Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh Nikāya Giảng Giải - Niềm Tin Bất Động 1 - Trí Tuệ Hoan Hỷ Và Trí Tuệ Tốc Hành

2026-03-03 00:56:08
Kinh Nikāya Giảng Giải

Niềm Tin Bất Động 1

Trí Tuệ Hoan Hỉ Và Trí Tuệ Tốc Hành

Kinh Sarakani

Thích Minh Thành

Ngày 19 tháng 07 năm 2024

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. An trú tâm ở đâu? PAGEREF _Toc209277733 \h 1

II. An trú niệm PAGEREF _Toc209277734 \h 3

III. Lòng tin bất động PAGEREF _Toc209277735 \h 5

IV. Hạt giống và thửa ruộng PAGEREF _Toc209277736 \h 15

V. Trình pháp PAGEREF _Toc209277737 \h 19

I. An trú tâm ở đâu?

Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán chánh đẳng giác (3 lần)

Kính bạch chư tôn đức và chư vị hiền trí. Sáng nay chúng ta sẽ tìm hiểu những bài kinh, liên hệ đến Thích tử Mahanama, bà con của Đức Phật. Những bản kinh này giúp người chưa có niềm tin sẽ sanh khởi niềm tin, người đã có niềm tin thì niềm tin sẽ được lớn mạnh. Và người đã có niềm tin lớn mạnh, thì sẽ đạt được tịnh tính bất động. Những bản kinh này cũng sẽ diệt tận hết những suy nghĩ cho rằng khó tu, khó thành tựu. Những bản kinh này cũng sẽ diệt tận hết những suy nghĩ, tư tưởng tu không được, khó tu, khó thành tựu. Những lời kinh rất là tha thiết của Đức Thế Tôn, đối với bà con của Ngài. Con sẽ kết hợp nhiều bài kinh.

“Một thời, Thế Tôn trú giữa dân chúng Sakka, tại Kapilavatthu, ở khu vườn Nigrodha. Lúc bấy giờ, nhiều Tỳ-kheo đang may y cho Thế Tôn, nghĩ rằng: “Y làm xong, sau ba tháng, Thế Tôn sẽ bộ hành ra đi”. Họ Thích Mahànàma được nghe: “Nhiều Tỳ-kheo đang may y cho Thế Tôn, nghĩ rằng: “Y làm xong, sau ba tháng, Thế Tôn sẽ bộ hành ra đi”. Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn, sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, họ Thích Mahànàma bạch Thế Tôn:

- Con nghe như sau, bạch Thế Tôn: Có nhiều Tỳ-kheo đang may y cho Thế Tôn nghĩ rằng: “Y làm xong, sau ba tháng, Thế Tôn sẽ bộ hành ra đi”. Bạch Thế Tôn, giữa các người an trú với những an trú khác nhau, chúng con nên an trú với an trú nào?”

Lành thay, lành thay, này Mahànàma! Như vậy thật xứng đáng cho thiện nam tử các người, sau khi đến Thế Tôn đã hỏi, đã thưa như vậy: “Bạch Thế Tôn, giữa các người an trú với những an trú khác nhau, chúng con nên an trú với an trú nào?” Này Mahànàma:

- “Hãy nhập cuộc với lòng tin, không phải với không lòng tin.

- Hãy nhập cuộc với tinh cần tinh tấn, không với biếng nhác.

- Hãy nhập cuộc với trú niệm, không với thất niệm.

- Hãy nhập cuộc với định, không với không định.

- Hãy nhập cuộc với trí tuệ, không với liệt tuệ”.

Sau khi an trú trong năm pháp này, này Mahànàma, hãy tu tập thêm sáu pháp nữa.

(Tăng Chi Bộ Kinh IV – Trích bài kinh Mahanama)

“Có người thì đặt tâm mình vào chỗ này, có người đặt tâm mình vào chỗ kia, có người đặt tâm mình vào chỗ nọ. Bạch Thế Tôn, chúng con phải đặt tâm mình như thế nào?” Chữ “an trú” ở đây là đặt cái tâm mình ở đâu. Thế Tôn khen ngợi những câu hỏi: “Tốt lắm, thật xứng đáng cho thiện nam tử các người, sau khi đến Thế Tôn đã hỏi, đã thưa như vậy”. Bởi nhiều khi con tiếp khách, mà ngay cả những vị biết tu, con thấy rất tiếc. Mình lên gặp thầy, gặp Ni sư, gặp những vị hiểu biết về pháp, mà mình không hỏi pháp, mình hỏi chuyện gì đâu không. Chúng ta nhiều khi lên gặp méc người này méc người kia, nói chuyện người này người kia, mà không hỏi pháp. Nhiều khi hướng dẫn pháp, mà cũng không có để tâm nữa, điều này rất là tiếc.

Mình lên mình lo sống trong quá khứ, sống trong những cái vô minh, những cái thúc giục. Mình kể chuyện gì đâu không, kể lịch sử cuộc đời. Mà mình không hỏi: “Thưa thầy, cái này làm sao? Cái này nên làm hay không nên làm? Bây giờ cái tâm con như vầy con phải an trú tâm con như thế nào? Con phải xử lý như thế nào?” Mình không hỏi, thật là uổng thay, tiếc thay, thật là hoang phí, phung phí thì giờ. Chúng ta thấy sự vô thường, mà chúng ta không có trân quý. Chúng ta thấy vô thường không? Nó bất thình lình như vậy đó, nó muốn lớn thì lớn, nhỏ thì nhỏ. Nó muốn có mạng thì có, nó muốn mất mạng thì mất mạng. Nó muốn mạng mạnh là mạnh, yếu là yếu, đứt mạng là đứt mạng.

Thì mạng internet giống y như mạng của con người, ở ngoài đời mà mình tranh thủ kiếm tiền, thì ở trong đạo mình cũng tranh thủ cầu pháp. Tranh thủ để đạt được những cái trí, cái tuệ, cái thấy, cái biết, cái cơ hội để mình hướng thượng. Nhiều khi đi ngang mình nhìn, mình trông chờ đặng vô. Đặng mình có những điều để khích lệ, xách tấn cho, mà quay chỗ khác. Lúc đầu lâu lâu còn lên sư phụ cho con hỏi pháp, ở riết không còn hỏi gì nữa hết, thật là đáng tiếc thay. “Này Mahanama: Hãy nhập cuộc với lòng tin, không phải với không lòng tin”. Nghe câu này mà nó thấm vô trái tim, mà bây giờ nó ngọt ngào sao, rưng rưng nước mắt. “Ông phải nhập cuộc với lòng tin Như Lai, ông phải nhập cuộc với sự thật mà Như Lai chứng ngộ, ông phải nhập cuộc vào lòng tin chúng Tăng. Ông phải nhập cuộc vào lòng tin đối với thánh giới, cố gắng giữ gìn đầy đủ các thánh giới.”

Nhiều khi tu học tới giờ này 2 năm, 3 năm, có khi nhiều hơn nữa. Mà lên là với vẻ bất mãn, bực mình lắm, một hồi thì tin, một hồi thì không tin, phân vân, lưỡng lự. Con nhiều khi nước mắt chảy vào trong, có những phát biểu mà tim cho tan nát hết. Vị thánh đệ tử phải có lòng tin, tin tưởng sự giác ngộ của Như Lai. Phải tin tưởng Thế Tôn, là bậc thấy biết tột cùng tất cả mọi góc độ, khía cạnh thân tâm và thế giới. Là bậc chứng ngộ hoàn toàn sự thật về khổ, của đời sống, kiếp sống, sự sống, cuộc sống này. Là bậc thật sự đã diệt tận hết tất cả những mầm mống đau khổ, và đạt được Niết-bàn tối thượng. Phải tin, phải nhập cuộc vào lòng tin, phải tin vào tứ thánh đế, tin vào bát thánh đạo, tứ niệm xứ, thánh trí ngũ uẩn.

II. An trú niệm

Phải tin vào những cái dục ái, tham, sân, si, vô minh, bản ngã này là những nguyên nhân của khổ. Phải nhập cuộc vào niềm tin, phải đem cả tấm lòng, cả trái tim, cả sinh mạng của mình để nhập cuộc vào lòng tin đối với Đức Phật, pháp, Tăng và thánh giới. “Hãy nhập cuộc với tinh cần tinh tấn, không với biếng nhác”. “Vị thánh đệ tử phải sống tinh cần, tin tấn, từ bỏ các pháp bất thiện. Thành tựu các thiện pháp, nỗ lực, kiên trì, tinh tấn, không có từ bỏ gánh nặng đối với thiện pháp. Đây gọi là sự tinh tấn của người con Phật.” “Hãy nhập cuộc với trú niệm, không với thất niệm”. Hãy nhập cuộc vào sự an trú chánh niệm, tính tấn niệm, định tuệ đó, nhập cuộc vào an trú chánh niệm. Không phải với thất chánh niệm, “thất niệm” tức là quên, “chánh niệm” tức là nhớ.

“Vị thánh đệ tử có chánh niệm thành tựu tối thắng niệm và tuệ. Vị ấy nhớ và gợi lại trong trí nhớ, những điều đã nói và đã làm lâu ngày về trước. Như vậy này các Tỳ-kheo, được gọi là niệm lực – Trích bài kinh Các Sức Mạnh Rộng Thuyết” “Vị thánh đệ tử có chánh niệm thành tựu tối thắng niệm và tuệ”, là nhớ cái gì? Hãy nhập cuộc vào chánh niệm, đừng có để cái tâm nó thất niệm, tức là hãy nhớ đừng có quên. Mà nhớ cái gì? Nhớ mình đang thở, nhớ oai nghi, hành động, nhớ những thành phần cấu tạo của cái chiếc thân này là đất, nước, gió, lửa. Nhớ cái gì? Nhớ những bộ phận, các cơ quan, cơ thể nó kết thành bộ máy thân tâm này, nhớ 32 thứ không sạch sẽ. Nhớ sự kết thúc của đời sống này, là trải qua quá trình 9 giai đoạn phân hủy của thân xác.

Nhớ bộ xương, nhớ quyệt mộ, quan tài, nấm tro tàn sau khi hỏa táng. Còn nhớ nhiều nữa, nhớ thân, nhớ thọ, nhớ tâm, nhớ pháp. Tùy theo đề mục của mình còn nhớ nhiều nữa, nhớ từ, nhớ bi, nhớ hỷ, nhớ xả. “Vị ấy nhớ và gợi lại trong trí nhớ, những điều đã nói và đã làm lâu ngày về trước”. Xét nét lại, cho nên những buổi sám hối của mình, là mình có chánh niệm mình mới ra sám hối đó. Ấn Đức thấy không, mình nhớ lại hồi nhỏ lấy món đồ gì của ai đó. Mình có chánh niệm mình mới nhớ được. Mình nhớ hồi xưa mình có ngắt cái đầu con châu chấu, cào cào. Mình nhớ lại hồi đó mình đã làm những cái nghiệp đó, thì cái đó là phải có niệm. Chúng ta thấy không, thành ra nhiều khi trong 1 buổi sám hối như vậy, mà có đầy đủ 5 căn, 5 lực trong đó đó, không phải là đơn giản.

Mà mình quỳ mạnh mẽ, mình ra quỳ lạy dưới chân người để minh sám hối. Thì trong đó nó đầy đủ sức mạnh của 1 người tu. Nó có hiền trí, có sức mạnh, có niệm lực, có tuệ, có diệt ngã trong đó (chú tắc kè mới kêu nói đúng rồi đó). Mình không nhớ, thì làm sao mình nhận ra được những sai lầm, lầm lỗi. Cho nên Thế Tôn nói rất là tha thiết: “Hãy nhập cuộc với trú niệm, không phải với thất niệm”. Hãy nhớ lại, nhìn lại, phản chiếu, phản quan, phản tỉnh lại, chứ không phải là sống trong lãng quên. Chẳng những ngay trong hiện tại mình không có lỗi lầm, mà mình phải xét lại những cái lỗi của quá khứ, để mình tẩy quá khứ. Bởi vì trong hiện tại có khả năng, có thể là lúc đó mình không lỗi. Nhưng mà cái lỗi đó tồn động trong quá khứ này sao, phải rửa, phải tẩy hàng tồn kho.

Nhưng mà muốn rửa, muốn tẩy mình phải thấy chỗ dơ, thì phải có để tâm vào xét nét. “Hãy nhập cuộc với định, không với không định”. Là cái tâm mình phải có sự tập trung, sự tỉnh lặng. Mà tập trung, tĩnh lặng như vậy thì sao? “Hãy nhập cuộc với trí tuệ, không với liệt tuệ”, là cái trí tuệ để thấy được đây là khổ. “Vị thánh đệ tử có trí tuệ thành tựu trí tuệ về sanh diệt và sự thể nhập của bậc thánh và con đường đoạn tận khổ đau. Này các Tỳ-kheo, đây được gọi là tuệ lực – Trích bài kinh Rộng Rãi”. Khi tập trung tâm ý rồi, gom cái tâm lại thì cái này có sức mạnh. Cũng giống như cái bàn tay mình xòe ra thì mình đánh nó nhẹ hều à, nhưng mình gom lực đó lại thì mìh đấm cái lực nó mạnh.

Thì cũng vậy, cái tâm mà nó tập trung trở lại thì cái quán, cái nhìn, cái sự soi rọi của nó một cách mạnh mẽ, sâu sắc. Cái đó gọi là định, là từ định có một sức mạnh là tuệ. Từ cái tuệ mạnh đó có khả năng nhiếp phục, chế ngự, cắt đứt, đoạn tận những tham, sân, si, dục ái, bản ngã, vô minh ở bên trong. Cho nên Thế Tôn nói về 5 căn 5 lực này rất là quan trọng, phải có đầy đủ tính, tấn, niệm, định, tuệ. Hằng ngày, mình quay trở lại mình coi cái tâm của mình. “Hãy nhập cuộc vào lòng tin, không phải với không tin”, hãy làm cho tín căn nó biến thành tín lực. Một lòng tin mà không có gì có thể lay chuyển mình được hết, chết cũng không thay đổi. Giờ có ai chỉa súng vô mình mà nói: “Hãy nói ngũ uẩn là vui đi, nói khổ là bắn chết”. Thì cũng nói khổ nữa, để thể nhập thánh trí.

Mình dám không?

“Đây là khổ, khổ là đây

Thánh chuông vang động, trời mây muôn ngàn

Cái gì sanh thì cũng diệt thôi

Cái gì hiện hữu cũng rồi tiêu tan”

III. Lòng tin bất động

Tin chắc như vậy, sát quyết như vậy, chết 100 cái mạng này cũng không thay đổi nữa. Rồi từ chỗ đó chúng ta mới qua thấy Đức Thế Tôn, cái bài kinh này đặc biệt lắm. Từ thánh quả A-la-hán mà xuống tới hướng dự lưu luôn, trong Tương Ưng Bộ tập V, bài kinh Sarakani. Một người bà con trong dòng họ chết, và Đức Thế Tôn tuyên bố là dự lưu. Không còn bị thoái đọa, quyết chứng quả giác ngộ.

“1) Nhân duyên ở Kapilavatthu.

2) Lúc bấy giờ, họ Thích Sarakàni mệnh chung và được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chứng quả giác ngộ.

3) Tại đấy, một số đông họ Thích tụ họp lại với nhau, chỉ trích, phê bình, bàn tán: “Thật là lạ lùng! Thật là hy hữu! Ngày nay ai cũng có thể thành bậc Dự lưu, vì rằng họ Thích Sarakàni đã mệnh chung, được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Họ Thích Sarakàni đã phạm giới và uống rượu”.

4) Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi một bên, họ Thích Mahànàma bạch Thế Tôn:

5) - Ở đây, bạch Thế Tôn, họ Thích Sarakàni đã mệnh chung và được Thế Tôn tuyên bố là bậc Dự lưu... chứng quả giác ngộ. Ở đây, bạch Thế Tôn, một số đông họ Thích khi tụ tập lại với nhau, chỉ trích, phê bình, bàn tán: “Thật là lạ lùng! Thật là hy hữu!... Họ Thích Sarakàni đã phạm giới và uống rượu”

- Này Mahànàma, một cư sĩ lâu ngày qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng làm sao có thể đi đến đọa xứ được?

6) Này Mahànàma, nếu nói một cách chơn chánh: Người cư sĩ nào đã lâu ngày qui y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, nói một cách chơn chánh phải nói là họ Thích Sarakàni. Này Mahànàma, họ Thích Sarakàni đã lâu ngày quy y Phật, quy y Pháp, qui y Tăng, làm sao có thể đi đến đọa xứ ?

7) Ở đây, này Mahànàma, có người thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật: Ðây là bậc Ứng Cúng, ... Phật, Thế Tôn"... đối với Pháp... đối với chúng Tăng, có trí tuệ hoan hỷ (hàsapanna), có trí tuệ tốc hành và thành tựu giải thoát. Vị ấy do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Người này, này Mahànàma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi cõi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.

8) Ở đây, này Mahànàma, có người thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật. “Ðây là là bậc Ứng Cúng, ... Phật, Thế Tôn”... đối với Pháp... đối với chúng Tăng... có trí tuệ hoan hỷ, có trí tuệ tốc hành nhưng không thành tựu giải thoát. Vị ấy do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lui thế giới này nữa. Người này, này Mahànàma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.

9) Ở đây, này Mahànàma, có người thành tựu lòng tịnh tin đối với đức Phật:

“Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn”... đối với Pháp... đối với chúng Tăng... không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát. Vị ấy sau khi đoạn diệt ba kiết sử, sau khi làm cho muội lược tham, sân, thành bậc Nhất lai, chỉ trở lui đời này một lần nữa, đoạn tận khổ đau. Người này, này Mahànàma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.

10) Ở đây, này Mahànàma, có người thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật... đối với Pháp... đối với chúng Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát. Vị ấy sau khi đoạn diệt ba kiết sử, là bậc Dự lưu không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Người này, này Mahànàma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.

11) Ở đây, này Mahànàma, có người không có lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật... đối với Pháp... đối với Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát. Nhưng vị ấy có những pháp này: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn và những pháp này do Như Lai tuyên bố được thiểu phần kham nhẫn quán sát với trí tuệ. Người này, này Mahànàma, không đi đến địa ngục, không đi đến loài bàng sanh, không đi đến cõi ngạ quỷ, không đi đến ác sanh, ác thú, đọa xứ.

12) Ở đây, này Mahànàma, có người không thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật, đối với pháp, đối với chúng Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát. Nhưng vị ấy có những pháp này: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn, chỉ có lòng tin, chỉ có lòng ái mộ ở Như Lai. Người này, này Mahànama, không có đi đến địa ngục, không có đi đến loài bàng sanh, không có đi đến cõi ngạ quỷ, không có đi đến cõi dữ, ác thú, đọa xứ.

13) Nếu những cây ta-la lớn này, này Mahànàma, biết những gì là thiện thuyết, ác thuyết, thời Ta cũng sẽ tuyên bố những cây ấy là những bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ, huống nữa là họ Thích Sarakàni. Này Mahàanàma, họ Thích Sarakàni, sau khi mệnh chung, đã chấp nhận học giới.”

(Tương Ưng Bộ kinh V– kinh Sarakani)

Chúng ta thấy không? Bậc A-la-hán chánh đẳng giác, thiên nhân sư, bậc đại đạo sư của của tam giới mà vẫn còn bị phê bình, chỉ trích, bàn tán. Thì mình là cái giống gì, người ta có chửi 1000 lần thì cũng chẳng là vấn đề gì cả, cái hạt bụi này. Thấy chưa? Trong gia đình đó, xì xào, tụm ba nhúm bảy lại phê phán, chỉ trích, bàn tán: “Sao mà dễ vậy, sao giờ cũng thành dự lưu thánh quả hết trơn. Rồi họ Thích Mahànàma đi đến Thế Thế Tôn để nói về sự việc trên, Thế Tôn nói:

“- Này Mahànàma, một cư sĩ lâu ngày qui y Phật, qui y Pháp, qui y Tăng làm sao có thể đi đến đọa xứ được.”

Một người cư sĩ đã lâu ngày quay về, đem hết tấm lòng tin tưởng Đức Thế Tôn. Đem hết tấm lòng của mình, để học hiểu và thực hành chánh pháp. Đem hết tấm lòng của mình, để nương tựa vào chúng Tăng một cách chân thành như vậy, thì làm sao có thể đi đến đọa xứ được. Làm sao rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh được.

“Này Mahànàma, nếu nói một cách chơn chánh: Người cư sĩ nào đã lâu ngày qui y Phật, quy y Pháp, quy y Tăng, nói một cách chơn chánh phải nói là họ Thích Sarakàni. Này Mahànàma, họ Thích Sarakàni đã lâu ngày quy y Phật, quy y Pháp, qui y Tăng, làm sao có thể đi đến đọa xứ ?”

Cho nên những kẻ phàm phu của mình, nhìn vô những cái nhỏ nhặt. Nhiều khi lâu lâu người ta có khuyết điểm gì nhỏ trong cái vô tình, hay trong trường hợp gì 1 chút, là mình bám lấy vô cái đó, chứ mình không có thấy được đại thể.

“Ở đây, này Mahànàma, có người thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật, đối với Pháp, đối với chúng Tăng, có trí tuệ hoan hỷ, có trí tuệ tốc hành và thành tựu giải thoát. Vị ấy do đoạn tận các lậu hoặc ngay trong hiện tại với thắng trí chứng ngộ, chứng đạt và an trú vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Người này, này Mahànàma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi cõi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.”

Chúng ta nhớ nha, đầu tiên Đức Phật nói thánh quả A-la-hán đó, là người thành tựu tịnh tính bất động đối với Phật, pháp, Tăng. Có trí tuệ hoan hỉ, có trí tuệ tốc hành và thành tựu giải thoát. Ở đây chúng ta nhớ 2 từ mới rất là “trí tuệ hoan hỉ” và “trí tuệ tốc hành”. Một người tu đúng chánh pháp, là người có 1 cái tuệ thâm sâu và sắc bén. Và cái tuệ này người này vui sướng, hạnh phúc trong đó. Luôn luôn lúc nào cũng hoan hỉ, khi họ sống trong trí tuệ đó lúc nào họ cũng hoan hỉ lắm, vui lắm. Tại vì cái trí tuệ là trí tuệ đưa ra khỏi khổ. Trước nay ta bị khổ ta không biết đương đi ra, ta đi lòng vòng, vây hãm trong đó. Bây giờ ta biết cách đi ra khỏi ma trận đó, thì vui không? Hoan hỉ, hạnh phúc không? Đó gọi là trí tuệ hoan hỉ.

Một người tu hiểu pháp, có được cái trí cứ dào dào, buồn buồn, nửa tin nửa ngờ, nửa lập lờ, lửng lờ. Đó gọi là trí tuệ do dự, bất quyết, thì trí tuệ đó chưa là trí tuệ hoan hỉ. Nó chưa có vững chắc, chưa có vững mạnh, chưa có tịnh tính bất động với trí tuệ hoan hỉ đó. Và thêm cái trí tuệ tốc hành nữa, 2 cái trí tuệ này rất là đặc biệt. Hồi xưa chúng ta mà nghe xe tốc hành, là chúng ta biết rồi đó, là đi rất nhanh. Bây giờ tuệ tốc hành, có tuệ tốc hành chưa? Cho nên người có trí tuệ đó, thì người này nhìn sắc là vô thường, là khổ, là vô ngã, ung nhọt, là bệnh hoạn, là bất hạnh, là hố than hừng, là mũi tên, là rắn độc, là kẻ giết người, nhưng mà người này vui lắm.

Nó đặc biệt như vậy đó, có cảm nhận được cái này đôi phần chưa? Tại vì sao, tại vì mình có cái tâm nhàm chán, thoát ra, mình không có muốn đi vô. Hồi xưa mình không biết, mình tưởng đâu đó là mộng mơ, rồi mình lờ mờ, cuối cùng mình mớ trong đó. Mà bây giờ mình biết nó là cái thứ nguy hiểm, tai họa, bất hạnh, đau khổ, ung nhọt, mũi tên, rắn độc, kẻ giết người, đồ phá hoại. Mình biết như vậy mà mình vui cười, mỉm cười. Vì sao? “Vì ta biết được ngươi rồi nha không, ngươi không còn gạt ta được nữa nghe không”. Ta biết được ngươi rồi, biết được sự thật rồi, thì ta mỉm cười ta đi ra. Quý vị thấy không, một người trong cái nhà lửa mà người đó vọt được ra ngoài, chạy ra và nhìn trở lại, thì người này hoan hỉ không ạ?

“Ôi mừng quá, vui quá, hạnh phúc quá, mình được chạy ra rồi”. Còn có những người ở trong đó, đau đớn là họ bị thiêu đốt, đốt cháy, sụp đổ giàn giáo đồ xuống, cột kèo ngã xuống. Vậy mà họ không biết là họ đang nguy hiểm, thì cái này mới rất đáng thương. Chúng ta nhớ Đức Thế Tôn trong kinh “Giáo Giới La-hầu-la đó: “Ngày đêm tinh tấn, hoan hỉ tu tập đối với các thiện pháp”. Thầy Huệ dẫn chúng tu liền liền đến 8, 9 tiếng mà mặt tươi rói, hoan hỉ không? Có không? Đó là trí tuệ hoan hỉ. Tu ngày, tu đêm, tu mà có khi là nhớ hồi xưa, có những lúc trước là làm một lèo tới 5 tiếng đồng hồ luôn mà, có vậy đó. Mà tu xong mặt người nào người nấy tươi tỉnh, khỏe, hoan hỉ, phơi phới.

Cái này cũng hàng hiếm đó, có thấy hàng hiếm không? Đó là trí tuệ hoan hỉ, nhớ cái trí tuệ này, làm cho mình hân hoan, phấn khởi, hoan hỉ, thích thú, vui sướng, hạnh phúc. Mặt nước mắt chảy nhưng mà hạnh phúc lắm, càng nghe khổ chừng nào lại càng vui chừng đó. Đó mới là tuyệt diệu chớ, đó mới là thánh trí tuệ chứ. Càng thấm thía sự nhàm chán nhiều chừng nào, cho nên trong bài Hỷ Vô Lượng Tâm lúc con mới đọc con nói: “Ủa sao bài kỳ vậy? Vui vì ta biết chán. Ngộ nha, nào giờ mình nghe bao giờ nghe”. Thánh trí tuyệt diệu

“Vui vì ta biết chán

Chán nỗi khổ luân hồi

Vui vì ta biết ngán

Ngán thân bất tịnh này

Vui vì ta biết sợ

Dòng sống chết khổ đau”

Vui vì ta biết sự ưu tư, để đi ra khỏi những ác và bất thiện pháp. Cái vui này là cái vui của bất thánh, của bậc hiền trí, hiền thiện. Nói: “Ủa chết mà sao vui?” Đây mới độc, mới vi diệu đó chứ. Càng chán thì càng vui, càng ngán thì càng hạnh phúc, càng lìa lại càng hân hoan. Đó là hỷ vô lượng tâm, chúng ta là trí tuệ hoan hỉ. Chúng ta có trí tuệ tốc hành nữa, cái này mới ấn tượng nè. Trí tuệ tốc hành nó mau lắm, thấy giận cái là đi ra liền ngay lặp tức, một cái “rẹt” là đi ra liền à. Trí tuệ tốc hành nó mới vừa khởi lên cái thọ cho nhãn xúc, nhĩ xúc sanh gì đó là tan biến đi. Giống như có phép vậy đó, chỉ cái tay một cái là tan thành mây khói hết trơn, đó là trí tuệ tốc hành.

Tan nỗi không? Khởi bản ngã lên cái là kêu: “Diệt đi, diệt tận đi”, là nó sạch sành sanh liền, đó là trí tuệ tốc hành đó. Vừa khởi tâm hơn thua lên: “Đồ ngu, đi chỗ khác chơi cho bà tu, bà già bà gần chết rồi”, rồi nó chạy mất dép, đó là trí tuệ tốc hành. Còn nó khởi lên mà mình ôm ấp, mình chấp nhận nó thì là liệt tuệ. Nói tiếng Việt cho mình dễ hiểu, chữ Hán thì chữ “liệt” là hạ liệt, kém hèn. Bây giờ mình nói liệt tuệ là trí tuệ bại liệt, tại vì bị liệt là mình ra lệnh nó không nghe. Bây giờ muốn hùng liệt hay muốn bại liệt? Trí tuệ tốc hành, nhanh, mau, lẹ, là có khả năng nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận ngay lặp tức. Thí dụ mới vừa nghe cái câu nói đó, là khó chịu khởi lên, là mình diệt ngay lặp tức liền luôn.

Dập nó liền, đánh nó liền, trảm nó liền, đuổi nó ra khỏi thân tâm mình ngay lặp tức. Có sức mạnh vậy gọi là trí tuệ tốc hành, ai ở đây có trí tuệ đó? Không ai giơ tay hết trơn. Lâu lâu có không? Lâu lâu thôi có không? Phải có chớ, luyện thêm lên. Phải có trí tuệ tốc hành, giống như xe tốc hành vậy đó. Nhanh nhanh, nhanh chống, nhanh mau, nhanh lẹ, để thoát ra khỏi các cái tâm cấu nhiễm, lậu hoặc, si mê, vô minh, hơn thua, tham dục, bản ngã, chứ không phải xà quần trong đó. Bậc đạo sư nói chúng ta nhận diện ngũ uẩn, để thoát ra, chứ không phải chết ở trong đó, luẩn quẩn ở trong đó. Mà thoát ra 1 cách mau lẹ, đó là trí tuệ tốc hành. Cho nên phía sau này thành tựu giải thoát, đó là đi ra khỏi được những thứ đó.

“Ở đây, này Mahànàma, có người thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật. “Ðây là là bậc Ứng Cúng, ... Phật, Thế Tôn”... đối với Pháp... đối với chúng Tăng... có trí tuệ hoan hỷ, có trí tuệ tốc hành nhưng không thành tựu giải thoát. Vị ấy do đoạn diệt năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh, tại đấy nhập Niết-bàn, không còn trở lui thế giới này nữa. Người này, này Mahànàma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.”

Thành ra chữ “giải thoát” phía trên là thoát ra khỏi các lậu hoặc 1 cách hoàn toàn. Còn xuống dưới này là bắt đầu hạ thấp xuống, có trí tuệ hoan hỉ, có trí tuệ tốc hành, nhưng không thành tựu giải thoát. Thì vị này do đoạn diệt 5 hạ phần kiết sử, mới học ngày hôm qua xong. Đoạn diệt được 5 hạ phàn kiết sử là gì ạ? Thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục tham, sân. Thì đoạn 5 hạ phần kiết sử này thì đi đâu? Đạt tới thánh quả thứ mấy? Thánh quả thứ 3, bất lai thánh quả, lên các cõi trời của thánh quả bất lai. Bây giờ tiếp theo:

“Ở đây, này Mahànàma, có người thành tựu lòng tịnh tin đối với đức Phật: “Ðây là bậc Ứng Cúng... Phật, Thế Tôn”... đối với Pháp... đối với chúng Tăng... không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát. Vị ấy sau khi đoạn diệt ba kiết sử, sau khi làm cho muội lược tham, sân, thành bậc Nhất lai, chỉ trở lui đời này một lần nữa, đoạn tận khổ đau. Người này, này Mahànàma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.”

Tức là vị này là thánh quả thứ mấy đây? Nhất lai, là 1 lần trở lại, là vị thành thành tựu lòng tịnh tính, chứ không có nói chữ bất động. Tịnh tính đối với Phật, đối với pháp, đối với chúng Tăng. Vị ấy sau khi đoạn diệt 3 kiết sử là gì ạ? Thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ. Đoạn tận 3 cái này làm cho muội lược tham sân, làm cho tham sân nó nhẹ, nó bại liệt, nó mỏng. Bậc đạo sư dùng từ “bại liệt” cái tâm sân, cái tâm tham, bán thân bất toại, ngồi dậy không nỗi nữa.

“Ở đây, này Mahànàma, có người thành tựu lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật... đối với Pháp... đối với chúng Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát. Vị ấy sau khi đoạn diệt ba kiết sử, là bậc Dự lưu không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ. Người này, này Mahànàma, được giải thoát khỏi địa ngục, được giải thoát khỏi loài bàng sanh, được giải thoát khỏi ngạ quỷ, được giải thoát khỏi ác sanh, ác thú, đọa xứ.”

Trong người có thấy dâng dâng lên chưa? Có không? Càng về xuống dưới thì càng thấy mình có phần.

“Ở đây, này Mahànàma, có người không có lòng tịnh tín bất động đối với đức Phật... đối với Pháp... đối với Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát. Nhưng vị ấy có những pháp này: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn và những pháp này do Như Lai tuyên bố được thiểu phần kham nhẫn quán sát với trí tuệ. Người này, này Mahànàma, không đi đến địa ngục, không đi đến loài bàng sanh, không đi đến cõi ngạ quỷ, không đi đến ác sanh, ác thú, đọa xứ.”

Có sự cố gắng, có sự nhớ để mà tu, có tập trung tâm vào cái pháp hành của mình. Tức là Đức Phật đang nói về ngũ căn, đang nói về tính, tấn, niệm, định, huệ, thì người này tuy chưa tịnh tính bất động, chưa có thành tựu những trí tuệ thâm sâu. Nhưng mà người này có 1 sự chịu khó để nghe, để học, để chiêm nghiệm, quán sát bằng những trí tuệ về những cái pháp này. Thì người này không đi đến địa ngục, không đi đến loài bàng sanh, không đi đến cõi ngạ quỷ, không đi đến ác sanh, ác thú, đọa xứ. Vui chưa?

“Ở đây, này Mahànàma, có người không thành tựu tịnh tín bất động đối với đức Phật, đối với pháp, đối với chúng Tăng, không có trí tuệ hoan hỷ, không có trí tuệ tốc hành, không thành tựu giải thoát. Nhưng vị ấy có những pháp này: Tín căn, tấn căn, niệm căn, định căn, tuệ căn, chỉ có lòng tin, chỉ có lòng ái mộ ở Như Lai. Người này, này Mahànama, không có đi đến địa ngục, không có đi đến loài bàng sanh, không có đi đến cõi ngạ quỷ, không có đi đến cõi dữ, ác thú, đọa xứ.”

Hạ thấp xuống nữa, ở trên là được 1 ít phần kham nhẫn, chịu khó quán sát với trí tuệ ở trong 5 căn. Ở trên là tuệ, là cái này là tín, chỉ có lòng tin, chỉ có lòng ái mộ với Như Lai. Mà tu tập 5 căn này, thì người này không đi đến địa ngục, không đi đến loài bàng sanh, không đi đến cõi ngạ quỷ, không đi đến ác sanh, ác thú, đọa xứ. Thấy có phần chưa? Khó khó hoài hả, thấy giải mã được cái khó chưa? Chỉ có lòng tin, chỉ có lòng ái mộ với Như Lai. Tức là người này tin vào ngũ căn, tin vào tính, tấn, niệm, định, tuệ. Như vậy không đọa vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

“Nếu những cây ta-la lớn này, này Mahànàma, biết những gì là thiện thuyết, ác thuyết, thời Ta cũng sẽ tuyên bố những cây ấy là những bậc Dự lưu, không còn bị thối đọa, quyết chắc chứng quả giác ngộ, huống nữa là họ Thích Sarakàni. Này Mahàanàma, họ Thích Sarakàni, sau khi mệnh chung, đã chấp nhận học giới”. Chúng ta thấy không? Dù cho những cây tre, cây trúc này nè mà biết những lời về pháp. Thì cũng tuyên bố những cây ấy là bậc dự lưu, không còn thoái đọa, quyết chắc tiến thẳng tới chánh giác, huống chi là thích tử Sarakani sau khi mạng chung đã chấp nhận học giới.

Chúng ta mới thấy chỗ này có hoan hỉ không? Phấn khởi không? Lòng tin có mạnh lên chưa? Tịnh tính bất động chưa? Mạnh lên không? Than thở hoài. Đừng nhìn vào cái hướng đó nhiều, dù biết là nó có chứ không phải không, nhưng mà mình phải tác ý làm. Chứ mình cứ nghĩ khó, nghĩ khó hoài thì làm sao mình thành công. Mình tác ý mạnh vào lòng tin, con đem hết lòng tin tưởng Như Lai, chắc chắn Thế Tôn không bỏ con. Con đem hết lòng tin tưởng về vô thường, tin tưởng về khổ đau. Con đem hết lòng hạ gục cái bản ngã này, thì chắc chắn con sẽ thành công 100%. Chứ giờ chứ ngồi nghĩ, giờ biết bản ngã này khó không biết chừng nào phá.

Sao mà học vô thường, mà khi nhìn vào vô thường cứ than thở hoài. Đổi tên Thích Giác Ngộ trở thành Thích Thở Than, Thích Than Thở. Chúng ta thấy không? Từ chỗ mà thấp cùng ở dưới là hướng dự lưu, lên tới trên dự lưu rồi nhất lai, bất lai, rồi A-la-hán quả. Cái này Thế Tôn nói ngược từ A-la-hán, dài dài xuống tới hướng dự lưu thôi. Còn người phàm phu họ không biết, họ nhìn vô những chi tiết nhỏ, mà họ không thấy cái đại thể, của người có được lòng tin đối với pháp mà tha thiết cầu học. Chúng ta nhớ bài kinh “Nắm Muối” chưa ạ? Đó là chúng ta giải mã được nè. Cái ông đó nó có phạm chút xíu, chút đỉnh, nhưng mà cái đó nó không có đáng với cái lớn của ông tu.

Lòng tin, sự tu tập của người bà con của Đức Phật này. Cho nên mình hay nhìn mình bắt người ta không à, bắt người ta không có sót cái nào hết trơn á. Mình là mình không có bắt mình, thành ra mình phải nhìn thấy cái hay, cái tốt, cái đẹp của những người xung quanh. Những hạnh hiền đức cao đẹp, hạnh hy sinh, hạnh tu tập của các hiền trí, hiền giả, đồng phạm hạnh. Mình ở đây tu không được thì đừng mong ở đâu tu được, nhất trí không? Con đọc lại 2 cái sau nha, Đức Thế Tôn nói 2 cái mà luyện thi đại học. Người chịu khó suy tư, chiêm nghiệm, quán sát về 5 căn chứ chưa có thành tựu, thành tựu là tịnh tính bất động, cái này là chưa có thành tựu.

Tức là ở đây mình nói chính xác là chưa có tịnh tính bất động, chứ không phải hoàn toàn là chưa. Tức là cũng tin vậy, nhưng có khi nó chập chờn, 6-4, 7-3. Một hồi thì lòng tin cũng mạnh lắm, dâng cao lên, xong rồi ra gặp chuyện này chuyện kia thì giảm giảm xuống 1 chút. Thí dụ như vậy, ba hồi lên, bốn hồi xuống như thủy triều vậy đó. Ba hồi nước ròng, ba hồi nước lớn vậy đó, là chưa thành tựu tịnh tính bất động. Nhưng mà vị này được một ít phần quán sát, trí tuệ về năm căn. Vị tiếp theo thì ở đây chưa có tịnh tính bất động, không có trí tuệ hoan hỉ, không có trí tuệ tốc hành, không có thành tựu giải thoát. Nhưng vị ấy có những pháp tín, tấn, niệm, định, tuệ, căn, chỉ có lòng tin, chỉ có lòng ái mộ đối với Như Lai.

Chúng ta thấy Đức Phật nói cái này, thì mình phải hiểu là cái hạt nó ra cái mầm, nó lên cây giống rồi. Mà nếu gặp đất phì nhiêu, tốt, đầy đủ ánh sáng, nước, không khí này kia tốt thì chắc chắn cây này nó được tăng trưởng, phát triển, thì ở đây là vậy đó. Nói đi thì mình phải nói lại, nói như vầy để mình có một niềm tin, sức mạnh, động lực, vui vẻ mình tiến lên. Không phải nói vậy cái nghĩ: “Con tin như vậy là được rồi”, thì cái này nguy hiểm à. Thấy rõ vấn đề này không? Phải thấy rõ vấn đề. Để mình tin lên, để mình mạnh mẽ lên, để mình vững bước, vững tiến, tiến lên, để mình hướng thượng lên. Chứ không phải là nói vậy để cho mình ỷ y, rồi mình không có nỗ lực.

IV. Hạt giống và thửa ruộng

Cho nên học là phải học nhiều là như vậy đó, ở bài kinh khác Đức Phật nói: “Ta không có hoan hỉ khi người đứng lại đối với thiện pháp”. Dừng lại, đứng lại, dậm chân tại chỗ, phải tiến lên, tiến lên và tiến lên. Có một bài kinh khác cũng giống như vậy, mà Đức Phật có ví dụ.

“Ví như, này Mahànàma, có đám ruộng xấu, đám đất xấu, các gốc cây chưa được phá hủy, các hột giống bị bể nát, bị hư thối, bị gió nắng làm cho hư hại, không thể nẩy mầm, không khéo cấy trồng, và trời không mưa lớn thích hợp; thời các hột giống ấy có thể lớn, tăng trưởng, lớn mạnh không?

-Thưa không, bạch Thế Tôn.

- Cũng vậy, này Mahànàma, ở đây, pháp giảng kém, trình bày kém, không đưa đến xuất ly, không đưa đến an tịnh, không được một vị Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng. Ta nói rằng pháp này như ở đám ruộng xấu. Vị đệ tử ấy sống trong pháp ấy, thực hiện pháp và tùy pháp, chơn chánh thực hành, hành trì đúng pháp. Như vậy, Ta nói rằng, người này giống như hột giống xấu.

Ví như, này Mahànàma, một đám ruộng tốt, đất tốt, các gốc khéo phá hủy, các hột giống không bị bể nát, không bị hư thối, gió nắng không làm hư hại, có thể nẩy mầm, khéo cấy, khéo trồng và trời mưa lớn thích hợp. Như vậy, các hột giống ấy có lớn lên, có tăng trưởng, có lớn mạnh không?

-Thưa có, bạch Thế Tôn.

-Cũng vậy, này Mahànàma, ở đây, pháp được khéo giảng, khéo trình bày, đưa đến xuất ly, đưa đến an tịnh, được bậc Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng, Ta nói pháp này như đám ruộng tốt. Vị đệ tử sống trong pháp ấy, thực hành theo pháp và tùy pháp, chơn chánh thực hành, hành trì đúng pháp. Như vậy, Ta nói rằng người này như hột giống tốt, huống nữa là họ Thích Sarakàni. Này Mahànàma, họ Thích Sarakàni, khi mạng chung, đã làm viên mãn học giới.”

(Tương Ưng Bộ kinh V – trích kinh Sarakàni hay Saranàri 2)

Như vậy Đức Phật đã cho một ví dụ rất là tuyệt vời, đã đám ruộng xấu, mãnh đất xấu rồi, còn hạt giống bị bể nát, hư thúi. Bị gió nắng làm cho hư hại nữa, không thể nảy mầm. Giống như pháp giảng kém, trình bày kém, không đưa đến xuất ly, không đưa đến an tịnh, không được 1 bậc chánh đẳng giác thuyết giảng. Mình học một cái pháp không phải là chánh pháp, mà còn gặp 1 căn cơ trì độn nữa thì thôi rồi rồi. Thì làm sao mà nó nảy mầm? Mà nẩy mầm không có thì làm sao có cây, cây không có thì làm sao có hoa, có quả. Cái này gặp bậc chánh đẳng giác, pháp được khéo thuyết giảng, khéo trình bày, đưa đến xuất ly, được đến an tịnh, khéo trình bày, được bậc chánh đẳng giác thuyết giảng.

Thì mảnh ruộng vừa tốt, mà hạt giống này không bị hư nữa. Ta nói người này như hạt giống tốt mà mảnh ruộng phì nhiêu nữa, thì sao? Thì nếu mà làm ruộng là trĩu cành nặng hạt, đúng mùa vụ. Còn nếu làm rẫy thì ra hoa kết trái, thành tựu. Vậy mình được bậc chánh đẳng giác khéo thuyết giảng, khéo hành trì, rồi đưa đến xuất ly, đưa đến an tịnh. Mừng không? Vậy là chỗ này hết sức quan trọng, Đức Phật nhấn mạnh 2 thành tố. Một là quan trọng nhất là cái pháp người đó học, là có đúng chánh pháp hay không. Rồi kế đó là con người đó có 1 cái tâm tha thiết, chân thành tu hành, hướng thượng, hai cái đó đủ duyên với nhau thì nó thành tựu. Bây giờ chỗ này Đức Phật nói: “Pháp giảng kém, trình bày kém, không đưa đến xuất ly, không đưa đến an tịnh”.

Chúng ta thấy cái này rõ không ạ? Hồi trước khi mình chưa đi vào dòng nikaya, mình nghe biết bao nhiêu, học biết bao nhiêu, đi tìm thầy biết bao nhiêu, không đưa đến xuất ly, nói tiếng Việt là không có lối thoát. Không biết tham ở đâu, sân ở đâu, si nằm chỗ nào, bản ngã ra làm sao. Chúng ta thấy không? Không biết bản ngã, không thấy tham, sân, si. Mà không biết ngũ uẩn thì làm sao biết những cái này, bị vì những cái này nằm trong ngũ uẩn mà, không có lối thoát. Bởi vậy nhiều khi lúc con học ở Vĩnh Nghiêm đó, học xong 8 năm cao đẳng Phật học. Trong đó cơ bản 4 năm, cao đẳng chuyên khoa nội minh 4 năm. Mà lúc đó con thì hay đi ra thiền viện, hay đi ra chỗ này chỗ kia hành pháp.

Cho nên tới ngày tốt nghiệp, thì mấy thầy, huynh đệ, bạn học chạy lại: “Minh Thành, Minh Thành, giờ tu sao Minh Thành. Giờ học 8 năm rồi tu làm sao?” Nghe câu này, thật sự cái lòng mình nó đau nhói. Mà lúc đó mình cũng đã đi các nơi để tìm học, cũng biết chút chút về pháp hành, thì mình cũng chỉ chút chút vậy thôi. Tới bây giờ mình suy nghĩ lại, mình mới thấy rằng mình thật sự để được pháp được khéo giảng, khéo trình bày, đưa đến xuất ly, đưa đến an tịnh, được bậc Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng, là thiên nan, vạn nan trong thời kỳ này. Mà mình được, mình được cái thiên nan, vạn nan đó. Còn những bước phía sau, bước nhanh, bước lẹ, bước mau chạy khỏi chốn này. Mình có lối thoát rồi, mà không chịu chạy, để cho nó cháy, thì chết ráng chịu.

Rõ ràng là có “exit (lối thoát)” để mình đi ra mà, mà mình không chịu chạy. Thấy lối thoát rõ chưa? Có chỗ nào không rõ, không biết đường chạy ra không? Quá rõ ràng rồi. Rành rành, rõ rõ, minh minh, bạch bạch, tận tận, tường tường, trong trong, sáng sáng, thanh thanh, tịnh tịnh, quang quang, minh minh. Sáng nào cũng ra thức dậy: “Chạy con, chạy lẹ con, chạy mau”. Sáng nào thức dậy cũng chạy, trưa chạy, chiều chạy, tối chạy. Thầy Huệ lên đánh trống, Ni sư lên thổi kèn: “Chạy mau, chạy lẹ, chạy nhanh. Thoát nhanh, thoát lẹ, thoát mau chốn này”. Chúng ta thấy không? Rồi cầm cờ phất nữa. Thành ra chỗ này: “Ở đây, pháp giảng kém, trình bày kém, không đưa đến xuất ly, không đưa đến an tịnh, không được một vị Chánh Ðẳng Giác thuyết giảng”.

Chúng ta thấy không? Bây giờ mạnh ai nấy nói, mạnh ai nấy đưa ra pháp hành. Vài bữa chế ra cái này, vài bữa chế ra pháp kia, đặng muốn làm tổ. Không đưa đến xuất ly, làm sao đi ra khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Chúng ta học chúng ta thấy khủng khiếp không? Làm sao có khả năng đi ra khỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức?

“Tâm đã trầm luân bao nhiêu kiếp

Chỉ vì yêu thích thịt, xương, da

Như một bao rác đầy hôi thối

Lại vỗ vào bao, nói “ta”, “tôi”

Thân trống rỗng không ai trong đó

Tâm vào đây làm ổ chi tâm

Tâm vào đây làm tổ làm gì

Thân trống rỗng dễ tan vỡ lắm”

Những câu thánh ngữ này là trời long đất lở, càng khôn rung chuyển, chấp thủ bị phá vỡ. Đó là thánh ngữ của bậc thánh nhân, là xuất ly đạo lỗ. “Mọi hiện hữu đều nằm trong đau khổ, phàm cái gì được cảm thọ đều nằm trong đau khổ”. Tất cả mọi sự hiện hữu trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức này đều là tai họa, bất hạnh, ung nhọt, rắn độc, hố than hừng, mũi tên, kẻ giết người. Trống rỗng, trống không, trống trơn, là tuyệt không, là chẳng có gì cả. Tâm phải thoát ra, thoát ra, giải thoát ra. Đó là pháp được khéo giảng, khéo trình bày, đưa đến xuất ly. Quý vị thấy chưa? Mấy câu, mấy chữ của Đức Thế Tôn, bậc đạo sư thôi đã làm rực sáng được xuất ly đạo lộ.

Mà từ sự xuất ly đó, thì đưa đến sự an tịnh, lắng dịu xuống hết mọi sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Đây là tịch tịnh, đây là vắng lắng, đây là nhiệm mầu, vi diệu, tức là sự dừng lại của tất cả hành. Sự dừng lại, sự ngừng lại, sự tịch lặng của tất cả mọi sự vận hành của sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Mọi sự vận hành của tham, sân, si, dục ái, vô minh, bản ngã. Đó là chỗ tịch tịnh, đó là chỗ vắng lặng, nhiệm mầu, vi diệu, tức là sự an chỉ tất cả sự an tịnh, lắng dịu, đình chỉ, tịnh chỉ, dừng lại hết tất cả nhưng tham, sân, si, dục ái này. Những khác khao, thèm khát, đói khát, khát ái này. Đây là sự tịch tịnh, vi diệu, nhiệm mầu, tối tôn, tối thượng, tối thắng, tối cao, vô thượng.

Là sự xả ly tất cả sanh y, ái diệt, vô tham chấm dứt, Niết-bàn, đó là cảnh giới của bất tử. Hãy tập trung tâm ý vào cảnh giới của bất tử. Hãy thường niệm Niết-bàn, hãy an trú vào Niết-bàn. An trú vào cái tâm tịch lặng, không có tham, sân, si, dục ái, bản ngã. Trong 1 cái tâm hoàn toàn lắng dịu, không thấy sắc, thọ, tưởng, hành, thức nào là tôi, là của tôi hết. Tâm bình an, tâm tịch tĩnh, tâm xả ly, tâm lìa xa ngũ uẩn, tâm thoát ra. Thoát ra sự chấp thủ, nắm giữ đối với thân xác, đời sống, thế giới này. Tâm hoàn toàn thoát ra bất cứ lúc nào, bất cứ ở đâu, bất cứ tình huống nào. Tâm này sẵn sàng thoát ra sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Tâm hoàn toàn hướng đến sự từ bỏ, đây là sự tịch tĩnh, vắng lặng, nhiệm mầu, vi diệu.

Sự an chỉ tất cả các hành, sự buông bỏ tất cả chỗ dựa của tái sanh. Để chấm dứt mọi tham ái, vô tham, tịch tĩnh, vắng lặng của Niết-bàn. Niết-bàn đệ nhất lạc, chúng ta cùng nhau nói: “Niết-bàn vui bậc nhất” 5 lần. Chúng ta có thưởng thức được không? Nãy giờ con cho quý vị thưởng thức đó là sự an tịnh, sự tịch tĩnh, sự vi diệu. Hãy cho ngấm vào tim này, thấm đẫm vào tâm này, tận hưởng những giây phút tối thượng, trong kiếp nhân sinh, dòng luân hồi này. Chúng ta chia sẻ hạnh phúc của mình đi. Thỉnh thầy Thiện Huệ.

V. Trình pháp

Thầy Thiện Huệ:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Dạ thân ung nhọt 9 lỗ con xin kính đảnh lễ sư phụ.

Kính bạch chư tôn đức Tăng Ni, cùng các bậc hiền trí.

Thật sự ngay giờ phút này, cảm thọ trong con rất là dâng trào. Khi mà sư phụ vừa giảng xong, sư phụ cho ngồi im lặng trong vòng vài phút. Con cũng nếm được hương vị của sự tịch tĩnh, đối với thân tâm của mình. Tuy là không có nhiều, nhưng trong sự tu học của con cũng có những niềm vui, niềm hỷ lạc. Trong 1 ngày nó có rất là nhiều trạng thái đó, nhưng mà không có được lâu, thỉnh thoảng nó có. Con cảm nhận được điều sư phụ vừa nói ở trong con có, con rất là tri ơn trên sư phụ bài giảng sáng nay. Đây là một bài kinh mà làm động lực, tạo nên một sự mạnh trong sự tu học rất là lớn.

Đối với người xuất gia cũng như là cư sĩ tại gia. Vì nếu không được nghe những lời này, thì cái tâm của mình nó rất là dễ. Thứ nhất là rất thụ động, thứ 2 là chán nản, thứ 3 là rơi vào trạng thái nghi ngờ: “Không biết mình tu có được kết quả như thế nào?” Hoặc là sanh là cảm thọ thụ động, không có được hân hoan, hoan hỉ, thích thú, phấn khởi trong pháp. Qua bài pháp sư phụ giảng, con nhìn lại thân tâm của con. Con thấy nó rất nhiều những cảm thọ vừa phấn khởi, hoan hỉ, thích thú khi được nghe những lời giảng như vậy. Bên cạnh đó con nhìn lại cũng có chút gì đó xấu hổ, tàm quý. Khi mình nhìn lại, đối chiếu lại những lời Đức Phật dạy.

Đức Phật đưa ra rất là trình tự, từng bước từng bước, từng sự tu tập để đạt đến các vị thánh quả như vậy cho ngài Mahanama. Bên cạnh đó con nhìn thấy được mình, con thấy rất là tự tin và hãnh diện, khi mình đang tu học trên con đường chánh pháp này, bởi vì có 1 đạo lộ rất là rõ ràng. Khi đó ý hành của con khởi lên: “Bây giờ mình tu học dòng pháp này, giờ mình chỉ có đi lên thôi, không được đi lùi lại nữa, muốn trở lại rất là khó”. Hoặc những lúc cái tâm mình nó mệt mỏi, thì mình chỉ dừng lại nghỉ một chút, rồi mình sẽ hướng thượng, đi lên đi lên tiếp. Cái pháp nó đẩy mình hướng về phía trước, chứ mình không có thể nào mà lùi lại được nữa.

Đó là một điều con thấy rất là vui, khi được nghe và thực hành những lời dạy trong kinh nikaya Đức Phật giảng dạy. Bên cạnh đó con cảm nhận được một đạo lộ, một lộ trình tu tập con rất có niềm tin. Tại vì tất cả những lời sư phụ truyền đạt rất là rõ ràng, để cho mình thực hành và tu tập. Bây giờ chỉ cần mình nỗ lực, phấn đấu trong lời dạy từ sư phụ, từ bậc đạo sư và Thế Tôn truyền lại. Mình cứ tinh tấn mà tu học mình sẽ có được kết quả, như những lời Thế Tôn vừa giảng dạy cho ngài Mahanama.

Bởi vì mỗi ngày sư phụ đều giảng dạy cho chúng con thấy khổ, những bài thiền quán để phá thân kiến. Mỗi ngày chúng con nghe pháp, đặt lòng tin đối với Tam Bảo. Thì con rất có lòng tin, là một ngày nào đó mình sẽ thành tựu được những gì sư phụ đã giảng dạy. Lúc đó ý hành khởi lên là mình phải đặt hướng cao nhất, là A-la-hán. Sau đó mình cứ tu, mình đề phòng khi lúc nào đó tâm mình giãy đãi như thế nào đó, thì ít nhất, tối thiểu nhất cũng đạt được dự lưu. Lúc đó ý hành con rất là mạnh, nó khởi lên, nó nói rằng thật sự vào dự lưu không khó. Tại vì cả 1 đạo lộ, cả 1 thiền quán như vậy để phá thân kiến có rồi hết.

Bây giờ mình chỉ cần nỗ lực, kham nhẫn thiền quán. Tới ngày mình nhắm mắt ra đi, ít nhất tối thiểu mình cũng sẽ đạt được điều mình mong muốn trong tu học. Đó là lòng tin và sự sát quyết của con trong quá trình tu học. Qua bài kinh sư phụ vừa giảng, con nghĩ đây là 1 lời nhắc nhở, cũng là 1 tiếng chuông. Để cho tất cả những hành giả tu học, có một lòng tin vững vàng, đừng để tâm của mình thoái lui, dao động. Bởi vì đây là 1 cơ hội hiếm có, khó gặp. Khi mình gặp được 1 đạo lộ, lộ trình xuất ly như vậy, mình phải nắm bắt thời cơ để mà tu học. Con thưa sư phụ, lúc con khởi lên những ý hành như vậy. Lúc đó con nhìn lại trong cảm thọ của con, thỉnh thoảng nó cũng có gợn gợn lên những ý hành muốn chống đối lại.

Nó nói: “Từ từ thôi, làm gì mạnh mẽ dữ vậy?” Lúc đó con đọc được trong người con, lâu lâu có những ý hành đó nổi lên. Giống như nó ngăn cản sự công phu của con vậy đó. Cho nên tiện con cũng trình lên sư phụ, cùng đại chúng, soi sáng, chỉ dạy thêm cho con. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Phải thẳng tay trừng trị những ý hành đó. Phải chém đầu nó, băm nó ra làm trăm mảnh: “Tao ngũ mã phân thây mầy”. Diệt tận những ý hành ngấm ngầm đó, bậc đạo sư nói những ý hành đó nó ác độc còn hơn bản ngã, hơn dục nữa. Vì những ý hành đó nó chặng đứng con đường tiến, con đường hướng thượng của mình. Những ý hành đó mình phải chỉ vô mặt nó, mình nói: “Mày là ác ma, mày không cho ta tu tiến”. Truy sát, diệt tận một cách hoàn toàn, đánh đuổi nó cho đến khi không còn sanh khởi trong tương lai. Những ý hành đó rất dễ diệt, không có khó. Nhưng mà độ nguy hiểm của nó còn hơn dục ái, tham, sân, si, bản ngã nữa. Ý hành đó là ác ma, phải diệt tận nó, không cho nó còn sanh khởi trong tương lai nữa.

“Ngươi muốn ta tiếp tục mãi trong dòng luân hồi sanh tử phải không? Ngươi muốn ta tiếp tục những dòng nước mắt tận cùng thương đau phải không? Ngươi muốn ta mãi mãi chìm đắm trong phàm phu, vô minh, dục, tham, ái này phải không? Ngươi là rắn độc, sát nhân, thứ ác quỷ, ngươi hãy tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta”. Diệt tận nó 1 cách hoàn toàn, không còn bất cứ mầm mống nào hết. Không cho sanh khởi trở lại trong tương lai. “Ngươi kêu ta nhỡn nhơ, thong thả, buông lung phải không? Ngươi kêu ta ở lại với ngươi trong cái nhà lửa, trong bóng đen trường dạ này phải không? Ngươi đừng có nằm mơ, ta đã nhìn thấy bộ mặt của ngươi rồi. Ngươi hãy diệt tận đi, tan biến hoàn toàn khỏi tâm ta đi.

Vĩnh viễn, từ đây không bao giờ ta muốn thấy mặt của người lần nào nữa hết. Hôm nay ta khai tử ngươi khỏi tâm ta, người phải chết 1 cách hoàn toàn, không bao giờ còn sanh khởi trở lại được nữa”. Sư cô Nguyên Tố có muốn chia sẻ không ạ?

Sư cô Nguyên Tố:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con kính bạch trên sư phụ, kính thưa sư trên chư tôn thiền đức Tăng Ni cùng toàn thể đại chúng hiền trí. Ngũ uẩn con xin được chia sẻ cảm thọ của mình, trong bài giảng pháp sư phụ sáng hôm nay. Thật sự ra trong mấy ngày hôm nay, con đnag chiêm nghiệm bài kinh Trung Bộ sư phụ đã giảng dạy. Song song đó con an trú trong lòng từ của sư phụ, trong bài giảng pháp hôm qua. Sáng hôm nay được sư phụ sách tấn cho chúng con về lòng tin, cũng như đưa chúng con vào tịnh tính bất động đối với Phật, Pháp, Tăng. Trong con cảm thấy rất là hoan hỉ, hạnh phúc, cũng sư có sự suy tư rất là nhiều. Có khởi lên 1 sự biết ơn trên sư phụ, sư phụ đã rất là khéo léo quán sát trong đại chúng này.

Với những vị cho dù có khởi lên tâm ý là khó tu, sư phụ đã suy nghĩ cho chúng con vào lòng tin, đưa chúng con vào các bài kinh. Con thấy hết sức là ấm lòng, cũng như sư phụ chỉ dạy chúng con rằng là: “Nếu như có gặp những vị hiền trí, những vị không hiểu về Phật pháp, thì đầu tiên cần phải hỏi pháp của các vị ấy”. Con thấy rất là xúc động, cũng như bài kinh sư phụ đã giảng dạy, khi sư phụ nói: “Vị Thích tử Mahama hỏi Đức Phật là chúng con nên an trú vào những pháp nào? Thì Đức Phật đã dẫn dắt chúng con, là hãy nhập cuộc vào lòng tịnh tính bất động đối với Phật. Có lòng tịnh tính, có sự tinh tấn, có sự trú vào niệm chứ đừng thất niệm. Có sự định tĩnh, có trí tuệ về khổ hoặc có trí tuệ về sanh diệt của 5 uẩn”.

Con cảm thấy sư phụ rất là khéo léo ở đây, đó chính là khi sự phụ nói với chúng con rằng sự tu tập này đâu có khó. Nghĩa là khi chúng con có sự nhập cuộc, có niềm tin vào trong những pháp tu tập. Thì thật sự sự tu tập này không khó, chỉ là chúng có cần phải cố gắng rất là nhiều, để tâm mình nhiều. Nếu như chúng con có niềm tin vào 5 căn, 5 lực, hoặc có niềm tin đối với Đức Phật, đối với chánh pháp, đối với chúng Tăng. Chỉ cần chúng con có niềm tin thật sự sâu sắc, thì những khó khăn khởi lên chỉ là những ý hành được sanh khởi. Và nó sẽ được đoạn diệt nếu chúng con có sự tác ý. Tiếp tục sau đó sư phụ dẫn dắt chúng con vào những điều, mà trong lời Đức Phật dạy vào tâm từ của Đức Phật.

Đó chính là đưa chúng con có niềm tin từ trên quả vị cao nhất, là quả vị A-la-hán, cho đến quả vị thấp nhất là hướng dự lưu. Nghĩa là cho chúng con hiểu rõ từng cái, để chúng con hiểu rằng chỉ cần chúng con có niềm tin, có sự cố gắng, thì chúng con có thể tiến tu trong sự học pháp này. Nghĩa là chúng con có sự hoan hỉ, trí tuệ hoan hỉ và trí tuệ tốc hành. Nếu chúng con không có điều đó, thì đối với 5 căn chúng con khởi lên 1 chút kham nhẫn. Thì chúng con cũng có thể thoát ra khỏi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Hoặc chúng con chỉ cần có lòng thương tưởng đối với Đức Thế Tôn, thì chúng con cũng có thể thoát ra cảnh đọa sứ, địa ngục. Sư phụ đã dẫn dắt rất là khéo léo, để cho chúng con có niềm tin, có sự tinh tấn tu học tiến lên.

Song song đó sư phụ còn tiếp tục nhắc nhở rằng, Đức Thế Tôn không muốn chúng ta dừng chân lại đối với các thiện pháp, mà phải tiếp tục tiến lên. Ngài cho chúng ta biết được những điều đó, để chúng ta có 1 sự tinh tấn, quyết tâm, quyết chí tu học. Chứ không phải làm cho chúng ta có 1 sự thỏa mãn, rồi dậm chân tại chỗ. Cho nên sư phụ vừa giảng dạy, lại vừa nhắc nhở chúng con về vấn đề này, làm cho con rất là xúc động. Cũng như con có khởi lên 1 sự hoan hỉ, là sư phụ có 1 sự nhìn nhận rất là khéo léo, để đưa chúng con vào sự tu tập này. Tiếp đến sư phụ đưa ra những ví dụ về hạt giống. Cho chúng con thấy được rằng, với 1 người không biết được chánh pháp mà lên giảng dạy, mà có một người đệ tử nhiệt tâm tu học.

Thì đó là sự khổ nạn, một sự đau lòng, một sự tu tập không đúng hướng dành cho vị đệ tử đó. Còn với chúng con trong giờ phút này, được tu tập trong dòng pháp này, được sư phụ hướng dẫn, dẫn dắt từ lời dạy trên Đức Phật. Không phải từ sự tu tập tự thân, mà trên lời giảng của Đức Phật. Sư phụ đã có sự tu tập, và giảng dạy lại cho chúng con, để chúng con thực hành. Con cảm thấy khởi lên trong tâm con 1 sự hết sức xúc động, con xúc động hôm qua tới bây giờ. Là khi mà sư phụ đã nhắc đến bậc đạo sư. Lúc đó con ở trong cảm giác chính là con nhìn nhận lại, ở trong quá trình mà sư phụ đã tu học hơn 30 năm. Con khởi lên cảm giác đó chính là trong 30 năm lăn lộn, đi tìm chánh pháp của sư phụ.

Khi mà sư phụ gặp được bậc đạo sư, và học được pháp của ngài. Với niềm tin của sư phụ, thì con nghĩ rằng dòng pháp này chắc chắn có một điều gì đó hết sức là tốt đẹp, cao thượng. Để một vị là giáo thọ sư, mà sẵn sàng quỳ mộp xuống, đánh gục bản ngã của mình đối với 1 vị cư sĩ. Con nhìn lại từ lúc đó, con thấy được sự trân quý, trân trọng chánh pháp mà ngài đã được học. Khi nói về bậc đạo sư, thì sư phụ nói với 1 sự rất cung kính. Con nhìn lại tự thân của mình, con nhớ hoài lời sư phụ nói, khi sư phụ còn ở đây, và các vị được sư phụ hướng dẫn tu học, các vị không có 1 sự trân trọng, thật sự đó là 1 sự tiếc thay.

Sư phụ gặp bậc đạo sư chỉ có 4, 5 năm, sư phụ ước rằng nếu như gặp bậc đạo sư 30 năm trước. Thì sự thành tựu của sư phụ chắc chắn là rất tốt đẹp. Con nhìn lại chỗ đó, con khởi lên 1 sự an ủi trong lòng rằng là mình vẫn còn thầy này. Minh vẫn còn vị thầy nhắc nhở cho mình, trong sự tu tập này. Cho nên con biết rằng bậc đạo sư ra đi, cũng là một sự mất mác đối với sư phụ. Con nhìn lại, con không muốn mình trở thành như vậy. Con nhìn lại 1 lần về sự tu tập, xuất gia mười mấy năm từ khi con vào chùa. Ít có người dạy cho con rằng: “Đây là khổ”. Không cóc người nào dạy cho con rằng: “Thân xác này là vô thường”. Con chưa bao giờ được nghe những lời nói đó, con chưa bao giờ thấy thọ, tưởng, hành là ung nhọt, bất tịnh, khổ đau.

Con chưa bao giờ từng được nghe điều đó. Bây giờ con được tu tập theo dòng thánh pháp này, được người thầy chỉ dạy cho con đường lối đắn. Một vị thầy mà chưa bao giờ từng nói với con rằng là: “Hãy tin tưởng nơi thầy”. Mà vị ấy nói với con rằng là hãy tin tưởng, đặt niềm tin đối với Đức Phật, đối với chánh pháp, đối với chúng Tăng và đối với bậc đạo sư. Khi con nghe được điều đó, lòng tôn kính của con đối với vị thầy dẫn đường cho mình càng ngày càng rất là nhiều. Vì con biết rằng chỉ có người thầy nói với mình sự thật, thì mới giúp cho mình thoát khỏi ra dòng luân hồi sanh tử.

Con cảm thấy con rất hạnh phúc, con cảm thấy mình phải cực kỳ trân trọng đối với tất cả những khoảnh khắc khi con được gần thầy. Ngay khi con được gặp sư phụ, khi con học được pháp của sư phụ. Con nói ở đây không phải là để làm cho sư phụ trở nên vui vẻ gì cả, mà con nói ở đây bằng tất cả những tấm lòng của con. Được học pháp, được hành pháp ở trên sư phụ, con cảm thấy rất là thỏa mãn trong con đường tu tập này. Một lần nữa con xin thành kính tri ân trên sư phụ ngày hôm nay, đã dẫn dắt chúng con vào trong lòng tin. Mặc dù lòng tin của chúng con, chưa có thể được gọi là tịnh tính bất động. Nhưng lòng tin này chưa phải, nhưng chắc chắn sẽ được.

Chúng con sẽ cố gắng thật nhiều, thực hành pháp, tác ý tu tập để diệt trừ bản ngã, những tâm cống cao ngã mạn. Để một ngày nào đó chúng con sẽ đi trên con đường, mà bậc đạo sư đã hướng dẫn cho chúng con. Con xin thành kính tri ân trên sư phụ, trên chư tôn thiền đức Tăng Ni, cùng toàn đệ đại chúng hiền trí. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Cô Ấn Hạnh có muốn chia sẻ không?

Sư cô Ấn Hạnh:

“Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật

Con xin cung kính đảnh lễ trên bậc ân sư tôn kính

Con xin được cung kính đảnh lễ trên chư tôn thiền đức Tăng Ni, cùng tất cả các bậc hiền trí. Sáng nay khi con được lắng nghe những bài kinh, mà bậc aansuw chia sẻ. Thì trong con dâng trào một cảm thọ là biết ơn vô hạn. Nhưng bài kinh mà bậc ân sư chia sẻ, thì con nhận ra được giá trị trong quá trình tu tập. Và nhắc nhở con rằng việc mà khi chúng con gặp được các vị thành tựu chánh, cũng như những bậc hướng dẫn đạo cho chúng con. Thì việc thưa hỏi pháp là cực kỳ quan trọng, đóng 1 vai trò quyết định trên quá trình tu học cho chúng con. Nói đến đây, thì cái cảm thọ xúc động trong con thật là dâng trào.

Con thật sự rất là biết ơn và trân quý, khi con được về với Linh Quy tu học. Có 1 bậc hướng dẫn đạo cho chúng con đạt thành tựu, và 1 hội chúng thật là tinh ba. Từng giây phút con được sống trong 1 hội chúng như vậy mỗi ngày, con cảm nhận được phước báo của chúng con thật là vô lượng. Khi chúng con nhận được phước báo này, chúng con càng phải biết trân quý, nắm bắt cơ hội thật là cô giá trong dòng luân hồi sanh tử này. Cái mà chúng con chấn động, chính là khi chúng con thành tựu được lòng tin, lòng tịnh tính bất động đối với Đức Phật, chánh pháp và chúng Tăng. Đó là điều mà sẽ giúp cho chúng con dù trong bất kỳ hoàn cảnh nào, thì tâm chúng con sẽ có được1 lòng tin thật là vững chắc, kiên cố, sẽ không thể nào lay động.

Cũng như bậc ân sư đã nói, là đối với chúng con dù chúng con có chết ngàn đời, thật là vô giá với chúng con. Dù có chết ngàn đời cũng không là gì, đối với sự thành tựu lòng tin bất động đối Tam Bảo. Điều con nhận ra được đó chính là sự thành tựu về tính, tấn, niệm, định, tuệ. Nó không phải nằm ở trên con chữ, mà chúng con được thọ nhận trong từng phút từng giây, khi chúng con được học pháp. Nó đưa vào cảm thọ của chúng con, chính vì chúng con cảm thọ được, thì chúng con mới có thể thực hành được những lời dạy nguyên chất của Đức Thế Tôn. Và điều con thấy xúc động nữa, chính là những tiến trình trong bài kinh đã dẫn ra trong chúng con. làm cho chúng con có thể cảm nhận được, là pháp như trong lòng bàn tay.

Những bài kinh ấy chỉ rõ từng bước, từng tiến trình tu tập. Chỉ cần chúng con chú tâm mình, vững chắc niềm tin. Thì thực hành đến đâu thì niềm hỷ lạc, vị ngọt trong hương vị chánh pháp, là chúng con hoàn toàn có thể nếm được. Con thấy giá trị vô giá, khi con tiếp nhận được những lời dạy nguyên chất trong bản kinh nikaya. Thật là khó có thể diễn đạt bằng ngôn ngữ, mà chỉ những ai thực hành mới cảm nhận được. Từng giai đoạn mà chúng con thực hành được, là từng giai đoạn mà chúng con cảm nhận được sự hoan hỉ trong tâm. Một lòng tin bất động, mà khó có thể lay chuyển. Sự hạnh phúc đang dâng trào trong con, sự biết ơn của con nó lớn đến đâu, thì nó làm cho sức mạnh trong tâm của con càng vững chắc.

Để con có được 1 lòng tin bất động, là chỉ cần chúng con thực hành và thực hành. Chúng con sẽ có được những hương vị bất tử, mà Đức Thế Tôn muốn truyền trao cho tất cả chúng sanh. Khi chúng con chạm được vào chánh pháp tối thượng, con thật sự biết ơn bậc ân sư. Trong suốt thời gian qua đối với con, là sự vô giá trong dòng luân hồi này. Càng ngày con càng thấy rằng niềm tin của con, khi đến với Linh Quy Pháp Ấn thật là có giá trị, thật là thiêng liêng đối với tất cả chúng con. Những ai được tiếp nhận dòng giáo pháp nguyên chất này. Điều đó răn nhắc tâm con phải tinh tấn nhiều hơn. Luôn luôn an trú, đặt tâm mình, đặt hết sanh mạng của mình vào trong thực hành pháp.

Chỉ có như thế, chúng con mới có thể đền được ân đức thâm sâu, vỹ đại của Tam Bảo. Chúng con hứa với Đức Thế Tôn, chúng con hứa với bậc đạo sư tôn kính, chúng con hứa với bậc ân sư tôn kính. Chúng con là còn 1 hơi thở, chúng con sẽ trân quý hơi thở này để thực hành chánh pháp, lời dạy của Đức Thế Tôn. Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”

Con nguyện thành tựu lòng tịnh tính bất động đối với Đức Phật.

Con nguyện thành tựu lòng tịnh tính bất động đối với chánh pháp.

Con nguyện thành tựu lòng tịnh tính bất động đối với thánh chúng.

Con nguyện thành tựu trí tuệ hoan hỉ trong sự tu tập.

Thành tựu trí tuệ tốc hành trong sự hành pháp.

Con nguyện kham nhẫn, quán chiếu ngũ căn, ngũ lực, thành tựu giải thoát.

Quyết chắc chánh giác, chắc chắn đạt giác ngộ.