Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Pháp Đàm Nikāya - Người Mới Tu Học Gì 1

2026-03-03 00:56:07
Pháp Đàm Nikāya

Người Mới Tu Học Gì? 1

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tâm hiền trí PAGEREF _Toc149061800 \h 1

II. Nhận diện năm uẩn PAGEREF _Toc149061801 \h 5

III. Tu tập từ tâm PAGEREF _Toc149061802 \h 9

IV. Tu tập tâm PAGEREF _Toc149061803 \h 12

I. Tâm hiền trí

Sư Phụ: Chư tôn đức nhờ Minh Thành đến chia sẻ kinh nghiệm tu tập cho tất cả chúng ta, vì thời gian chúng ta gặp nhau rất ít nên chúng ta chủ yếu để các Ni sinh có sự trải tâm nên chúng ta có buổi pháp đàm. Xin mời tất cả các Ni sinh có thắc mắc, có khó khăn trong pháp học, pháp hành thì chia sẻ một cách thân thiện, cởi mở trong sự tu học nhưng con thưa trước là con rất nghiêm, nếu vị nào không trang nghiêm là con mời ra khỏi lớp. Mình là Tăng Ni sinh thì điểm quan trọng nhất của mình là phải nghiêm, nếu không có cái đó thì không tu gì cả, đây là điều chúng ta phải để ý, đây là điều căn bản nhất của người tu.

Cái bàn này pháp tòa nên không phải muốn để gì là để, hãy để khăn lau bảng và phấn trong hộc tủ, còn trên bàn nên để cho trống trải. Khi mình tu là nhất cử nhất động đều phải cẩn trọng, đều phải chánh niệm, đều phải để tâm, đây chỉ mới là vỏ ngoài phạm hạnh thôi chứ chưa nói đến phần vỏ trong, giác cây và lõi cây. Vỏ ngoài của phạm hạnh là cái đi, đứng, nói, nín của mình, chúng ta có thấy pháp tướng, sự uy nghiêm của hòa thượng pháp chủ không? Con may mắn khi còn là Tăng sinh được học với những bậc cao đức, học với hòa thượng Trúc Lâm Thượng Thanh Hạ Từ, học với hòa thượng Thượng Trí Hạ Quảng, hòa thượng Thượng Minh Hạ Thông. Mình cảm nhận được những điều rất căn bản, bình dị của các ngài vì thế trước khi vào buổi pháp đàm thì con nhắc tất cả Ni sinh phải để ý thật cẩn trọng về oai nghi, giữ chánh niệm trong mọi lúc mọi nơi. Khi ho thì không được ho lớn tiếng, hãm cái hơi lại.

Có thể các sư cô chưa nghe, trong tạng kinh Nikāya khi Đức Phật còn tại thế thì các một vị thầy Tỳ-kheo đang nghe thuyết pháp thì ho lên, một vị ngồi kế bên lấy tay khều "Này hiền giả, Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác đang thuyết pháp, ngài hãy giữ im lặng".

"Bạch Thế Tôn, thuở xưa, trong khi Thế Tôn thuyết pháp cho đồ chúng hàng trăm người, có người đệ tử Thế Tôn ho lên. Một đồng Phạm hạnh khẽ đập vào đầu gối và nói: 'Tôn giả hãy im lặng, Tôn giả chớ có làm ồn. Thế Tôn, bậc Ðạo Sư của chúng ta đang thuyết pháp'"

(Trung Bộ Kinh, 89. Kinh Pháp trang nghiêm)

Nhân tiếng ho mà chúng ta có bài học, có thể quý vị chưa đọc kinh này đâu. Lúc Thế Tôn còn tại thế thì trong hội chúng của ngài, người kia có thể nghe được tiếng thở của người này, trang nghiêm thanh tịnh đến mức độ đó, chính vì vậy tiêu chí trên núi của chúng con là trang nghiêm, thanh tịnh, cung kính, biết ơn. Khi mình không trang nghiêm tức là mình buông lung phóng dật, Đức Thế Tôn nói chưa thấy một pháp nào làm cho chúng sanh đau khổ, tai họa to lớn giống như buông lung phóng dật, phóng dật là ác, là bất thiện pháp, là đem lại khổ đau lâu dài, khổ ác, khổ nạn trong nhiều đời nhiều kiếp cho chúng sanh.

"Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, có thể đưa đến bất lợi lớn, này các Tỳ-kheo, như là phóng dật. Phóng dật, này các Tỳ-kheo, đưa đến bất lợi lớn.

Ta không thấy một pháp nào khác, này các Tỳ-kheo, có thể đưa đến lợi ích lớn, này các Tỳ-kheo, như là không phóng dật. Không phóng dật, này các Tỳ-kheo, đưa đến lợi ích lớn" (Tăng Chi Bộ, Chương I - Một Pháp, IX. Phẩm Phóng Dật)

Buông lung là muốn nói gì là nói, muốn làm gì là làm, muốn nghĩ gì là nghĩ, phóng dật là thả lỏng các căn, muốn nhìn là nhìn, muốn đi là đi, chưa thấy người đã nghe tiếng dép cho nên nét đẹp của người xuất gia không phải là chưng hoa cho nhiều, tạo ra vườn cảnh để chùa mình thành nơi đi du lịch, nét đẹp của người tu là đạo hạnh, phẩm hạnh, đức hạnh, giới hạnh, những cái này có ra từ oai nghi. Bốn oai nghi chính là đi, đứng, nằm, ngồi và những oai nghi phụ là co, duỗi, cúi, ngước, nói, im lặng, đại tiện, tiểu tiện…

Chúng ta phải chăm sóc oai nghi chính và oai nghi phụ của mình, cố hòa thượng Nhất Hạnh rất nhẹ nhàng, bình dị nhưng ngài có thể làm cho thay đổi thế giới, là một trong những vị được tạc tượng bên Mỹ, thế giới tôn kính ngài. Ngài không ăn to nói lớn, ngài rất nhẹ nhàng, ngọt ngào, từ ái nhưng ngài có thể làm thay đổi được lòng người, thành ra sức mạnh của người tu không phải là ăn to nói lớn, không phải làm cái gì lớn lao mà là sự chánh niệm tỉnh giác, sự an tịnh, lắng dịu, hiền thiện, từ hòa của mình.

Chúng ta phải tập cái đi, cái đứng, nói, cười của mình trong chánh niệm, chúng ta nói theo thế gian là con gái nữa thì càng phải cẩn trọng cái này hơn nữa, càng phải thực tập cái này nhiều hơn nữa, chúng ta dễ thực tập hơn người nam. Hòa thượng Làng Mai rất nhẹ nhàng, thậm chí Ni chúng cũng không bằng ngài, đó là ngài đã thực tập cả một cuộc đời, đó là niệm oai nghi, hành động.

Chúng ta phải tập và phải để tâm thật nhiều, huấn luyện mình thật nhiều, nhắc nhở mình thật nhiều, Đức Phật gọi là niệm oai nghi, niệm hành động, niệm hơi thở, đó là ba vế đầu trong phần niệm thân. Con là chủ trương về pháp hành vì pháp học chúng ta đã học nhiều rồi, giỏi lắm, biết nhiều lắm, nói hay lắm nhưng cái làm đang thiếu, thiếu trầm trọng đến báo động, từ trên các hòa thượng cho đến các bậc tôn đức và các vị trong chính quyền vừa rồi ra mắt ban hoằng pháp trung ương, ông thứ trưởng bộ nội vụ bên ban tôn giáo chính phủ tha thiết kêu gọi chúng ta ngoài việc giảng, nói, tri thức, nghiên cứu ra điều những người Phật tử tha thiết tìm cầu là pháp hành, tức là một người nói nhưng có thể thực hành được giáo pháp, tức là đạo đức, phẩm hạnh, đức độ của một người tu. Phẩm chất đó là từ cái đi, cái đứng, cái ngồi, cái nằm, đó là oai nghi của mình, là những cái bên ngoài rồi từ từ mới đi vào bên trong cảm thọ, cảm giác, cảm xúc của mình, tâm hiền thiện, hiền lương, hiền đức, tâm hiền trí.

Toàn bộ kinh Nikāya dạy cho mình hiền trí, bây giờ cách nói chuyện, cách đi đứng, nói chuyện của mình chưa được hiền. Cái hiền của mình phải lan tỏa ra, không phải chỉ hiền ngoài mặt, ngoài dáng mà hiền từ bên trong cảm xúc, cảm thọ, cảm giác thành ra trong đạo tràng Nikāya thì người mới bước vào tu học phải thực tập 8 tháng tâm hiền, sau đó thực tập 3 năm tâm từ. Thực tập tâm hiền là đưa vào trong cảm xúc, cảm thọ của mình chứ không phải chỉ hiền ngoài miệng, hiền trên môi hay tạo dáng hiền, phải thực sự hiền từ trong cảm thọ, muốn như vậy phải có sự huấn luyện, sự đào tạo, sự thực tập, sự hành trì, tu tập thường xuyên và liên tục mỗi ngày mỗi giờ, mỗi tuần mỗi tháng, mỗi một suy nghĩ, lời nói, hành động phải nhắc nhở mình hiền hòa, hiền thiện, hiền lành. Nhiều khi muốn nói ra nhưng tâm chống đối, ví dụ sư huynh, sư tỉ nói mà mình im lặng, nhìn bên ngoài thấy hiền nhưng trong bụng đang chống đối, đang có những cảm xúc khó chịu.

Những cảm xúc khó chịu đó tích tụ lâu ngày, mỗi lần một chút rồi ứ đọng, tích tập trong đó, đến một lúc nào đó thì bung ra, đó là không biết tu. Biết tu là hóa giải cảm xúc ngay khi nó sanh khởi lên, mình huấn luyện nó liền "cảm xúc bực bội này không được nha", "cảm xúc sân si này là sai lầm nha", "cảm xúc khó chịu này thiêu đốt tâm mình nha", tu là phải có cảm giác an tịnh, lắng dịu, mát dịu, dễ chịu, hiền hòa.

Nếu không có máy điều hòa thì giờ này chúng ta có ngồi được trong phòng kín mấy chục người không? Sở dĩ chúng ta ngồi đây học được mấy mươi người trong phòng kín là nhờ hai cái máy điều hòa, phải là máy tốt chứ máy hư cũng không được, máy dỏm cũng không được vì không đủ độ mát, cũng vậy, chúng ta cần cảm thọ an tịnh, lắng dịu, mát dịu và ngọt ngào, cái đó phải tu tập mới có, không thể nào nhỏ một giọt mà muốn đầy thùng, phải nhỏ nhiều giọt, phải tích góp mới đầy thùng.

Quý vị lên trang linhquyphapan.vn để nghe 9 bài về tầm quan trọng của tâm hiền trí để thực tập, đó là 9 pháp quán của tôn giả Xá-lợi-phất chỉ dạy mình trở thành một bậc hiền trí. Chín bài về tầm quan trọng của tâm hiền trí, vừa có lý thuyết và có cả thực hành, còn trong thời gian ngắn ở đây thì không chia sẻ kịp, trên trang đó bài nào có chữ "hiền" thì cứ vào nghe để mình hiền. Nếu mình thắc mắc "bộ nhìn con không hiền sao mà thầy kêu con học tâm hiền?", tâm đó là tâm hung dữ rồi, bậc hiền trong Nikāya là bậc hiền trí, hiền tuệ, hiền Thánh, cái hiền đạt đến trọn vẹn là bậc hiền Thánh, đó là các Thánh quả cho nên chữ "hiền" trong Nikāya rất thâm sâu và rộng lớn chứ không phải hiền ngu như người thế gian, nhìn thấy hiền nhưng không phải vậy, đụng chuyện rồi biết tay nhau. Nhìn bề ngoài thấy hiền lắm, như mình đã nói ở trên là không thấy phản kháng, không phản đối nhưng những cảm giác, nghĩ tưởng bên trong lại chống đối.

Phần mở đầu chia sẻ một chút để chúng ta thấy được vỏ ngoài của phạm hạnh về oai nghi và tầm vóc quan trọng cũng như chất liệu để xây dựng một người tu là hiền trí, hiền hòa, hiền đức, hiền hậu, hiền lương. Bây giờ con mời các Ni sinh có gì thắc mắc trong pháp học và pháp hành thì cứ hỏi.

II. Nhận diện năm uẩn

Sư cô 1: Dạ mô Phật, con xin được phép hỏi ạ. Trong cho xin hỏi là ngoài thời gian thực hành pháp hành như tọa thiền, an trú trong đều mục thì những người thực hành có công phu thuần thục thì họ được định tĩnh trong giai đoạn thiền tọa nhưng khi xả thiền thì đối với quan cảnh hằng ngày, tiếp xúc với cảnh trần thì dùng cái gì đối trị? Nhiều khi tâm thức của mình không đủ sáng suốt để thấy được những nguyên nhân phát khởi tâm bất thiện, con xin được phép hỏi để mỗi khi trong cuộc sống hằng ngày có thể áp dụng hiệu quả, để giảm bớt căn ác của mình. Dạ mô Phật, con xin hết.

Sư Phụ: Câu hỏi này rất thiết thực, rất quan trọng, rất cần thiết, bình thường mình tu là tu trong giờ tu thôi, thậm chí trong giờ tu cũng tu không trọn vẹn, nhiều khi ngồi thiền, tụng kinh nhưng buồn ngủ, ngủ gục, có khi ngồi nhưng tâm lại lan man, vọng tưởng, tâm lậu hoặc đi lang thang. Chính vì vậy những người có tâm tha thiết tu luôn mong muốn làm sao ngoài giờ tu mình vẫn được tu.

Tất cả chúng ta muốn tu học có nền tảng vững chắc thì phải nhận diện được năm uẩn, chúng ta chịu khó lên trang linhquyphapan.vn để nghe lại Minh Thành chia sẻ về năm uẩn, nếu chúng ta không biết mình là gì thì tu không chính xác. Bây giờ tâm mình là gì mình không biết, mình không trả lời được rõ ràng cho nên phải nhận diện năm uẩn thì mình mới biết tâm là gì. Khi đã biết tâm gồm có những gì thì mình mới có khả năng nhiếp phục và chế ngự nó, tâm mình gồm bốn uẩn là thọ; tưởng; hành; thức. Mình tụng Bát Nhã thuần thục nhưng lại không biết thọ là gì, tưởng là gì, hành là gì, thức là gì, phải được hướng dẫn mới biết cho nên tất cả người tu trên Linh Quy Pháp Ấn thì đầu tiên phải học nhận diện năm uẩn, dù là cư sĩ hay xuất gia gì lên đó cũng phải học cái đó trước tiên.

Ví dụ đang ngồi mà nhớ lại chùa mình dưới quê thì hình bóng ngôi chùa dưới quê là tưởng, khi đó mình có cảm giác thân thuộc, ngọt ngào là thọ, mình suy nghĩ không biết bây giờ dưới đó sư phụ và các huynh đệ đang làm gì thì đó là hành. Hình bóng trong tâm là tưởng, cảm giác là thọ, suy nghĩ, lời nói thầm trong tâm là hành và mình có sự rõ biết trong tâm mình đang có suy nghĩ đó, hình bóng, cảm giác đó là thức.

Một ví dụ khác, mình suy nghĩ về người mới cự mình hồi sáng, khi mình hồi tưởng lại điệu bộ, dáng vẻ, gương mặt người đó hiện lên trong tâm mình là tưởng, có cảm giác khó chịu là thọ, suy nghĩ người đó nói mình như vậy là hành, mình rõ biết được trong tâm mình có hình bóng người đó, có cảm giác khó chịu và có suy nghĩ về người đó thì đó là thức. Khi mình nắm vững được sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì mình mới bắt đầu biết được chính xác về thân tâm mình, còn nếu chưa được biết cụ thể, đầy đủ như vậy thì tu trên suy tưởng chứ không tu đúng sự thật.

Những khóa trước bên Cao đẳng Minh Thành hướng dẫn là bắt làm bài tập liên tục về nhận diện ngũ uẩn, cho đến thuần thục thì thôi. Lúc đầu nhận diện ngũ uẩn, sau đó là nhận diện tham, sân, si, sau đó là nhận diện vô minh với bản ngã. Nhận diện ngũ uẩn giống như mình có chìa khóa để vô được phòng học này, nếu không có chìa khóa mở cửa phòng để vào thì không thấy được trong phòng này đang có những gì, căn nhà nội tâm của mình cũng giống vậy, mình muốn thấy được căn nhà nội tâm của mình thì phải có chìa khóa để đi vô, chìa khóa chính là nhận diện sắc; thọ; tưởng; hành; thức lúc đó đang như thế nào.

Mình thấy được đang có suy nghĩ gì trong tâm, đang có hình bóng, cảm giác như thế nào thì lúc đó hiện tại trong tâm mình đang là thiện hay bất thiện. Nếu không là mình tu trong sự lờ mờ, không thấy không biết nội tâm, như vậy là vô minh, là không sáng, không thấy không biết trong tâm mình đang có cái gì, đang diễn biến ra sao, đang vận hành thế nào.

Con xin hỏi các Ni sinh, tại sao nghe tiếng đó là mình dao động? Tại sao lúc bình thường ngồi yên không sao nhưng khi nghe tiếng chuông điện thoại là mình đi tìm? Mình rất dễ hướng ngoại, cái tâm mình quen hướng ngoại, nó rất bén nhạy trong việc hướng ngoại, cái tâm mình rất dễ bị ngoại cảnh tác động, mình thiếu định lực, mình thiếu sự trầm tĩnh là do mình không tu tập cảm giác toàn thân, không an trú trong cảm thọ toàn thân, đây là những điều Đức Phật dạy trong kinh Tứ Niệm Xứ. Tại sao con phải nói ngũ uẩn rồi mới nói cái gì cho chúng ta biết? nếu chúng ta không biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì làm sao biết cảm thọ nằm ở đâu mà an trú?

Cho nên bước quan trọng thứ hai sau khi nhận diện ngũ uẩn là an trú cảm giác toàn thân, mình phải thường xuyên để ý cảm giác trong con người mình, đây gọi là định tâm trên thân, đây gọi là an trú cảm giác toàn thân, đây gọi là có căn nhà trú ẩn chứ không phải là một nội tâm vất vơ vất vưởng, lang thang. Nội tâm chưa nhận diện được cảm thọ, chưa an trú trong cảm thọ toàn thân thì đây là một nội tâm lang thang vất vơ vất vưởng đầu đường xó chợ, không có căn nhà để về.

Bây giờ mình nói muốn tu thì ngồi lại không thấy chỗ để về, bất quá thì mượn câu gì đó niệm đỡ hoặc suy nghĩ gì đó chứ mình không biết chỗ trở về, tuy nhiên khi mình nhận diện ngũ uẩn thì pháp quan trọng nhất là an trú trên cảm giác toàn thân, chúng ta nghe thêm bài "Hiệu quả của cảm giác toàn thân". Trong bài này con chỉ cách làm thế nào để nhận ra cảm giác, làm thế nào để an trú trên cảm giác, làm thế nào để định tâm trong cảm giác đó.

Khi mình thực hành được an trú trên cảm giác toàn thân thì bắt đầu nội tâm của mình có chỗ trú ẩn, khi chưa biết cảm giác toàn thân thì tâm mình là tâm lang thang như người vô gia cư, lúc thì ở ngoài vỉa hè, khi thì ở dưới gầm cầu, không có nhà để về cho nên sự quan trọng thứ hai sau khi nhận diện ngũ uẩn là an trú trên cảm giác toàn thân. Cái này phải nghe, phải học, phải thực tập mới được chứ không thể trong mấy lời mà nắm được, đó là chúng ta đem tâm trở về nơi thân, tâm đâu thân đó, mình làm cái gì là để ý trong việc đó.

Mình phải nhận diện được thọ uẩn, nhận diện được cảm giác trong cơ thể mình, phải biết được các loại cảm giác và phải biết tưới tẩm, chăm sóc cảm giác để nó mát dịu, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, hiền thiện giống như trồng cây phải tưới nước, nhất là trong mùa nóng này, nếu bỏ tưới nước là nó chết, cũng vậy, mầm Bồ-đề của mình có thể chết dù mình còn mang hình thức tu sĩ vì mình không chăm sóc nó, chính vì vậy người tu một thời gian sau là thay đổi, đổi hướng, không còn hiền lành, hiền thiện, dễ thương như lúc mới xuất gia nữa, trong lúc làm cô điệu, chú tiểu dễ thương vô cùng, hiền lành vô cùng, cung kính vô cùng, gặp là chắp tay cúi đầu rất dễ thương, thời gian sau học đến trung cấp là thương không dễ, tỏ vẻ ta bây giờ thọ giới lớn rồi, cái ngã tăng theo năm tháng vì mình không chăm sóc cái mầm, cái chồi, cây Bồ-đề, cây giác ngộ, cây diệt tận bản ngã trong một cảm giác hiền lành, hiền hòa, hiền thiện, ngọt ngào, cung kính, khiêm nhã, khiêm cung, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm hạ. Người tu là phải chăm sóc những cái này để bản ngã hạ thấp xuống.

Khi chúng ta có được sự an trú cảm giác toàn thân thì chúng ta có căn nhà nội tâm, chúng ta vào đó trú ẩn, tránh mưa, tránh gió, tránh bão, tránh nắng nên những cái bên ngoài ít tác động đến chúng ta. Bây giờ mình ở trong căn nhà kín mà ở ngoài mưa thì mình có bị ướt không?

Ở ngoài gió thổi có bị lạnh không? Tất nhiên là không vì mình có căn nhà trú ẩn, cũng vậy, người an trú được cảm giác toàn thân thì ít bị dao động, một tiếng điện thoại reng lên là mình lao xao, lắc qua lắc lại tìm xem điện thoại của ai mở trong giờ này, ánh mắt mình khó chịu, cảm giác bực lên. Dù nó không thô nhưng mà nó tế, có khi mình cũng không biết, mình không nhận diện ngũ uẩn mà mình biết lúc đó đang vận hành thế nào cho nên khi có cảm giác toàn thân thì điện thoại reng kệ nó, đó là chuyện của nó, chuyện của mình là giữ cảm thọ an tịnh, lắng dịu, mình quay trở về căn nhà nội tâm của mình. Nếu thực tập được cái này thì ngoài giờ hành trì mình vẫn giữ được tâm của mình, vẫn tu được.

III. Tu tập từ tâm

Sư cô 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên thầy giáo thọ và các bạn Ni sinh, cho con hỏi là lúc nãy thầy giảng về oai nghi, nhất là khi tụi con là con gái thì phải hiền hòa, hiền đức, hiền từ, quản trị được cảm xúc của mình khi tham, sân, si khởi lên, trong pháp thực hành của con thì con thích nhất là khởi từ bi quán. Con xin thầy hướng dẫn thêm cho con cách để giữ tâm từ bi, mát mẻ để những người xung quanh cảm nhận được tâm từ của mình. Khi có cảm xúc sân hận khởi lên hoặc khi mình ghét đối phương thì dùng tâm từ ban trải ra để không có tham, sân, si ngự trị và mình yêu thương được người ghét mình, bằng từ tâm của mình thì mình có thể hóa giải được mối quan hệ, không còn cáu gắt, khi họ gần mình thì họ sẽ cảm giác được từ tâm.

Sư Phụ: Câu hỏi này quan trọng, rất cần thiết, vẫn trở lại điều đầu tiên là nhận diện ngũ uẩn, tập cảm giác toàn thân, an trú trên cảm giác đó thường xuyên, lúc nào mình cũng để ý cảm giác trong người mình đang như thế nào. Cảm giác trong người mình có mấy loại? Có ba loại cảm giác, cảm giác khó chịu, cảm giác dễ chịu, cảm giác không khó chịu cũng không dễ chịu, tất cả cảm giác chỉ có ba loại đó thôi, nói từ Hán Việt là khổ thọ, lạc thọ và bất khổ bất lạc thọ, tham, sân, si trú ẩn trong ba loại cảm giác này.

Nếu chúng ta không được học sâu sắc trong Nikāya thì suốt đời tu cũng không biết tham, sân, si ở đâu, Đức Phật dạy trong Nikāya cảm giác dễ chịu, vui sướng lúc nào cũng có tham trong đó, cái tham nằm trong cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu lúc nào cũng có sân trong đó, cảm giác không dễ chịu không khó chịu là si trú ẩn trong đó cho nên bây giờ muốn tu thì bước thứ nhất phải nhận diện ra cảm giác, cảm thọ, thứ hai là chế ngự, nhiếp phục, quản lý, quản trị những cảm xúc, cảm giác bất thiện, không cho nó hoành hành, không cho nó thao túng, không cho nó muốn làm gì thì làm.

Khi sanh khởi lên cảm giác bực bội thì mình phải la rầy, quở trách "ngươi không được phép như vậy, ngươi đi tu rồi", mình quay vào cảm xúc ngay giữa ngực để tác ý "mi có nhớ là mi đi tu không?", lấy tay rờ lên cái đầu trọc rồi tác ý "mi có nhớ không vậy? Ngươi đang mặc áo gì vậy? Mi còn nhớ mình là người tu hay không?". Mình la rầy, quở trách những cảm giác bất thiện, những cảm giác xấu ác, tiêu cực, không để nó hoành hành bá đạo, không để nó tự tung tự tác, không để nó tự do tự tại mà phải quản lý, kiểm soát, dò xét, phải dạy dỗ, huấn luyện, giáo dục, cải tạo nó. Đó là những cảm giác ác và bất thiện pháp.

Khi được nhắc nhở là trong tâm chống đối hoặc làm cái gì đó để biết là mình chống đối, không làm thì trong bụng bực bội, ghim gút, mình để dành trong đó "chờ đi rồi biết tay tôi", những cái này mình phải xử lý ngay lập tức, không để cho suy nghĩ như vậy, phải tác ý diệt tận "ngươi tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi, ngươi đừng ở trong đây, ngươi đừng lưu trú trong đây, ta lấy chổi quét ngươi ra khỏi căn nhà nội tâm, ta không cho ngươi trú ẩn trong đây, ngươi hãy tan biến thành mây, thành khói, thành hư không đi".

Mình quét nó như quét rác, mình quăng nó như rác, mình liệng nó như liệng tấm giấy chùi phân, mình thấy cái này là bẩn thỉu, là hèn hạ, là cấu uế, mình không chấp nhận những cảm giác bất thiện, hơn thua, ghim gút, sân si, cay cú, tức giận, sân hận. Mình thấy những cái này là nguyên nhân làm cho mình đau khổ và bất an, chính những thứ này làm cho mình khổ đau, làm cho người khổ đau, chính những thứ này đang hành hạ mình và hành hạ người, chính những thứ này là kẻ thù thâm độc nhất trong tâm mình chứ không phải người ở bên ngoài. Đây là bước mình xử lý rác, đó là cách chúng ta tu tập, đó là cách diệt những cái tiêu cực và sau đây là phát huy những cái tích cực.

Mình phát huy những cảm xúc thiện lành, mình làm cho nó sanh khởi lên, sau khi mình huấn luyện, giáo dục, cải tạo, dạy dỗ, đào tạo, nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận thì song song đó mình phát huy những cảm giác lành thiện, "tâm ơi tâm, tâm ngọt ngào, dễ chịu nha tâm, tâm hiền hòa nha tâm, mình khổ như vậy là đủ rồi, mình sân hận như vậy là đủ lắm rồi, mình mệt mỏi như vậy là đủ lắm rồi. Mình hợp tác nhau làm ra những cảm xúc ngọt ngào, hiền thiện, từ hòa, từ ái nha tâm".

Trong lời dạy nguyên chất của Đức Phật trong kinh Nikāya thì phần lớn Đức Phật dạy tác ý, nghĩa là tác động tâm ý đúng như chân lý, gọi là như lý tác ý, là mình dạy dỗ tâm mình, mình phải dạy dỗ, giáo dục tâm mình chứ không phải tu là để cho im ru. Mình kêu nó "tâm hiền hòa nha tâm, tâm đừng bực bội nữa nha tâm, tâm bực bội nha vậy là đủ rồi, tâm cứ khó chịu, ghim gút mãi, bức xúc mãi chỉ được mệt mỏi thôi, nóng bức thôi, chỉ được nước mắt và hận thù thôi. Bây giờ mình hợp tác với nhau cùng nhau tu, cùng nhau chế tác ra những cảm xúc ngọt ngào, hiền hòa, hiền lương, hiền đức, hiền hậu, hiền trí để mình đi theo các bậc hiền Thánh nha tâm".

Đó là mình bắt đầu phát huy những cảm giác hiền thiện, Minh Thành có chia sẻ tứ vô lượng tâm và pháp hành trên trang linhquyphapan.vn, quý vị về nghe và thực hành theo, trong đó hướng dẫn trải từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm, hỷ vô lượng tâm, xả vô lượng tâm khắp mười phương. Những cái này phát huy, làm cho tăng trưởng, phát triển những cảm giác hiền thiện, hiền trí của bậc hiền Thánh, lúc đầu sẽ khó khăn, cái tâm mình sẽ chống đối không nghe lời vì nó quen theo cái thói đó rồi nhưng mình chiến đấu từ từ, mình giáo dục, cải thiện từ từ thì nó sẽ thay đổi mỗi ngày, mỗi tuần, mỗi tháng thì từ từ sẽ trở thành hiền hòa. Ngài Xá-lợi-phất ví dụ giống như còn bò bị cưa sừng, nó không còn vũ khí để tấn công người khác nữa.

Nay con xin tập hạnh tâm hiền,

Hiền lành, lắng dịu, chẳng phiền ai,

Dễ chịu, dễ thương và dễ mến,

Dễ bảo, dễ nghe pháp Thánh hiền.

Nguyện tâm như địa, thủy, hỏa, phong

Rộng rãi, bao dung, chẳng buộc ràng,

Nguyện tâm như miếng nùi giẻ rách

Có gì để lên mặt, hơn thua.

Mình tập tâm mình rộng lớn như hư không, như địa cầu, nguyện tâm giống như làn gió mát, giống như hồ nước trong. Mình an trú tâm mình, mình tưới tẩm, vun vén, chăm sóc, tô bồi như vậy thì tâm mình càng ngày sẽ càng thành tựu các thiện pháp, sẽ trở thành người giàu có trong Phật pháp chứ không phải là người nghèo hèn, nghèo thiếu, khao khát rồi chạy theo dục lạc thấp hèn của thế gian, mình có kho tàng quý báu trong tất cả tâm lành, tâm thiện, Thánh pháp, Thánh trí huệ đầy đủ trong thân tâm mình. Mình không còn đi tìm những thú vui thấp hèn của thế gian, mình sẽ có những thú vui của hiền Thánh, những thú vui của bậc thượng nhân, siêu thế pháp, xuất thế pháp, viễn ly lạc, chánh giác lạc, giải thoát lạc, Niết-bàn lạc, mình sẽ được nếm những thú vui đó.

IV. Tu tập tâm

Sư cô 3: Dạ mô Phật thưa thầy, theo đường hướng tu tập thầy đã dạy lúc nãy là mình phải niệm tâm mình an tịnh, lắng dịu, dễ thương, phải làm con người hiền thiện, tuy nhiên con có thắc mắc là trạng thái an tịnh có mặt là do có con, nếu mình nhận an tịnh thì có phải là mình chọn là mình có mình không thưa thầy?

Sư Phụ: Cô đang suy tưởng, cô chưa biết tâm mình là gì, cô đang học trên lý thuyết, tâm cô chưa cảm nhận được pháp, còn đi ở vòng ngoài trên tri thức, kiến thức và ngôn ngữ. Trong Nikāya Đức Phật nói "Thế Tôn là bậc an tịnh, thuyết pháp để đưa chúng sanh đạt đến cảnh giới an tịnh"

"Ở đây, này các Tỳ-kheo, Như Lai xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Ðiều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Và pháp được giảng đưa đến an tịnh, đưa đến tịch tịnh, đưa đến giác ngộ, được bậc Thiện Thệ tuyên bố. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, III. Phẩm Gia Chủ, (IX). Không Phải Thời)

Tất cả thân tâm của chúng sanh trong ngũ uẩn này là thân tâm dao động, bất an. Mình ngồi đây cứ tưởng là an nhưng không có an chút nào hết, có thể chút nữa ra phát hiện mất xe, chiều đi học về bị rầy, trong con người mình là bao nhiêu trạng thái thèm muốn, khao khát, sân si, vô minh, chấp ngã đang trú ẩn bên trong mà mình không thấy. "Con đang an bình mà sao thầy nói con sân si, con đâu có sân si đâu", đó là do mình mù trong vô minh, cái sân si đó trú ẩn rất thâm sâu. Ngoài đời người ta chạy xe va quẹt rồi cự cãi nhau, nói qua nói lại vì tiếng karaoke rồi xảy ra án mạng thì những cái sân si đó nằm ở đâu?

Bình thường người ta rất hiền, rất dễ thương nên cái sân si nằm ở đâu? Tất cả cái tâm của các ngũ uẩn, hữu tình chúng sanh là một cái tâm cấu uế, uế nhiễm, cái tâm cấu uế, uế nhiễm này tích tụ từ vô lượng vô biên kiếp cho nên bây giờ ngồi yên chút là khó chịu, kêu mình tịnh khẩu không nói chuyện cũng khó chịu, mình muốn phải nói, thậm chí những khi không cho nói cũng phải nói vì chịu không nổi, đó là tâm bất an, dù cho thân ngồi yên nhưng tâm không yên được, đó là dao động, là bất an.

Còn tâm của các bậc Thánh là sự an tịnh hoàn toàn, lắng dịu, Đức Thế Tôn đi khất thực thì có một học trò của vị Bà-la-môn đó khen ngợi hết mực nhưng vị Bà-la-môn đó chửi thậm tệ, chửi riết không chịu nổi thì ông đi ra trước mặt Đức Phật hỏi "tôn giả Gotama có nghe ta nói không?", Thế Tôn nói người ta tặng quà nhưng không nhận thì quà đó về ai, tất nhiên quà đó trở về người nhận, cũng vậy, ông chửi nhưng ta không thọ nhận thì lời nói đó thuộc về ông.

"Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), Veluvana (Trúc Lâm), tại chỗ nuôi dưỡng các con sóc.

Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja được nghe Bà-la-môn thuộc dòng họ Bhàradvàja đã xuất gia với Thế Tôn, từ bỏ gia đình, sống không gia đình.

Ông phẫn nộ, không hoan hỉ, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói những lời nói không tốt đẹp, ác ngữ, phỉ báng và nhiếc mắng Thế Tôn.

Ðược nghe nói vậy, Thế Tôn nói với Bà-la-môn Akkosaka Bhàradvàja:

-- Này Bà-la-môn, Ông nghĩ thế nào? Các thân hữu bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm Ông không?

-- Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng, các thân hữu, bà con huyết thống, các khách có đến viếng thăm tôi.

-- Thưa Tôn giả Gotama, thỉnh thoảng tôi sửa soạn cho họ các món ăn loại cứng, loại mềm, các loại đồ nếm.

-- Nhưng này Bà-la-môn, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về ai?

-- Thưa Tôn giả Gotama, nếu họ không thâu nhận, thời các món ăn ấy về lại chúng tôi.

-- Cũng vậy, này Bà-la-môn, nếu Ông phỉ báng chúng tôi là người không phỉ báng; nhiếc mắng chúng tôi là người không nhiếc mắng; gây lộn với chúng tôi là người không gây lộn; chúng tôi không thâu nhận sự việc ấy từ Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông. Này Bà-la-môn, sự việc ấy chỉ về lại Ông. Này Bà-la-môn, ai phỉ báng lại khi bị phỉ báng, nhiếc mắng lại khi bị nhiếc mắng, gây lộn lại khi bị gây lộn, thời như vậy, này Bà-la-môn, người ấy được xem là đã hưởng thọ, đã san sẻ với Ông. Còn chúng tôi không cùng hưởng thọ sự việc ấy với Ông, không cùng san sẻ sự việc ấy với Ông, thời này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông! Này Bà-la-môn, sự việc ấy về lại Ông! (Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-La-Hán Thứ Nhất, II. Phỉ Báng)

Ngài có được trạng thái an tịnh bất động trong khi bị mắng chửi, còn mình bây giờ dù chưa nói đến tên mình, chỉ mới nhìn thôi là mình đã khó chịu cho nên trong con người mình là sự dao động, bất an, loạn động, trong cái tâm này đầy rẫy cấu nhiễm, tham, sân, si, vô minh, dục ái cho nên mình tu nên không muốn sân, không muốn giận nhưng vẫn sân, vẫn giận, mình không muốn tham nhưng rồi cũng tham, mình không muốn tu để trở thành bản ngã cao ngạo cho chúng ghét nhưng rồi cũng trổ ra, đó là do những thứ đó có trong tâm nhưng mình vô minh không thấy, không biết, mình mù lòa.

Mình không nhìn ra được thực trạng của nội tâm, Đức Thế Tôn nói thế nào là trí tuệ của bậc Thánh, Thánh tuệ uẩn, đó là sắc này là khổ, cái thân mình đang mang là khổ đau, là dao động, là bất an, đang ngồi như vậy nhưng trong đó là bệnh nan y, thấy ngồi vậy nhưng ai nói đụng chạm đến mình là biết tay mình, ai nói mình sân si là mình không chịu, ngụy biện quanh co giấu lỗi lầm. Vì thế tu là quay lại nhận diện ngũ uẩn thì mình mới thấy, khi thấy được thì gọi là con mắt pháp mở ra, con mắt đạo mở ra, con mắt trí mở ra, con mắt tuệ mở ra và con mắt Thánh mở ra, gọi là Thánh nhãn, pháp nhãn, đạo nhãn, trí nhãn, minh nhãn, minh kiến sẽ mở ra.

Khi mở ra thì mình mới hỡi ơi, lúc đó gọi là đắc pháp nhãn tịnh, tức là Dự Lưu Thánh quả. Khi thấy nội tâm cấu nhiễm thì mình xấu hổ, nhục nhã, lúc nào cũng cúi đầu cho nên từ nhục nhã sanh Thánh quả, một người thấy được thân tâm một cách chính xác thì người đó luôn trú trong cảm giác khiêm cung, khiêm hạ, khiêm nhường, khiêm tốn, luôn trú trong cảm giác xấu hổ và sợ hãi ác và bất thiện pháp, người đó sẽ đi đến sự làm sạch, làm mới mình, từ từ đi đến tâm hoàn toàn thanh tịnh.

Còn người phàm phu trong vô minh, si ám, u mê thì lúc nào cũng dương dương tự đắc, ta đây, lúc nào cũng cho mình hiểu biết hơn thiên hạ, không chịu thua ai, đó là tâm của phàm phu ngu si, bản ngã, còn tâm bậc Thánh là luôn cúi đầu khiêm hạ, từ hòa, từ ái cho nên chúng ta cố gắng học nhận diện năm uẩn uẩn trước rồi mới hiểu được những pháp sâu sắc của thực trạng thân tâm mình đang như thế nào, còn chưa nhìn thấy được sắc; thọ; tưởng; hành; thức, những cảm giác, nghĩ tưởng của mình thì rất khó nên cần cố gắng nhận diện năm uẩn.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.