mắt, có sắc, khởi lên sự rõ biết các sắc, ba pháp này hội tụ, giao thoa, tiếp xúc gọi nhãn xúc”. Sự tiếp xúc của con mắt sanh ra cảm giác, xúc sanh thọ – thọ do nhãn xúc sanh. Chúng ta thấy sự tiếp xúc con mắt sanh ra cảm giác, hoặc là ưa thích hoặc là ghét bỏ, hoặc là tham, hoặc là si, cho nên thọ do nhãn xúc sanh.
“Do duyên có lỗ mũi, có mùi khởi lên sự rõ biết mùi, ba pháp này hội tụ, giao thoa với nhau tạo thành tỷ xúc”. Sự tiếp xúc của lỗ mũi, sanh ra cảm thọ – thọ do tỷ xúc sanh.
“Do duyên có lưỡi, các vị, khởi lên sự rõ biết, ba pháp này hội tụ, giao thoa với nhau tạo thành thiệt xúc”. Thọ do thiệt xúc sanh, cảm giác sanh, đó là duyên sanh pháp, duyên sanh pháp của Nikāya rõ biết từng chi tiết, từng pháp.
Minh Thành mời quý thầy vào trang linhquyphapan.vn, để nắm được tổng cương lĩnh thì ta mới đi được vào Tạng Kinh Nikāya. Dù cho đọc, nghe 10 năm cũng không biết pháp nếu không nắm được ngũ uẩn, như vậy ta sẽ không có chìa khóa mở cánh cửa tu học, như vậy chúng ta sẽ lạc đường. Căn bản nhất của Nikāya là nhận diện được ngũ uẩn, nhận diện các cảm thọ, rồi chúng ta sẽ thấy tham, sân, si hoạt động như thế nào.
Đến duyên sanh pháp của ý là hết sức sâu xa, có khi ngồi thiền suốt đời cũng không biết. Nhưng nếu mình tu học đúng, có người hướng dẫn thì chúng ta sẽ thấy rõ khi ngồi thiền, khi tiếp duyên xúc cảnh hàng ngày.
Chúng ta quen trong trạng thái buông lung, phóng dật, hướng ngoại. Mắt nhìn thấy sắc, lỗ tai tìm tiếng, lỗ mũi tìm mùi hương, lưỡi tìm vị, thân tìm sự xúc chạm. Kinh Nikāya nói: “Thân này là thiếu thốn, thân này là khát khao, thân này là nô lệ cho tham ái”. Cho nên trạng thật sự của tâm chúng ta là trạng thái khát ái, luôn luôn thiếu thốn, khát khao, đòi hỏi. Ví như người giàu nhất thế giới cũng không bằng lòng với số tài sản đó, người đó luôn luôn thấy thiếu thốn. Bản chất của ngũ uẩn là thiếu thốn, khát khao, nô lệ cho tham ái. Ví như ông vua tam cung lục viện mấy trăm người nhưng vẫn tuyển thêm. Còn chúng ta không có chùa thì mong có chùa, nhiều khi có rồi nhưng lại muốn có thêm, ba cái chùa cũng không đủ, thân này luôn thiếu thốn khát khao như vậy.
Khi học Kinh Tạng Nikāya ta thấy có nhiều bất ngờ, Đức Phật chỉ ra bản chất của dục, của tham, ái hoạt động trong thân tâm, nếu không chúng ta sẽ không thấy. Cứ nghĩ rằng mình không có tham, chừng nào lấy đồ của người khác mới là tham, đó là phàm phu pháp, người không tu cũng biết đó là tham. Cho nên Đa văn Thánh đệ tử là người nhìn thấy các cảm thọ động chuyển. Chỉ cần có động chuyển trong các dòng cảm thọ, cảm giác là thấy được, nắm bắt được và nhiếp phục ngay tại chỗ, từ bên trong trứng nước, đó là trí tuệ của bậc Đa văn Thánh đệ tử. Khi trong tâm có những hình bóng, suy nghĩ cảm giác thì liền chặn đứng, không cho phát khởi ra ngoài. Do đó, phải có sự tu tập rèn luyện. Ví như đi học võ mà học có một chiêu thì không thể thành công, mà ta cần phải luyện 10 -20 năm. Cũng vậy, tâm mình còn khó hơn luyện võ, cho nên phải có sự kiên trì thực tập.
Căn bản đầu tiên là để ý cảm nhận, thường thường an trú trong cảm giác toàn thân, để xem dòng cảm thọ, cảm xúc, cảm giác đang thuộc thọ nào, trong cảm thọ có gì? Tham, sân, si, hay bản ngã? Phải để ý, từ từ sự để ý sẽ sâu sắc, bén nhạy, vi tế, rồi nắm bắt được những khoảnh khắc. Sự tu tập công phu ngày càng thâm hậu, trí huệ sắc bén cũng giống như sư tử săn mồi. Tức là khi những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ sanh khởi lên thì phải nhìn thấy và kiểm tra được. Chúng ta phải thực tập phần sắc pháp rất nhiều.
Như vậy, chúng ta đã nói khái quát về thọ, tưởng, hành, thức. Về sự phá chấp thủ trong sắc pháp là cả công trình. Phải trải qua sáu pháp Đức Phật dạy trong Kinh Niệm Xứ về thân hành niệm để phá sắc uẩn:
Niệm hơi thở
Niệm oai ghi
Niệm hành động
Niệm tứ đại
Niệm ba mươi hai thể trược
Niệm chín giai đoạn của một tử thi.
Đây là sáu pháp để phá sắc uẩn, trừ được thân kiến – kiến chấp về thân. Thứ làm cho mình khổ nhiều là sắc uẩn.
***
Câu hỏi:
“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật!
Kính bạch trên thầy cùng toàn thể đại chúng! Vừa rồi khi giảng về ngũ uẩn có nhấn mạnh quán sát và nhận diện rõ cảm thọ khởi lên. Đặc biệt phần này có liên hệ đến thân hành niệm, tức là các pháp vận hành trong sinh hoạt đời sống thường nhật. Con xin thầy chia sẻ cho đại chúng về một vấn đề, trong khi quan sát cảm thọ và thực hành thân hành niệm. Đa số chúng ta đều có nhận thức về mặt lý thuyết nhưng khi thực hành thì lý thuyết đôi khi trở thành trở ngại. Tức là ta đã biết nhưng ta không làm được như vậy, đôi khi chính vì không làm được nên sinh ra tâm khổ, buông xuôi. Bạch thầy chia sẻ cho chúng con chuyển hóa như thế nào?”
Trong Kinh Nikāya Đức Phật có dạy rất kỹ, khi tu tập thì những suy nghĩ của mình sẽ chống đối. Ví dụ khi quán bất tịnh, nhưng có suy nghĩ là “quán làm chi, quán bất tịnh mà chỉ thấy tịnh”. Chính sự suy nghĩ đó là sự chống đối với Thánh Pháp. Chúng ta phải biết rằng sự chống đối này hết sức nguy hiểm, nó ngăn trở Thánh đạo và sẽ đào thải ra khỏi Bát Chánh, làm mình không được dự phần trong Thánh Pháp. Cho nên đầu tiên muốn tu là phải diệt tận những suy nghĩ chống đối Thánh Pháp trước khi thực hành tu.
Ví dụ, đưa hình ảnhd một xác người đang mổ xẻ để quán chiếu, lúc đó mình nghĩ: “Tu gì mà ghê quá thôi đừng tu, tu êm ái thôi”, đó là thích cái ái. Còn đây là Thánh Trí Huệ “phơi bày những gì bị che kín, đem đèn sáng vào trong bóng tối, để cho những người có mắt có thể thấy được sắc, chỉ đường cho người lạc hướng” – đây là định nghĩa giáo pháp Phật.
Bước đầu tiên trong pháp hành là phải có người hướng dẫn. Nếu tự thực hành, thứ nhất là sẽ không nắm được đường đi nước bước, thứ hai là khi có những cảm giác tiêu cực sanh khởi là mìnhkhông biết trị, thứ ba là sẽ nản chí. Chính vì vậy phải cần một bậc thầy hướng dẫn, mà bậc thầy này phải là bậc Chánh Tri Kiến còn nếu không chỉ sai, hoặc nửa vời thì không đi đến kết quả trọn vẹn.
Cho nên đầu tiên trong sự thực tập về pháp hành là phải diệt những suy nghĩ chống đối, điều này hết sức quan trọng, vì suy nghĩ chống đối rất ghê gớm. Có khi giảng trên đây mà phía dưới đưa những ý kiến khác, đó là mình chưa nhìn thấy được ý hành. Tuy thấy những sự chống đối rất bình thường, nhưng sẽ phá vỡ con đường Thánh đạo của mình. Tại sao vậy? Tại sao những lời trong kinh mà lại trở ngại cho mình? Chỉ có mình chống đối kinh, chứ Đức Phật không thể đưa ra điều gì mà thừa hay thiếu, càng không thể đưa sai. Cho nên những điều trong kinh mà mình thấy sai là chính do mưu mô của ngũ uẩn, của dục, ái, vô minh, chứ không phải kinh.
Chúng ta phải nhiếp phục những suy nghĩ, cảm giác theo thường tình, theo mê chấp, theo ái. Chúng ta tu mà không thành công, không có Thánh quả là tại ưa theo ái của mình, tu mà lựa những thứ hợp ý để tu cho dễ, cho kết quả mau. Đem tâm tham, ái, dục tu thì làm sao mà thành tựu! Giáo pháp của Phật là pháp ly tham, nhiếp phục tham, đoạn tận tham, diệt tận tham ái, mà bây giờ lại chọn những thứ thích ái, dễ dàng thì sẽ rơi vào lưới ma. Cho nên bước đầu thực tập phải hết sức cẩn thận về những suy nghĩ chống đối, phải đọc được hành uẩn, suy nghĩ – chúng rất khủng khiếp.
Vì vậy, muốn tu Thánh đạo đúng như Đức Phật là cả một sự cố gắng, nỗ lực, kiên trì rất mạnh mẽ, còn người có tâm thường thường thì không thể nào tu được, vì đây là siêu phàm nhập Thánh chứ không phải chuyện thường. Cho nên đầu tiên vẫn là phải nhìn lại cảm giác để thấy được cảm giác gì, hình bóng gì, suy nghĩ gì. Phải đem ra mổ xẻ, phân tích, soi kỹ xem suy nghĩ phát xuất từ đâu: suy nghĩ từ tham ái; hay suy nghĩ tương ưng với trí huệ của Phật; hay suy nghĩ buông lung, muốn khỏe, không chịu cực khổ; hay suy nghĩ của bản ngã, cho rằng nó giỏi rồi, không cần ai dạy, tự đọc và tu – suy nghĩ như vậy là giết chết mình.
Sự tu này là chĩa mũi dùi vào tham, sân, si, vô minh và bãn ngã - đây là những tên giặc, là kẻ thù, là những chướng ngại, trở ngại. Chúng ta phải phát giác, phát hiện ra những tên giặc ở trong những cảm giác, nghĩ tưởng này, sau đó phải nhiếp phục, giành quyền làm chủ và đoạn tận nó. Như thế mới là đại thành công của sự tu học. Chính vì vậy, thành tựu đầu tiên trong sự tu của chúng ta là nhìn thấy những tên giặc bên trong, từ trước tới giờ chưa thấy là do mình hướng ngoại bên ngoài, chỉ lo nhìn sắc đẹp, nghe tiếng, ngửi hương, nếm vị, đi theo sự hướng ngoại. Còn tu pháp này là hướng nội xem cảm giác, nghĩ tưởng của mình để nhìn thấy tham, sân, si; kiểm tra suy nghĩ nếu có của tôi, có tôi, có ta đây thì phải nhiếp phục. Ctàng nhiếp phục nhiều thì sự tu tập càng vững chắc, có chân đứng trong pháp và luật.
Minh Thành gửi cúng dường sách cho quý thầy, trong quyển kinh này là những tinh túy, cốt lõi của Tạng Kinh Nikāya. Phần Căn Bản Trí số 1 trong đạo tràng Nikāya, được Phật tử, các cô thầy trên Linh Quy Pháp Ấn học thuộc hết. Quý thầy xem thử nếu hợp duyên thì học thuộc lòng phần Căn Bản Trí số 1, những điều đó giúp cho mình rất nhiều trong sự tu học, đây cũng như chìa khóa để mở Kinh Tạng Nikāya.
***
Câu hỏi:
“Mô Phật, bạch thầy, trong năm uẩn thì uẩn nào làm cho người ta đau khổ, làm cho người ta bị trầm cảm, dẫn đến vấn đề tự tử? Uẩn nào chi phối mạnh nhất, thưa thầy?”
Thực ra những đau khổ đưa đến trầm cảm, tự vẫn thì cũng vận hành hết từ trong ngũ uẩn, nhưng thông thường thì thọ uẩn là cực kỳ quan trọng, nổi trội vẫn là cảm giác. Cho nên từ “trầm cảm” đã nói lên điều đó, nhưng đầy đủ hết phải là ngũ uẩn. Do thời gian quá ngắn nên Minh Thành không trình bày được nhiều. Nhưng hệ lụy ở đây là hệ lụy về sắc uẩn, sắc uẩn đầu tiên rồi đưa đến cảm thọ, nhưng vẫn có suy nghĩ, có tưởng bên trong, vì vậy, phải đầy đủ ngũ uẩn. Cho nên phải học đầy đủ về ngũ uẩn, một uẩn thì không đủ. Cũng như chỉ biết lo cho lỗ tai trên thân thôi thì không được, chúng ta phải chăm sóc toàn bộ cơ thể./.