Pháp Hành Trong Kinh Tạng NIKAYA 1
Kinh NIKĀYA Giảng Giải
Pháp Hành Trong Tạng Kinh NIKĀYA 1
Thích Minh Thành
Ngưỡng bạch trên Hòa Thượng viện trưởng chư tôn đức trong hội đồng điều hành của Học viện Phật Giáo. Kính thưa toàn thể chưa Tăng Ni cùng tất cả quý Phật tử, con được sự chỉ dạy của Hòa Thượng viện trưởng, Hòa Thượng dạy cố gắng đi vào pháp hành để chia sẻ cho các huynh đệ cũng như hôm nay vâng lời Hòa Thượng, chúng con mạo muội xin chia sẻ một đôi điều trong pháp hành tạng kinh Nikāya.
Kính bạch chư đại đức Tăng Ni, pháp hành là vấn đề rất quan trọng, cấp thiết và không thể thiếu trong đời sống người xuất gia hay người cư sĩ, pháp hành như thế nào mà có đường lối cụ thể, rõ ràng, thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, có hiệu quả tức thời, có khả năng hướng thượng và đem lại tác dụng nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si, làm cho đời sống có được sự bình an, sự tịnh lạc, đây là mục đích và cái lõi của toàn bộ giáo pháp. Minh Thành cung thỉnh quý thầy, quý cô cũng như quý Phật tử thực hành vài phút: Mắt nhìn xuống về phía trước, không nhắm mắt mà mở rộng tầm nhìn hết mức ra hai bên, đây Đức Phật gọi là chánh niệm trước mặt. Rõ biết trước mặt, mở rộng tầm nhìn hết mức ra hai bên. Sau đó con thỉnh toàn thể đại chúng trở về hơi thở, cảm nhận sự động chuyển của hơi thở ở ba chỗ: Chóp mũi, lồng ngực và bụng. Từ ba chỗ động chuyển của hơi thở mở rộng cảm giác toàn thân, cảm nhận cảm giác đầu, mặt, vai, mình, mông, chân, ống chân, bàn chân, cánh tay, bàn tay, cảm nhận cảm giác toàn thân. Thở vào an tịnh, thở ra lắng dịu, thở vào nhẹ nhàng, thở ra nhẹ nhàng, cảm nhận cảm giác toàn thân. Pháp thứ ba là nội tâm tỉnh giác, chúng ta thấy rõ trước mắt, cảm nhận được hơi thở và cảm giác toàn thân, trong tâm sáng tỏ, rõ biết.
Chúng ta có thấy cảm giác lắng dịu, nhẹ nhàng không? Tại sao chúng ta phải thực tập cảm giác toàn thân? Trong kinh Tăng Chi Bộ, bài kinh Cội Rễ Của Sự Vật, Đức Phật nói tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ.
Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội Rễ Của Sự Vật).
Đây là cánh cửa mở ra tất cả pháp hành của Phật Giáo, chính là chỗ chúng ta luôn nhìn lại cảm giác của mình. Lâu nay chúng ta nghe nói mục đích của đạo Phật là nhiếp phục tham sân si, đoạn tận tham sân si nhưng chúng ta có biết tham sân si ở đâu không? Nếu không biết căn cứ địa của phiền não, không biết chỗ trú ẩn của tham sân si thì không thể nhiếp phục và đoạn tận. Xin thưa mọi người, tham sân si trú ẩn trong cảm giác, một người ngồi ăn mà gắp đồ ăn liên tục thì mình biết đó là tham nhưng cái tham đó chỉ là hình tướng biểu hiện ra ngoài, còn thật sự bên trong là do cảm giác thúc giục, nếu không quay trở lại cảm giác chỉ thấy cái ngọn của tham chứ không thấy cái gốc của tham. Nếu nổi nóng, sân hận thì cảm giác thay đổi, nóng nực, bực rồi phựt lên cháy nhà, như vậy cội gốc của sân trong cảm giác, Đức Phật nói phàm phu không gặp các bậc Thánh, không nghe pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp của các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh thì họ chỉ thấy tham sân si ở cái ngọn, nếu thấy người đó mặt mũi đỏ ửng, quơ tay múa chân, la lối lớn tiếng thì mình mới biết người đó tức giận, cái này không tu cũng biết. Còn biết quán cảm thọ giống như nấu nồi nước, lúc tim nước mới bắt đầu sôi, sau đó mới sôi lên ùng ục rồi tràn ra, người bình thường không quán chiếu cảm giác thì đợi đến khi sôi tràn ra mới biết đó là sân, còn bậc Đa văn Thánh đệ tử không như vậy, thường nhìn lại cảm giác thì nếu cảm giác biến động mình đã biết, giống như những tim bọt mới sôi lên đã nhìn thấy. Khi thấy mới nhiếp phục được và tẩy trừ, đoạn tận nó, cho nên nhìn lại cảm giác là vấn đề cực kì quan trọng vì tất cả pháp hội tụ ở cảm thọ, nhìn lại cảm giác sẽ thấy tham sân si sanh khởi, an trú, vận hành, chấm dứt ra sao đều thấy rõ. Cảm giác si là đờ đẫn, vai xệ, đầu quẹo là bắt đầu đi vào si và nếu thường nhìn lại cảm giác thì lúc vừa đờ đẫn sẽ phát hiện ra rồi nhiếp phục, chuyển hóa nó, mình biết đây là cảm giác trì trệ, tối tăm, nặng nề, cảm giác này sẽ đưa mình ngủ một giấc ngủ ngàn năm không nghe được chân diệu pháp, dùng Như lý tác ý mạnh sẽ đánh tan cảm giác trì trệ đó thì lúc đó minh sanh, trí sanh, tuệ sanh, sự dõng mãnh, tinh cần, tinh tấn được sanh ra, như vậy chúng ta mới nhiếp phục được si. Vì thế lúc nãy con đã nói khi ngồi thiền tuyệt đối không nhắm mắt? Vì khi nhắm mắt sẽ rơi vào trạng thái lờ đờ, mờ mờ rồi ngủ luôn, đó là hôn trầm, dạng thứ hai là lờ đờ rồi hiện ra hình này bóng kia, cái đó là đi vào tưởng nhưng tưởng trong si mà mình không biết, cho nên ngồi thiền mà nhắm mắt một lúc là đi xa. Vì thế khi ngồi thiền phải thực hành đủ ba pháp trong kinh Nikāya như Minh Thành chia sẻ lúc đầu, thứ nhất là rõ biết trước mặt, thứ hai là trở về hơi thở và cảm giác toàn thân, thứ ba là nội tâm tỉnh giác. Quý thầy cô thực tập ba pháp này sẽ thấy khác rất xa so với ngồi thiền mà nhắm mắt thở ra thở vô là đi vào trạng thái của si, của tưởng lờ mờ không rõ ràng.
Tiếp theo cần quay về nhận diện cảm giác, vì trong cảm giác có ba loại: Cảm giác vui sướng, thích thú, trong cảm giác vui sướng, thích thú này có tham, ái và dục cho nên nhìn lại cảm giác vui sẽ thấy tham trú ẩn trong cảm giác khoan khoái, thích thú. Ví dụ khi thấy mười món ăn là bắt đầu có cảm giác, nếu đáp từ lâu quá thì khó chịu, khi ăn ngay món ruột thì cảm giác ra sao? Lúc đó tất cả pháp hội tụ ngay nơi cảm giác, sẽ hiện rõ ra dục tham là muốn gắp đồ ăn nhanh, lẹ, ái là thích. Trong cảm giác lạc thọ đó có tham trú ẩn, nếu không nhìn kĩ sẽ không thấy, mình nghĩ gặp món đồ hoặc thích người nào đó mới là tham nhưng không phải vậy, nó đã thường trực bên trong, gọi là tham tùy miên trú ẩn trong lạc thọ. Tùy miên là đi theo miên man, không lúc nào không có, nhìn lại sẽ thấy nó mà lâu nay cứ nghĩ mình hết tham sân si, cho nên nhìn sâu sắc vào lạc thọ có tham.
Trong khổ thọ, cảm giác bực bội sẽ có sân trú ẩn trong đó. Trong cảm giác bức rứt, khó chịu sẽ có sân tùy miên. Trong cảm giác thứ ba là không khó chịu cũng không dễ chịu, không khổ cũng không vui thì lúc đó cứ nghĩ tu đều đều, đến giờ lên tụng kinh niệm Phật, đến giờ ăn cơm, đến giờ đi học không thấy tham sân si gì hết nhưng không ngờ Đức Phật dạy trong tạng kinh Nikāya trong cảm giác không khổ không vui, cảm giác đều đều có si trú ẩn. Thế nào gọi là si? Thấy rõ ràng có của mình, có cái của mình, có cái tôi hiện hữu, khi ngồi nhắm mắt nghĩ rằng chút nữa đi ăn cơm sẽ có hình bóng lờ mờ của mình, chính là thân kiến. Khi phá thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ mới là bậc Nhập Lưu Tu-đà-hoàn, mới vào thật sự dòng trí tuệ. Hiện tại chúng ta bị ăn sâu bám chặt vào cái tôi mà sâu thẳm trong cái tôi này là ảo ảnh một tự ngã. Khi nghĩ về mình sẽ có một hình bóng lờ mờ hiện ra và trong suy nghĩ của mình lúc nào cũng có tôi và cái của tôi, Đức Phật dạy con đường đoạn tận thân kiến, nếu ứng dụng được sẽ rất kì diệu, đem lại sự an lạc ngoài sức tưởng tượng của chính mình. Đức Phật nói kẻ vô văn phàm phu không gặp các bậc Chân nhân, không nghe pháp các bậc Chân nhân, không học pháp các bậc Chân nhân thì cho rằng sắc uẩn này là tôi, là của tôi, cảm giác, tư tưởng, nhận thức này là tôi là của tôi và như thế người này bám chặt vào năm uẩn, lúc nào trong suy nghĩ của họ thì tấm thân mấy chục kí lô này là tôi là của tôi, bên ngoài thì dính chặt vào sắc uẩn. Trong tạng kinh Nikāya, Đức Phật dạy bảy trí về sắc, bảy trí về thọ, bảy trí về tưởng, bảy trí về thức, bảy trí về hành, tổng cộng là 35 loại trí huệ để công phá, đập tan năm uẩn. Muốn phá cái nhìn sai lầm về sắc uẩn thì Đức Phật dạy phải thành tựu trí huệ thứ nhất chính là phải biết sắc là gì.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỳ-kheo, đấy được gọi là sắc. Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Và con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Ba phần cực kì quan trọng chúng ta sẽ sử dụng xuyên suốt trong cuộc đời tu hành cho đến thành tựu cứu cánh giác ngộ chính là vị ngọt của sắc, sự nguy hại của sắc và sự xuất ly khỏi sắc. Nắm thật vững và học thuộc lòng thì cầm chắc thượng phương bảo kiếm thiên hạ vô địch trong tay. Vị ngọt của sắc không cần nói cũng biết, nhìn những tấm quảng cáo đầy ngoài đường, trên báo chí, ti vi chính là vị ngọt của sắc.
Do duyên sắc, lạc hỷ sanh; cái ấy gọi là vị ngọt của sắc. (Tương Ưng Bộ, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, V. Vị Ngọt).
-- Này Tỳ-kheo, do duyên sắc, khởi lên lạc hỷ gì, đó là vị ngọt của sắc. (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, X. Trăng Rằm (Tạp 2, Ðại 2,14b) (S.iii,100) (Trung Bộ Kinh, trang 109, 110 Tham chiếu))
Nếu mình thấy, mình nghe, mình biết, xúc chạm vào bất kì thứ gì mà khởi lên khoan khoái, thích thú thì đó là vị ngọt của sắc. Mình đã nếm vị ngọt nhiều chưa? Mình có bị nó làm cho mệt mỏi không? Mình có vì nó mà sầu bi khổ ưu não không? Nhiều là đằng khác cho nên vị ngọt này không cần nói nhiều, nhưng nếu sắc chỉ thuần là vị ngọt thì Ta không tuyên bố chúng sanh có thể xuất ly khỏi sắc vì sắc có sự nguy hại nên Ta tuyên bố có con đường xuất ly khỏi sắc, ra khỏi sắc, giải thoát khỏi sắc. Như vậy thế nào là sự nguy hiểm và tác hại của sắc? Nếu mình thường quán điều này thì mình sẽ có cơ hội xuất ly khỏi sắc nhưng đáng tiếc rằng mình chỉ thường quán vị ngọt không thôi. Trong chuyến đi lên Linh Quy Pháp Ấn con thấy có tai nạn giao thông xảy ra, chuyến đi về Sài Gòn con cũng thấy có tai nạn, nằm một đống bầy nhầy phải đắp chiếu, đó chính là sự nguy hại của sắc.
Sự vô thường, đau khổ, chịu sự biến hoại của sắc; cái ấy gọi là sự nguy hiểm của sắc. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, V. Vị Ngọt)
Như vậy trong phần niệm thân, Đức Phật dạy sáu phương diện quán chiếu về thân nhưng hiện tại mình chỉ thực tập ba phương diện thôi. Sáu phương diện đó là: Niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chín giai đoạn của một tử thi. Ba điều cuối cùng cực kì quan trọng nhưng chúng ta lại thường hay quên, đây là yếu tố quyết định mà cái pháp của bậc Chánh Đẳng Giác không thể sai khác, đó là nếu không quán bất tịnh quán và chín giai đoạn một tử thi thì không thể nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với ái dục, dâm dục, tham dục. Con xin mời mọi người nhắm mắt lại, thở vào thở ra nhận diện cảm giác toàn thân, con xin quý ngài lột da mặt ra, máu tràn ra, thịt lộ ra, mỡ tràn ra, hai con mắt rớt xuống chỉ còn hai hốc mắt trống không. Gỡ lớp da đầu ra, để tóc xuống, bứt ba mươi hai cái răng để ra đầy máu, hiện ra một cái đầu lâu đáng sợ, đó chính là gương mặt thật của chính mình. Rạch tiếp xuống bụng, mở ra đầy lá lách, dạ dạy, tim gan, phèo phổi, mật, là phân và nước tiểu, chất dịch, bao nhiêu vật bất tịnh tràn ra. Rạch tiếp xuống lộ ra da bọc thịt, thịt bọc gân, gân bọc xương, xương bọc tủy và bản chất của thân này là như thế, tánh chất của thân là như thế, không thể vượt khỏi tánh chất ấy.
Thân này bản tánh là như thế, bản chất là như thế không thể vượt qua bản chất ấy (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ).
Đây là một đại da mà phía sau lớp da này là một sự lừa dối kinh khiếp và chúng ta đã bị dối lừa hàng chục năm. Thật là đau đớn! Thật là cay đắng! Trong đống máu mủ hôi tanh này lại tham dục, sân hận, bản ngã, ganh tị, si mê, tạo ra biết bao thứ nghiệp để khổ đau. Thương thay cho cái si mê này, thương thay cho sự bám chấp này, thương thay cho khối vô minh đầy dục ái này. Hãy mở con mắt trí huệ ra, hãy mở con mắt chánh tri kiến ra để nhìn xuyên thủng qua lớp da chứa đầy sự bất tịnh, dơ bẩn này. Hãy phá vỡ quan niệm về ảo ảnh một cái tôi, hãy đập vỡ quan niệm về cái sai lầm tự ngã. Hãy nhìn đi, đây là sắc thân tứ đại vô thường! Chúng ta đã bị gạt, đã bị dối lừa, đang bị dối lừa, nếu không thành tựu trí huệ về sắc uẩn sẽ tiếp tục bị dối lừa. Chúng ta bị dối lừa trong cái thân vô thường này, bị dối lừa trong cái thân ảo mộng này, trong cái thân đầy bất tịnh mà Đức Phật đã nói:
Ví như, này chư Hiền, một ung nhọt đã trải nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thối nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này. (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V) Một Ung Nhọt)
Từ trong hai con mắt này giòi tuôn ra, ăn hết nội tạng, từ đầu đến chân đầy giòi. Quạ, diều hầu, chó rừng… đến thay nhau cắn xé, cuối cùng còn lại bộ xương dính chút thịt và máu, dần dần khô lại, chỉ còn xương với chút máu, từ từ không còn máu nữa mà chỉ còn bộ xương trắng như vỏ ốc. Vài năm sau xương nằm rải rác, kia là đầu lâu, nọ là xương sườn, chỗ kia là xương bàn chân, xương tay. Lần lần bộ xương này cũng tan nát trở thành cát bụi, trở về với cát bụi. Cát bụi là thân này, thân này là cát bụi.
Ví như vị ấy thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loại quạ ăn; hay bị các loài diều hâu ăn; hay bị các chim kên ăn; hay bị các loài chó ăn; hay bị các loài dã can ăn; hay bị các loài côn trùng ăn.
Ví như vị ấy thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa, với các xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại; với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt, nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại; với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn thịt và máu, còn được các đường gân cột lại; chỉ còn xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia. Ở đây, là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là đầu.
Hay ví như vị ấy thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc, chỉ còn một đống xương lâu hơn một năm, chỉ còn là xương thối trở thành bột. (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (IX) Udàyi)
Có gì để đáng tham? Có gì để đáng luyến ái, ràng buộc với thân này? Trí huệ hãy bừng sáng lên, chánh tri kiến hãy tỏ rạng lên, ta phải nhiếp phục dục ái, phải đoạn tận dục ái. Đức Thế Tôn và các bậc A-la-hán đã từ bỏ tất cả dục ái này, ngày hôm nay ta cũng đi trên con đường đó, quyết tâm nhiếp phục, diệt trừ, đoạn tận, chặt cái tâm dục ái này như chặt cây Tala không cho mọc trở lại, đó là pháp lực, đó là sức mạnh của trí tuệ, đó là tuệ lực.
Quý thầy cô có thấy tâm mình ngao ngán chút nào không? Đây là con đường, đây là thông điệp mà Upàli đã xin Thế Tôn dạy cho cái pháp ngắn gọn để hành trì, Đức Phật nói những pháp nào nghe mà nhất hướng nhàm chán, ly tham, từ bỏ, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ Niết-bàn thì hãy thọ trì vì đó là pháp và luật của Như Lai, ngoài điều này ra không phải là pháp và luật của Như Lai.
- Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con một cách vắn tắt, sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
- Này Upàli, những pháp nào Thầy biết: "Những pháp này không được đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: "Ðây không phải Pháp, đây không phải Luật, đây không phải lời dạy Thế Tôn". Và này Upàli, những pháp nào Thầy biết: "Những pháp này đưa đến nhất hướng, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: "Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy Thế Tôn". (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VIII. Phẩm Về Luật, (IX) Thông Điệp)
Thông điệp và định lý giải thoát là những pháp giúp cho mình nhàm chán đối với sắc, ly tham, không còn tham muốn, từ bỏ, chấm dứt, giác ngộ là thấu suốt tận cùng bản chất của nó, an tịnh là bình an, như vậy là thắng trí, như vậy là giác ngộ, như vậy là Niết-bàn.
Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ, nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:
- Pháp là thiết thực hiện tại, thưa Tôn giả Gotama, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu?
- Bị tham ái làm say đắm, này Bà-la-môn, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ điều hại mình, suy nghĩ điều hại người, suy nghĩ điều hại cả hai, cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Tham ái được đoạn trừ, thời không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai, không cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, VI. Phẩm Các Bà-La-Môn, 53.- Vị Bà-La-Môn)
Đó là quán bất tịnh, quán chín giai đoạn của một tử thi và phương pháp này có công năng phá tan tham dục, sân hận, si mê, đập tan tường đồng vách sắt của bản ngã, sự ảo tưởng về cái tôi. Nếu pháp quán này tu tập sâu sắc sẽ thành tựu đến chỗ tối thiểu là Dự Lưu vào dòng trí huệ, tối đa là cứu cánh Phạm hạnh của bậc A-la-hán, cho nên người xuất gia không thể không quán bất tịnh. Đây là pháp mà thời Đức Thế Tôn còn tại thế mà tất cả người xuất gia đều thực hành, đều thành tựu chánh trí, đều thành tựu giải thoát và an lạc. Đây là sự khắc khoải, chính bản thân con trong sự tu hành của như các huynh đệ thì Tăng Ni sinh đều đang ở tuổi trẻ cho nên điều khó nhất của người tu là giới, điều này quyết định hơn nửa đường tu hành, điều giúp cho mình giữ được giới chính là trí huệ quán chiếu về chín giai đoạn của một tử thi và ba mươi hai thể trược, dù chưa từ bỏ được nhưng ít nhất cũng làm cho lắng dịu, từ từ cũng nhiếp phục, và sự nỗ lực, nhiệt tâm, chánh niệm tỉnh giác hành trì thì ngay trong kiếp này mình cũng dự vào dòng chánh tri kiến của Đức Phật. Điều này là chắc chắn vì Thế Tôn đã nói trong tạng kinh Nikāya rằng ngài đã tìm thấy con đường, đã thấy được đạo lộ mà thuở xưa các bậc Chánh Đẳng Giác đã đi, các thầy hãy tin tưởng ta, cố gắng thực hành tinh tấn nỗ lực thì ta bảo đảm cho các thầy sẽ thành tựu chánh trí giải thoát.
Cuối cùng là nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham. Bảy trí này sẽ có công năng đánh tan sự chấp ngã, vô minh, si mê và tham ái rất mãnh liệt và tuyệt vời, nó đem lại cho mình sự bình an của nội tại và Đức Phật gọi là an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn. Như vậy đầu tiên phải nhớ ba pháp: Rõ biết trước mặt hoặc là chánh niệm trước mặt, mở rộng tầm nhìn, trở về hơi thở để cảm giác toàn thân, nội tâm phải tỉnh giác, tỉnh táo nghĩa là biết rõ, ghi nhận rõ trong lúc đó cái gì đang có mặt, ba pháp này có thể thực tập mọi lúc mọi nơi. Luôn để ý cảm giác thì đây là đạo lộ thực tập tất cả pháp hành của Phật Giáo vì trong cảm giác này sẽ phát hiện ra được tham sân si và bản ngã trú ẩn trong đó nhưng không phải chỉ đơn thuần khi đó có tham thì biết có tham rồi thôi mà phương pháp tiếp theo sau khi thấy thì phải dùng Như lý tác ý, đó là sự tư duy đúng lý, đúng pháp như dùng roi đánh vào con trâu. Ví dụ khởi lên dục tham thì tự mình la rầy với cảm giác đó, lưu ý là phải nhìn thẳng vào chỗ phát sanh ra cảm giác vì thân có hình tướng, tâm không có hình tướng, tâm an trú trên thân nên khi biểu hiện sẽ biểu hiện ra cảm giác, cảm giác đó sẽ diễn ra trên thân. Khi nhìn kĩ sẽ thấy chỗ đó động chuyển, thường là lồng ngực, hướng tâm vào ngay cảm giác đó la rầy bằng Như lý tác ý "Đây là sự nhục nhã, tại sao mình là người xuất gia lại khởi lên những suy nghĩ như vậy? Đây là sự tội lỗi, tanh hôi, không phù hợp với hạnh thanh tao của Đức Thế Tôn và các bậc A-la-hán. Ngươi đã hãy tan biến đi, diệt tận đi". Đó là dùng Như lý tác ý, dùng tuệ lực, pháp lệnh ra thánh chỉ, khi pháp lệnh đã ban thì dục tham sợ, cảm giác, tưởng về dục tham sẽ sợ hãi trước Thánh chỉ này, sợ hãi trước tuệ lực này nên nó sẽ e dè, mình đánh từ từ thì nó sẽ giảm, nhiếp phục từ từ, sau đó quán bất tịnh sẽ diệt tận hang ổ, đập tan sào huyệt để đi đến chỗ đoạn tận, Đức Thế Tôn gọi là tắm sạch khỏi tham sân si, bản ngã, không còn gì hơn điều này đối với đời tu hành, tối thiểu mà mình vào được Tu-đà-hoàn thành tựu chánh trí huệ thì quang tông diệu tổ, cửu huyền thất tổ đều được lợi lạc, công đức phước báo Đàn-na tín thí cúng dường cho mình vô lượng vô biên. Còn một người chỉ mới hướng Dự Lưu, thành tựu chánh tri kiến, thấy rõ cái thân này không phải là tôi, không phải của tôi, chỉ là năm uẩn, chỉ là một mớ cảm giác, tư tưởng, nhận thức do sắc uẩn kết hợp, xác quyết trong nội tâm là như vậy thì bắt đầu dự vào bốn đôi tám chúng, là đệ tử chánh thức của Đức Phật, điều này đáng chắp tay, đáng cung kính, đáng đảnh lễ, đáng cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Con xin đảnh lễ ruộng phước vô thượng trên đời.
./.
Pháp Hành Trong Tạng Kinh NIKĀYA 1
Thích Minh Thành
Ngưỡng bạch trên Hòa Thượng viện trưởng chư tôn đức trong hội đồng điều hành của Học viện Phật Giáo. Kính thưa toàn thể chưa Tăng Ni cùng tất cả quý Phật tử, con được sự chỉ dạy của Hòa Thượng viện trưởng, Hòa Thượng dạy cố gắng đi vào pháp hành để chia sẻ cho các huynh đệ cũng như hôm nay vâng lời Hòa Thượng, chúng con mạo muội xin chia sẻ một đôi điều trong pháp hành tạng kinh Nikāya.
Kính bạch chư đại đức Tăng Ni, pháp hành là vấn đề rất quan trọng, cấp thiết và không thể thiếu trong đời sống người xuất gia hay người cư sĩ, pháp hành như thế nào mà có đường lối cụ thể, rõ ràng, thiết thực, hiện tại, đến để mà thấy, có hiệu quả tức thời, có khả năng hướng thượng và đem lại tác dụng nhiếp phục tham, nhiếp phục sân, nhiếp phục si, làm cho đời sống có được sự bình an, sự tịnh lạc, đây là mục đích và cái lõi của toàn bộ giáo pháp. Minh Thành cung thỉnh quý thầy, quý cô cũng như quý Phật tử thực hành vài phút: Mắt nhìn xuống về phía trước, không nhắm mắt mà mở rộng tầm nhìn hết mức ra hai bên, đây Đức Phật gọi là chánh niệm trước mặt. Rõ biết trước mặt, mở rộng tầm nhìn hết mức ra hai bên. Sau đó con thỉnh toàn thể đại chúng trở về hơi thở, cảm nhận sự động chuyển của hơi thở ở ba chỗ: Chóp mũi, lồng ngực và bụng. Từ ba chỗ động chuyển của hơi thở mở rộng cảm giác toàn thân, cảm nhận cảm giác đầu, mặt, vai, mình, mông, chân, ống chân, bàn chân, cánh tay, bàn tay, cảm nhận cảm giác toàn thân. Thở vào an tịnh, thở ra lắng dịu, thở vào nhẹ nhàng, thở ra nhẹ nhàng, cảm nhận cảm giác toàn thân. Pháp thứ ba là nội tâm tỉnh giác, chúng ta thấy rõ trước mắt, cảm nhận được hơi thở và cảm giác toàn thân, trong tâm sáng tỏ, rõ biết.
Chúng ta có thấy cảm giác lắng dịu, nhẹ nhàng không? Tại sao chúng ta phải thực tập cảm giác toàn thân? Trong kinh Tăng Chi Bộ, bài kinh Cội Rễ Của Sự Vật, Đức Phật nói tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ.
Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây (Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội Rễ Của Sự Vật).
Đây là cánh cửa mở ra tất cả pháp hành của Phật Giáo, chính là chỗ chúng ta luôn nhìn lại cảm giác của mình. Lâu nay chúng ta nghe nói mục đích của đạo Phật là nhiếp phục tham sân si, đoạn tận tham sân si nhưng chúng ta có biết tham sân si ở đâu không? Nếu không biết căn cứ địa của phiền não, không biết chỗ trú ẩn của tham sân si thì không thể nhiếp phục và đoạn tận. Xin thưa mọi người, tham sân si trú ẩn trong cảm giác, một người ngồi ăn mà gắp đồ ăn liên tục thì mình biết đó là tham nhưng cái tham đó chỉ là hình tướng biểu hiện ra ngoài, còn thật sự bên trong là do cảm giác thúc giục, nếu không quay trở lại cảm giác chỉ thấy cái ngọn của tham chứ không thấy cái gốc của tham. Nếu nổi nóng, sân hận thì cảm giác thay đổi, nóng nực, bực rồi phựt lên cháy nhà, như vậy cội gốc của sân trong cảm giác, Đức Phật nói phàm phu không gặp các bậc Thánh, không nghe pháp các bậc Thánh, không tu tập pháp của các bậc Thánh, không thuần thục pháp các bậc Thánh thì họ chỉ thấy tham sân si ở cái ngọn, nếu thấy người đó mặt mũi đỏ ửng, quơ tay múa chân, la lối lớn tiếng thì mình mới biết người đó tức giận, cái này không tu cũng biết. Còn biết quán cảm thọ giống như nấu nồi nước, lúc tim nước mới bắt đầu sôi, sau đó mới sôi lên ùng ục rồi tràn ra, người bình thường không quán chiếu cảm giác thì đợi đến khi sôi tràn ra mới biết đó là sân, còn bậc Đa văn Thánh đệ tử không như vậy, thường nhìn lại cảm giác thì nếu cảm giác biến động mình đã biết, giống như những tim bọt mới sôi lên đã nhìn thấy. Khi thấy mới nhiếp phục được và tẩy trừ, đoạn tận nó, cho nên nhìn lại cảm giác là vấn đề cực kì quan trọng vì tất cả pháp hội tụ ở cảm thọ, nhìn lại cảm giác sẽ thấy tham sân si sanh khởi, an trú, vận hành, chấm dứt ra sao đều thấy rõ. Cảm giác si là đờ đẫn, vai xệ, đầu quẹo là bắt đầu đi vào si và nếu thường nhìn lại cảm giác thì lúc vừa đờ đẫn sẽ phát hiện ra rồi nhiếp phục, chuyển hóa nó, mình biết đây là cảm giác trì trệ, tối tăm, nặng nề, cảm giác này sẽ đưa mình ngủ một giấc ngủ ngàn năm không nghe được chân diệu pháp, dùng Như lý tác ý mạnh sẽ đánh tan cảm giác trì trệ đó thì lúc đó minh sanh, trí sanh, tuệ sanh, sự dõng mãnh, tinh cần, tinh tấn được sanh ra, như vậy chúng ta mới nhiếp phục được si. Vì thế lúc nãy con đã nói khi ngồi thiền tuyệt đối không nhắm mắt? Vì khi nhắm mắt sẽ rơi vào trạng thái lờ đờ, mờ mờ rồi ngủ luôn, đó là hôn trầm, dạng thứ hai là lờ đờ rồi hiện ra hình này bóng kia, cái đó là đi vào tưởng nhưng tưởng trong si mà mình không biết, cho nên ngồi thiền mà nhắm mắt một lúc là đi xa. Vì thế khi ngồi thiền phải thực hành đủ ba pháp trong kinh Nikāya như Minh Thành chia sẻ lúc đầu, thứ nhất là rõ biết trước mặt, thứ hai là trở về hơi thở và cảm giác toàn thân, thứ ba là nội tâm tỉnh giác. Quý thầy cô thực tập ba pháp này sẽ thấy khác rất xa so với ngồi thiền mà nhắm mắt thở ra thở vô là đi vào trạng thái của si, của tưởng lờ mờ không rõ ràng.
Tiếp theo cần quay về nhận diện cảm giác, vì trong cảm giác có ba loại: Cảm giác vui sướng, thích thú, trong cảm giác vui sướng, thích thú này có tham, ái và dục cho nên nhìn lại cảm giác vui sẽ thấy tham trú ẩn trong cảm giác khoan khoái, thích thú. Ví dụ khi thấy mười món ăn là bắt đầu có cảm giác, nếu đáp từ lâu quá thì khó chịu, khi ăn ngay món ruột thì cảm giác ra sao? Lúc đó tất cả pháp hội tụ ngay nơi cảm giác, sẽ hiện rõ ra dục tham là muốn gắp đồ ăn nhanh, lẹ, ái là thích. Trong cảm giác lạc thọ đó có tham trú ẩn, nếu không nhìn kĩ sẽ không thấy, mình nghĩ gặp món đồ hoặc thích người nào đó mới là tham nhưng không phải vậy, nó đã thường trực bên trong, gọi là tham tùy miên trú ẩn trong lạc thọ. Tùy miên là đi theo miên man, không lúc nào không có, nhìn lại sẽ thấy nó mà lâu nay cứ nghĩ mình hết tham sân si, cho nên nhìn sâu sắc vào lạc thọ có tham.
Trong khổ thọ, cảm giác bực bội sẽ có sân trú ẩn trong đó. Trong cảm giác bức rứt, khó chịu sẽ có sân tùy miên. Trong cảm giác thứ ba là không khó chịu cũng không dễ chịu, không khổ cũng không vui thì lúc đó cứ nghĩ tu đều đều, đến giờ lên tụng kinh niệm Phật, đến giờ ăn cơm, đến giờ đi học không thấy tham sân si gì hết nhưng không ngờ Đức Phật dạy trong tạng kinh Nikāya trong cảm giác không khổ không vui, cảm giác đều đều có si trú ẩn. Thế nào gọi là si? Thấy rõ ràng có của mình, có cái của mình, có cái tôi hiện hữu, khi ngồi nhắm mắt nghĩ rằng chút nữa đi ăn cơm sẽ có hình bóng lờ mờ của mình, chính là thân kiến. Khi phá thân kiến, hoài nghi và giới cấm thủ mới là bậc Nhập Lưu Tu-đà-hoàn, mới vào thật sự dòng trí tuệ. Hiện tại chúng ta bị ăn sâu bám chặt vào cái tôi mà sâu thẳm trong cái tôi này là ảo ảnh một tự ngã. Khi nghĩ về mình sẽ có một hình bóng lờ mờ hiện ra và trong suy nghĩ của mình lúc nào cũng có tôi và cái của tôi, Đức Phật dạy con đường đoạn tận thân kiến, nếu ứng dụng được sẽ rất kì diệu, đem lại sự an lạc ngoài sức tưởng tượng của chính mình. Đức Phật nói kẻ vô văn phàm phu không gặp các bậc Chân nhân, không nghe pháp các bậc Chân nhân, không học pháp các bậc Chân nhân thì cho rằng sắc uẩn này là tôi, là của tôi, cảm giác, tư tưởng, nhận thức này là tôi là của tôi và như thế người này bám chặt vào năm uẩn, lúc nào trong suy nghĩ của họ thì tấm thân mấy chục kí lô này là tôi là của tôi, bên ngoài thì dính chặt vào sắc uẩn. Trong tạng kinh Nikāya, Đức Phật dạy bảy trí về sắc, bảy trí về thọ, bảy trí về tưởng, bảy trí về thức, bảy trí về hành, tổng cộng là 35 loại trí huệ để công phá, đập tan năm uẩn. Muốn phá cái nhìn sai lầm về sắc uẩn thì Đức Phật dạy phải thành tựu trí huệ thứ nhất chính là phải biết sắc là gì.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc? Bốn đại chủng và sắc do bốn đại chủng tạo thành. Này các Tỳ-kheo, đấy được gọi là sắc. Do các thức ăn tập khởi nên sắc tập khởi. Do các thức ăn đoạn diệt nên sắc đoạn diệt. Và con đường đưa đến sắc đoạn diệt là con đường Thánh đạo Tám ngành, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định. (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)
Ba phần cực kì quan trọng chúng ta sẽ sử dụng xuyên suốt trong cuộc đời tu hành cho đến thành tựu cứu cánh giác ngộ chính là vị ngọt của sắc, sự nguy hại của sắc và sự xuất ly khỏi sắc. Nắm thật vững và học thuộc lòng thì cầm chắc thượng phương bảo kiếm thiên hạ vô địch trong tay. Vị ngọt của sắc không cần nói cũng biết, nhìn những tấm quảng cáo đầy ngoài đường, trên báo chí, ti vi chính là vị ngọt của sắc.
Do duyên sắc, lạc hỷ sanh; cái ấy gọi là vị ngọt của sắc. (Tương Ưng Bộ, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, V. Vị Ngọt).
-- Này Tỳ-kheo, do duyên sắc, khởi lên lạc hỷ gì, đó là vị ngọt của sắc. (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, X. Trăng Rằm (Tạp 2, Ðại 2,14b) (S.iii,100) (Trung Bộ Kinh, trang 109, 110 Tham chiếu))
Nếu mình thấy, mình nghe, mình biết, xúc chạm vào bất kì thứ gì mà khởi lên khoan khoái, thích thú thì đó là vị ngọt của sắc. Mình đã nếm vị ngọt nhiều chưa? Mình có bị nó làm cho mệt mỏi không? Mình có vì nó mà sầu bi khổ ưu não không? Nhiều là đằng khác cho nên vị ngọt này không cần nói nhiều, nhưng nếu sắc chỉ thuần là vị ngọt thì Ta không tuyên bố chúng sanh có thể xuất ly khỏi sắc vì sắc có sự nguy hại nên Ta tuyên bố có con đường xuất ly khỏi sắc, ra khỏi sắc, giải thoát khỏi sắc. Như vậy thế nào là sự nguy hiểm và tác hại của sắc? Nếu mình thường quán điều này thì mình sẽ có cơ hội xuất ly khỏi sắc nhưng đáng tiếc rằng mình chỉ thường quán vị ngọt không thôi. Trong chuyến đi lên Linh Quy Pháp Ấn con thấy có tai nạn giao thông xảy ra, chuyến đi về Sài Gòn con cũng thấy có tai nạn, nằm một đống bầy nhầy phải đắp chiếu, đó chính là sự nguy hại của sắc.
Sự vô thường, đau khổ, chịu sự biến hoại của sắc; cái ấy gọi là sự nguy hiểm của sắc. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (b), III. Phẩm Gánh Nặng, V. Vị Ngọt)
Như vậy trong phần niệm thân, Đức Phật dạy sáu phương diện quán chiếu về thân nhưng hiện tại mình chỉ thực tập ba phương diện thôi. Sáu phương diện đó là: Niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động, niệm tứ đại, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chín giai đoạn của một tử thi. Ba điều cuối cùng cực kì quan trọng nhưng chúng ta lại thường hay quên, đây là yếu tố quyết định mà cái pháp của bậc Chánh Đẳng Giác không thể sai khác, đó là nếu không quán bất tịnh quán và chín giai đoạn một tử thi thì không thể nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham đối với ái dục, dâm dục, tham dục. Con xin mời mọi người nhắm mắt lại, thở vào thở ra nhận diện cảm giác toàn thân, con xin quý ngài lột da mặt ra, máu tràn ra, thịt lộ ra, mỡ tràn ra, hai con mắt rớt xuống chỉ còn hai hốc mắt trống không. Gỡ lớp da đầu ra, để tóc xuống, bứt ba mươi hai cái răng để ra đầy máu, hiện ra một cái đầu lâu đáng sợ, đó chính là gương mặt thật của chính mình. Rạch tiếp xuống bụng, mở ra đầy lá lách, dạ dạy, tim gan, phèo phổi, mật, là phân và nước tiểu, chất dịch, bao nhiêu vật bất tịnh tràn ra. Rạch tiếp xuống lộ ra da bọc thịt, thịt bọc gân, gân bọc xương, xương bọc tủy và bản chất của thân này là như thế, tánh chất của thân là như thế, không thể vượt khỏi tánh chất ấy.
Thân này bản tánh là như thế, bản chất là như thế không thể vượt qua bản chất ấy (Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ).
Đây là một đại da mà phía sau lớp da này là một sự lừa dối kinh khiếp và chúng ta đã bị dối lừa hàng chục năm. Thật là đau đớn! Thật là cay đắng! Trong đống máu mủ hôi tanh này lại tham dục, sân hận, bản ngã, ganh tị, si mê, tạo ra biết bao thứ nghiệp để khổ đau. Thương thay cho cái si mê này, thương thay cho sự bám chấp này, thương thay cho khối vô minh đầy dục ái này. Hãy mở con mắt trí huệ ra, hãy mở con mắt chánh tri kiến ra để nhìn xuyên thủng qua lớp da chứa đầy sự bất tịnh, dơ bẩn này. Hãy phá vỡ quan niệm về ảo ảnh một cái tôi, hãy đập vỡ quan niệm về cái sai lầm tự ngã. Hãy nhìn đi, đây là sắc thân tứ đại vô thường! Chúng ta đã bị gạt, đã bị dối lừa, đang bị dối lừa, nếu không thành tựu trí huệ về sắc uẩn sẽ tiếp tục bị dối lừa. Chúng ta bị dối lừa trong cái thân vô thường này, bị dối lừa trong cái thân ảo mộng này, trong cái thân đầy bất tịnh mà Đức Phật đã nói:
Ví như, này chư Hiền, một ung nhọt đã trải nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thối nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này. (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử, (V) Một Ung Nhọt)
Từ trong hai con mắt này giòi tuôn ra, ăn hết nội tạng, từ đầu đến chân đầy giòi. Quạ, diều hầu, chó rừng… đến thay nhau cắn xé, cuối cùng còn lại bộ xương dính chút thịt và máu, dần dần khô lại, chỉ còn xương với chút máu, từ từ không còn máu nữa mà chỉ còn bộ xương trắng như vỏ ốc. Vài năm sau xương nằm rải rác, kia là đầu lâu, nọ là xương sườn, chỗ kia là xương bàn chân, xương tay. Lần lần bộ xương này cũng tan nát trở thành cát bụi, trở về với cát bụi. Cát bụi là thân này, thân này là cát bụi.
Ví như vị ấy thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa, bị các loại quạ ăn; hay bị các loài diều hâu ăn; hay bị các chim kên ăn; hay bị các loài chó ăn; hay bị các loài dã can ăn; hay bị các loài côn trùng ăn.
Ví như vị ấy thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa, với các xương còn liên kết với nhau, còn dính thịt và máu, còn được các đường gân cột lại; với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn dính thịt, nhưng còn dính máu, còn được các đường gân cột lại; với các bộ xương còn liên kết với nhau, không còn thịt và máu, còn được các đường gân cột lại; chỉ còn xương không dính lại với nhau, rải rác chỗ này chỗ kia. Ở đây, là xương tay, ở đây là xương chân, ở đây là xương ống, ở đây là xương bắp vế, ở đây là xương mông, ở đây là xương sống, ở đây là đầu.
Hay ví như vị ấy thấy một thi thể quăng bỏ trong nghĩa địa, chỉ còn toàn xương trắng màu vỏ ốc, chỉ còn một đống xương lâu hơn một năm, chỉ còn là xương thối trở thành bột. (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, III. Phẩm Trên Tất Cả, (IX) Udàyi)
Có gì để đáng tham? Có gì để đáng luyến ái, ràng buộc với thân này? Trí huệ hãy bừng sáng lên, chánh tri kiến hãy tỏ rạng lên, ta phải nhiếp phục dục ái, phải đoạn tận dục ái. Đức Thế Tôn và các bậc A-la-hán đã từ bỏ tất cả dục ái này, ngày hôm nay ta cũng đi trên con đường đó, quyết tâm nhiếp phục, diệt trừ, đoạn tận, chặt cái tâm dục ái này như chặt cây Tala không cho mọc trở lại, đó là pháp lực, đó là sức mạnh của trí tuệ, đó là tuệ lực.
Quý thầy cô có thấy tâm mình ngao ngán chút nào không? Đây là con đường, đây là thông điệp mà Upàli đã xin Thế Tôn dạy cho cái pháp ngắn gọn để hành trì, Đức Phật nói những pháp nào nghe mà nhất hướng nhàm chán, ly tham, từ bỏ, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ Niết-bàn thì hãy thọ trì vì đó là pháp và luật của Như Lai, ngoài điều này ra không phải là pháp và luật của Như Lai.
- Lành thay, bạch Thế Tôn! Thế Tôn hãy thuyết pháp cho con một cách vắn tắt, sau khi nghe Thế Tôn thuyết pháp, con sẽ sống một mình, an tịnh, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần.
- Này Upàli, những pháp nào Thầy biết: "Những pháp này không được đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: "Ðây không phải Pháp, đây không phải Luật, đây không phải lời dạy Thế Tôn". Và này Upàli, những pháp nào Thầy biết: "Những pháp này đưa đến nhất hướng, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: "Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy Thế Tôn". (Tăng Chi Bộ, Chương VII – Bảy Pháp, VIII. Phẩm Về Luật, (IX) Thông Điệp)
Thông điệp và định lý giải thoát là những pháp giúp cho mình nhàm chán đối với sắc, ly tham, không còn tham muốn, từ bỏ, chấm dứt, giác ngộ là thấu suốt tận cùng bản chất của nó, an tịnh là bình an, như vậy là thắng trí, như vậy là giác ngộ, như vậy là Niết-bàn.
Rồi một Bà-la-môn đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ, nói lên những lời chào đón thăm hỏi thân hữu rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn ấy bạch Thế Tôn:
- Pháp là thiết thực hiện tại, thưa Tôn giả Gotama, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu?
- Bị tham ái làm say đắm, này Bà-la-môn, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ điều hại mình, suy nghĩ điều hại người, suy nghĩ điều hại cả hai, cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Tham ái được đoạn trừ, thời không nghĩ đến tự hại, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai, không cảm thọ tâm khổ tâm ưu. Như vậy, này Bà-la-môn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. (Tăng Chi Bộ, Chương III - Ba Pháp, VI. Phẩm Các Bà-La-Môn, 53.- Vị Bà-La-Môn)
Đó là quán bất tịnh, quán chín giai đoạn của một tử thi và phương pháp này có công năng phá tan tham dục, sân hận, si mê, đập tan tường đồng vách sắt của bản ngã, sự ảo tưởng về cái tôi. Nếu pháp quán này tu tập sâu sắc sẽ thành tựu đến chỗ tối thiểu là Dự Lưu vào dòng trí huệ, tối đa là cứu cánh Phạm hạnh của bậc A-la-hán, cho nên người xuất gia không thể không quán bất tịnh. Đây là pháp mà thời Đức Thế Tôn còn tại thế mà tất cả người xuất gia đều thực hành, đều thành tựu chánh trí, đều thành tựu giải thoát và an lạc. Đây là sự khắc khoải, chính bản thân con trong sự tu hành của như các huynh đệ thì Tăng Ni sinh đều đang ở tuổi trẻ cho nên điều khó nhất của người tu là giới, điều này quyết định hơn nửa đường tu hành, điều giúp cho mình giữ được giới chính là trí huệ quán chiếu về chín giai đoạn của một tử thi và ba mươi hai thể trược, dù chưa từ bỏ được nhưng ít nhất cũng làm cho lắng dịu, từ từ cũng nhiếp phục, và sự nỗ lực, nhiệt tâm, chánh niệm tỉnh giác hành trì thì ngay trong kiếp này mình cũng dự vào dòng chánh tri kiến của Đức Phật. Điều này là chắc chắn vì Thế Tôn đã nói trong tạng kinh Nikāya rằng ngài đã tìm thấy con đường, đã thấy được đạo lộ mà thuở xưa các bậc Chánh Đẳng Giác đã đi, các thầy hãy tin tưởng ta, cố gắng thực hành tinh tấn nỗ lực thì ta bảo đảm cho các thầy sẽ thành tựu chánh trí giải thoát.
Cuối cùng là nhiếp phục dục và tham, đoạn tận dục và tham. Bảy trí này sẽ có công năng đánh tan sự chấp ngã, vô minh, si mê và tham ái rất mãnh liệt và tuyệt vời, nó đem lại cho mình sự bình an của nội tại và Đức Phật gọi là an tịnh, thắng trí, chứng ngộ, Niết-bàn. Như vậy đầu tiên phải nhớ ba pháp: Rõ biết trước mặt hoặc là chánh niệm trước mặt, mở rộng tầm nhìn, trở về hơi thở để cảm giác toàn thân, nội tâm phải tỉnh giác, tỉnh táo nghĩa là biết rõ, ghi nhận rõ trong lúc đó cái gì đang có mặt, ba pháp này có thể thực tập mọi lúc mọi nơi. Luôn để ý cảm giác thì đây là đạo lộ thực tập tất cả pháp hành của Phật Giáo vì trong cảm giác này sẽ phát hiện ra được tham sân si và bản ngã trú ẩn trong đó nhưng không phải chỉ đơn thuần khi đó có tham thì biết có tham rồi thôi mà phương pháp tiếp theo sau khi thấy thì phải dùng Như lý tác ý, đó là sự tư duy đúng lý, đúng pháp như dùng roi đánh vào con trâu. Ví dụ khởi lên dục tham thì tự mình la rầy với cảm giác đó, lưu ý là phải nhìn thẳng vào chỗ phát sanh ra cảm giác vì thân có hình tướng, tâm không có hình tướng, tâm an trú trên thân nên khi biểu hiện sẽ biểu hiện ra cảm giác, cảm giác đó sẽ diễn ra trên thân. Khi nhìn kĩ sẽ thấy chỗ đó động chuyển, thường là lồng ngực, hướng tâm vào ngay cảm giác đó la rầy bằng Như lý tác ý "Đây là sự nhục nhã, tại sao mình là người xuất gia lại khởi lên những suy nghĩ như vậy? Đây là sự tội lỗi, tanh hôi, không phù hợp với hạnh thanh tao của Đức Thế Tôn và các bậc A-la-hán. Ngươi đã hãy tan biến đi, diệt tận đi". Đó là dùng Như lý tác ý, dùng tuệ lực, pháp lệnh ra thánh chỉ, khi pháp lệnh đã ban thì dục tham sợ, cảm giác, tưởng về dục tham sẽ sợ hãi trước Thánh chỉ này, sợ hãi trước tuệ lực này nên nó sẽ e dè, mình đánh từ từ thì nó sẽ giảm, nhiếp phục từ từ, sau đó quán bất tịnh sẽ diệt tận hang ổ, đập tan sào huyệt để đi đến chỗ đoạn tận, Đức Thế Tôn gọi là tắm sạch khỏi tham sân si, bản ngã, không còn gì hơn điều này đối với đời tu hành, tối thiểu mà mình vào được Tu-đà-hoàn thành tựu chánh trí huệ thì quang tông diệu tổ, cửu huyền thất tổ đều được lợi lạc, công đức phước báo Đàn-na tín thí cúng dường cho mình vô lượng vô biên. Còn một người chỉ mới hướng Dự Lưu, thành tựu chánh tri kiến, thấy rõ cái thân này không phải là tôi, không phải của tôi, chỉ là năm uẩn, chỉ là một mớ cảm giác, tư tưởng, nhận thức do sắc uẩn kết hợp, xác quyết trong nội tâm là như vậy thì bắt đầu dự vào bốn đôi tám chúng, là đệ tử chánh thức của Đức Phật, điều này đáng chắp tay, đáng cung kính, đáng đảnh lễ, đáng cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Con xin đảnh lễ ruộng phước vô thượng trên đời.
./.