Năm Triền Cái 12 - Năm Cách Tác Ý Để Hết Giận
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
NĂM TRIỀN CÁI 12
NĂM CÁCH TÁC Ý ĐỂ HẾT GIẬN
–Thích Minh Thành–
"Ở đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỳ-kheo:
- Này các Hiền giả Tỳ-kheo.
- Thưa Hiền giả.
Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:
- Này các Hiền giả, có năm trừ khử hiềm hận này, ở đây, hiềm hận khởi lên cho Tỳ-kheo cần phải được trừ khử một cách hoàn toàn. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Hiền giả, có người thân hành không thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, trong người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải trừ khử.
Ở đây, này các Hiền giả, có người khẩu hành không thanh tịnh, thân hành thanh tịnh, trong người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải trừ khử.
Ở đây, này các Hiền giả, có người thân hành không thanh tịnh, khẩu hành không thanh tịnh, nhưng thỉnh thoảng tâm được mở rộng, tâm được tịnh tín, trong người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải trừ khử.
Ở đây, này các Hiền giả, có người thân hành không thanh tịnh, khẩu hành không thanh tịnh, và thỉnh thoảng không được tâm rộng mở, không được tâm tịnh tín, trong người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải trừ khử.
Ở đây, này các Hiền giả, có người thân hành thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, và thỉnh thoảng tâm được rộng mở, tâm được tịnh tín, trong người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải trừ khử.
Ở đây, này các Hiền giả, người này thân hành không thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh. Như thế nào, trong người ấy hiềm hận cần được trừ khử?" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XVII. Phẩm Hiềm Hận, (II). Trừ Khử Hiềm Hận (2))
Trong bài kinh này ngài Xá-lợi-phất dạy chúng ta cách suy nghĩ để không giận, ngài dạy chúng ta cách tác ý, cách suy nghĩ để mình không giận người làm mình tức, mình sân.
Có năm lý do làm mình sanh khởi tức giận và mình cần trừ khử, cần dẹp bỏ, thứ nhất là người đó có những hành động không thanh tịnh hoặc có lời nói không trong sạch, ví dụ như hành động thô tháo, không tôn trọng mình hoặc nói nặng, nói chạm tự ái mình, mình đang yên tịnh học pháp mà có người vào la lối lớn tiếng thì mình sẽ khó chịu, cái đó là khẩu hành không thanh tịnh, lúc đó mình khó chịu, bực bội nhưng cần trừ khử cái khó chịu đó, đó là hạng thứ nhất, hành động của thân và lời nói không thanh tịnh.
Trường hợp thứ hai dễ nổi giận cần phải trừ khử là cái miệng không thanh tịnh nhưng thân lại thân tịnh, có những người không có gì hết nhưng miệng ưa nói giỡn, cái đó cũng làm mình dễ khó chịu, bực bội, cái miệng ưa nói chuyện này chuyện kia, giỡn hớt, đùa giỡn nhưng hành động lại đàng hoàng, đây là trường hợp phải an tịnh lắng dịu.
Tiếp theo là cả thân lẫn miệng đều không thanh tịnh, phạm lỗi nhưng thỉnh thoảng tâm họ được mở rộng, thỉnh thoảng tâm họ được tịnh tín, thỉnh thoảng họ có lòng tin trong sạch đối với Phật, pháp, Tăng. Dù họ nói những lời không đàng hoàng, họ có những hành động xấu xí, có lỗi lầm sai quấy nhưng thỉnh thoảng họ có tâm rộng mở, trải tâm hiền, tâm thương, tâm bi rộng mở, thỉnh thoảng họ có lòng tin mạnh mẽ đối với tâm bảo nhưng miệng nói chuyện không sạch, thân làm sai, đây cũng là đối tượng dễ giận, dễ sân nên cần phải trừ khử cái giận đối với người này.
Thứ tư là hành động không sạch, lời nói cũng không sạch và tâm cũng không rộng mở, tâm cũng không có sự tịnh tín, cả thân, miệng, ý đều dơ nên cái này chắc chắn phải bực bội nhưng vẫn phải tu để trừ khử cái giận với hạng người này. Hạng người thứ năm là lời nói đẹp, hành động trong sạch, thỉnh thoảng tâm lại được rộng mở, có lòng tin vững chắc vào tam bảo nhưng vẫn giận vì cái sân nằm trong cảm thọ. Mấu chốt nằm ở chữ thỉnh thoảng, nghĩa là không phải lúc nào tâm người này cũng rộng mở, có lúc tâm họ nhỏ hẹp nên mình sân, tức là người ta có lỗi dù chút ít nhưng mình vẫn bực bội, bạn đồng tu ở chung rất hiền lành nhưng mình cũng bực vì cái hiền của họ, họ hiền đến mức mưa tạt cũng không biết đóng cửa, nước tràn cũng không biết khóa nước mà cứ rề rà nên làm mình bực bội, cái nghiệp của chúng sanh rất đa dạng, nhiều hình thức, nhiều căn cơ, tập tánh, thói quen cho nên học Phật phải biết thông cảm, có sư tu tập quán chiếu mới thấy nhiều loại nghiệp và mình cũng cần dẹp bỏ cái giận đối với hạng người này.
Làm thế nào để không giận người nói hay nhưng thường làm sai?
"Ví như, này các Hiền giả, Tỳ-kheo mặc áo lượm từ đống rác, thấy một tấm vải (liệng ở đống rác) trên con đường xe đi, liền lấy chân trái chận lại, lấy chân mặt kéo tấm vải cho rộng ra, đoạn nào là đoạn chánh, làm cho nó có thể sử dụng được rồi cầm lấy mang đi. Cũng vậy, này các Hiền giả, người này, với thân hành không thanh tịnh, với khẩu hành thanh tịnh; những cái gì thuộc về thân hành không thanh tịnh; lúc bấy giờ vị ấy không nên tác ý; còn những gì thuộc khẩu hành thanh tịnh, lúc bấy giờ vị ấy nên tác ý. Như vậy, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XVII. Phẩm Hiềm Hận, (II). Trừ Khử Hiềm Hận (2))
Nhặt tấm vải ở đống rác rồi xem tấm nào sử dụng được thì lấy dùng, y Bá-nạp hay y phấn tảo là lấy từng miếng vải vụn kết thành tấm y. Đây là ví dụ để mình đừng giận người không có hành động sạch nhưng lời nói của họ sạch, trong sáng, như vậy người này còn có chỗ dễ thương nên mình giận làm gì, hãy nghĩ đến lời nói trong sạch chứ đừng nghĩ đến hành động xấu xí của họ, có vậy mình mới trừ khử được hiềm hận đối với họ. Ví dụ thứ hai là lời nói không sạch nhưng hành động của họ lại thanh tịnh, bây giờ mình cứ nghĩ về lời nói xúc phạm của họ thì mình giận, còn nghĩ về hành động đẹp của họ mới không giận.
"Ở đây, này các Hiền giả, người này với khẩu hành không thanh tịnh, với thân hành thanh tịnh. Như thế nào, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử?
Ví như, này các Hiền giả, một hồ nước đầy bùn và cây lau. Rồi một người đi đến bị nóng nhiệt não, bị nóng bức bách, mệt mỏi, thèm uống nước, khát nước. Người ấy ngụp lặn trong hồ nước ấy, lấy hai tay gạt ra ngoài bùn và lá cây, lấy bàn tay bụm nước lại, uống rồi ra đi. Cũng vậy, này các Hiền giả, người này, với khẩu hành không thanh tịnh, với thân hành thanh tịnh; những cái gì thuộc về khẩu hành không thanh tịnh; lúc bấy giờ vị ấy không nên tác ý; còn những gì thuộc thân hành thanh tịnh, lúc bấy giờ vị ấy nên tác ý. Như vậy, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XVII. Phẩm Hiềm Hận, (II). Trừ Khử Hiềm Hận (2))
Người này ở giữa trưa hè nóng bức, mệt mỏi nhưng gặp được hồ nước, chẳng may hồ nước lại nhiều bùn và lá cây phủ đầy mặt hồ. Người này lấy tay gạt đi lớp bùn và lá cây rồi lấy tay bụm nước lại uống. Đừng nên suy nghĩ về lới nói không sạch của người đó mà nên suy nghĩ về những hành động đẹp của người đó, xuyên suốt trong bài kinh này là nhìn vào mặt tích cực chứ đừng nhìn vào mặt tiêu cực của người khác trong khi người ta có mặt tích cực, đó là ý căn bản của bài kinh này. Hình ảnh thứ ba là cả thân hành, khẩu hành đều không thanh tịnh nhưng thỉnh thoảng lòng tin trong sáng, rộng mở đối với tam bảo, mình thấy họ miệng không sạch, thân không sạch thì bực bội, sau đây ngày Xá-lợi-phất hướng dẫn cách từ bỏ khó chịu đối với người đó.
"Ở đây, này các Hiền giả, người này với thân hành không thanh tịnh, với khẩu hành không thanh tịnh, thỉnh thoảng tâm được rộng mở, tâm được tịnh tín. Như thế nào, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử?
- Ví như, này các Hiền giả, ít nước trong dấu chân của con bò. Rồi một người đi đến bị nóng nhiệt não, bị nóng bức bách, mệt mỏi, thèm uống nước, khát nước. Người ấy suy nghĩ như sau: 'Một ít nước này trong dấu chân con bò, nếu ta uống với núm tay hay với cái chén, ta sẽ làm nước ấy dao động và di động, khiến nước không thể uống được. Vậy ta hãy gieo mình xuống với cả bốn thân phần uống nước rồi ra đi'. Rồi người ấy gieo mình xuống với cả bốn thân phần, uống nước rồi ra đi. Cũng vậy, này các Hiền giả, người này với thân hành không thanh tịnh, với khẩu hành không thanh tịnh, với tâm thỉnh thoảng được mở rộng và tịnh tín; những cái gì thuộc thân hành không thanh tịnh, lúc bấy giờ vị ấy không nên tác ý; những cái gì thuộc khẩu hành không thanh tịnh, lúc bấy giờ vị ấy không nên tác ý; những cái gì thuộc tâm thỉnh thoảng được rộng mở và sáng suốt, lúc bấy giờ vị ấy nên tác ý. Như vậy trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XVII. Phẩm Hiềm Hận, (II). Trừ Khử Hiềm Hận (2))
Gieo mình xuống cả bốn thân phần là cúi thấp người xuống, đưa miệng vào dấu chân để uống nước vì nếu không uống là chết. Đang nóng bức, nhiệt não cùng cực nhưng lại có được chút nước đọng lại trong dấu chân bò, nếu lấy tay vớt nước thì nước sẽ đục, lấy đồ múc cũng không được, nếu muốn uống thì phải nằm rạp sát đất đưa miệng vào hút nước thì mới giúp mình vượt qua cơn khát nước. Đây là cách tác ý của ngài để không giận người ta vì người này miệng cũng dơ mà thân cũng không sạch, lâu lâu mới có tâm rộng mở, niềm tin với tam bảo. Đừng suy nghĩ về hành động xấu của người đó, cũng đừng suy nghĩ về lời nói xấu của người đó mà hãy nhớ về thỉnh thoảng họ có được tâm rộng mở, nhớ về cái tốt đẹp nhất dù chỉ một chút cũng giống như việc phải hạ hết người xuống để uống nước trong dấu chân bò, chỉ có như vậy mới không giận, cũng như lỡ cưới phải người hở chút là chửi, là đánh, đá, đập, nhậu về phá banh nhà nhưng được cái gánh vác hết cho gia đình, hãy nhớ đến điều tốt lành này của họ, hãy nhớ về điều mà thỉnh thoảng họ có được là tâm rộng mở, tịnh tín với tam bảo để đừng nghĩ về những điều xấu thì sẽ không giận họ, chỉ có như vậy mới không giận được thôi.
Tiếp theo là người có hành động xấu xí, miệng nói lời không đẹp, tâm thì không có sự tịnh tín, đối tượng này là lấm bùn toàn thân.
"Ở đây, này các Hiền giả, người này với thân hành không thanh tịnh, với khẩu hành không thanh tịnh và thỉnh thoảng tâm không được rộng mở và tịnh tín. Như thế nào, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử?
- Ví như, này các Hiền giả, có người đau bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, đang đi giữa đường, có làng xa trước mặt, có làng xa sau lưng, nó không có được các đồ ăn thích đáng, nó không có được các dược phẩm trị bệnh thích đáng, không có được sự giúp đỡ thích đáng, không có người hướng dẫn đưa đến tận cuối làng.
Một người khác cũng đang đi trên đường thấy người ấy. Người này đối với người ấy khởi lên lòng từ, khởi lên lòng thương tưởng, khởi lên lòng từ mẫn: 'Ôi, mong rằng người này được các đồ ăn thích đáng, được các dược phẩm trị bệnh thích đáng, được các sự giúp đỡ thích đáng, được người hướng dẫn đi đến cuối làng'. Vì sao? Vì mong rằng người này ở đây không bị suy tổn, tử vong. Cũng vậy, này các hiền giả, người này với thân hành không thanh tịnh, với khẩu hành không thanh tịnh, lại thỉnh thoảng tâm không được mở rộng và tịnh tín, người như vậy cần phải khởi lên lòng từ, cần phải khởi lên lòng thương tưởng, cần phải khởi lên lòng từ mẫn: 'Ôi, mong rằng Tôn Giả này, sau khi đoạn tận thân ác hành cần phải tu tập thân thiện hành, sau khi đoạn tận khẩu ác hành cần phải tu tập khẩu thiện hành, sau khi đoạn tận ý ác hành cần phải tu tập ý thiện hành'. Vì sao? Vì mong rằng Tôn giả ấy sau khi thân hoại mạng chung, không sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XVII. Phẩm Hiềm Hận, (II). Trừ Khử Hiềm Hận (2))
Lời nói nặng nề, hành động ngang ngược, không có oai nghi, tế hạnh, tâm thì nhỏ hẹp, hơn thua, gắt gỏng, cà thân, miệng, ý đều không được nhưng vẫn thấy thương họ như người bệnh nặng mà không gặp được ai giúp, không có đồ ăn, đói thiếu, cần phải khởi lên lòng từ, lòng xót thương đối với người không còn gì cả, từ đầu đến chân đều có ác nghiệp, có những thói quen nặng nề của ác pháp. Mình khởi lên lòng mong muốn người này sẽ tu tập ba nghiệp lành, mong rằng họ sẽ từ bỏ suy nghĩ ác mà có suy nghĩ lành, mong rằng họ từ bỏ lời nói ác để nói lời thiện, mong rằng họ từ bỏ hành động ác để có hành động tốt đẹp, phước lành. Đó là cách suy nghĩ của bậc Đa văn Thánh đệ tử, nhìn một người ba nghiệp đều ác như một người mang bệnh nặng, lẻ loi cô độc, không thuốc men, không ai chăm sóc thì phải khởi lên lòng thương xót, khởi lên lòng bi mẫn cầu mong cho người này có người giúp đỡ, có người chăm sóc, có người hướng dẫn đến chỗ có thầy thuốc, không chết giữa đường trong hoàn cảnh khốn khổ như vậy, sau khi chết đi không sanh vào ba đường ác.
Trong dân gian có câu "bới lông tìm vết" hoặc là "vạch lá tìm sâu", như vậy là mình sẽ sân hận mãi vì mình không nhìn thấy chỗ tốt mà cứ tìm cái xấu của người ta, thậm chí người ta giấu cái xấu rồi mà mình vẫn moi ra, người ta có vết thẹo phải che đi mà mình lại moi móc ra để nhìn, như vậy là tội cho người ta. Có những người bị hư mất con mắt nên thường mang kính đen, còn mình thì muốn bỏ kính ra để nhìn con mắt ra sao, hư hồi nào, đây là mắt thật hay giả. Có người bị tật nguyền nên mặc cảm, không bao giờ đi đầu tiên hay đi ở chỗ đông người mà đi sau cùng hoặc đi chỗ vắng, vậy mà mình cứ hỏi chân bị gì, tai nạn ra sao, không ai lo trị bệnh hay sao, ngồi cả tiếng chỉ nói đến cái chân bị tật của người ta, thật là tội nghiệp. Đây là chỗ khéo léo của mình, đừng bới lông tìm vết cũng đừng vạch lá tìm sâu, người đó rất tốt nhưng có tật xấu ví dụ như ngủ nhiều hoặc ăn nhiều hoặc hay bấm điện thoại, mình cứ nhìn vào chỗ xấu đó để nói sẽ làm người ta khó chịu, đó là cái khéo léo trong cách cư xử.
Hãy nhìn thấy cái tích cực của người ta, bớt nhìn cái tiêu cực, khai thác điểm tốt của họ nhiều hơn khai thác điểm xấu, trừ những trường hợp phải rèn luyện thì khác còn thông thường không nên bớt lông tìm vết. Có nhiều khi họ cũng muốn sửa đổi nhưng vì thói quen đã như vậy nên khó sửa cho nên nhiều lúc phải thông cảm, tha thứ, có tâm độ lượng, nước trong quá thì không có cá, còn người kĩ quá lại không có bạn, mình xét nét từng li từng tí là không ai ở nổi với mình, cái gì cũng có mức độ, tùy theo bản tánh của họ mà góp ý, họ có chịu tu không, tu ở mức độ nào thì mình góp ý ở mức độ đó, không phải lúc nào cũng theo ý muốn của mình, không được rồi mình sân. Nếu mình không khéo léo làm người ta khó chịu thì mình cũng bức xúc, vậy là làm khổ cho nhau, nếu khéo tác ý mình sẽ không bức xúc, khó chịu, không hiềm hận, sân hận với người xung quanh, tối rồi mà huynh đệ chung phòng cứ mở đèn làm ánh sáng hắt vào không ngủ được, đừng tức giận mà hãy nghĩ rằng huynh đệ siêng năng đọc kinh, mình không học được thì hãy tùy hỷ với điều đó, thay đổi suy nghĩ theo chiều hướng tích cực thì mình đỡ giận.
"Ở đây, này các Hiền giả, người này với thân hành thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, lại thỉnh thoảng tâm được rộng mở và tịnh tín. Như thế nào, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử?
Ví như, này các Hiền giả, một hồ sen có nước trong, có nước ngọt, có nước mát, có nước trong sáng, có bờ hồ khéo sắp đặt đẹp đẽ và được nhiều loại cây che bóng. Rồi một người đi đến bị nóng nhiệt não, bị nóng bức bách, mệt mỏi, thèm uống nước, khát nước. Người ấy sau khi lặn xuống trong hồ sen ấy, sau khi tắm rửa, uống nước, nó ra khỏi hồ, liền qua ngồi hay nằm dưới bóng cây. Cũng vậy, này các hiền giả, người này với thân hành thanh tịnh, với khẩu hành thanh tịnh, lại thỉnh thoảng tâm được cởi mở tịnh tín. Những gì thuộc thân hành thanh tịnh, lúc bấy giờ cần phải tác ý; những gì thuộc khẩu hành thanh tịnh, lúc bấy giờ cần phải tác ý và điều gì thỉnh thoảng tâm được rộng mở và tịnh tín, lúc bấy giờ cần phải được tác ý. Như vậy trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử.
Này các Hiền giả, có năm trừ khử hiềm hận này, ở đây Tỳ-kheo có hiềm hận khởi lên cần phải trừ khử một cách hoàn toàn". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XVII. Phẩm Hiềm Hận, (II). Trừ Khử Hiềm Hận (2))
Người này cả thân, khẩu, ý đều thanh tịnh, thỉnh thoảng có lòng tin trong sạch, trong sáng, vậy mà có khi gặp người như vậy cũng giận. Như một cái hồ nước trong xanh, có bóng râm mát mẻ, có bờ hồ đẹp trong khi mình đang khát nước giữa trưa hè nên nhảy vào hồ tắm rửa, uống nước, nằm bên bóng cây hưởng thụ không khí trong lành, ngắm hoa sen nở của mùa hạ. Bây giờ mình cần tác ý về những hành động tốt lành của người đó, tác ý về lời nói đẹp của người đó, nghĩ về tâm rộng mở, tịnh tín của họ để mình trừ bỏ tâm tức giận, sân hận, hiềm hận đối với họ.
"Chư Tỳ-kheo, như những kẻ đạo tặc hạ liệt, dùng cưa hai lưỡi mà cưa tay, cưa chân; dầu vậy, nếu một ai ở đây khởi ý nhiễm loạn, người ấy do vậy không phải là người thực hành giáo pháp của Ta. Ở đây, chư Tỳ-kheo các Ông phải học tập như sau: 'Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm; chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ; chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân'. Chư Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
Nhiễm loạn là tâm ô nhiễm rối loạn, đây là trích một đoạn ngắn trong bài kinh Ví dụ cái cưa, là quán chiếu sự ràng buộc che đậy cái tâm vì những cảm thọ sân, Đức Thế Tôn nói rằng giống như những kẻ cướp dùng cưa hai lưỡi để cưa tay cưa chân mình, nếu ai khởi lên ý nhiễm loạn thì người đó không phải là người thực hành giáo pháp của Thế Tôn, người tu ở đây rất thâm sâu. Đừng bao giờ nghĩ rằng mình không làm được mà cứ hướng tới và nghĩ sẽ làm được, cũng như mình mới thực tập nhiếp phục tâm sân mà cứ nghĩ khó lắm, không làm được thì mình sẽ không bao giờ tu được, vì thế tác ý trong tu tập rất quan trọng, nếu làm không được thì Đức Phật sẽ không nói, đây là thành quả của các vị đã thành tựu, bị cái cưa cưa tay chân nhưng tâm không rối loạn, tâm không khởi sân hận, an trú luôn trong tâm từ bất động giải thoát không thay đổi, không bị nhiễm màu sắc của sân hận, bản ngã. Phải thực hành tâm từ được vững chắc, kiên cố, không bị tác động để thay đổi thành cái khác để không thốt ra những lời ác, sống với lòng bi mẫn, xót thương, không hận không sân, chúng ta bao phủ đối tượng làm mình giận với tình thương, với tâm từ.
"Và này chư Tỳ-kheo, nếu các Ông luôn luôn suy tư lời dạy ví dụ cái cưa này, thì này các Tỳ-kheo, các Ông có thấy loại ngôn ngữ nào, dầu tế nhị hay thô bạo mà các Ông không kham nhẫn được chăng?
-- Bạch Thế Tôn, không.
-- Chư Tỳ-kheo, do vậy, hãy luôn luôn suy tư lời dạy ví như cái cưa này, và các Ông sẽ được hạnh phúc an lạc lâu ngày.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo ấy hoan hỉ, tín thọ lời Thế Tôn dạy". (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
Nếu thực hành theo ví dụ cái cưa này thì tâm không biến đổi, vẫn trú được trong tâm từ, bao phủ người kia bằng tấm vải của từ tâm, bằng dòng nước của bi tâm, bằng luồn gió của tâm thương, tâm thấu hiểu, cảm thông, tha thứ. Họ đang sầu, bi, ưu, não, họ đang bị rơi xuống đầm lầy, vực sâu, họ đang bị hỏa hoạn, đang quờ quạng trong bóng đêm nên ghét họ làm gì, sân để làm gì, hiểu cho họ cũng như hiểu cho mình, thương họ như đang thương mình, thông cảm cho họ như thông cảm cho mình, tha thứ cho họ nhưng đang tha thứ cho mình, bao trùm họ như đang bao trùm lấy mình trong một tình thương rộng mở, dào dạt trong hư không.
Đây là phương trước mặt,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm thương của ta.
Tâm đầy niềm thương cảm
Tâm đầy nỗi xót thương
Tâm đầy lòng thương tưởng
Tâm đầy tràn tình thương.
Đây là phương bên phải
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm thương của ta.
Tâm thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bên trái
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm thương của ta.
Tâm thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía sau,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm thương của ta.
Tâm thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía trên,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm thương của ta.
Tâm thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía dưới,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm thương của ta.
Tâm thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bề ngang,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm thương của ta.
Tâm thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này,
Tâm thương này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.
Chúng ta vừa học xong cách tu nhiếp phục và đoạn tận sân triền cái, sự nguy hiểm và tác hại, nguyên nhân của sự xung đột và phương pháp chấm dứt sự xung đột, năm cách trừ khử sân hận và những cách tác ý khéo léo, thiện xảo mà tôn giả đại trí Thánh Tăng Xá-lợi-phất truyền trao cho chúng ta nên chúng ta cần chiêm nghiệm, học tập và làm theo.
./.
NĂM TRIỀN CÁI 12
NĂM CÁCH TÁC Ý ĐỂ HẾT GIẬN
–Thích Minh Thành–
"Ở đây, Tôn giả Sàriputta gọi các Tỳ-kheo:
- Này các Hiền giả Tỳ-kheo.
- Thưa Hiền giả.
Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:
- Này các Hiền giả, có năm trừ khử hiềm hận này, ở đây, hiềm hận khởi lên cho Tỳ-kheo cần phải được trừ khử một cách hoàn toàn. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Hiền giả, có người thân hành không thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, trong người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải trừ khử.
Ở đây, này các Hiền giả, có người khẩu hành không thanh tịnh, thân hành thanh tịnh, trong người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải trừ khử.
Ở đây, này các Hiền giả, có người thân hành không thanh tịnh, khẩu hành không thanh tịnh, nhưng thỉnh thoảng tâm được mở rộng, tâm được tịnh tín, trong người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải trừ khử.
Ở đây, này các Hiền giả, có người thân hành không thanh tịnh, khẩu hành không thanh tịnh, và thỉnh thoảng không được tâm rộng mở, không được tâm tịnh tín, trong người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải trừ khử.
Ở đây, này các Hiền giả, có người thân hành thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, và thỉnh thoảng tâm được rộng mở, tâm được tịnh tín, trong người như vậy, này các Hiền giả, hiềm hận cần phải trừ khử.
Ở đây, này các Hiền giả, người này thân hành không thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh. Như thế nào, trong người ấy hiềm hận cần được trừ khử?" (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XVII. Phẩm Hiềm Hận, (II). Trừ Khử Hiềm Hận (2))
Trong bài kinh này ngài Xá-lợi-phất dạy chúng ta cách suy nghĩ để không giận, ngài dạy chúng ta cách tác ý, cách suy nghĩ để mình không giận người làm mình tức, mình sân.
Có năm lý do làm mình sanh khởi tức giận và mình cần trừ khử, cần dẹp bỏ, thứ nhất là người đó có những hành động không thanh tịnh hoặc có lời nói không trong sạch, ví dụ như hành động thô tháo, không tôn trọng mình hoặc nói nặng, nói chạm tự ái mình, mình đang yên tịnh học pháp mà có người vào la lối lớn tiếng thì mình sẽ khó chịu, cái đó là khẩu hành không thanh tịnh, lúc đó mình khó chịu, bực bội nhưng cần trừ khử cái khó chịu đó, đó là hạng thứ nhất, hành động của thân và lời nói không thanh tịnh.
Trường hợp thứ hai dễ nổi giận cần phải trừ khử là cái miệng không thanh tịnh nhưng thân lại thân tịnh, có những người không có gì hết nhưng miệng ưa nói giỡn, cái đó cũng làm mình dễ khó chịu, bực bội, cái miệng ưa nói chuyện này chuyện kia, giỡn hớt, đùa giỡn nhưng hành động lại đàng hoàng, đây là trường hợp phải an tịnh lắng dịu.
Tiếp theo là cả thân lẫn miệng đều không thanh tịnh, phạm lỗi nhưng thỉnh thoảng tâm họ được mở rộng, thỉnh thoảng tâm họ được tịnh tín, thỉnh thoảng họ có lòng tin trong sạch đối với Phật, pháp, Tăng. Dù họ nói những lời không đàng hoàng, họ có những hành động xấu xí, có lỗi lầm sai quấy nhưng thỉnh thoảng họ có tâm rộng mở, trải tâm hiền, tâm thương, tâm bi rộng mở, thỉnh thoảng họ có lòng tin mạnh mẽ đối với tâm bảo nhưng miệng nói chuyện không sạch, thân làm sai, đây cũng là đối tượng dễ giận, dễ sân nên cần phải trừ khử cái giận đối với người này.
Thứ tư là hành động không sạch, lời nói cũng không sạch và tâm cũng không rộng mở, tâm cũng không có sự tịnh tín, cả thân, miệng, ý đều dơ nên cái này chắc chắn phải bực bội nhưng vẫn phải tu để trừ khử cái giận với hạng người này. Hạng người thứ năm là lời nói đẹp, hành động trong sạch, thỉnh thoảng tâm lại được rộng mở, có lòng tin vững chắc vào tam bảo nhưng vẫn giận vì cái sân nằm trong cảm thọ. Mấu chốt nằm ở chữ thỉnh thoảng, nghĩa là không phải lúc nào tâm người này cũng rộng mở, có lúc tâm họ nhỏ hẹp nên mình sân, tức là người ta có lỗi dù chút ít nhưng mình vẫn bực bội, bạn đồng tu ở chung rất hiền lành nhưng mình cũng bực vì cái hiền của họ, họ hiền đến mức mưa tạt cũng không biết đóng cửa, nước tràn cũng không biết khóa nước mà cứ rề rà nên làm mình bực bội, cái nghiệp của chúng sanh rất đa dạng, nhiều hình thức, nhiều căn cơ, tập tánh, thói quen cho nên học Phật phải biết thông cảm, có sư tu tập quán chiếu mới thấy nhiều loại nghiệp và mình cũng cần dẹp bỏ cái giận đối với hạng người này.
Làm thế nào để không giận người nói hay nhưng thường làm sai?
"Ví như, này các Hiền giả, Tỳ-kheo mặc áo lượm từ đống rác, thấy một tấm vải (liệng ở đống rác) trên con đường xe đi, liền lấy chân trái chận lại, lấy chân mặt kéo tấm vải cho rộng ra, đoạn nào là đoạn chánh, làm cho nó có thể sử dụng được rồi cầm lấy mang đi. Cũng vậy, này các Hiền giả, người này, với thân hành không thanh tịnh, với khẩu hành thanh tịnh; những cái gì thuộc về thân hành không thanh tịnh; lúc bấy giờ vị ấy không nên tác ý; còn những gì thuộc khẩu hành thanh tịnh, lúc bấy giờ vị ấy nên tác ý. Như vậy, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XVII. Phẩm Hiềm Hận, (II). Trừ Khử Hiềm Hận (2))
Nhặt tấm vải ở đống rác rồi xem tấm nào sử dụng được thì lấy dùng, y Bá-nạp hay y phấn tảo là lấy từng miếng vải vụn kết thành tấm y. Đây là ví dụ để mình đừng giận người không có hành động sạch nhưng lời nói của họ sạch, trong sáng, như vậy người này còn có chỗ dễ thương nên mình giận làm gì, hãy nghĩ đến lời nói trong sạch chứ đừng nghĩ đến hành động xấu xí của họ, có vậy mình mới trừ khử được hiềm hận đối với họ. Ví dụ thứ hai là lời nói không sạch nhưng hành động của họ lại thanh tịnh, bây giờ mình cứ nghĩ về lời nói xúc phạm của họ thì mình giận, còn nghĩ về hành động đẹp của họ mới không giận.
"Ở đây, này các Hiền giả, người này với khẩu hành không thanh tịnh, với thân hành thanh tịnh. Như thế nào, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử?
Ví như, này các Hiền giả, một hồ nước đầy bùn và cây lau. Rồi một người đi đến bị nóng nhiệt não, bị nóng bức bách, mệt mỏi, thèm uống nước, khát nước. Người ấy ngụp lặn trong hồ nước ấy, lấy hai tay gạt ra ngoài bùn và lá cây, lấy bàn tay bụm nước lại, uống rồi ra đi. Cũng vậy, này các Hiền giả, người này, với khẩu hành không thanh tịnh, với thân hành thanh tịnh; những cái gì thuộc về khẩu hành không thanh tịnh; lúc bấy giờ vị ấy không nên tác ý; còn những gì thuộc thân hành thanh tịnh, lúc bấy giờ vị ấy nên tác ý. Như vậy, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XVII. Phẩm Hiềm Hận, (II). Trừ Khử Hiềm Hận (2))
Người này ở giữa trưa hè nóng bức, mệt mỏi nhưng gặp được hồ nước, chẳng may hồ nước lại nhiều bùn và lá cây phủ đầy mặt hồ. Người này lấy tay gạt đi lớp bùn và lá cây rồi lấy tay bụm nước lại uống. Đừng nên suy nghĩ về lới nói không sạch của người đó mà nên suy nghĩ về những hành động đẹp của người đó, xuyên suốt trong bài kinh này là nhìn vào mặt tích cực chứ đừng nhìn vào mặt tiêu cực của người khác trong khi người ta có mặt tích cực, đó là ý căn bản của bài kinh này. Hình ảnh thứ ba là cả thân hành, khẩu hành đều không thanh tịnh nhưng thỉnh thoảng lòng tin trong sáng, rộng mở đối với tam bảo, mình thấy họ miệng không sạch, thân không sạch thì bực bội, sau đây ngày Xá-lợi-phất hướng dẫn cách từ bỏ khó chịu đối với người đó.
"Ở đây, này các Hiền giả, người này với thân hành không thanh tịnh, với khẩu hành không thanh tịnh, thỉnh thoảng tâm được rộng mở, tâm được tịnh tín. Như thế nào, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử?
- Ví như, này các Hiền giả, ít nước trong dấu chân của con bò. Rồi một người đi đến bị nóng nhiệt não, bị nóng bức bách, mệt mỏi, thèm uống nước, khát nước. Người ấy suy nghĩ như sau: 'Một ít nước này trong dấu chân con bò, nếu ta uống với núm tay hay với cái chén, ta sẽ làm nước ấy dao động và di động, khiến nước không thể uống được. Vậy ta hãy gieo mình xuống với cả bốn thân phần uống nước rồi ra đi'. Rồi người ấy gieo mình xuống với cả bốn thân phần, uống nước rồi ra đi. Cũng vậy, này các Hiền giả, người này với thân hành không thanh tịnh, với khẩu hành không thanh tịnh, với tâm thỉnh thoảng được mở rộng và tịnh tín; những cái gì thuộc thân hành không thanh tịnh, lúc bấy giờ vị ấy không nên tác ý; những cái gì thuộc khẩu hành không thanh tịnh, lúc bấy giờ vị ấy không nên tác ý; những cái gì thuộc tâm thỉnh thoảng được rộng mở và sáng suốt, lúc bấy giờ vị ấy nên tác ý. Như vậy trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XVII. Phẩm Hiềm Hận, (II). Trừ Khử Hiềm Hận (2))
Gieo mình xuống cả bốn thân phần là cúi thấp người xuống, đưa miệng vào dấu chân để uống nước vì nếu không uống là chết. Đang nóng bức, nhiệt não cùng cực nhưng lại có được chút nước đọng lại trong dấu chân bò, nếu lấy tay vớt nước thì nước sẽ đục, lấy đồ múc cũng không được, nếu muốn uống thì phải nằm rạp sát đất đưa miệng vào hút nước thì mới giúp mình vượt qua cơn khát nước. Đây là cách tác ý của ngài để không giận người ta vì người này miệng cũng dơ mà thân cũng không sạch, lâu lâu mới có tâm rộng mở, niềm tin với tam bảo. Đừng suy nghĩ về hành động xấu của người đó, cũng đừng suy nghĩ về lời nói xấu của người đó mà hãy nhớ về thỉnh thoảng họ có được tâm rộng mở, nhớ về cái tốt đẹp nhất dù chỉ một chút cũng giống như việc phải hạ hết người xuống để uống nước trong dấu chân bò, chỉ có như vậy mới không giận, cũng như lỡ cưới phải người hở chút là chửi, là đánh, đá, đập, nhậu về phá banh nhà nhưng được cái gánh vác hết cho gia đình, hãy nhớ đến điều tốt lành này của họ, hãy nhớ về điều mà thỉnh thoảng họ có được là tâm rộng mở, tịnh tín với tam bảo để đừng nghĩ về những điều xấu thì sẽ không giận họ, chỉ có như vậy mới không giận được thôi.
Tiếp theo là người có hành động xấu xí, miệng nói lời không đẹp, tâm thì không có sự tịnh tín, đối tượng này là lấm bùn toàn thân.
"Ở đây, này các Hiền giả, người này với thân hành không thanh tịnh, với khẩu hành không thanh tịnh và thỉnh thoảng tâm không được rộng mở và tịnh tín. Như thế nào, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử?
- Ví như, này các Hiền giả, có người đau bệnh, khổ đau, bị trọng bệnh, đang đi giữa đường, có làng xa trước mặt, có làng xa sau lưng, nó không có được các đồ ăn thích đáng, nó không có được các dược phẩm trị bệnh thích đáng, không có được sự giúp đỡ thích đáng, không có người hướng dẫn đưa đến tận cuối làng.
Một người khác cũng đang đi trên đường thấy người ấy. Người này đối với người ấy khởi lên lòng từ, khởi lên lòng thương tưởng, khởi lên lòng từ mẫn: 'Ôi, mong rằng người này được các đồ ăn thích đáng, được các dược phẩm trị bệnh thích đáng, được các sự giúp đỡ thích đáng, được người hướng dẫn đi đến cuối làng'. Vì sao? Vì mong rằng người này ở đây không bị suy tổn, tử vong. Cũng vậy, này các hiền giả, người này với thân hành không thanh tịnh, với khẩu hành không thanh tịnh, lại thỉnh thoảng tâm không được mở rộng và tịnh tín, người như vậy cần phải khởi lên lòng từ, cần phải khởi lên lòng thương tưởng, cần phải khởi lên lòng từ mẫn: 'Ôi, mong rằng Tôn Giả này, sau khi đoạn tận thân ác hành cần phải tu tập thân thiện hành, sau khi đoạn tận khẩu ác hành cần phải tu tập khẩu thiện hành, sau khi đoạn tận ý ác hành cần phải tu tập ý thiện hành'. Vì sao? Vì mong rằng Tôn giả ấy sau khi thân hoại mạng chung, không sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Như vậy trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XVII. Phẩm Hiềm Hận, (II). Trừ Khử Hiềm Hận (2))
Lời nói nặng nề, hành động ngang ngược, không có oai nghi, tế hạnh, tâm thì nhỏ hẹp, hơn thua, gắt gỏng, cà thân, miệng, ý đều không được nhưng vẫn thấy thương họ như người bệnh nặng mà không gặp được ai giúp, không có đồ ăn, đói thiếu, cần phải khởi lên lòng từ, lòng xót thương đối với người không còn gì cả, từ đầu đến chân đều có ác nghiệp, có những thói quen nặng nề của ác pháp. Mình khởi lên lòng mong muốn người này sẽ tu tập ba nghiệp lành, mong rằng họ sẽ từ bỏ suy nghĩ ác mà có suy nghĩ lành, mong rằng họ từ bỏ lời nói ác để nói lời thiện, mong rằng họ từ bỏ hành động ác để có hành động tốt đẹp, phước lành. Đó là cách suy nghĩ của bậc Đa văn Thánh đệ tử, nhìn một người ba nghiệp đều ác như một người mang bệnh nặng, lẻ loi cô độc, không thuốc men, không ai chăm sóc thì phải khởi lên lòng thương xót, khởi lên lòng bi mẫn cầu mong cho người này có người giúp đỡ, có người chăm sóc, có người hướng dẫn đến chỗ có thầy thuốc, không chết giữa đường trong hoàn cảnh khốn khổ như vậy, sau khi chết đi không sanh vào ba đường ác.
Trong dân gian có câu "bới lông tìm vết" hoặc là "vạch lá tìm sâu", như vậy là mình sẽ sân hận mãi vì mình không nhìn thấy chỗ tốt mà cứ tìm cái xấu của người ta, thậm chí người ta giấu cái xấu rồi mà mình vẫn moi ra, người ta có vết thẹo phải che đi mà mình lại moi móc ra để nhìn, như vậy là tội cho người ta. Có những người bị hư mất con mắt nên thường mang kính đen, còn mình thì muốn bỏ kính ra để nhìn con mắt ra sao, hư hồi nào, đây là mắt thật hay giả. Có người bị tật nguyền nên mặc cảm, không bao giờ đi đầu tiên hay đi ở chỗ đông người mà đi sau cùng hoặc đi chỗ vắng, vậy mà mình cứ hỏi chân bị gì, tai nạn ra sao, không ai lo trị bệnh hay sao, ngồi cả tiếng chỉ nói đến cái chân bị tật của người ta, thật là tội nghiệp. Đây là chỗ khéo léo của mình, đừng bới lông tìm vết cũng đừng vạch lá tìm sâu, người đó rất tốt nhưng có tật xấu ví dụ như ngủ nhiều hoặc ăn nhiều hoặc hay bấm điện thoại, mình cứ nhìn vào chỗ xấu đó để nói sẽ làm người ta khó chịu, đó là cái khéo léo trong cách cư xử.
Hãy nhìn thấy cái tích cực của người ta, bớt nhìn cái tiêu cực, khai thác điểm tốt của họ nhiều hơn khai thác điểm xấu, trừ những trường hợp phải rèn luyện thì khác còn thông thường không nên bớt lông tìm vết. Có nhiều khi họ cũng muốn sửa đổi nhưng vì thói quen đã như vậy nên khó sửa cho nên nhiều lúc phải thông cảm, tha thứ, có tâm độ lượng, nước trong quá thì không có cá, còn người kĩ quá lại không có bạn, mình xét nét từng li từng tí là không ai ở nổi với mình, cái gì cũng có mức độ, tùy theo bản tánh của họ mà góp ý, họ có chịu tu không, tu ở mức độ nào thì mình góp ý ở mức độ đó, không phải lúc nào cũng theo ý muốn của mình, không được rồi mình sân. Nếu mình không khéo léo làm người ta khó chịu thì mình cũng bức xúc, vậy là làm khổ cho nhau, nếu khéo tác ý mình sẽ không bức xúc, khó chịu, không hiềm hận, sân hận với người xung quanh, tối rồi mà huynh đệ chung phòng cứ mở đèn làm ánh sáng hắt vào không ngủ được, đừng tức giận mà hãy nghĩ rằng huynh đệ siêng năng đọc kinh, mình không học được thì hãy tùy hỷ với điều đó, thay đổi suy nghĩ theo chiều hướng tích cực thì mình đỡ giận.
"Ở đây, này các Hiền giả, người này với thân hành thanh tịnh, khẩu hành thanh tịnh, lại thỉnh thoảng tâm được rộng mở và tịnh tín. Như thế nào, trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử?
Ví như, này các Hiền giả, một hồ sen có nước trong, có nước ngọt, có nước mát, có nước trong sáng, có bờ hồ khéo sắp đặt đẹp đẽ và được nhiều loại cây che bóng. Rồi một người đi đến bị nóng nhiệt não, bị nóng bức bách, mệt mỏi, thèm uống nước, khát nước. Người ấy sau khi lặn xuống trong hồ sen ấy, sau khi tắm rửa, uống nước, nó ra khỏi hồ, liền qua ngồi hay nằm dưới bóng cây. Cũng vậy, này các hiền giả, người này với thân hành thanh tịnh, với khẩu hành thanh tịnh, lại thỉnh thoảng tâm được cởi mở tịnh tín. Những gì thuộc thân hành thanh tịnh, lúc bấy giờ cần phải tác ý; những gì thuộc khẩu hành thanh tịnh, lúc bấy giờ cần phải tác ý và điều gì thỉnh thoảng tâm được rộng mở và tịnh tín, lúc bấy giờ cần phải được tác ý. Như vậy trong người ấy hiềm hận cần phải trừ khử.
Này các Hiền giả, có năm trừ khử hiềm hận này, ở đây Tỳ-kheo có hiềm hận khởi lên cần phải trừ khử một cách hoàn toàn". (Tăng Chi Bộ, Chương V – Năm Pháp, XVII. Phẩm Hiềm Hận, (II). Trừ Khử Hiềm Hận (2))
Người này cả thân, khẩu, ý đều thanh tịnh, thỉnh thoảng có lòng tin trong sạch, trong sáng, vậy mà có khi gặp người như vậy cũng giận. Như một cái hồ nước trong xanh, có bóng râm mát mẻ, có bờ hồ đẹp trong khi mình đang khát nước giữa trưa hè nên nhảy vào hồ tắm rửa, uống nước, nằm bên bóng cây hưởng thụ không khí trong lành, ngắm hoa sen nở của mùa hạ. Bây giờ mình cần tác ý về những hành động tốt lành của người đó, tác ý về lời nói đẹp của người đó, nghĩ về tâm rộng mở, tịnh tín của họ để mình trừ bỏ tâm tức giận, sân hận, hiềm hận đối với họ.
"Chư Tỳ-kheo, như những kẻ đạo tặc hạ liệt, dùng cưa hai lưỡi mà cưa tay, cưa chân; dầu vậy, nếu một ai ở đây khởi ý nhiễm loạn, người ấy do vậy không phải là người thực hành giáo pháp của Ta. Ở đây, chư Tỳ-kheo các Ông phải học tập như sau: 'Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm; chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ; chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng đại, vô biên, không hận, không sân'. Chư Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như vậy". (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
Nhiễm loạn là tâm ô nhiễm rối loạn, đây là trích một đoạn ngắn trong bài kinh Ví dụ cái cưa, là quán chiếu sự ràng buộc che đậy cái tâm vì những cảm thọ sân, Đức Thế Tôn nói rằng giống như những kẻ cướp dùng cưa hai lưỡi để cưa tay cưa chân mình, nếu ai khởi lên ý nhiễm loạn thì người đó không phải là người thực hành giáo pháp của Thế Tôn, người tu ở đây rất thâm sâu. Đừng bao giờ nghĩ rằng mình không làm được mà cứ hướng tới và nghĩ sẽ làm được, cũng như mình mới thực tập nhiếp phục tâm sân mà cứ nghĩ khó lắm, không làm được thì mình sẽ không bao giờ tu được, vì thế tác ý trong tu tập rất quan trọng, nếu làm không được thì Đức Phật sẽ không nói, đây là thành quả của các vị đã thành tựu, bị cái cưa cưa tay chân nhưng tâm không rối loạn, tâm không khởi sân hận, an trú luôn trong tâm từ bất động giải thoát không thay đổi, không bị nhiễm màu sắc của sân hận, bản ngã. Phải thực hành tâm từ được vững chắc, kiên cố, không bị tác động để thay đổi thành cái khác để không thốt ra những lời ác, sống với lòng bi mẫn, xót thương, không hận không sân, chúng ta bao phủ đối tượng làm mình giận với tình thương, với tâm từ.
"Và này chư Tỳ-kheo, nếu các Ông luôn luôn suy tư lời dạy ví dụ cái cưa này, thì này các Tỳ-kheo, các Ông có thấy loại ngôn ngữ nào, dầu tế nhị hay thô bạo mà các Ông không kham nhẫn được chăng?
-- Bạch Thế Tôn, không.
-- Chư Tỳ-kheo, do vậy, hãy luôn luôn suy tư lời dạy ví như cái cưa này, và các Ông sẽ được hạnh phúc an lạc lâu ngày.
Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỳ-kheo ấy hoan hỉ, tín thọ lời Thế Tôn dạy". (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)
Nếu thực hành theo ví dụ cái cưa này thì tâm không biến đổi, vẫn trú được trong tâm từ, bao phủ người kia bằng tấm vải của từ tâm, bằng dòng nước của bi tâm, bằng luồn gió của tâm thương, tâm thấu hiểu, cảm thông, tha thứ. Họ đang sầu, bi, ưu, não, họ đang bị rơi xuống đầm lầy, vực sâu, họ đang bị hỏa hoạn, đang quờ quạng trong bóng đêm nên ghét họ làm gì, sân để làm gì, hiểu cho họ cũng như hiểu cho mình, thương họ như đang thương mình, thông cảm cho họ như thông cảm cho mình, tha thứ cho họ nhưng đang tha thứ cho mình, bao trùm họ như đang bao trùm lấy mình trong một tình thương rộng mở, dào dạt trong hư không.
Đây là phương trước mặt,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm thương của ta.
Tâm đầy niềm thương cảm
Tâm đầy nỗi xót thương
Tâm đầy lòng thương tưởng
Tâm đầy tràn tình thương.
Đây là phương bên phải
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm thương của ta.
Tâm thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bên trái
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm thương của ta.
Tâm thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía sau,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm thương của ta.
Tâm thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía trên,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm thương của ta.
Tâm thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương phía dưới,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm thương của ta.
Tâm thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Đây là phương bề ngang,
Rộng lớn và bao la,
Hòa lẫn khắp phương này,
Là tâm thương của ta.
Tâm thương này rộng lớn
Vô lượng và vô biên.
Tâm thương này tỏa rộng
Cùng khắp thế giới này,
Tâm thương này tỏa rộng,
Khắp trời đất bao la.
Chúng ta vừa học xong cách tu nhiếp phục và đoạn tận sân triền cái, sự nguy hiểm và tác hại, nguyên nhân của sự xung đột và phương pháp chấm dứt sự xung đột, năm cách trừ khử sân hận và những cách tác ý khéo léo, thiện xảo mà tôn giả đại trí Thánh Tăng Xá-lợi-phất truyền trao cho chúng ta nên chúng ta cần chiêm nghiệm, học tập và làm theo.
./.