Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thánh Trí 5 Uẩn 21 - Hỷ Ái Đưa Đến Khổ Đau

2026-03-03 00:56:09
KINH NIKAYA GIẢNG GIẢI - THÁNH TRÍ NĂM UẨN 21 - HỶ ÁI ĐƯA ĐẾN KHỔ ĐAU

Thích Minh Thành

Này các Tỳ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, ái được tăng trưởng. Do duyên ái nên thủ có mặt. Do duyên thủ nên hữu có mặt. Do duyên hữu nên sanh có mặt. Do duyên sanh nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi.

Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, ái được tăng trưởng. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, III. Kiết Sử)

Tại sao các kiết sử sai khiến, trói buộc mình mà mình lại thấy vị ngọt trong đó? Như vậy mới gọi là vô minh, những thứ ràng buộc, hành hạ, giày xéo tâm can làm mình đau khổ, thống khổ nhưng mình lại thấy ngọt ngào, dân gian có câu mật ngọt chết ruồi, con ruồi chỉ thấy mật ngọt thơm chứ không thấy sự nguy hiểm trong đó. Con thiêu thân không thấy sự nguy hiểm trong ánh sáng nên chỉ cần thấy ánh sáng là nó lao đầu vào.

Nghĩ vơ, nghĩ vẩn, không lúc nào dừng,

Mắc mưu tình trần, kẹt tâm chấp tướng.

Như tầm kéo kén, càng buộc càng bền,

Như bướm lao đèn, tự thiêu tự đốt.

Hôn mê chẳng tỉnh, điên đảo dối sinh

Não loạn tâm thần, đều do ba độc.

(Bài Sám Hối Sáu Căn (Nghiệp căn Ý) – Thích Thanh Từ)

Ba độc ở đây chính là tham sân si. Tại sao nó sai khiến mình, nó trói cột, làm cho mình hiểm nạn, ách nạn, nguy nan mà mình lại thích thú nó, khoan khoái nó, khao khát, thèm thuồng nó? Đó là chỗ vô minh do không thấy biết, chỗ này chính là đề tài thiền quán. Điếu thuốc sai khiến, ràng buộc người hút nhưng người nghiền thuốc chỉ thấy vị ngọt trong điếu thuốc đó. Bia rượu trói cột người uống nhưng người nghiền bia rượu chỉ thấy vị ngọt trong đó. Dục ái sai khiến, hành hạ, trói buộc người ta, làm họ phải đau khổ, chết lên chết xuống nhưng họ lại sống thấy vị ngọt trong đó chứ không thấy tác hại, nguy hiểm của nó. Như vậy mới gọi là vô minh, si mê. Cái sân hận, tức giận sai khiến, sai xử, trói trăn người ta làm người ta mất ăn bỏ ngủ, tức tối nhưng lại sống thấy vị ngọt, không bỏ được cái giận đó, không chịu từ bỏ cảm giác đó. Bản ngã làm người ta đau khổ, cái tôi làm người ta ganh tị, đối kị nhưng người ta sống lại thấy vị ngọt trong cái ta, cái tôi, cái hơn thua đó. Hễ thấy vị ngọt như vậy thì ái tương trưởng, tức là ưa thích trong dục tham, bản ngã, sân hận đó. Hễ thấy nhậu đã lắm thì sẽ thích nhậu, hút thuốc sướng lắm thì sẽ thích hút, đi chơi ngao du phố phường vui lắm thì sẽ thích đi, như vậy ái được tăng trưởng. Cho nên ai sống thấy vị ngọt trong các pháp kiết sử, ái được tăng trưởng, phát triển, sự yêu thích được lớn mạnh. Yêu thích những thứ trói cột, sai khiến mình, như vậy làm sao không đau khổ được? Những vị chân tu được cúng đồ ăn, nếu trong tâm có dục tham ái món đồ ăn đó thì các ngài sẽ không ăn, đó là sự nhiếp phục dục tham, phải rất mạnh mẽ mới làm được điều đó vì bình thường thấy cái gì mà thích là sẽ muốn có liền còn đằng này thấy dục tham là nhiếp phục, đây là cả một sự chiến đấu nội tâm. Khi tiếp xúc cái gì mà ác, bất thiện pháp sanh khởi và thiện pháp không tăng trưởng thì mình phải diệt trừ lập tức.

Do duyên ái nên thủ có mặt. Do duyên thủ nên hữu có mặt. Do duyên hữu nên sanh có mặt. Do duyên sanh nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não sanh khởi, khi đã thích sẽ nắm giữ, không muốn buông bỏ. Thích cái nhà nên càng ngắm càng thấy đẹp, càng đẹp lại càng thích, càng thích thì càng muốn giữ chặt, càng muốn giữ thì phải có, muốn cái đó trở thành cái của mình. Vì vậy ái thủ hữu, ưa thích thì nắm giữ, nắm giữ thì có mặt, hễ có mặt thì sanh có mặt, theo sao sanh là già, chết, sau đó là sầu; bi; khổ; ưu; não. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này tập khởi, ví dụ khi vừa có dầu vừa có tim đèn nên ngọn đèn được cháy sáng, thỉnh thoảng có người châm thêm dầu, thay tim mới nên ngọn đèn có thể cháy trong thời gian dài.

Ví như, này các Tỳ-kheo, do duyên dầu và duyên tim, ngọn đèn dầu được cháy đỏ. Tại đây có người thỉnh thoảng rót dầu thêm và khơi tim lên. Này các Tỳ-kheo, ngọn đèn dầu ấy được nuôi dưỡng như vậy, được tiếp tế như vậy, có thể cháy đỏ trong một thời gian dài. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, III. Kiết Sử)

Mỗi lần nhìn thấy sắc thì con mắt mình có rót dầu không? Mỗi khi nghe tiếng có rót dầu không? Nhìn thấy cảnh đẹp, chẳng những thưởng thức mà còn muốn chụp hình lại, lâu lâu mở ra xem thì đó là đang rót dầu khơi tim. Mỗi khi tiếp xúc, thọ nhận là mình rót dầu để ngọn đèn sanh tử được hiện hữu, cho nên sắc ái; thanh ái; hương ái; vị ái; xúc ái và pháp ái là 6 chỗ để châm dầu, vì thế mà chúng ta học chánh quán thọ thực để ngăn chặn việc châm thêm dầu, để cạn dầu từ từ, tức là không tiếp tế, không nuôi dưỡng ngọn lửa của tham ái, sanh tử. Ai còn yêu thích thân này thì phiền não, khổ đau còn dài dài mà yêu thích chính là châm dầu vì thân này là pháp kiết sử mà mình yêu thích tức là mình thấy vị ngọt trong đó, là còn dục tham ái, sống mà thấy vị ngọt trong pháp kiết sử này thì ái tăng trưởng. Mình nghĩ bao nhiêu người tu trong chùa từ lúc cạo đầu đến khi nhắm mắt được thực hành pháp này? Đếm trên đầu ngón tay, mình sống chỉ thấy vị ngọt không thôi thành ra cứ nói tu là để thoát khỏi luân hồi sanh tử nhưng toàn làm ngược lại. Mình có thấy mình ái trong sắc, ái trong hành, ái trong thọ, ái trong tưởng, ái trong thức không? Mình có thấy dục tham ái trong đó không? Nếu có là đang nuôi dưỡng và tiếp tế, nếu cứ châm dầu và khơi tim thì ngọn lửa không những sẽ cháy đỏ trong thời gian dài mà còn cháy phựt, những chất dễ cháy rất dễ bắt lửa cháy nhanh thiêu đốt mọi thứ.

Này các Tỳ-kheo, ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp kiết sử, ái được đoạn diệt. Do ái diệt nên thủ diệt. Do thủ diệt nên hữu diệt. Do hữu diệt nên sanh diệt. Do sanh diệt nên già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não được đoạn diệt. Như vậy là toàn bộ khổ uẩn này đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, III. Kiết Sử)

Sự tu của mình là sống phải thấy sự nguy hiểm và tác hại trong những thứ đó. Thấy nguy hiểm trong sắc, trong những cảm giác, hình bóng thô tế trong tâm, thấy nguy hiểm trong những suy nghĩ, nhận thức đưa đến tham sân si, chấp thủ, mình thấy nguy hiểm thì ái được đoạn diệt. Khi giận lên mình có thấy nguy hiểm không? Hơn thua sanh khởi mình có thấy nguy hiểm không? Cái ý khởi lên muốn rời bỏ sự tu học có nguy hiểm không? Phải thấy sự nguy hiểm trong các pháp đó thì ái mới đoạn diệt, nếu không ưa thích thì không nắm giữ, không nắm giữ thì không có mặt nên không có sanh già chết và sầu; bi; khổ; ưu; não, vì thế toàn bộ đống khổ này chấm dứt. Chúng ta phải tập nhìn, tập thấy, tập nhiếp phục và giảm thiểu, không phải mình học là đoạn được liền nhưng phải đỡ hơn lúc trước, khi xưa chưa được học thì ở trong đó, ưa thích trong đó còn giờ đã thấy sự nguy hiểm nên bước ra để nhìn lại, đây đã là bước tiến rất lớn rồi. Hằng ngày mình ăn chất độc, uống chất độc do mình không biết, còn giờ mình đã biết nên không ăn, không uống nữa hoặc giảm tối đa. Hồi xưa mình không biết trong thức ăn đó có hóa chất, ăn vào sinh bệnh mà cứ tưởng bổ dưỡng, còn giờ biết nó là độc hại thì cái biết đó tốt hơn nhiều, lợi ích hơn nhiều so với lúc chưa biết, chưa nghe. Cho nên Đức Phật ví dụ:

Ví như, này các Tỳ-kheo, do duyên dầu và do duyên tim, ngọn đèn dầu được cháy đỏ. Tại đấy không có người thỉnh thoảng rót thêm dầu vào và không khơi tim lên. Như vậy, này các Tỳ-kheo, ngọn đèn ấy do nhiên liệu được tiếp tế trước tiêu diệt và do nhiên liệu khác không được đem thêm, không được nuôi dưỡng, sẽ bị tắt. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, III. Kiết Sử)

Tức là nhiên liệu lúc trước đã có trong ngọn đèn lần lần cạn kiệt, những nhiên liệu khác không được châm thêm thì ngọn đèn đó sẽ tắt. Bây giờ được học, được nghe nên bắt đầu thấy ê chề, não nề còn hồi xưa rất hăng hái để hơn thua, tranh giành rồi tạo nghiệp. Đây là những điều cực kì sâu sắc trong sự tu để kiểm tra lại những cái nghe, ngửi, nếm, tiếp xúc, nhận thức pháp trong tâm, từ đó tập nhìn ra tham ái, kiết sử, tập nhìn ra mình đang sống với vị ngọt hay đang sống với trí tuệ thấy được sự nguy hiểm và tác hại của các pháp trong một ngày. Tu là phải thấy khổ, vì có thấy khổ mới đi đến chỗ hết khổ, mới thoát ly khỏi nó còn vẫn chưa thấy khổ thì làm sao bước ra khỏi nó được, càng thấy khổ càng tốt. Thấy khổ để nhàm chán, xa lìa. Thấy khổ để chấm dứt, từ bỏ, đi ra khỏi nó, đây là thánh pháp ấn, phải tập nhìn bất cứ cái gì cũng thấy khổ, Thế Tôn đã nói phàm cái gì được cảm thọ đều đau khổ.

Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Ở đây, bạch Thế Tôn, khi con sống một mình, Thiền tịnh, tâm tư như sau được khởi lên: "Thế Tôn dạy có ba thọ: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ". Ba thọ này được Thế Tôn thuyết dạy. Nhưng Thế Tôn lại nói: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Do liên hệ đến cái gì, lời nói này được Thế Tôn nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ"?

-- Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)

Ăn có vui sướng gì đâu, ăn là khổ vì không ăn là đói, không có sức khỏe, tay chân rã rời. Uống cũng vậy, uống để sống để tu, để thấy khổ. Không ăn không uống thì khổ mà có ăn có uống cũng khổ. Ăn nhầm thức ăn có độc, uống nước ngọt, rượu bia quá nhiều là bệnh rồi khổ. Ăn uống mà không thải ra là khổ vì bị táo bón, thải ra liên tục cũng khổ vì bị tiêu chảy. Phải tập nhìn cái khổ trong khắp tất cả mọi thứ, nhìn mọi thứ đều biểu hiện ra tính chất khổ trong đó. Mặc quần áo dày không phải để làm đẹp mà khổ vì không mặc là cảm lạnh, tập tác ý khổ trong tất cả mọi sinh hoạt đời sống hằng ngày. Đừng thích nơi này mà hãy thích pháp để thấy khổ ở đây, vào nằm ngủ là khổ, không ngủ là mệt mỏi, đầu óc không tỉnh táo. Cái khổ càng sung mãn thì cái yểm ly, từ bỏ, xuất ly càng viên mãn nên khi gặp nhau trong Ni xá giới đức mà thấy người nào đang giận hay đang buồn thì cứ hỏi "Sư tỉ có thấy giận là khổ không?", bên Tăng đường viễn ly cũng vậy "sư huynh có thấy khổ không?", Khổ Thánh Đế phải được thắp sáng trong thân tâm của mình, thấy tham dục ái, sân si, bản ngã sanh khởi là khổ. Đức Phật dạy tham dục phải quán như người bị mắc nợ, sân phải quán như người bị bệnh nặng, hôn trầm – thụy miên quán như ngục tù, trạo hối phải quán như kẻ nô lệ không được tự do, hoài nghi phải quán như kẻ đang đi trên sa mạc hoang vu.

Cũng vậy này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo tự mình, quán năm triền cái chưa xả ly, như món nợ, như bệnh hoạn, như ngục tù, như cảnh nô lệ, như con đường qua sa mạc. Này các Tỳ-kheo, cũng như không mắc nợ, không bị bệnh tật được khỏi tù tội, được tự do, đến được đất lành yên ổn. Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo quán năm triền cái khi chúng được diệt trừ. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)

Khi đã học pháp rồi sẽ có vốn liếng để quán. Văn không đầy đủ thì tư không viên mãn, tư không đầy đủ thì tu không thành tựu, cho nên bậc đa văn thánh đệ tử phải viên mãn văn – tu – tư. Thấy được sự nguy hiểm này chính là cốt tủy của thánh đạo. Có một bài kinh Đức Phật nói khi ngài còn là Bồ-tát, ngài tu tập hoài vẫn không thành tựu, ngài xem kĩ lại thì thấy ngài cần phải quán chiếu nguy hiểm và tác hại của dục đi đến sung mãn, cùng cực thì ngài chứng vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, diệt tận tất cả lậu hoặc.

Này Ananda, trước khi Ta giác ngộ, chưa chứng được Chánh Ðẳng Giác, còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: "Lành thay, sự xuất ly! Lành thay, sống viễn ly". Nhưng tâm của Ta không có hứng khởi trong sự xuất ly ấy, không có tịnh tín, không có an trú, không có giải thoát, dầu Ta có thấy "Ðây là an tịnh". Rồi này Ananda, Ta suy nghĩ như sau: "Vì Ta không thấy nguy hiểm trong các dục, vì Ta không làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy, lợi ích của xuất ly chưa được chứng đắc, Ta chưa được thưởng thức lợi ích ấy. Do vậy tâm Ta không hứng khởi trong xuất ly ấy, không tịnh tín, không an trú, không giải thoát". Này Ananda, về vấn đề ấy, Ta suy nghĩ như sau: "Nếu sau khi thấy nguy hiểm trong các dục, Ta làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được lợi ích trong sự xuất ly, Ta thưởng thức lợi ích ấy", thời sự kiện này xảy ra: Tâm của Ta có thể hứng khởi trong xuất ly, tịnh tín, an trú, giải thoát, vì Ta có thấy: "Ðây là an tịnh".

Rồi này Ananda, sau một thời gian, sau khi thấy sự nguy hiểm trong các dục, Ta làm cho sung mãn sự nguy hiểm ấy. Sau khi chứng được lợi ích trong sự xuất ly, Ta thưởng thức lợi ích ấy.

 Cho đến khi nào, này Ananda, chín thứ đệ trú Thiền chứng này đã được Ta thuận thứ nghịch thứ chứng đạt và xuất khởi, thời này Ananda, trong thế giới này, với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, với quần chúng Sa-môn và Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, cho đến khi ấy, Ta mới xác chứng rằng Ta đã chứng đắc Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. Tri và Kiến khởi lên nơi Ta. Ta biết rằng: "Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðây là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa". (Tăng Chi Bộ, Chương IX – Chín Pháp, IV. Ðại Phẩm, (X) (41) Tapussa)

Còn mình bây giờ vẫn chưa thấy nguy hiểm và tác hại nhiều, vẫn còn thấy rất nhẹ. Khi nào phát triển mạnh mẽ cái nhìn mà gọi là ai sống thấy sự nguy hiểm trong các pháp kiết sử, ái được đoạn diệt (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (b), VI. Phẩm Cây, II. Thủ). Sống mà thấy sự nguy hiểm và tác hại thì gọi là sống thấy được điều đó thì ái được đoạn diệt.

Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Vị Tỳ-kheo có Thiền định, này các Tỳ-kheo, hiểu biết một cách như thật.

Hiểu biết gì một cách như thật? Sắc tập khởi và đoạn diệt; thọ tập khởi và đoạn diệt; tưởng tập khởi và đoạn diệt; các hành tập khởi và đoạn diệt; thức tập khởi và đoạn diệt.

 Này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc tập khởi? Thế nào là thọ tập khởi? Thế nào là tưởng tập khởi? Thế nào là các hành tập khởi? Thế nào là thức tập khởi?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú. Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước và an trú gì?

Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc. Do vị ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc, hỷ đối với sắc khởi lên. Do hỷ đối với sắc, thủ đối với sắc khởi lên. Do duyên thủ đối với sắc, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thọ... rồi an trú tưởng... rồi an trú các hành... rồi an trú thức. Do vị ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thức, hỷ khởi lên. Do hỷ đối với thức, thủ đối với thức khởi lên. Do duyên thủ đối với thức, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Này các Tỳ-kheo, đây là sắc tập khởi, đây là thọ tập khởi, đây là tưởng tập khởi, đây là hành tập khởi, đây là thức tập khởi. (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, V. Thiền Ðịnh)

Những điều này mình được nghe, được học, được hiểu, được thực hành là sự hiếm có cùng cực, cực kì hiếm có khó gặp, vi diệu thần thánh. Tại sao vậy? Để nhận diện được ngũ uẩn là cả một vấn đề, là cả một trí tuệ, nếu không gặp bậc thiện tri thức thì không thể biết được, có những vị nghiên cứu giảng dạy kinh Nikāya 30 năm vẫn không nhận ra được ngũ uẩn, đó là bậc thầy của con đã tâm sự với con. Bây giờ mình được nhận diện ngũ uẩn, đây là nhân duyên sanh diệt của ngũ uẩn cho nên cái này tuyệt đối phải học thuộc lòng, là cốt lõi của tạng kinh. Nếu không thuộc lòng, không nắm vững sẽ không thể vận dụng để tu tập, những điều này rất quý báu. Học cái này giúp cho mình biết tại sao thân xác này có mặt, biết vì đâu thân xác này chấm dứt, ngay cả những vị tiến sĩ trong các trường đại học lớn, nổi tiếng hỏi điều này cũng không biết, ngay cả tiến sĩ Phật học của các nước Phật giáo nguyên thủy mà mình hỏi điều này cũng là cả một vấn đề. May mắn cho mình gặp được bậc thành tựu, được họ hướng dẫn chia sẻ nên mới biết được vì thế mình phải biết trân trọng, ngày đêm tu tập thiện pháp. Con vẫn nhớ hai hình ảnh ở Nepal và Myanmar, các chú tiểu và các thầy sau khi tụng kinh vang rền buổi sáng thì mỗi người được cái bánh và ly sữa ngay trên chánh điện, bốn chú tiểu nhỏ nhất để nùi giẻ dưới chân vừa lau chánh điện vừa ăn bánh cho nên lau xong là ăn xong. Con có tâm nguyện nếu đại chúng hoan hỉ thì làm, Phật tử cúng dường yến mạch, thay vì sáng uống sữa thì bây giờ mỗi người sẽ được một chén yến mạch hoặc cháo trắng, ăn ngay tại chỗ là xong bữa sáng. Tâm nguyện thứ hai là khi con qua bên chùa của ngài Tam Tạng pháp sư của Myanmar, có một hình ảnh ấn tượng suốt đời là các thầy, các chú tiểu cầm kinh tụng tiếng Pali vang vọng vì họ học để trở thành Tam Tạng nên đọc kinh thường xuyên, vì thế con cũng muốn những lời kinh này cũng được đọc tụng thường xuyên trên núi Linh Quy này, vừa rồi con cho đại chúng viết bài nhằm mục đích muốn mọi người trú trong pháp nhiều hơn, có cơ hội như vậy thì mình mới động não, lấy kinh sách ra đọc để có nhiều thời gian trú trong pháp, chỗ của mình là lò luyện ngũ uẩn mà hỏi đến 7 trí về sắc; thọ; tưởng; hành; thức là đọc lộn xộn thì bể lò vì thế phải nắm vững sự an trú, sanh khởi và đoạn diệt của ngũ uẩn.

Sắc tập khởi do thức ăn tập khởi, tức là có ăn thì sắc thân này mới tồn tại, thức ăn này gồm bốn loại và nếu không có thức ăn thì sắc hoại diệt. Đây là nhân duyên sanh diệt của sắc.

Này các Tỳ-kheo, có bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh. Thế nào là bốn?

Đoàn thực hoặc thô hoặc tế,

Xúc thực,

Tư niệm thực,

Thức thực.

Này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này khiến cho các loại sanh vật hay khiến cho các loại chúng sanh được tồn tại hay khiến cho các loại sắp sanh thành được thọ sanh.

Và này các Tỳ-kheo, bốn loại đồ ăn này do cái gì làm nhân, do cái gì tập khởi, do cái gì tác sanh, do cái gì làm cho hiện hữu? Bốn loại đồ ăn này do ái làm nhân, do ái tập khởi, do ái tác sanh, do ái làm hiện hữu. (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương I. Tương Ưng Nhân Duyên (a), II. Phẩm Ðồ Ăn, XI. Các Loại Ðồ Ăn)

Thọ; tưởng; hành; thức tập khởi do xúc tập khởi. Do tiếp xúc mà sanh ra những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm. Không có tiếp xúc thì không có những cái này, không bao giờ có chuyện mình chưa tiếp xúc, không biết, chưa nghe về ai hoặc vật nào đó mà mình có thể biết, suy nghĩ về nó, ít nhất cũng phải thấy được hình vẽ, hình chụp thì mình mới có thể suy nghĩ, có cảm xúc, hình bóng trong tâm. Ví dụ khi con nói con đã từng thấy trái abc thì mọi người có biết trái đó là trái nào không? Không thể biết được trái đó vì chưa từng nghe, chưa từng thấy, chưa từng gặp. Thành ra xúc tập khởi nên thọ; tưởng; hành tập khởi, ví dụ khi nói đến trái bơ, măng cục, sầu riêng thì nói tới đâu trong đầu mình hiện lên hình bóng trái đó, có cảm xúc khi ăn, có hương vị ra sao, có sắc, có tưởng, hành vì mình đã từng tiếp xúc, từng ăn, từng thấy rồi. Khi tiếp xúc mà có những hỷ lạc tức là khoan khoái, thích thú thì đó là vị ngọt, sự nguy hiểm là vô thường, hủy hoại, tan nát. Muốn thoát ra khỏi nó thì nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là thức? Có sáu thức thân này, này các Tỳ-kheo, (tức là) nhãn thức, nhĩ thức, tỷ thức, thiệt thức, thân thức, ý thức. Này các Tỳ-kheo, đây gọi là thức. Do danh sắc tập khởi nên thức tập khởi. Do danh sắc đoạn diệt nên thức đoạn diệt. Ðây là con đường Thánh đạo Tám ngành đưa đến thức đoạn diệt, tức là chánh tri kiến, chánh tư duy... chánh định. (Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, IV. Thủ Chuyển)

Danh sắc thì sắc là tứ đại, danh là thọ; tưởng; hành; thức. Trong kinh dùng danh từ khác nhưng vẫn là nó vì không có gì đi ra khỏi ngũ uẩn. Danh là phần tâm, sắc là thân. Vấn đề ở chỗ nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham đối với ngũ uẩn thì xuất ly khỏi ngũ uẩn. Để nhiếp phục dục tham thì phải thấy sự nguy hại của nó là vô thường, là khổ, chịu sự biến hoại, nó là mũi tên, là rắn độc, là hố than hừng… để từ đó xuất ly, thoát ra, không đam mê dính mắc vào nó nữa.

Này Hiền giả Kotthika, Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã.

Thế nào là năm? Tức là sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Này Hiền giả Kotthika, vị Tỳ-kheo giữ giới cần phải như lý tác ý năm thủ uẩn là vô thường, khổ, bệnh hoạn, ung nhọt, mũi tên, bất hạnh, ốm đau, người lạ, hủy hoại, rỗng không, vô ngã. Này Hiền giả, sự kiện này xảy ra: Tỳ-kheo giữ giới do như tác ý năm thủ uẩn này là vô thường... vô ngã, có thể chứng được quả Dự lưu. (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (g), C. Năm Mươi Kinh Sau, II. Phẩm Thuyết Pháp, X. Vị Giữ Giới)

Muốn thấy được như vậy thì phải tu tập thiền định, vị Tỳ-kheo có Thiền định, này các Tỳ-kheo, hiểu biết một cách như thật về nguyên nhân hình thành và chấm dứt ngũ uẩn.

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú. Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước và an trú gì?

Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc. Do vị ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú sắc, hỷ đối với sắc khởi lên. Do hỷ đối với sắc, thủ đối với sắc khởi lên. Do duyên thủ đối với sắc, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này.

Hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thọ... rồi an trú tưởng... rồi an trú các hành... rồi an trú thức. Do vị ấy hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú thức, hỷ khởi lên. Do hỷ đối với thức, thủ đối với thức khởi lên. Do duyên thủ đối với thức, hữu khởi lên. Do duyên hữu, sanh khởi lên. Do duyên sanh, già chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, V. Thiền Ðịnh)

Đây thật sự là chìa khóa mở ra mật mã của vũ trụ? Từ đâu có ra nhân sanh vũ trụ, từ đâu có ra thế giới của luân hồi chính là chỗ này. Do hỷ đối với năm uẩn nên thủ đối với năm uẩn khởi lên, yêu thích thì nắm giữ, do có sự nắm giữ với năm uẩn thì sự hiện hữu với năm uẩn có mặt. Do ưu thích cây này, mình muốn, thích nó thì mình mua nó, mình muốn giữ nó nên nó có mặt ở đây, cho nên trong kinh dùng từ hoan hỷ, hoan nghênh, đắm trước rồi an trú, hoan nghênh lúc nào cũng sẵn sàng chào đón chứ không có phòng hộ, thu nhiếp, giữ gìn. Đắm trước là dính mắc, tham đắm, say mê trong đó, an trú là thường trú, ở luôn trong đó, tức là sắc là của tôi, thọ là của tôi, tưởng là của tôi, hành là của tôi, thức là của tôi, ai đụng chạm là xảy ra chuyện, chậu cây đó tôi thích, tôi mua để lên đây, ai lấy đi mất hoặc làm bể là sân si lên. Vì mình muốn, mình thích thú, mình khoan khoái, mình giữ nó nên nó mới có mặt ở đây. Vì mình thích thân, say mê thân nên cái thân mới có mặt ở đây. Học cái này phải thiền quán, nghiền ngẫm cho ngấm vào xương thịt, vào tủy, mình thích thú, nắm giữ nên nó có mặt, sau khi có mặt sẽ suy tàn, hoại diệt, sầu; bi; khổ; ưu; não, tham sân si sẽ có mặt. Như vậy là sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này. Sự tụ tập để sanh khởi ra năm đống khổ từ ái hỷ vui mừng, ngồi học thấy không cảm xúc nhưng khi kêu lên chụp hình là tươi tắn ngay, cái thọ thích thú, cái tưởng là mặt mình đẹp nhất, cái hành suy nghĩ nên hỷ tập khởi thì năm uẩn tập khởi. Sự tu của mình là cả một công trình vĩ đại để diệt hỷ ái trong ngũ uẩn "tôi không thích chậu kiểng này vì tôi biết nó sẽ bể, nó sẽ hư, nó sẽ chết nên không ưa thích, khoái tham nữa", nó bể thì cũng bình thường nên không khổ. Ai ưa thích sắc người đó ưa thích khổ, ai ưa thích khổ người đó không thể giải thoát khổ. Ai không ưa thích sắc thì người đó không ưa thích khổ, ai không ưa thích khổ thì người đó giải thoát khỏi khổ đau. Đây là định lý.

Và này các Tỳ-kheo, thế nào là sắc đoạn diệt, thế nào là thọ đoạn diệt, thế nào là tưởng đoạn diệt, thế nào là các hành đoạn diệt, thế nào là thức đoạn diệt? Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú.

 Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú gì? Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú sắc. Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thọ. Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú tưởng... không đắm trước và an trú các hành.  Không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú thức.

Do vị ấy không hoan hỷ, không hoan nghênh, không đắm trước và an trú sắc; thọ; tưởng; hành; thức, hỷ đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức đoạn diệt. Do hỷ đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức đoạn diệt nên thủ đoạn diệt. Do thủ đoạn diệt nên hữu đoạn diệt... Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này. (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, V. Thiền Ðịnh)

Sự vui mừng, thích thú đối với năm uẩn được chấm dứt. Do sự vui mừng, thích thú đối với năm uẩn được chấm dứt nên sự nắm giữ không còn nữa. Không nắm giữ nên không có hiện hữu, hữu đoạn diệt, như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này. Một là chào đón, mời vào. Hai là để bảng "Nơi tỉnh tu, miễn tiếp khách", không hoan hỉ, không hoan nghênh thì khách không vào nữa, sắc không tích tụ, thọ không tăng trưởng, tưởng không thêm nữa, hành không sanh khởi nữa là ái cạn kiệt. Bây giờ nhìn ra cuộc sống này chỉ thấy ngao ngán, cái gì cũng là tham sân si, gian dối, xảo trá, hư ngụy, ngay cả trong tâm mình cũng vậy và mình phải thấy điều này rồi nhàm chán, không tham muốn nữa, thoát ra, chấm dứt. Mình chỉ mới bắt đầu đi trên con đường thánh đạo nên mọi người đừng sợ, tu học và quán chiếu nhiều như vậy nhưng thật chất chỉ bớt được 20-30% thôi cho nên phải để tâm để thấy được con đường mình đang đi, lúc trước cứ tưởng mình tu khá lắm nhưng không ngờ nội tâm còn đầy rẫy vô minh, dục tham ái, bản ngã, chấp thủ.

Như vậy Đức Phật đưa ra hình ảnh ngọn đèn không châm dầu, khơi tim nữa, dầu đang có sẽ cạn kiệt, chấm dứt nếu không tiếp tế nhiên liệu mới nữa. Tập nhìn thấy khổ trong các pháp kiết sử. Có nhìn thấy được khổ thì tham dục mới giảm thiểu, ái dần dần được lắng dịu, sân hận hạ xuống, bản ngã được khiêm cung. Có nhìn thấy khổ thì từ từ mình mới có được cái tâm hiền dịu, lắng dịu. Có nhìn thấy sự nguy hiểm và tác hại của cuộc đời thì mới có thể an tịnh, nếu không cứ bị nó xúi giục "toàn là khổ thì chạy đi tìm cái khổ khác nữa để làm gì. Thôi, ở yên tu đi", thấy được như vậy thì thọ; tưởng; hành mới an tịnh và lắng dịu, còn không nó làm mình mệt mỏi, mang một cái thân bệnh hoạn, phiền não, cho nên "Trụ sơn đi, an trụ trong thánh trí huệ đi". Phải luôn luôn làm cho mình có sự hân hoan, phấn khởi, tác ý để trú trong hỷ lạc của pháp để nỗ lực thấy được khổ đau, thấy khổ nhưng vui vì thấy được sự thật, không còn bị gạt nữa mà đã được phơi bày ra, không còn che giấu nữa.

./.