Thánh Trí Năm Uẩn 6 - Nhận Diện Chánh Tà
THÁNH TRÍ NĂM UẨN 6
NHẬN DIỆN CHÁNH TÀ
ĐĐ. Thích Minh Thành giảng
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
A-di-đà Phật. Kính bạch thầy cùng đại chúng, con xin đọc bài "Sáu pháp cần tu tập để thắng tri tham", kinh "Tham", Tăng Chi Bộ, tập 3, trang 273.
Để thắng tri tham, này các Tỳ-kheo, sáu pháp cần phải tu tập. Thế nào là sáu?
Thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, học pháp vô thượng, phục vụ vô thượng, tùy niệm vô thượng.
Để thắng tri tham, này các Tỳ-kheo, sáu pháp cần phải tu tập.
Kinh "Tham" số 2, Tăng Chi Bộ, tập 3, trang 273.
Để thắng tri tham, này các Tỳ-kheo, sáu pháp cần phải tu tập. Thế nào là sáu?
Tưởng vô thường, tưởng khổ trong vô thường, tưởng vô ngã trong khổ, tưởng đoạn tận, tưởng ly tham, tưởng đoạn diệt.
Để thắng tri tham, này các Tỳ-kheo, sáu pháp này cần phải tu tập.
Kinh "Trên tất cả", Tăng Chi Bộ, tập 3, trang 74.
Này các Tỳ-kheo, có sáu pháp vô thượng này. Thế nào là sáu?
Thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, học tập vô thượng, phục vụ vô thượng, tùy niệm vô thượng. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là thấy vô thượng?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người đi xem voi báu, đi xem ngựa báu, đi xem châu báu, hay đi xem các vật lớn nhỏ, hay đi xem Sa-môn, hay Bà-la-môn có tà kiến, có tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây có phải là thấy không? Ta nói rằng: Đây là không thấy”. Sự thấy ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai đi yết kiến Thế Tôn hay đệ tử Thế Tôn, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỳ-kheo, đây là thấy vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi yết kiến Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là thấy vô thượng, đây là thấy vô thượng. Còn nghe vô thượng là gì?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người đi nghe tiếng trống, đi nghe tiếng sáo, đi nghe tiếng ca, hay đi nghe tiếng cao thấp khác nhau, hay đi nghe pháp các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây có phải là nghe không? Ta nói rằng: “Đây là không nghe”. Sự nghe ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai đi để nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín thời này, các Tỳ-kheo, đây là sự nghe vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là nghe vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng. Còn lợi đắc vô thượng là gì?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người được con, được vợ, được tài sản, được các vật cao thấp khác nhau, được lòng tin vào các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây có lợi đắc hay không? Ta nói rằng: “Đây là không lợi đắc”. Lợi đắc ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai được lòng tin vào Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín thời này các Tỳ-kheo, đây là đắc lợi vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là được lòng tin vào Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là đắc lợi vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng, đắc lợi vô thượng. Còn học tập vô thượng là thế nào?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người học tập về voi, học tập về ngựa, học tập về xe, học tập về cung pháp, học tập về kiếm pháp, học tập về các nghề cao thấp sai biệt hay học tập theo các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây là có học tập hay không? Ta nói rằng: “Đây là không học tập”. Học tập ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai học tập tăng thượng giới, học tập tăng thượng định, học tập tăng thượng tuệ trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, này các Tỳ-kheo, đây là học tập vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là học tập tăng thượng giới, học tập tăng thượng định, học tập tăng thượng tuệ trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, với lòng tin được an trú, với lòng ái mộ được an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là học tập vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, học tập vô thượng. Còn phục vụ vô thượng là như thế nào?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người phục vụ Sát-đế-lỵ, phục vụ Bà-la-môn, phục vụ Gia chủ, phục vụ các người cao thấp sai biệt hay phục vụ Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây là có phục vụ hay không? Ta nói rằng: “Đây là không phục vụ”. Phục vụ ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai phục vụ Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, này các Tỳ-kheo, đây là phục vụ vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là phục vụ Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là phục vụ vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, học tập vô thượng, phục vụ vô thượng. Và thế nào là tùy niệm vô thượng?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người tùy niệm được con, tùy niệm được vợ, tùy niệm được tài sản, tùy niệm được cao thấp sai biệt hay phục vụ Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây là có tùy niệm hay không? Ta nói rằng: “Đây là không tùy niệm”. Tùy niệm ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai tùy niệm Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, này các Tỳ-kheo, đây là phục vụ vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là tùy niệm Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tùy niệm vô thượng.
Này các Tỳ-kheo, có sáu tùy niệm này:
Ai được thấy tối thắng,
Và được nghe vô thượng,
Được lợi đắc vô thượng,
Vui học tập vô thượng,
An trú trong phục vụ,
Tu tập chuyên tùy niệm,
Liên hệ đến viễn ly,
Đạt an ổn, bất tử,
Hoan hỷ, không phóng dật,
Thận trọng, hộ trì giới,
Khi thời đã chín muồi
Đau khổ được đoạn tận.
Xin mời các huynh đệ phát biểu mình hiểu như thế nào về bài kinh này.
A-di-đà Phật. Bạch thầy, theo con hiểu trong bài kinh này xuất hiện hai phạm trù đối lập. Một là Như Lai và đệ tử của Như Lai. Hai là Sa-môn, Bà-la-môn, tà kiến và tà hạnh. Tức là những người nào đến để thấy, để nghe, để học hỏi, để tin tưởng, để phục vụ Như Lai và đệ tử của Như Lai sẽ được lợi lạc và an vui, còn những ai đến để thấy, để nghe, để học hỏi, để tin tưởng vào những Sa-môn, Bà-la-môn, tà kiến và tà hạnh thì sẽ bị nhiều phiền não. Hôm nay thực sự chúng con cũng muốn nghe thế nào là Như Lai và đệ tử của Như Lai, Như Lai và đệ tử của Như Lai tuyên thuyết cái gì, giảng dạy cái gì. Sa-môn, Bà-la-môn, tà kiến và tà hạnh thì tuyên thuyết cái gì và giảng dạy cái gì. Đầu tiên chúng ta thấy Đức Phật đưa ra hai phạm trù này để chúng ta học hỏi, vậy thì làm sao để chúng ta phân biệt được thế nào là Như Lai và đệ tử của Như Lai, thế nào là pháp Như Lai và đệ tử của Như Lai tuyên thuyết, còn không thì chúng ta sẽ bị vướng vào tà kiến và tà hạnh. Hôm trước có một người tài xế có vợ và một đứa con đã nói với con là ăn chạy được mười năm và cũng tu niệm Phật, người đó nói cuộc đời này là khổ, sinh con đẻ cái chỉ làm vướng thêm vòng luân hồi đau khổ. Theo cách anh tài xế nói chuyện thì anh này thấy đời khổ quá nên không muốn sống ở cõi này nữa mà chỉ muốn đến cực lạc xa xôi, không có thực tế. Anh này nói duy nhất trên thế giới này chỉ có cõi của Đức Phật A-di-đà là có tịnh độ, con mới nói anh như vậy là chưa hiểu hết giáo lý của Đức Phật nhưng anh này cố chấp nói con đi theo thầy đó con học như vầy, con nghe như vầy còn thầy nói là chuyện của thầy, còn con tin như vậy và làm như vầy. Hôm nay con gặp được bài kinh này thật sự con thấy rất ưu tư, như vậy không phải chỉ ở thời Đức Phật mà thời này vẫn còn những người tuyên thuyết những điều sai lầm. Vậy con xin thầy cho tụi con hiểu rõ hai vấn đề: Thế nào là Như Lai và đệ tử của Như Lai, Như Lai và đệ tử của Như Lai tuyên thuyết cái gì, thế nào là Sa-môn, Bà-la-môn, tà kiến, tà hạnh và Sa-môn, Bà-la-môn, tà kiến và tà hạnh họ tuyên thuyết những gì. Con xin hết.
Vừa rồi Minh Thành có ra Nha Trang để chia sẻ pháp cho sáu, bảy ngôi chùa. Có những đạo tràng mấy trăm Phật tử, treo giải thưởng rồi Minh Thành nói Đức Phật nói chỉ có hai điều, ai nói đúng thì có thưởng. Mới nói xong thì có một huynh nói là "Khổ và Diệt khổ", thật sự thì mình nói có nhiều mức độ chứ không phải nói như vậy là thấu hiểu. Nếu mình thấu hiểu là từ hướng Dự lưu cho đến A-la-hán, sẵn hôm nay có nhiều vấn đề mình cần chia sẻ, ví dụ như bốn đôi tám vị là như thế nào. Xin thưa với quý huynh đệ, không phải nói chung chung mà phải nói có sách mách có chứng, câu đó nằm trong kinh nào, cái này quan trọng. Xưa và nay điều mà Đức Như Lai luôn tuyên thuyết là khổ và sự diệt khổ, thứ hai là làm thế nào để mình biết vị đó là hướng Dự lưu hay Nhập lưu, tất cả điều có chuẩn mực, và chính tự thân người đó tu thì người đó cũng biết mình đang ở vị trí nào chứ không có nói chung chung như mình bây giờ.
Trong lớp mình đã học hai năm, mấu chốt nằm ở đâu để mình biết rằng khổ và khổ diệt? Mấu chốt nằm chỗ nào để mình phân biệt được những người còn là phàm phu hay hướng Dự lưu, Minh Thành chỉ mới nói hướng Dự lưu thôi. Đây là điều cực kì quan trọng, nếu các huynh đệ nắm được cái này thì đã nắm được cốt tủy của toàn bộ pháp tạng, nếu không thì mình rất mông lung, không biết bến bờ chỗ nào, mình cũng không phân biệt được đâu là bậc chân nhân, đâu là bậc hướng Dự lưu, đâu là bậc Nhập lưu, mình có tu suốt đời mình cũng không biết mình đang ở vị trí nào vì mình đâu có biết cái chuẩn mực nó như thế nào.
Trọng tâm của toàn bộ tạng kinh Nikāya cũng là cốt lõi của tất cả giáo pháp là phải nhìn thấy được năm uẩn. Nếu mình không thấy được năm uẩn thì coi như mình còn ở ngoài cửa chùa, còn ở ngoài giáo pháp, còn ở ngoài trí tuệ. Tại vì năm uẩn chính là thân tâm của chính mình, khi mình nhận thấy được năm uẩn thì mình mới phá được thân kiến, cái thấy sai lầm, cái kiến chấp về thân. Chứ còn nói khổ nhưng cái gì khổ? Khổ vì cái gì? Sắc là khổ. Đây là tóm thâu hết. Mình nói khổ là căn cứ vào cái gì mới khổ? Thứ nhất là mình không nhìn thấy được sắc uẩn và mình đã nhận lầm sắc pháp này, sắc chất này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, trong khi cái này là vô thường, là khổ, là vô ngã. Sắc là biến hoại, là hoại diệt. Bây giờ mình nhận cái vô thường, cái bất tịnh, cái tan biến làm tôi, làm của tôi, làm tự ngã của tôi thì làm sao mình hết khổ. Cho nên trong Tương Ưng Bộ kinh Đức Phật đã tuyên bố ai ưa thích sắc là người đó ưa thích khổ, ai ưa thích khổ thì người đó không thể giải thoát khỏi khổ đau, đó là tiếng gầm của sư tử, là thánh trí của bậc Chánh Đẳng Giác, đó là chân lý trong ngàn vạn tỷ kiếp không bao giờ thay đổi, từ đêm thành Chánh Giác ở nơi cội Bồ Đề cho đến khi nhập Niết-bàn tại Sala song thọ thì những gì Ta tuyên thuyết không thể đổi khác. Câu này trong "Đại bác Niết-bàn" của Trường Bộ kinh, đừng nhầm lẫm với "Đại bác Niết-bàn" trong bộ khác.
Vì mình không thấy sắc pháp này là sắc mà mình nhận sắc này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi cho nên cái này mình học từ đây cho tới ngày ra trường cũng không thể hết được, Minh Thành mở rộng cho quý huynh đệ thấy, mình đi từ cái dễ cho đến cái khó, cái vi tế. Chiếc xe của mình yêu quý, đem cho người ta mượn rồi bị tai nạn, hư xe thì lúc đó mình có khổ không? Ưa thích sắc là người đó ưa thích khổ, vì sắc là vô thường. Mình ưa thích cô gái nhưng cô này là vô thường, sắc của cô đó vô thường, cảm giác, nghĩ tưởng của cô này là vô thường cho nên được vài ngày là cô này đổi tính đi thương người khác, vậy thì có khổ không? Ưa thích sắc là người đó ưa thích khổ, mà ưa thích khổ thì làm sao người đó giải thoát khỏi khổ. Đây là định luật hết sức thâm sâu mà Đức Phật chứng ngộ, ngoài cái này ra không còn cái nào khác, đây là chân lý vĩnh hằng bất diệt. Bây giờ người ta cúng dường tiền, mình để dành từng tờ tiền để mua cái gì đó, đến ngày cuối cùng lấy tiền đi mua mới phát hiện tiền mất thì cảm giác gì sanh khởi? Quý huynh đệ nhìn tất cả những cái đó là sắc pháp, là sắc uẩn. Này các Tỳ-kheo nếu các ông không xả ly lòng dục, không xả ly lòng tham, không xả ly lòng luyến ái đối với các sắc pháp vô thường này thì các ông sẽ sầu bi khổ ưu não. Này các Tỳ-kheo cái gì vô thường, các ông cần phải xả ly lòng dục. Cái gì khổ, các ông cần phải xả ly lòng ái. Cái gì vô ngã, các ông cần phải xả ly lòng tham, lòng chấp. Xả ly như vậy sẽ đem đến an lạc, giải thoát cho các ông. Này các Tỳ-kheo sắc không phải là ông, không phải là của ông, không phải là tự ngã của các ông, cái gì không phải của các ông, các ông hãy từ bỏ. Các ông từ bỏ sẽ đi đến chỗ an lạc và giải thoát.
Này các Tỳ kheo, các ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
Là vô thường, bạch Thế tôn.
Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
Là khổ, bạch Thế tôn.
Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái nầy là của tôi, cái nầy là tôi, cái nầy là tự ngã của tôi?"
Thưa không, bạch Thế tôn.
Thọ, tưởng, các hành, thức là thường hay vô thường?
Là vô thường, bạch Thế tôn.
Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
Là khổ, bạch Thế tôn.
Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái nầy là của tôi, cái nầy là tôi, cái nầy là tự ngã của tôi?"
Thưa không, bạch Thế tôn.
Này các Tỳ-kheo, bậc đa văn thánh đệ tử thấy vậy, tức là thấy được ngũ uẩn là khổ, vô ngã, biến hoại như vậy thì vị này yểm ly, nhàm chán, ly tham, từ bỏ, đoạn diệt, vị ấy giải thoát đối với năm uẩn, trong trí khởi lên "Ta đã giải thoát, sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa"(Tương Ưng Bộ Kinh,Quyển 3, Phẩm Tham Luyến, VII, trang 125 129), trạng thái này tức là trạng thái sầu bi khổ ưu não, tham dục đối với ngũ uẩn, vị ấy trở thành vị A-la-hán nữa, đây là định lý của giải thoát.
Cho nên tất cả nền tảng đều nằm ở năm uẩn, nếu mình không nhận ra năm uẩn là mình chỉ lòng vòng ở ngoài cửa chùa, không thể vào trí tuệ của bậc thánh. Thành ra tu không phải là nói đúng sai mà phải có cái chuẩn chứ không phải nói đúng sai là không có ai đúng không có ai sai. Bây giờ mình còn tham với cái sắc nhưng mình tham cái thiện, thích cái thiện, muốn làm cái thiện thì mình sanh ra sắc đẹp, sắc thiện. Nếu mình tham cái sắc cộng thêm tham cái ác, tham cái tội lỗi thì sanh ra cái sắc tàn tạ, tồi tệ, chính là những con dòi, côn trùng, gián, chuột… những thứ hết sức khổ, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Điều đầu tiên hết sức quan trọng là chữ "nhận diện" không phải đơn giản như mình nói mình học rồi mình biết đây là sắc, vậy là xong. Ở trong nhận thức của mình phải thấy rõ, quán rõ, chiêm nghiệm, tư sát liên tục cho đến khi nào mình tẩy não của mình cho đến khi mình suy nghĩ về thân mình thì mình biết đây là sắc uẩn chứ không phải đây là tôi, đây là của tôi. Cái đó mới gọi là nhận diện năm uẩn bằng trí huệ, đó gọi là tuệ tri, đó gọi là biết bằng trí tuệ, mà không phải là trí tuệ của mình mà là trí tuệ của bậc thánh, còn gọi là thánh tri kiến, thánh thể nhập. Thánh tri kiến là cái thấy biết là của Như Lai, Thế Tôn, ngọn đèn của Phật là sáng tỏa rồi, mình đem ngọn đèn của mình mồi vào ngọn đèn của Phật thì mình cũng được sáng lên giống vậy, đó gọi là thể nhập cái tri kiến của bậc thánh.
Bây giờ tại sao mình khổ? Vì mình thấy cái sắc này là của mình, là tự ngã của mình, ai chạm vào ôi cha ơi! Trời đất ơi! Phừng phực lên, đâm chém nhau, tàn sát lẫn nhau vì không biết rõ sắc là vô thường, là khổ, là vô ngã, là trống rỗng. Và tất cả những cái mình làm thì mình đừng tưởng là hay ho, mà tất cả những cái đó đều nằm trong sắc uẩn, mà sắc này là tan nát, là vô thường. Vậy mà mình không biết rồi mình đặt thành công của mình trên bãi cát sa mạc, cả cuộc đời mình là chạy theo sắc pháp và mình lấy sắc pháp làm thành công là vô minh, là còn mù ở trong giáo pháp của Như Lai, người đó chưa có mở mắt, pháp nhãn chưa thanh tịnh, huệ nhãn chưa mở, trí nhãn chưa sanh, không phải là bậc minh kiến, không phải là bậc có mắt trong giáo pháp của Như Lai. Có mắt là mở được con mắt trí năm uẩn, và luôn luôn tác ý liên tục, ví dụ mình mất mát một cái gì thì "đây chỉ là sắc uẩn vô thường", mình phải tác ý liên tục như vậy thì từ từ mình mới có thể ly tham đối với sắc pháp. Một người hướng đến sự lìa tham muốn đối với năm uẩn thì này bậc đó gọi là hướng Dự lưu. Mới một chữ sắc thôi mà mình bị dính đầy mình thì đừng nói gì đến cảm thọ sâu xa.
Đâu phải đơn giản là mình nói lên tụng kinh ngày hai thời là giải quyết được sắc này, muốn trị được cái tham đối với sắc này thì Đức Phật dùng Thân Hành Niệm, là sáu phương diện mới trị được cái tham đối với sắc, sáu khía cạnh để quán chiếu thân trên thân, trong Tứ Niệm Xứ là niệm thân trên thân. Mình phải niệm hơi thở; niệm oai nghi; niệm hành động; niệm tứ đại; niệm ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn của một tử thi. Sáu cái này mới đủ sức đánh phá cái tham sắc. Quý huynh đệ có thấy nó rõ ràng từng cái, phải học cho bài bản, có trình tự, đây là những định lý của bậc thánh, mình nói mình muốn tu kiểu nào là mình tu thì mình tu theo kiểu của mình rồi mình thành theo kiểu mình. Nếu một người không quán tứ đại, không quán ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn của một tử thi thì người này không bao giờ có thể ly tham đối với sắc uẩn, vĩnh viễn không ly tham được với sắc uẩn. Đây là con đường của bậc Chánh Đẳng Giác đã đi, Ngài đã tuyên thuyết điều này sau chín ngày chứng ngộ dưới cội Bồ Đề. Quý huynh đệ nghĩ thử mình ở trong chùa mười năm, hai chục năm thì mình ngồi quán bất tịnh được bao nhiêu lần? Mô Phật! Chính vì vậy cho nên để thành tựu cái trí về sắc là mình không có, cho nên Minh Thành mời các huynh đệ lên trang linhquyphapan.vn để nghe bài "Thánh trí về năm uẩn" mà Minh Thành hay gọi là tiểu tạng Nikāya, tất cả những gì về năm uẩn trong tạng kinh Nikāya đều nằm trong đây hết.
Về thọ uẩn thì mình phải tu như thế nào? Hết sức là thâm sâu cái cảm giác này, nó giết mình chết. Mình cho cái cảm giác đó là mình, là của mình, là tự ngã của mình cho nên mình chết. Ví dụ người ta nói tu càng lâu thì bản ngã càng cao? Tại sao tu càng lâu thì cái tôi càng lớn? Hết sức cẩn thận điều này. Khi mình làm được điều này điều kia thì trong cảm giác của mình hài lòng, thích thú, mình đã thọ một cái chấp ngã. Vì cái ngã bên trong không nhìn thấy năm uẩn cho nên nó sẽ nhận cảm giác đó là tôi, là của tôi và như vậy là tôi có cảm giác tôi làm được rất nhiều chuyện thì cái cảm thọ này tích tụ, tăng trưởng, bành chướng quảng đại. Lúc mình chưa đi tu, lúc mới tập sự thì người ta kêu bằng "thằng" là rất bình thường, còn bây giờ kêu "thằng" là ôi cha ôi! Bây giờ chữ "thầy" hay chữ "thằng" thì cũng chỉ là chữ thôi nhưng mà mình bị dính mắc, mình không quay lại để kiểm soát bản ngã, quán chiếu những cảm giác, nhiếp phục tham sân si, mà cái tu của mình là hướng ra ngoài để làm cái này cái kia, là bằng cấp, là danh xưng, là trụ trì, là giảng sư, thiền sư… cuối cùng cả một cuộc đời là hướng ngoại để đi tìm sắc pháp. Chết! Chết dài dài! Cho nên tu suốt đời mà không hướng Dự lưu, vì bậc hướng Dự lưu là tuy vẫn còn trong năm uẩn nhưng đang hướng ra khỏi năm uẩn, còn những kẻ phàm phu là say mê, yêu thích sống chết với năm uẩn khốn khổ và hoạn nạn này.
Năm uẩn này còn hai phần, một là năm dục trưởng dưỡng. Năm dục trưởng dưỡng này khát với mình. Mình nói tài; sắc; danh; thực; thụy là ngũ dục thì cái này không sâu bằng từ trong kinh Nikāya. Thế nào là năm dục trưởng dưỡng? Chính là sắc; thanh; hương; vị; xúc. Đó là những sắc đẹp, những âm thanh, những mùi vị, và những sự tiếp xúc, đụng chạm. Cái xúc này nhiều loại chứ không phải chỉ có sự tiếp xúc nam nữ, xúc này còn là sự tiếp xúc của con mắt, lỗ tai tiếp xúc. Năm cái này là năm thứ nuôi lớn lòng dục của chúng sanh cho nên gọi là năm dục trưởng dưỡng. Chúng sanh bị năm thứ này trói buộc là không nhúc nhích được như cá vào lưới, đừng nói năm cái này mà chỉ cần một cái sắc pháp thôi là dính chặt rồi. Nếu mình không cẩn thận với năm cái tên bên ngoài và năm cái tên bên trong, mình học sáu căn; sáu thọ; sáu xúc; sáu ái; sáu trần, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ, nếu mình có thời gian học là sáu chục pháp hoạt động kinh khiếp mà mình không biết gì hết. Cho nên mình chết ở trong cửa của tử thần, mình không nhìn thấy pháp, mà duyên sanh pháp không phải đơn giản như mình nghĩ, không phải chỉ là "có con mắt, có lỗ tai, có âm thanh….", cái này chỉ là nói đơn giản thôi. Do duyên có mắt, có các sắc cho nên khởi ra sự rõ biết các sắc, ba pháp này hội tụ, giao thoa, tiếp xúc tạo thành sự tiếp xúc của con mắt, khi con mắt tiếp xúc sanh ra cảm giác. Khi sanh ra cảm giác như vậy là mình ưa thích, đã ưa thích là muốn nắm giữ, đó là căn – trần – thức – xúc – thọ – ái – thủ, mà ngày nào nó cũng hoạt động liên tục mà mình không thấy, không biết, đợi đến khi mở thập nhị nhân duyên ra mà giải hoài không xong, trong khi sáng trưa chiều tối, thậm chí ngủ cũng có ý xúc. Giấc chiêm bao thôi mà nhiều khi mình cũng mệt mỏi chứ không phải dễ. Cho nên phải hết sức kiểm soát cảm thọ, làm sao để mình nhận diện được cảm thọ này không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải là tự ngã của tôi. Ví dụ mình được ăn, hay là được khen mà mình thấy khoái, thích thú thì mình biết đây có một cảm giác dễ chịu sanh khởi nhưng cảm giác này do duyên sanh.
Từ đâu có cảm giác? Từ đâu có ra những hình bóng trong tâm? Từ đâu có suy nghĩ, ý hành? Đây là những định lý quý huynh đệ phải học thuộc, mà học thuộc rồi thì nói chuyện với những nhà tâm lý học phải cuối đầu. Đây là quy trình vận hành của tâm pháp, chỉ có bậc Như Lai Chánh Đẳng Giác mới nói chuẩn xác, Phật giải thích luôn tại sao có suy nghĩ, có mấy loại suy nghĩ và có cách chấm dứt suy nghĩ. Quý huynh đệ có bao giờ nghe đến chưa? Mình không học là rất uổng, phải học thuộc lòng bảy trí về sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Quý huynh đệ thử suy nghĩ mình có suy nghĩ được cái mình chưa từng tiếp xúc không? Nào giờ mình chưa từng nghe, chưa từng thấy, chưa từng biết gì về nó thì có suy nghĩ được không? Cho nên xúc mới sanh ra hành, có tiếp xúc mới có suy nghĩ, có tiếp xúc mới sanh ra cảm giác, có tiếp xúc mới sanh ra những hình bóng trong tâm thì mình mới tưởng được. Nhận diện về cảm thọ là hết sức quan trọng, cảm giác đó mà mình không nhìn ra là mình chết với nó, một khi nó sanh khởi lên là phải nhìn thấy. Ví dụ bình thường mình đang giảng pháp hay đang tụng kinh mà điện thoại reo lên "Thầy ơi! Con nhớ thầy", cái này nguy hiểm quá, một giọng ngọt ngào êm ái vang lên trong tai mình thì dòng cảm thọ sanh khởi lên là xúc sanh thọ. Do có lỗ tai, có âm thanh của tiếng trong điện thoại và có sự rõ biết âm thanh, ba pháp này giao thoa, tạo thành sự tiếp xúc của lỗ tai gọi là nhĩ xúc, tiếp xúc như vậy thì phát sanh cảm giác gọi là thọ do nhĩ xúc sanh, khi cảm giác sanh khởi lên là mình thích, muốn nghe nữa, muốn gặp mặt, sau đó là… Đó là vận hành của pháp thọ do nhĩ xúc sanh. Ngược lại đang nghe bài trải tâm từ, trong lòng đang hoan hỷ, vui sướng thì có cuộc gọi chửi mình thì ngay lúc đó sanh ra cảm giác mà mình không biết tất cả những cái này do pháp duyên sanh, một chuỗi sanh ra thôi, mình mới ngồi quán "nếu khi nãy mình đi chỗ nào mà ngoài tầm nhận thức của lỗ tai thì mình không nghe cuộc gọi đó là mình không bực bội", hoặc lúc nãy điện thoại hết pin và mình không nghe tiếng của cô nàng khi nãy nói "con nhớ thầy" thì mình không sanh ra cảm giác thích thú, cho nên xúc mới sanh thọ, rồi thọ sanh ái. Phải hết sức cẩn thận trong sự tiếp xúc, vì thế hộ trì căn là cực kì quan trọng. Suốt ngày mình cứ việc tiếp xúc là sanh ra tham sân si, tiếp xúc là mình sanh ra mừng, giận, thương, ghét, đúng, sai, hơn thua… vậy thì nguyên một ngày là một vòng luân hồi trong tâm thức vô cùng vô tận, như vậy là một cái tâm đầy rác bẩn, không lau chùi, không dọn dẹp, không tẩy rửa, cuối cùng tu lâu ngày thì nhìn lại là bốc mùi, không có cuộc tổng vệ sinh thanh lọc cho nên trong kinh dùng từ "tẩy sạch nội tâm", tẩy sạch cái ác, bất thiện pháp. Mình không nhìn lại cảm giác thì làm sao mình tẩy, chất chứa bên trong là bực bội, khó chịu, sân hận, mới chạm vào thôi là sừng sộ, hung hăn thì Đức Phật dùng từ diễn tả tâm đó "như vết thương", tâm thứ hai là tâm giống như ánh chớp là thấy được khổ thánh đế, tâm thứ ba là tâm kim cương bất động của bậc A-la-hán. Có ba loại tâm thức, cái tâm của mình mà chạm nhẹ thôi là nhảy dựng lên. Ôi cha ơi! Khiếp quá!
Mình phải nhận diện cảm giác hết sức cẩn thận và luôn luôn nhìn lại để thực tập quán chiếu cảm giác. Suốt ngày mình bị nhận chìm trong biển cảm giác, cảm giác dễ chịu là tham, cảm giác khó chịu là sân, cảm giác đều đều là sống trong si, vô minh, tích tụ lại là một bản ngã to lớn vì mình không để tâm vào để diệt bản ngã. Cho nên cảm giác này làm cho mình khổ, nó thúc giục bên trong, muốn mà không được là đau khổ. Vì vậy nói khổ và sự diệt khổ là phải nhìn thấy được những cảm giác này. Chỉ cần thời tiết nóng lên là khó chịu, nghe một câu hay bị nhìn bằng ánh mắt gì đó là mình đã sân si rồi. Tất cả những vụ án xảy ra hằng ngày nguyên nhân sâu thẳm bên trong là cảm giác thúc giục. Xì ke ma túy có phải cảm giác không? Đua xe có phải cảm giác không? Nhậu xong đánh lộn chém nhau có phải cảm giác không? Đầy rẫy hết. Tất cả thế giới này bị đắm chìm trong cảm giác và người tu là phải nhận diện ra cảm giác và nhiếp phục các cảm thọ, không để cho nó nhiếp phục mình mà mình phải nhiếp phục nó, đó là bậc hướng Dự lưu, đa văn thánh đệ tử. Còn bây giờ suốt ngày mình cứ nhìn ra ngoài thì làm sao mình nhìn thấy cảm giác của mình. Những hình bóng trong tâm là hình bóng gì? Phải nhìn lại những hình bóng đó, từ đâu nó sanh ra? Những hình bóng đó toàn hướng mình đi theo tham sân si. Những suy nghĩ làm cho mình mệt mỏi, cứ thầm thì, thủ thỉ, thở than, nó nói "thôi, ngồi thiền chi cho mệt, nằm xuống cho khỏe", tới giờ tu thì nó nói "tu làm chi", mình phải nghe, phải nhận diện ra được nó là tưởng, hành, thức, mỗi khi có những cảm giác, nghĩ tưởng đó là mình phải biết nhưng cái biết đó là mình bị quấn vào trong năm uẩn luôn. Cảm giác nào mình cũng nói tôi, "tôi thấy giờ tôi đang sướng, đang thích", hoặc là "tôi thấy tôi đang khó chịu, bực bội lắm", mà không biết rằng đó là thọ, "con đang có cảm giác hết sức bực bội và cảm giác này là do duyên sanh vô thường, trống rỗng", này các Tỳ-kheo, phàm cái gì sanh khởi, chắc chắn phải hoại diệt, mỗi khi có một cảm giác sanh khởi thì mình đọc lên "cái gì sanh khởi thì nhất định sẽ hoại diệt", mình không đi theo khởi diệt của nó. Giận thì sanh khởi lên cảm giác nóng bực thì mình nói "cái này sanh rồi sẽ diệt, vô thường", mình phải thực tập tâm từ. Những tâm tham muốn, thúc giục, ưa thích là phải quán bất tịnh, quán đống thịt bầy nhầy, những con dòi bò lúc nhúc, cái huyệt đạo, hũ cốt, quán chiếu như vậy thì mình mới đánh được những cảm giác thúc giục bên trong, còn không mình sẽ để cho nó hoành hành, xâm chiếm trong tâm mình và cuối cùng là này các Tỳ-kheo, tất cả chúng sanh đều làm nô lệ cho tham ái, nó sai khiến, làm chủ mình, nhìn sâu sắc sẽ thấy suốt cuộc đời mình đi tìm những cái ham muốn. Thành ra phải xác định là nhận thấy được năm uẩn, thấy được tính chất vô thường, khổ vô ngã, tan rã của nó để nhàm chán, ly tham, muốn thoát ra thì vị đó gọi là huống Dự lưu, còn một vị đã nhìn thấy xác quyết chắc chắn, không còn dao động nữa thì vị đó là bậc Nhập lưu Tu-đà-hoàn, những bậc cao hơn là những bậc chẳng những thấy, chẳng những nhàm chán, chẳng những xác quyết nó là vô thường, khổ vô ngã đối với năm uẩn mà bậc này còn dọn những rác bẩn, tùy theo sự dọn nhiều hay ít mà có những thánh quả sai việc khác nhau.
Quý huynh đệ thấy cửa thứ nhất là thánh tri kiến, chánh tri kiến, cái thấy đúng, chỉ cần hướng về cửa này đã là hướng Dự lưu, là bốn đôi tám vị rồi. Còn bước vào cửa chánh tri kiến để thấy năm uẩn để nhàm chán thì đó là bậc Dự lưu Tu-đà-hoàn. Bây giờ mình đang ở bậc nào? Mình đang ở vị trí nào? Nếu mình chưa được Tu-đà-hoàn thì mình tu đàng hoàng cũng được nhưng mình phải biết là mình đang ở đâu, nếu không là mình mơ hồ, không biết đang tu cái gì, không biết học cái gì, hành cái gì để được cái gì, như lục bình trôi lềnh bềnh trên sông rồi cuối cùng không được gì, hoặc chỉ được chút ít thiện pháp rồi cũng tiếp tục luân hồi mà không thấy ra năm uẩn. Thành ra cái mà gọi là hồng tâm, quan trọng nhất trong giáo lý của Đức Phật là ly tham đối với ngũ uẩn, đó là trí huệ của bậc thánh. Tuy mình chưa đạt được nhưng mình phải hiểu, phải thấy vấn đề rồi mình tập mỗi ngày một ít, bằng không khởi cái gì lên mà mình chụp cái đó, sanh cái gì lên là mình bám vào trong đó thì cả đời bám chặt, chấp thủ vào đó, chặt không đứt, bứt không rời, phơi không khô, chụm không cháy, mở không ra. Như thế thì khi nó biến đổi là mình sầu bi khổ ưu não chấp chứa và tiếp diễn những dòng lệ, những sự ham muốn, những sự thúc giục, cứ hành hạ và sanh khởi liên tục, làm mình mệt mỏi, tâm của mình bất an, không có sự định tĩnh, không có sự hoan hỷ trong pháp thì làm sao có khinh an, không khinh an thì làm sao đưa đến sự định tĩnh, mà không định tĩnh thì làm sao trí huệ được tỏa sáng. Cho nên do mình thấy được thật tướng của năm uẩn nên mình ly tham thì lúc đó mới có sự hân hoan, an lạc, khinh an rồi mới đi đến thiền định và trí tuệ. Đó là đạo lộ chúng ta cần phải nắm thật vững trong sự tu tập để mình không bao giờ đi sai đường.
Những sự tu không đúng là sao? Ai khuyến khích mê đắm vào sắc, tham đắm vào những cảm giác, vào những tưởng, những hành, những thức là người đó không tu đúng chánh pháp. Cho nên Đức Phật định nghĩa một vị pháp sư là vị có thể giảng để người ta đối với năm uẩn, đây là vị mà Đức Phật trao bằng chín bậc Chánh Đẳng Giác, còn ai nói mà khuyến khích người ta tham muốn vào năm uẩn thì nhất định cái đó không phải là chánh pháp, phải ly tham đối với năm uẩn thì đó là chánh pháp. Nếu mình ly tham thì sẽ đi đến chỗ bớt khổ và diệt khổ. Vì khổ là từ đam mê mới khổ, hết đam mê là hết khổ, bớt đam mê là bớt khổ mà không đam mê là không khổ, tới lúc không còn khổ thì mình mặc sức giúp đỡ chúng sanh. Tâm bất động giải thoát không còn ưa thích, đam mê ràng buộc nữa, "này các Tỳ-kheo, xưa và nay Như Lai chỉ tuyên thuyết khổ và sự diệt tận khổ đau"(Trung Bộ I, 140).
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
Linh Quy Pháp Ấn thực hiện.
NHẬN DIỆN CHÁNH TÀ
ĐĐ. Thích Minh Thành giảng
Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
A-di-đà Phật. Kính bạch thầy cùng đại chúng, con xin đọc bài "Sáu pháp cần tu tập để thắng tri tham", kinh "Tham", Tăng Chi Bộ, tập 3, trang 273.
Để thắng tri tham, này các Tỳ-kheo, sáu pháp cần phải tu tập. Thế nào là sáu?
Thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, học pháp vô thượng, phục vụ vô thượng, tùy niệm vô thượng.
Để thắng tri tham, này các Tỳ-kheo, sáu pháp cần phải tu tập.
Kinh "Tham" số 2, Tăng Chi Bộ, tập 3, trang 273.
Để thắng tri tham, này các Tỳ-kheo, sáu pháp cần phải tu tập. Thế nào là sáu?
Tưởng vô thường, tưởng khổ trong vô thường, tưởng vô ngã trong khổ, tưởng đoạn tận, tưởng ly tham, tưởng đoạn diệt.
Để thắng tri tham, này các Tỳ-kheo, sáu pháp này cần phải tu tập.
Kinh "Trên tất cả", Tăng Chi Bộ, tập 3, trang 74.
Này các Tỳ-kheo, có sáu pháp vô thượng này. Thế nào là sáu?
Thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, học tập vô thượng, phục vụ vô thượng, tùy niệm vô thượng. Và này các Tỳ-kheo, thế nào là thấy vô thượng?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người đi xem voi báu, đi xem ngựa báu, đi xem châu báu, hay đi xem các vật lớn nhỏ, hay đi xem Sa-môn, hay Bà-la-môn có tà kiến, có tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây có phải là thấy không? Ta nói rằng: Đây là không thấy”. Sự thấy ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai đi yết kiến Thế Tôn hay đệ tử Thế Tôn, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, thời này các Tỳ-kheo, đây là thấy vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi yết kiến Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là thấy vô thượng, đây là thấy vô thượng. Còn nghe vô thượng là gì?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người đi nghe tiếng trống, đi nghe tiếng sáo, đi nghe tiếng ca, hay đi nghe tiếng cao thấp khác nhau, hay đi nghe pháp các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây có phải là nghe không? Ta nói rằng: “Đây là không nghe”. Sự nghe ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai đi để nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín thời này, các Tỳ-kheo, đây là sự nghe vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là đi nghe pháp của Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là nghe vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng. Còn lợi đắc vô thượng là gì?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người được con, được vợ, được tài sản, được các vật cao thấp khác nhau, được lòng tin vào các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây có lợi đắc hay không? Ta nói rằng: “Đây là không lợi đắc”. Lợi đắc ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai được lòng tin vào Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín thời này các Tỳ-kheo, đây là đắc lợi vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là được lòng tin vào Như Lai hay của đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là đắc lợi vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng, đắc lợi vô thượng. Còn học tập vô thượng là thế nào?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người học tập về voi, học tập về ngựa, học tập về xe, học tập về cung pháp, học tập về kiếm pháp, học tập về các nghề cao thấp sai biệt hay học tập theo các Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây là có học tập hay không? Ta nói rằng: “Đây là không học tập”. Học tập ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai học tập tăng thượng giới, học tập tăng thượng định, học tập tăng thượng tuệ trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, này các Tỳ-kheo, đây là học tập vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là học tập tăng thượng giới, học tập tăng thượng định, học tập tăng thượng tuệ trong Pháp và Luật do Như Lai tuyên thuyết, với lòng tin được an trú, với lòng ái mộ được an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là học tập vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, học tập vô thượng. Còn phục vụ vô thượng là như thế nào?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người phục vụ Sát-đế-lỵ, phục vụ Bà-la-môn, phục vụ Gia chủ, phục vụ các người cao thấp sai biệt hay phục vụ Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây là có phục vụ hay không? Ta nói rằng: “Đây là không phục vụ”. Phục vụ ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai phục vụ Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, này các Tỳ-kheo, đây là phục vụ vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là phục vụ Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là phục vụ vô thượng, đây là thấy vô thượng, nghe vô thượng, lợi đắc vô thượng, học tập vô thượng, phục vụ vô thượng. Và thế nào là tùy niệm vô thượng?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người tùy niệm được con, tùy niệm được vợ, tùy niệm được tài sản, tùy niệm được cao thấp sai biệt hay phục vụ Sa-môn hay Bà-la-môn có tà kiến, tà hạnh. Này các Tỳ-kheo, đây là có tùy niệm hay không? Ta nói rằng: “Đây là không tùy niệm”. Tùy niệm ấy, này các Tỳ-kheo, là hạ liệt, là hèn hạ, là phàm phu, không xứng Thánh hạnh, không liên hệ đến mục đích, không đưa đến yếm ly, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn. Này các Tỳ-kheo, ai tùy niệm Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín, này các Tỳ-kheo, đây là phục vụ vô thượng, đưa đến thanh tịnh cho các loài chúng sanh, vượt qua sầu bi, chấm dứt khổ ưu, đạt được chánh lý, chứng ngộ Niết-bàn, tức là tùy niệm Như Lai hay đệ tử Như Lai, với lòng tin an trú, với lòng ái mộ an trú, nhứt hướng thuần tín. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là tùy niệm vô thượng.
Này các Tỳ-kheo, có sáu tùy niệm này:
Ai được thấy tối thắng,
Và được nghe vô thượng,
Được lợi đắc vô thượng,
Vui học tập vô thượng,
An trú trong phục vụ,
Tu tập chuyên tùy niệm,
Liên hệ đến viễn ly,
Đạt an ổn, bất tử,
Hoan hỷ, không phóng dật,
Thận trọng, hộ trì giới,
Khi thời đã chín muồi
Đau khổ được đoạn tận.
Xin mời các huynh đệ phát biểu mình hiểu như thế nào về bài kinh này.
A-di-đà Phật. Bạch thầy, theo con hiểu trong bài kinh này xuất hiện hai phạm trù đối lập. Một là Như Lai và đệ tử của Như Lai. Hai là Sa-môn, Bà-la-môn, tà kiến và tà hạnh. Tức là những người nào đến để thấy, để nghe, để học hỏi, để tin tưởng, để phục vụ Như Lai và đệ tử của Như Lai sẽ được lợi lạc và an vui, còn những ai đến để thấy, để nghe, để học hỏi, để tin tưởng vào những Sa-môn, Bà-la-môn, tà kiến và tà hạnh thì sẽ bị nhiều phiền não. Hôm nay thực sự chúng con cũng muốn nghe thế nào là Như Lai và đệ tử của Như Lai, Như Lai và đệ tử của Như Lai tuyên thuyết cái gì, giảng dạy cái gì. Sa-môn, Bà-la-môn, tà kiến và tà hạnh thì tuyên thuyết cái gì và giảng dạy cái gì. Đầu tiên chúng ta thấy Đức Phật đưa ra hai phạm trù này để chúng ta học hỏi, vậy thì làm sao để chúng ta phân biệt được thế nào là Như Lai và đệ tử của Như Lai, thế nào là pháp Như Lai và đệ tử của Như Lai tuyên thuyết, còn không thì chúng ta sẽ bị vướng vào tà kiến và tà hạnh. Hôm trước có một người tài xế có vợ và một đứa con đã nói với con là ăn chạy được mười năm và cũng tu niệm Phật, người đó nói cuộc đời này là khổ, sinh con đẻ cái chỉ làm vướng thêm vòng luân hồi đau khổ. Theo cách anh tài xế nói chuyện thì anh này thấy đời khổ quá nên không muốn sống ở cõi này nữa mà chỉ muốn đến cực lạc xa xôi, không có thực tế. Anh này nói duy nhất trên thế giới này chỉ có cõi của Đức Phật A-di-đà là có tịnh độ, con mới nói anh như vậy là chưa hiểu hết giáo lý của Đức Phật nhưng anh này cố chấp nói con đi theo thầy đó con học như vầy, con nghe như vầy còn thầy nói là chuyện của thầy, còn con tin như vậy và làm như vầy. Hôm nay con gặp được bài kinh này thật sự con thấy rất ưu tư, như vậy không phải chỉ ở thời Đức Phật mà thời này vẫn còn những người tuyên thuyết những điều sai lầm. Vậy con xin thầy cho tụi con hiểu rõ hai vấn đề: Thế nào là Như Lai và đệ tử của Như Lai, Như Lai và đệ tử của Như Lai tuyên thuyết cái gì, thế nào là Sa-môn, Bà-la-môn, tà kiến, tà hạnh và Sa-môn, Bà-la-môn, tà kiến và tà hạnh họ tuyên thuyết những gì. Con xin hết.
Vừa rồi Minh Thành có ra Nha Trang để chia sẻ pháp cho sáu, bảy ngôi chùa. Có những đạo tràng mấy trăm Phật tử, treo giải thưởng rồi Minh Thành nói Đức Phật nói chỉ có hai điều, ai nói đúng thì có thưởng. Mới nói xong thì có một huynh nói là "Khổ và Diệt khổ", thật sự thì mình nói có nhiều mức độ chứ không phải nói như vậy là thấu hiểu. Nếu mình thấu hiểu là từ hướng Dự lưu cho đến A-la-hán, sẵn hôm nay có nhiều vấn đề mình cần chia sẻ, ví dụ như bốn đôi tám vị là như thế nào. Xin thưa với quý huynh đệ, không phải nói chung chung mà phải nói có sách mách có chứng, câu đó nằm trong kinh nào, cái này quan trọng. Xưa và nay điều mà Đức Như Lai luôn tuyên thuyết là khổ và sự diệt khổ, thứ hai là làm thế nào để mình biết vị đó là hướng Dự lưu hay Nhập lưu, tất cả điều có chuẩn mực, và chính tự thân người đó tu thì người đó cũng biết mình đang ở vị trí nào chứ không có nói chung chung như mình bây giờ.
Trong lớp mình đã học hai năm, mấu chốt nằm ở đâu để mình biết rằng khổ và khổ diệt? Mấu chốt nằm chỗ nào để mình phân biệt được những người còn là phàm phu hay hướng Dự lưu, Minh Thành chỉ mới nói hướng Dự lưu thôi. Đây là điều cực kì quan trọng, nếu các huynh đệ nắm được cái này thì đã nắm được cốt tủy của toàn bộ pháp tạng, nếu không thì mình rất mông lung, không biết bến bờ chỗ nào, mình cũng không phân biệt được đâu là bậc chân nhân, đâu là bậc hướng Dự lưu, đâu là bậc Nhập lưu, mình có tu suốt đời mình cũng không biết mình đang ở vị trí nào vì mình đâu có biết cái chuẩn mực nó như thế nào.
Trọng tâm của toàn bộ tạng kinh Nikāya cũng là cốt lõi của tất cả giáo pháp là phải nhìn thấy được năm uẩn. Nếu mình không thấy được năm uẩn thì coi như mình còn ở ngoài cửa chùa, còn ở ngoài giáo pháp, còn ở ngoài trí tuệ. Tại vì năm uẩn chính là thân tâm của chính mình, khi mình nhận thấy được năm uẩn thì mình mới phá được thân kiến, cái thấy sai lầm, cái kiến chấp về thân. Chứ còn nói khổ nhưng cái gì khổ? Khổ vì cái gì? Sắc là khổ. Đây là tóm thâu hết. Mình nói khổ là căn cứ vào cái gì mới khổ? Thứ nhất là mình không nhìn thấy được sắc uẩn và mình đã nhận lầm sắc pháp này, sắc chất này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi, trong khi cái này là vô thường, là khổ, là vô ngã. Sắc là biến hoại, là hoại diệt. Bây giờ mình nhận cái vô thường, cái bất tịnh, cái tan biến làm tôi, làm của tôi, làm tự ngã của tôi thì làm sao mình hết khổ. Cho nên trong Tương Ưng Bộ kinh Đức Phật đã tuyên bố ai ưa thích sắc là người đó ưa thích khổ, ai ưa thích khổ thì người đó không thể giải thoát khỏi khổ đau, đó là tiếng gầm của sư tử, là thánh trí của bậc Chánh Đẳng Giác, đó là chân lý trong ngàn vạn tỷ kiếp không bao giờ thay đổi, từ đêm thành Chánh Giác ở nơi cội Bồ Đề cho đến khi nhập Niết-bàn tại Sala song thọ thì những gì Ta tuyên thuyết không thể đổi khác. Câu này trong "Đại bác Niết-bàn" của Trường Bộ kinh, đừng nhầm lẫm với "Đại bác Niết-bàn" trong bộ khác.
Vì mình không thấy sắc pháp này là sắc mà mình nhận sắc này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi cho nên cái này mình học từ đây cho tới ngày ra trường cũng không thể hết được, Minh Thành mở rộng cho quý huynh đệ thấy, mình đi từ cái dễ cho đến cái khó, cái vi tế. Chiếc xe của mình yêu quý, đem cho người ta mượn rồi bị tai nạn, hư xe thì lúc đó mình có khổ không? Ưa thích sắc là người đó ưa thích khổ, vì sắc là vô thường. Mình ưa thích cô gái nhưng cô này là vô thường, sắc của cô đó vô thường, cảm giác, nghĩ tưởng của cô này là vô thường cho nên được vài ngày là cô này đổi tính đi thương người khác, vậy thì có khổ không? Ưa thích sắc là người đó ưa thích khổ, mà ưa thích khổ thì làm sao người đó giải thoát khỏi khổ. Đây là định luật hết sức thâm sâu mà Đức Phật chứng ngộ, ngoài cái này ra không còn cái nào khác, đây là chân lý vĩnh hằng bất diệt. Bây giờ người ta cúng dường tiền, mình để dành từng tờ tiền để mua cái gì đó, đến ngày cuối cùng lấy tiền đi mua mới phát hiện tiền mất thì cảm giác gì sanh khởi? Quý huynh đệ nhìn tất cả những cái đó là sắc pháp, là sắc uẩn. Này các Tỳ-kheo nếu các ông không xả ly lòng dục, không xả ly lòng tham, không xả ly lòng luyến ái đối với các sắc pháp vô thường này thì các ông sẽ sầu bi khổ ưu não. Này các Tỳ-kheo cái gì vô thường, các ông cần phải xả ly lòng dục. Cái gì khổ, các ông cần phải xả ly lòng ái. Cái gì vô ngã, các ông cần phải xả ly lòng tham, lòng chấp. Xả ly như vậy sẽ đem đến an lạc, giải thoát cho các ông. Này các Tỳ-kheo sắc không phải là ông, không phải là của ông, không phải là tự ngã của các ông, cái gì không phải của các ông, các ông hãy từ bỏ. Các ông từ bỏ sẽ đi đến chỗ an lạc và giải thoát.
Này các Tỳ kheo, các ông nghĩ thế nào? Sắc là thường hay vô thường?
Là vô thường, bạch Thế tôn.
Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
Là khổ, bạch Thế tôn.
Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái nầy là của tôi, cái nầy là tôi, cái nầy là tự ngã của tôi?"
Thưa không, bạch Thế tôn.
Thọ, tưởng, các hành, thức là thường hay vô thường?
Là vô thường, bạch Thế tôn.
Cái gì vô thường là khổ hay lạc?
Là khổ, bạch Thế tôn.
Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái nầy là của tôi, cái nầy là tôi, cái nầy là tự ngã của tôi?"
Thưa không, bạch Thế tôn.
Này các Tỳ-kheo, bậc đa văn thánh đệ tử thấy vậy, tức là thấy được ngũ uẩn là khổ, vô ngã, biến hoại như vậy thì vị này yểm ly, nhàm chán, ly tham, từ bỏ, đoạn diệt, vị ấy giải thoát đối với năm uẩn, trong trí khởi lên "Ta đã giải thoát, sanh đã tận, Phạm hạnh đã thành, những việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa"(Tương Ưng Bộ Kinh,Quyển 3, Phẩm Tham Luyến, VII, trang 125 129), trạng thái này tức là trạng thái sầu bi khổ ưu não, tham dục đối với ngũ uẩn, vị ấy trở thành vị A-la-hán nữa, đây là định lý của giải thoát.
Cho nên tất cả nền tảng đều nằm ở năm uẩn, nếu mình không nhận ra năm uẩn là mình chỉ lòng vòng ở ngoài cửa chùa, không thể vào trí tuệ của bậc thánh. Thành ra tu không phải là nói đúng sai mà phải có cái chuẩn chứ không phải nói đúng sai là không có ai đúng không có ai sai. Bây giờ mình còn tham với cái sắc nhưng mình tham cái thiện, thích cái thiện, muốn làm cái thiện thì mình sanh ra sắc đẹp, sắc thiện. Nếu mình tham cái sắc cộng thêm tham cái ác, tham cái tội lỗi thì sanh ra cái sắc tàn tạ, tồi tệ, chính là những con dòi, côn trùng, gián, chuột… những thứ hết sức khổ, địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.
Điều đầu tiên hết sức quan trọng là chữ "nhận diện" không phải đơn giản như mình nói mình học rồi mình biết đây là sắc, vậy là xong. Ở trong nhận thức của mình phải thấy rõ, quán rõ, chiêm nghiệm, tư sát liên tục cho đến khi nào mình tẩy não của mình cho đến khi mình suy nghĩ về thân mình thì mình biết đây là sắc uẩn chứ không phải đây là tôi, đây là của tôi. Cái đó mới gọi là nhận diện năm uẩn bằng trí huệ, đó gọi là tuệ tri, đó gọi là biết bằng trí tuệ, mà không phải là trí tuệ của mình mà là trí tuệ của bậc thánh, còn gọi là thánh tri kiến, thánh thể nhập. Thánh tri kiến là cái thấy biết là của Như Lai, Thế Tôn, ngọn đèn của Phật là sáng tỏa rồi, mình đem ngọn đèn của mình mồi vào ngọn đèn của Phật thì mình cũng được sáng lên giống vậy, đó gọi là thể nhập cái tri kiến của bậc thánh.
Bây giờ tại sao mình khổ? Vì mình thấy cái sắc này là của mình, là tự ngã của mình, ai chạm vào ôi cha ơi! Trời đất ơi! Phừng phực lên, đâm chém nhau, tàn sát lẫn nhau vì không biết rõ sắc là vô thường, là khổ, là vô ngã, là trống rỗng. Và tất cả những cái mình làm thì mình đừng tưởng là hay ho, mà tất cả những cái đó đều nằm trong sắc uẩn, mà sắc này là tan nát, là vô thường. Vậy mà mình không biết rồi mình đặt thành công của mình trên bãi cát sa mạc, cả cuộc đời mình là chạy theo sắc pháp và mình lấy sắc pháp làm thành công là vô minh, là còn mù ở trong giáo pháp của Như Lai, người đó chưa có mở mắt, pháp nhãn chưa thanh tịnh, huệ nhãn chưa mở, trí nhãn chưa sanh, không phải là bậc minh kiến, không phải là bậc có mắt trong giáo pháp của Như Lai. Có mắt là mở được con mắt trí năm uẩn, và luôn luôn tác ý liên tục, ví dụ mình mất mát một cái gì thì "đây chỉ là sắc uẩn vô thường", mình phải tác ý liên tục như vậy thì từ từ mình mới có thể ly tham đối với sắc pháp. Một người hướng đến sự lìa tham muốn đối với năm uẩn thì này bậc đó gọi là hướng Dự lưu. Mới một chữ sắc thôi mà mình bị dính đầy mình thì đừng nói gì đến cảm thọ sâu xa.
Đâu phải đơn giản là mình nói lên tụng kinh ngày hai thời là giải quyết được sắc này, muốn trị được cái tham đối với sắc này thì Đức Phật dùng Thân Hành Niệm, là sáu phương diện mới trị được cái tham đối với sắc, sáu khía cạnh để quán chiếu thân trên thân, trong Tứ Niệm Xứ là niệm thân trên thân. Mình phải niệm hơi thở; niệm oai nghi; niệm hành động; niệm tứ đại; niệm ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn của một tử thi. Sáu cái này mới đủ sức đánh phá cái tham sắc. Quý huynh đệ có thấy nó rõ ràng từng cái, phải học cho bài bản, có trình tự, đây là những định lý của bậc thánh, mình nói mình muốn tu kiểu nào là mình tu thì mình tu theo kiểu của mình rồi mình thành theo kiểu mình. Nếu một người không quán tứ đại, không quán ba mươi hai thể trược và chín giai đoạn của một tử thi thì người này không bao giờ có thể ly tham đối với sắc uẩn, vĩnh viễn không ly tham được với sắc uẩn. Đây là con đường của bậc Chánh Đẳng Giác đã đi, Ngài đã tuyên thuyết điều này sau chín ngày chứng ngộ dưới cội Bồ Đề. Quý huynh đệ nghĩ thử mình ở trong chùa mười năm, hai chục năm thì mình ngồi quán bất tịnh được bao nhiêu lần? Mô Phật! Chính vì vậy cho nên để thành tựu cái trí về sắc là mình không có, cho nên Minh Thành mời các huynh đệ lên trang linhquyphapan.vn để nghe bài "Thánh trí về năm uẩn" mà Minh Thành hay gọi là tiểu tạng Nikāya, tất cả những gì về năm uẩn trong tạng kinh Nikāya đều nằm trong đây hết.
Về thọ uẩn thì mình phải tu như thế nào? Hết sức là thâm sâu cái cảm giác này, nó giết mình chết. Mình cho cái cảm giác đó là mình, là của mình, là tự ngã của mình cho nên mình chết. Ví dụ người ta nói tu càng lâu thì bản ngã càng cao? Tại sao tu càng lâu thì cái tôi càng lớn? Hết sức cẩn thận điều này. Khi mình làm được điều này điều kia thì trong cảm giác của mình hài lòng, thích thú, mình đã thọ một cái chấp ngã. Vì cái ngã bên trong không nhìn thấy năm uẩn cho nên nó sẽ nhận cảm giác đó là tôi, là của tôi và như vậy là tôi có cảm giác tôi làm được rất nhiều chuyện thì cái cảm thọ này tích tụ, tăng trưởng, bành chướng quảng đại. Lúc mình chưa đi tu, lúc mới tập sự thì người ta kêu bằng "thằng" là rất bình thường, còn bây giờ kêu "thằng" là ôi cha ôi! Bây giờ chữ "thầy" hay chữ "thằng" thì cũng chỉ là chữ thôi nhưng mà mình bị dính mắc, mình không quay lại để kiểm soát bản ngã, quán chiếu những cảm giác, nhiếp phục tham sân si, mà cái tu của mình là hướng ra ngoài để làm cái này cái kia, là bằng cấp, là danh xưng, là trụ trì, là giảng sư, thiền sư… cuối cùng cả một cuộc đời là hướng ngoại để đi tìm sắc pháp. Chết! Chết dài dài! Cho nên tu suốt đời mà không hướng Dự lưu, vì bậc hướng Dự lưu là tuy vẫn còn trong năm uẩn nhưng đang hướng ra khỏi năm uẩn, còn những kẻ phàm phu là say mê, yêu thích sống chết với năm uẩn khốn khổ và hoạn nạn này.
Năm uẩn này còn hai phần, một là năm dục trưởng dưỡng. Năm dục trưởng dưỡng này khát với mình. Mình nói tài; sắc; danh; thực; thụy là ngũ dục thì cái này không sâu bằng từ trong kinh Nikāya. Thế nào là năm dục trưởng dưỡng? Chính là sắc; thanh; hương; vị; xúc. Đó là những sắc đẹp, những âm thanh, những mùi vị, và những sự tiếp xúc, đụng chạm. Cái xúc này nhiều loại chứ không phải chỉ có sự tiếp xúc nam nữ, xúc này còn là sự tiếp xúc của con mắt, lỗ tai tiếp xúc. Năm cái này là năm thứ nuôi lớn lòng dục của chúng sanh cho nên gọi là năm dục trưởng dưỡng. Chúng sanh bị năm thứ này trói buộc là không nhúc nhích được như cá vào lưới, đừng nói năm cái này mà chỉ cần một cái sắc pháp thôi là dính chặt rồi. Nếu mình không cẩn thận với năm cái tên bên ngoài và năm cái tên bên trong, mình học sáu căn; sáu thọ; sáu xúc; sáu ái; sáu trần, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ, nếu mình có thời gian học là sáu chục pháp hoạt động kinh khiếp mà mình không biết gì hết. Cho nên mình chết ở trong cửa của tử thần, mình không nhìn thấy pháp, mà duyên sanh pháp không phải đơn giản như mình nghĩ, không phải chỉ là "có con mắt, có lỗ tai, có âm thanh….", cái này chỉ là nói đơn giản thôi. Do duyên có mắt, có các sắc cho nên khởi ra sự rõ biết các sắc, ba pháp này hội tụ, giao thoa, tiếp xúc tạo thành sự tiếp xúc của con mắt, khi con mắt tiếp xúc sanh ra cảm giác. Khi sanh ra cảm giác như vậy là mình ưa thích, đã ưa thích là muốn nắm giữ, đó là căn – trần – thức – xúc – thọ – ái – thủ, mà ngày nào nó cũng hoạt động liên tục mà mình không thấy, không biết, đợi đến khi mở thập nhị nhân duyên ra mà giải hoài không xong, trong khi sáng trưa chiều tối, thậm chí ngủ cũng có ý xúc. Giấc chiêm bao thôi mà nhiều khi mình cũng mệt mỏi chứ không phải dễ. Cho nên phải hết sức kiểm soát cảm thọ, làm sao để mình nhận diện được cảm thọ này không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải là tự ngã của tôi. Ví dụ mình được ăn, hay là được khen mà mình thấy khoái, thích thú thì mình biết đây có một cảm giác dễ chịu sanh khởi nhưng cảm giác này do duyên sanh.
Từ đâu có cảm giác? Từ đâu có ra những hình bóng trong tâm? Từ đâu có suy nghĩ, ý hành? Đây là những định lý quý huynh đệ phải học thuộc, mà học thuộc rồi thì nói chuyện với những nhà tâm lý học phải cuối đầu. Đây là quy trình vận hành của tâm pháp, chỉ có bậc Như Lai Chánh Đẳng Giác mới nói chuẩn xác, Phật giải thích luôn tại sao có suy nghĩ, có mấy loại suy nghĩ và có cách chấm dứt suy nghĩ. Quý huynh đệ có bao giờ nghe đến chưa? Mình không học là rất uổng, phải học thuộc lòng bảy trí về sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Quý huynh đệ thử suy nghĩ mình có suy nghĩ được cái mình chưa từng tiếp xúc không? Nào giờ mình chưa từng nghe, chưa từng thấy, chưa từng biết gì về nó thì có suy nghĩ được không? Cho nên xúc mới sanh ra hành, có tiếp xúc mới có suy nghĩ, có tiếp xúc mới sanh ra cảm giác, có tiếp xúc mới sanh ra những hình bóng trong tâm thì mình mới tưởng được. Nhận diện về cảm thọ là hết sức quan trọng, cảm giác đó mà mình không nhìn ra là mình chết với nó, một khi nó sanh khởi lên là phải nhìn thấy. Ví dụ bình thường mình đang giảng pháp hay đang tụng kinh mà điện thoại reo lên "Thầy ơi! Con nhớ thầy", cái này nguy hiểm quá, một giọng ngọt ngào êm ái vang lên trong tai mình thì dòng cảm thọ sanh khởi lên là xúc sanh thọ. Do có lỗ tai, có âm thanh của tiếng trong điện thoại và có sự rõ biết âm thanh, ba pháp này giao thoa, tạo thành sự tiếp xúc của lỗ tai gọi là nhĩ xúc, tiếp xúc như vậy thì phát sanh cảm giác gọi là thọ do nhĩ xúc sanh, khi cảm giác sanh khởi lên là mình thích, muốn nghe nữa, muốn gặp mặt, sau đó là… Đó là vận hành của pháp thọ do nhĩ xúc sanh. Ngược lại đang nghe bài trải tâm từ, trong lòng đang hoan hỷ, vui sướng thì có cuộc gọi chửi mình thì ngay lúc đó sanh ra cảm giác mà mình không biết tất cả những cái này do pháp duyên sanh, một chuỗi sanh ra thôi, mình mới ngồi quán "nếu khi nãy mình đi chỗ nào mà ngoài tầm nhận thức của lỗ tai thì mình không nghe cuộc gọi đó là mình không bực bội", hoặc lúc nãy điện thoại hết pin và mình không nghe tiếng của cô nàng khi nãy nói "con nhớ thầy" thì mình không sanh ra cảm giác thích thú, cho nên xúc mới sanh thọ, rồi thọ sanh ái. Phải hết sức cẩn thận trong sự tiếp xúc, vì thế hộ trì căn là cực kì quan trọng. Suốt ngày mình cứ việc tiếp xúc là sanh ra tham sân si, tiếp xúc là mình sanh ra mừng, giận, thương, ghét, đúng, sai, hơn thua… vậy thì nguyên một ngày là một vòng luân hồi trong tâm thức vô cùng vô tận, như vậy là một cái tâm đầy rác bẩn, không lau chùi, không dọn dẹp, không tẩy rửa, cuối cùng tu lâu ngày thì nhìn lại là bốc mùi, không có cuộc tổng vệ sinh thanh lọc cho nên trong kinh dùng từ "tẩy sạch nội tâm", tẩy sạch cái ác, bất thiện pháp. Mình không nhìn lại cảm giác thì làm sao mình tẩy, chất chứa bên trong là bực bội, khó chịu, sân hận, mới chạm vào thôi là sừng sộ, hung hăn thì Đức Phật dùng từ diễn tả tâm đó "như vết thương", tâm thứ hai là tâm giống như ánh chớp là thấy được khổ thánh đế, tâm thứ ba là tâm kim cương bất động của bậc A-la-hán. Có ba loại tâm thức, cái tâm của mình mà chạm nhẹ thôi là nhảy dựng lên. Ôi cha ơi! Khiếp quá!
Mình phải nhận diện cảm giác hết sức cẩn thận và luôn luôn nhìn lại để thực tập quán chiếu cảm giác. Suốt ngày mình bị nhận chìm trong biển cảm giác, cảm giác dễ chịu là tham, cảm giác khó chịu là sân, cảm giác đều đều là sống trong si, vô minh, tích tụ lại là một bản ngã to lớn vì mình không để tâm vào để diệt bản ngã. Cho nên cảm giác này làm cho mình khổ, nó thúc giục bên trong, muốn mà không được là đau khổ. Vì vậy nói khổ và sự diệt khổ là phải nhìn thấy được những cảm giác này. Chỉ cần thời tiết nóng lên là khó chịu, nghe một câu hay bị nhìn bằng ánh mắt gì đó là mình đã sân si rồi. Tất cả những vụ án xảy ra hằng ngày nguyên nhân sâu thẳm bên trong là cảm giác thúc giục. Xì ke ma túy có phải cảm giác không? Đua xe có phải cảm giác không? Nhậu xong đánh lộn chém nhau có phải cảm giác không? Đầy rẫy hết. Tất cả thế giới này bị đắm chìm trong cảm giác và người tu là phải nhận diện ra cảm giác và nhiếp phục các cảm thọ, không để cho nó nhiếp phục mình mà mình phải nhiếp phục nó, đó là bậc hướng Dự lưu, đa văn thánh đệ tử. Còn bây giờ suốt ngày mình cứ nhìn ra ngoài thì làm sao mình nhìn thấy cảm giác của mình. Những hình bóng trong tâm là hình bóng gì? Phải nhìn lại những hình bóng đó, từ đâu nó sanh ra? Những hình bóng đó toàn hướng mình đi theo tham sân si. Những suy nghĩ làm cho mình mệt mỏi, cứ thầm thì, thủ thỉ, thở than, nó nói "thôi, ngồi thiền chi cho mệt, nằm xuống cho khỏe", tới giờ tu thì nó nói "tu làm chi", mình phải nghe, phải nhận diện ra được nó là tưởng, hành, thức, mỗi khi có những cảm giác, nghĩ tưởng đó là mình phải biết nhưng cái biết đó là mình bị quấn vào trong năm uẩn luôn. Cảm giác nào mình cũng nói tôi, "tôi thấy giờ tôi đang sướng, đang thích", hoặc là "tôi thấy tôi đang khó chịu, bực bội lắm", mà không biết rằng đó là thọ, "con đang có cảm giác hết sức bực bội và cảm giác này là do duyên sanh vô thường, trống rỗng", này các Tỳ-kheo, phàm cái gì sanh khởi, chắc chắn phải hoại diệt, mỗi khi có một cảm giác sanh khởi thì mình đọc lên "cái gì sanh khởi thì nhất định sẽ hoại diệt", mình không đi theo khởi diệt của nó. Giận thì sanh khởi lên cảm giác nóng bực thì mình nói "cái này sanh rồi sẽ diệt, vô thường", mình phải thực tập tâm từ. Những tâm tham muốn, thúc giục, ưa thích là phải quán bất tịnh, quán đống thịt bầy nhầy, những con dòi bò lúc nhúc, cái huyệt đạo, hũ cốt, quán chiếu như vậy thì mình mới đánh được những cảm giác thúc giục bên trong, còn không mình sẽ để cho nó hoành hành, xâm chiếm trong tâm mình và cuối cùng là này các Tỳ-kheo, tất cả chúng sanh đều làm nô lệ cho tham ái, nó sai khiến, làm chủ mình, nhìn sâu sắc sẽ thấy suốt cuộc đời mình đi tìm những cái ham muốn. Thành ra phải xác định là nhận thấy được năm uẩn, thấy được tính chất vô thường, khổ vô ngã, tan rã của nó để nhàm chán, ly tham, muốn thoát ra thì vị đó gọi là huống Dự lưu, còn một vị đã nhìn thấy xác quyết chắc chắn, không còn dao động nữa thì vị đó là bậc Nhập lưu Tu-đà-hoàn, những bậc cao hơn là những bậc chẳng những thấy, chẳng những nhàm chán, chẳng những xác quyết nó là vô thường, khổ vô ngã đối với năm uẩn mà bậc này còn dọn những rác bẩn, tùy theo sự dọn nhiều hay ít mà có những thánh quả sai việc khác nhau.
Quý huynh đệ thấy cửa thứ nhất là thánh tri kiến, chánh tri kiến, cái thấy đúng, chỉ cần hướng về cửa này đã là hướng Dự lưu, là bốn đôi tám vị rồi. Còn bước vào cửa chánh tri kiến để thấy năm uẩn để nhàm chán thì đó là bậc Dự lưu Tu-đà-hoàn. Bây giờ mình đang ở bậc nào? Mình đang ở vị trí nào? Nếu mình chưa được Tu-đà-hoàn thì mình tu đàng hoàng cũng được nhưng mình phải biết là mình đang ở đâu, nếu không là mình mơ hồ, không biết đang tu cái gì, không biết học cái gì, hành cái gì để được cái gì, như lục bình trôi lềnh bềnh trên sông rồi cuối cùng không được gì, hoặc chỉ được chút ít thiện pháp rồi cũng tiếp tục luân hồi mà không thấy ra năm uẩn. Thành ra cái mà gọi là hồng tâm, quan trọng nhất trong giáo lý của Đức Phật là ly tham đối với ngũ uẩn, đó là trí huệ của bậc thánh. Tuy mình chưa đạt được nhưng mình phải hiểu, phải thấy vấn đề rồi mình tập mỗi ngày một ít, bằng không khởi cái gì lên mà mình chụp cái đó, sanh cái gì lên là mình bám vào trong đó thì cả đời bám chặt, chấp thủ vào đó, chặt không đứt, bứt không rời, phơi không khô, chụm không cháy, mở không ra. Như thế thì khi nó biến đổi là mình sầu bi khổ ưu não chấp chứa và tiếp diễn những dòng lệ, những sự ham muốn, những sự thúc giục, cứ hành hạ và sanh khởi liên tục, làm mình mệt mỏi, tâm của mình bất an, không có sự định tĩnh, không có sự hoan hỷ trong pháp thì làm sao có khinh an, không khinh an thì làm sao đưa đến sự định tĩnh, mà không định tĩnh thì làm sao trí huệ được tỏa sáng. Cho nên do mình thấy được thật tướng của năm uẩn nên mình ly tham thì lúc đó mới có sự hân hoan, an lạc, khinh an rồi mới đi đến thiền định và trí tuệ. Đó là đạo lộ chúng ta cần phải nắm thật vững trong sự tu tập để mình không bao giờ đi sai đường.
Những sự tu không đúng là sao? Ai khuyến khích mê đắm vào sắc, tham đắm vào những cảm giác, vào những tưởng, những hành, những thức là người đó không tu đúng chánh pháp. Cho nên Đức Phật định nghĩa một vị pháp sư là vị có thể giảng để người ta đối với năm uẩn, đây là vị mà Đức Phật trao bằng chín bậc Chánh Đẳng Giác, còn ai nói mà khuyến khích người ta tham muốn vào năm uẩn thì nhất định cái đó không phải là chánh pháp, phải ly tham đối với năm uẩn thì đó là chánh pháp. Nếu mình ly tham thì sẽ đi đến chỗ bớt khổ và diệt khổ. Vì khổ là từ đam mê mới khổ, hết đam mê là hết khổ, bớt đam mê là bớt khổ mà không đam mê là không khổ, tới lúc không còn khổ thì mình mặc sức giúp đỡ chúng sanh. Tâm bất động giải thoát không còn ưa thích, đam mê ràng buộc nữa, "này các Tỳ-kheo, xưa và nay Như Lai chỉ tuyên thuyết khổ và sự diệt tận khổ đau"(Trung Bộ I, 140).
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
Linh Quy Pháp Ấn thực hiện.