Tương Ưng Sáu Xứ 5-Vén màn bí mật Đức Phật là ai
Tương Ưng Sáu Xứ 5 - Vén Màn Bí Mật Đức Phật Là Ai?
-THÍCH MINH THÀNH-
Một người thường trực hộ trì căn một cách quen và thuần thục, người này có sự vững trú thì những cảnh sắc bên ngoài, những âm thanh, những mùi vị, những sự đụng chạm, tiếp xúc khó mà tác động đến họ. Người có gìn giữ, bảo vệ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thì những sắc, thinh, hương, vị, xúc bên ngoài mà muốn tác động vào là không phải chuyện dễ. Giống như căn nhà mà có cửa, có khóa, có gài chốt kỹ mà người dưng muốn đi vào hay muốn trộm cắp không phải là chuyện dễ. Cho nên sự hộ trì căn của mình là giữ gìn tai, mắt, mũi, miệng, thân, ý giống như là ngôi nhà có cửa, có ổ khóa, có chìa khóa, có ống khóa, có chốt gài. Còn khi mình thả lỏng các căn thì đừng nói chi là có tiếng, có sắc bình thường thôi thì đã buông lung, phóng giật rồi, mình ngồi đó nhưng trong tâm mình có yên không. Cho nên hộ trì căn và oai nghi tỉnh giác khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm; tỉnh giác khi nói đến động, tĩnh; tỉnh giác khi co, duỗi, cuối; tỉnh giác khi nêm, nhai, nuốt, nói, im lặng là hết sức quan trọng. Đó là cả một sự tinh vi của trí huệ bén nhạy, sắc bén, thiện xảo, chứ còn mình cứ lơ đơ, lờ đờ, ngơ ngơ, ngáo ngáo thì làm sao mình nhìn ra và nhiếp phục nó nổi. Trong đó có cái gì, vận hành ra làm sao mình không thấy, nó qua mặt mình nhưng mình cũng không biết, thì phải làm sao? Cho nên mấy chú phải thấy Thánh trí đâu phải chuyện đơn giản, một bậc Tu Đà Hoàn, bậc thành tựu chánh tri kiến đâu phải chuyện đơn giản.“Hơn thống lãnh cõi đất, hơn làm chủ cõi trời, hơn chủ trì vũ trụ, quả Dự lưu tối thắng”, không phải Đức Phật nói câu đó là nói một cách cho có. Chúng ta nghĩ thử, một vị mà thống lãnh quả đất này, thì tầm vóc và đầu óc của người đó cỡ nào, đừng nói thống lãnh cả trái đất, giờ nói người đứng đầu một quốc gia thôi thì đầu óc của người ta cỡ nào. Mà vị thống lãnh cõi đất này cũng không bằng 1/16 của vị Tu Đà Hoàn, của một bậc thấy pháp, 1/16 là con số hồi xưa thôi, cũng giống như mình ở đây mình nói 1% vậy, như vậy có biết Thánh trí ở mức độ nào không? Mình đâu thể đem sự tu học cẩu thả mà so sánh được. Tại sao thiền quán thì nước mắt tràn ra, nhưng với cảnh như vậy thì thầy không chảy nước mắt ra, nó khác. Taị sao cha mẹ của Thầy mà mấy chú còn xúc động như vậy, tới cha mẹ mấy chú thì sao. Mình coi lại cảm thọ của mình, có những cái mình sẽ cho nó sanh khởi mãnh liệt, nhưng mà cái nào cần thiết không cho sanh khởi thì mình nhiếp phục nó, thì đó là quán cảm giác. Quán duyên sanh pháp trong lúc nghe tiếng đập bàn, thì mình phải nhận rõ đó là cảm giác do lỗ tai mình tiếp xúc mà sanh ra. Các pháp phải hiện rõ ra bên trong thân, tâm của mình, mình phải thấy được cái duyên sanh pháp nó vận hành khi mà cảm giác đó nó sanh khởi khi lỗ tai tiếp xúc với âm thanh đó. Lúc căn, trần, xúc nó giao thoa, tức là lỗ tai, âm thanh đập bàn và sự rõ biết âm thanh, ba pháp này hội tụ, tiếp xúc, giao thoa, xúc chạm sanh khởi lên cảm giác đó, trong đó mình cũng thấy cảm giác vô thường. Thầy muốn phá cái cảm giác hỷ lạc của mấy chú đang ngay lúc đó, để cho mấy chú nhìn thấy cảm giác hỷ lạc đó là vô thường. Lúc đó có tiếng chim hót, trúc lay, gió mát, tiếng phong linh thổi lên, vang lên rất là hay, ngay lúc đó thầy đập bàn một cái thì lạc thọ của mấy chú văng mất hết, khổ thọ sanh khởi. Để cho thấy được rằng đó là cảm giác nhẹ nhàng, dễ chịu, ta cứ ưa thích trong cảm giác đó. Mình biết nó dễ chịu thì mình vẫn biết là dễ chịu, dễ chịu thì khỏe hơn khó chịu, nhưng mà mình phải thấy tính chất dễ chịu đó cũng là vô thường. Mình đột phá luôn cảm thọ thiện, dễ chịu, nhưng nó vẫn là vô thường, đừng dính mắc, đừng chấp chước vào nó, đừng ham mê trong đó, nhìn thấy được sự vận hành, sanh khởi và ngoại diệt của các cảm thọ. Phải sống quán tánh sanh khởi, tánh diệt tận, tánh sanh diệt đối với các cảm thọ. Có một tiếng đập bàn thôi mà nãy giờ nói ra bao nhiêu thứ, nó có tóm thầu những ý nghĩa trong tạng kinh Nikaya không. Lỗ tai là vô thường, là cục thịt thôi, âm thanh là vô thường, cái rõ biết được âm thanh này là vô thường, là duyên sanh, mà ba thứ vô thường, ba thứ duyên sanh, ba thứ vô ngã hợp lại thì một ngàn thứ vô ngã hợp lại cũng là vô ngã, mười ngàn thứ vô thường hợp lại cũng vô thường, không thể một trăm thứ vô thường, một ngàn thứ vô thường hợp lại thành một cái thường được. Những cái làm ra nó đã là vô thường thì nó sao là thường được, cũng như cảm giác sanh khởi lên khi tiếp xúc âm thanh làm sao là thường được, nó là vô thường, là duyên sanh, là vô ngã, là trống rỗng, không có tính kiên cố, không có bền chắc gì ở đây hết. Mình càng thấy được điều này thì trí mình càng sáng, tuệ mình càng tỏ và hỷ lạc của mình càng sanh. Chỗ nãy là chỗ độc đáo, không phải thấy vô thường, khổ là mình khổ, mình càng thấy nó càng sâu sắc chừng nào, càng sáng tỏ chừng nào thì khổ của mình theo cái thấy biết đó mà được đoạn giảm. Một người mà có hiểu biết hết về những thực phẩm, biết chất nào có lợi, chất nào có hại, chất nào tốt cho sức khỏe, chất nào không tốt cho sức khỏe, thì khi ăn người ta có chọn lựa những thực phẩm tốt cho sức khỏe để họ ăn không, hay là lựa độc tố để ăn, thì họ cũng ăn chứ đâu phải không ăn. Cũng vậy, một người thấy rõ và sử dụng các pháp một cách thiện xảo, thấy rõ được tính chất vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng của các pháp thì mình không bị nó lừa gạt, làm lầm, che mắt, mình không còn say mê, đắm đuối nữa. Thấy được định lực của mình trong tiếng đập bàn, mình có định lực hay là không. Tại sao mà thầy hay nhắc mấy huynh đệ, trong lúc làm việc của mình đều phải tỏa ra sức niệm, định, tuệ của mình từ những việc nhỏ nhất, chứ đâu phải đợi mình cầm micro mình nói thì lúc đó mới trình pháp, mình trình trong tất cả sinh hoạt hằng ngày của mình, đó là đang trình pháp, Thánh pháp, thực pháp, ngũ uẩn pháp của mình đang triển hiện. Nói là chỉ một góc độ thôi để bày tỏ thôi, còn cái mà ta nhìn là ngũ uẩn đang triển hiện, tâm mình cần phải có sự huấn luyện, để ý và nó phải rộng lớn. Tại sao mình đặt máy quay phim ở đây, mà mình lo sửa âm thanh là mình quên cái máy, tại vì tâm mình rất là nhỏ hẹp, nó chỉ trú vô một cái thôi, còn hai, ba cái thì nó làm không được, hễ trú vô cái này, thì nó quên cái kia, chỉ biết có chút xíu đó thôi, cái tâm đó là cái tâm nhỏ hẹp, cái tâm bình thường, chưa có tu tập. Tâm tu tập là cái tâm rộng mở, lớn lao và có thể vận hành cùng một lúc nhiều thứ. Có thể nhìn ra được sắc nó đang như thế nào, thọ, tưởng, hành, thức đang như thế nào; có thể nhìn được tham, sân, si, bản ngã nó vận hành trong đó như thế nào cùng một lúc. Bây giờ chụp cái này thì quên cái kia, ở ngoài cầm trêm tay còn rớt, ở trong không có hình tướng luôn thì sao mà nhìn, nó vận hành nhanh, liên tục, siêu tốc như vậy đó thì sao mà nhìn. Nên mình ngồi thiền là để nhìn, chứ không phải ngồi là để tính giờ, ngồi để nhìn, nhìn để thấy, thấy để biết, biết để có cách xử lí tốt đẹp nhất. Chứ leo lên đó ngồi tính mấy tiếng đồng hồ để làm gì, mà ngồi đó để làm cái gì, thành ra nhiều khi mấy huynh đệ nói sao thầy khó tánh, đối với Thánh trí chưa là gì hết. Phải nhìn ra được hết tất cả những cái tưởng thô và tưởng tới, những cái thọ thô, thọ tới, thọ cực vi. Cũng như mấy huynh đệ trình pháp nói rằng lúc đó con thấy cái thọ của con không khổ cũng không vui, không phải, tại vì không thấy. Thậm chí trong cái thọ mà không khổ, không vui, mình xâu nó vô đó là lạc thọ vi tế. Mình tưởng đâu đó là mình không khổ, không vui, không phải, đó là lạc thọ vi tế, hay nó là khổ thọ vi tế một chút mà mình không thấy được hoặc là trí mình nó mờ, ngũ cái nó che. Ngũ cái che thì làm sao thấy được, một cái dục nó che là cũng không thấy rồi chứ đừng nói là năm cái cùng tấn công, thì thấy gì được nữa mà thấy. Thí dụ trường hợp mình ngồi mình lắc đùi, lắc chân, tự rung đùi luôn mà cũng không biết thì thấy cái gì nữa. Từ đó, ta thấy vô minh nó dày đặc, cái si ám nó tối thui. Bây giờ mình nghe vậy, nên mình nói ôi chao khó quá nên con không tu, có nhiều người ngồi đây suy nghĩ vậy đó. Không phải. Chính điều khó đó, mình làm được từ từ từng bước,từng bước thì mình mới lên bậc hiền Thánh, mới gọi là tu. Khi mà một người chu đáo, thận trọng, kỹ lưỡng rồi thì đâu có gì để lính quýnh, ghim một sợi dây, bấm nút lên là rồi. Người ta làm tới hơn 1.000 lần cái đó nữa, người ta lên người ta lái máy bay rồi. Bây giờ, đi du lịch lên không gian rồi đó, du lịch vũ trụ chứ không phải du lịch Mỹ đồ đâu. Cho nên chứng tỏ tâm mình còn thô tháo, còn nhà quê lắm, chưa có sâu sắc và tế nhị, mình phải để ý nó nhiều hơn nữa nhất là những giờ thiền, nhất là những khi mình đụng chuyện. Mình phải nhìn thật là kỹ, đừng để cho thọ nó tăng trưởng, phải làm cho thọ nó giảm thiểu cái cảm giác trong mình, cho cái thọ ngày càng giảm xuống. Chánh niệm và tỉnh giác của mình phải được duy trì, nuôi dưỡng và thực tập liên tục. Thực tập l úc nào cũng phải nhìn lại cảm giác nghĩ tưởng, lỡ quên thì thôi, nhớ là quay lại liền, thì từ từ nó sẽ thuần thục. Thành công đến với những người nỗ lực, kiên trì, chuyên cần, chịu khó, quyết tâm, chứ không thể đến với người biếng nhác, ẩu tả, cẩu thả, xem thường, được chút ít cho là đủ. Ở trong một tiếng đập bàn đó thực hành được Tứ Niệm Xứ, nếu mình không có hộ trì căn, thân của mình bị động chuyển, thọ mình động chuyển, tâm mình động chuyển và pháp bên trong động chuyển. Tứ động tâm không phải là ở Ấn Độ, mà một âm thanh thôi là ngũ uẩn mình động chuyển; tứ đại động chuyển; căn,trần, thức động chuyển; thọ, tưởng, hành, thức động chuyển. Đừng để nhiều thời gian vào những việc, những lời nói vô ích, bớt càng nhiều càng tốt. Hai điều quan trọng, im lặng của bậc Thánh và nói năng của bậc Thánh, đầu tư hết mức vào hai điều đó, nói là nói pháp còn không là thiền định, học kinh, công quả. Cho nên, trong một tiếng đập bàn là thấy được trí huệ đối với các pháp của mình, trí huệ nhận thức thân tâm các pháp về công phu hành trì của mình như thế nào nó hiện rõ trong một âm thanh đó thôi. Khi mình trình pháp thì những gì bên trong mình đều hiện ra hết, có dục, có tham, có ái, có bản ngã, có muốn thể hiện không. Luôn luôn chánh niệm tỉnh giác thì mình nhìn từ từ mình thấy thêm từng chút, từng chút. Mà mình không chịu để tâm, để ý là hoài luôn mình tu không có tiến, nếu có tiến được thì là thêm một số tri thức và chút ít kinh nghiệm, hiểu biết vậy thôi, chứ còn vấn đề nhìn rõ thân tâm của mình thì mình không rõ hết, không có xác đáng, không cặn kẽ được. Cho nên vấn đề lậu hoặc hết sức là qua mặt mình, qua mặt mình vù vù, lén lút, âm thầm, mình tưởng đâu là mình làm vậy, mình tu vậy, nhưng thật ra là nó đang điều khiển mình, mình chỉ như con robot làm theo nó hết, làm theo dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Những suy nghĩ, những cảm giác, những cái tưởng, những lời nói, hành động của mình, mình không nhìn ra được dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu đang điều khiển, cho nên càng ngày mình phải càng sâu sắc thêm. Các huynh đệ ở đây là có một bước tiến khác là mình chịu khó, phải chịu khó, và hết sức là chịu khó, chứ chịu khó thôi là chưa đủ, phải dám đánh đổi bằng sinh mạng, sẵn sàng đem một trăm cái mạng này, một ngàn cái mạng này để đổi lấy Thánh pháp, phải học như vậy đó. Nghe huynh đệ góp ý đúng thì quỳ xuống lạy liền và cảm ơn. Đó mới là tinh thần của người chân tu thật học. Còn đằng này cứ góp ý là giận, Thầy góp ý cũng giận luôn nữa rồi làm sao, bản ngã chình ình như vậy thì học cái gì. Chưa góp ý nữa mà đã suy nghĩ phi Như lý tác ý rồi chứ đừng nói là góp ý thì làm sao mà thành tựu các Thánh pháp. Góp ý một lời mà trong lòng mình vẫn có khổ thọ, khó chịu nhưng mình vẫn phải nhiếp phục, quỳ xuống lạy, xin lỗi, cảm ơn, khắc ghi, chấp nhận học pháp. Như vậy mới nhiếp phục được bản ngã, nhiếp phục được cái ta đây, nhiếp phục cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc ở bên trong. Ngọn cờ của bản ngã còn cao hơn cả 33 tầng trời nữa, chính nó đã chặn mình không bước vô được cánh cửa của Thánh trí, “Ngày nào bản ngã chưa diệt tận. Ngày ấy ta chưa được an toàn. Ngày nào bản ngã chưa đoạn tận. Ngày ấy tử thần vẫn theo ta”. Phải hết sức thận trọng đối với bản ngã, nó được coi như là thủ phạm chính yếu nhất khiến ta không thể nhập được Thánh trí, chỉ cần đánh gục cái này xuống thì thể nhập Thánh trí rất là mau. Biết bao nhiêu người bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ nhà, bỏ sự nghiệp, bỏ hết tất cả để vào tu, nhưng mà lại ôm bản ngã, bỏ bản ngã không được, cuối cùng thất bại hết tất cả, không thể bước vào Thánh pháp, chỉ là phước báu nhân thiên thôi, không thể thật sự mở được con mắt Thánh tri kiến-cái thấy biết của bậc Thánh. Thậm chí Thánh nhân, Thánh pháp tới trước mặt luôn, đưa con mắt sáng mà không nhận, tự cho là tôi hay rồi, tôi có pháp rồi, để trở thành bậc hiền Thánh không phải chuyện đơn giản đâu. Tại sao mình học được pháp này, mình phải chặt đầu, trảm cái đầu của bản ngã xuống để nó mọc cái đầu của trí huệ lên, Thánh trí mọc lên. Lúc nãy có một chú hỏi, giờ mình tu sắc, thọ, tưởng, hành, thức, cái gì cũng hết trơn hết trội rồi, thì bây giờ mình chứng cái gì, ai tu, ai chứng. Điều này hết sức sâu sắc, ngay cả người xuất gia tu lâu năm cũng không vượt qua được suy nghĩ này, đó chính là bản ngã nằm trong hành uẩn, điều này có trong rất nhiều bài kinh mai mốt mình sẽ học. Từ thời Đức Phật đã có rồi, Đức Phật đang thuyết pháp thì có một thấy suy nghĩ như vậy, Đức Phật đọc cái tâm, Phật nói “Này kẻ ngu si, Như Lai đang thuyết Chánh giáo, mà lại suy nghĩ như vậy”. Mà điều này là bình thường thôi, tất cả phàm phu và ngay cả người tu rất lâu năm đều suy nghĩ như vậy hết.
Mình cứ tưởng Phật là một thái tử, một vị tướng hảo, quang minh, đẹp như vậy, đó là mình chỉ nhìn thấy kiếp cuối cùng ở trên thân ngũ uẩn, hình ảnh đó giờ tan nát thành tro bụi rồi mà mình cho đó là thật. Phật thật sự là ai, mình có biết không? Chỉ có bậc thật sự khai pháp nhãn mới thấy được, bậc thành tựu được Thánh tri kiến mới thấy, biết được Phật là ai. Thí dụ, mấy người nghèo, người dân tộc ở biên giới, ở vùng sâu, vùng xa hẻo lánh, nghèo khó không có điện, không có truyền thông, không có viễn thông, không có điện thoại, không có gì hết, họ có bao giờ họ biết và tiếp xúc được với quốc vương, vị lãnh tụ của quốc gia không. Sao có cơ hội mà tiếp xúc được. Cho nên họ cũng tưởng ông vua là cũng giống giống mình, đẹp hơn mình một chút, đó chỉ là cái thí dụ tương đối, dễ hiểu thôi, nó cũng chưa phải nữa. Phật là một bậc đã vượt hết lên ngũ uẩn rồi, không còn ở trong ngũ uẩn nữa, mà mình là những người đang khao khát, khát ái, ưa thích, đắm đuối, khổ sở, sầu, bi, ưu não, với những thứ ngũ uẩn này. Còn Phật là người đã vứt bỏ nó như một nùi giẻ, nhìn nó là như những bong bóng nước, những bọt bèo, ảo ảnh, mà mình thì khổ đau với những thứ đó, Phật là người đã đi ra khỏi cái đó. Phật không có ở trong ngũ uẩn, không ở trong cái sắc tứ đại, không ở trong những cảm giác, không ở trong những cái tưởng, cái suy nghĩ, không ở trong những cái thức, cái rõ biết đó, thì làm sao mình biết được, bây giờ nói tới cảnh giới niết bàn làm sao mình diễn tả được. Mình sống với những cái đó, mà đó là những thứ vô thường, khốn khổ, khốn nạn, hoạn nạn, ách nạn, khổ nạn, hiểm nạn, tai nạn nhưng cứ mình nhận cái đó là mình, của mình rồi cười, khóc, lo lắng, sợ hãi, suy nghĩ, được mất, hơn thua rồi cứ mãi lòng vòng trong đó. Phật là bậc tri giả, kiến giả, bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác, bậc đã thấy, bậc đã biết, bậc đã diệt tận tất cả những sự vô minh và khát ái đối với năm uẩn, bậc đã thấu suốt trọn vẹn hoàn toàn, tận cùng, tất cả đối với thế giới năm uẩn này. Làm sao mà mình có thể diễn tả nổi một bậc như vậy, là bậc Thánh chúa, bậc thầy của trời và người. Đức Phật có những bài kinh nói những chư thiên còn đam mê trong sắc, khao khát trong sắc, đau khổ vì sắc, luyến ái trong sắc, sầu, bi, khổ, ưu não trong ngũ uẩn. Cho nên như thế mình mới là đệ tử của Phật, mới lạy chân Phật, vì ngoài Ngài, bậc A La Hán ra thì tất cả là đống giòi, những còn giòi trong đống phân tứ đại, ngũ uẩn này. Chúng bò lết ở trong đây, ăn nuốt ở trong đây, lăn lộn, tham đắm, dâm dục ở trong đây, sân hận, si mê, vô minh và bản ngã ở trong đây, mà trong khi các Ngài đã đi ra khỏi thì làm sao mình nói hết được công đước của Như Lai. Sắp tới mình sẽ có mười bài nói về mười trí đức của Đức Phật, mỗi một bài là lạy. Cho nên khó mà thấy được dung nhan của Ngài, cái dung nhan vô tướng của Thánh trí, Phật đâu phải là những hình tượng, màu sắc đó, mà tối ngày mình vô mình lạy, mình cầu xin, dung nhan của Ngài là vô tướng, là Thánh trí.
Cho nên bài kinh sau đây khi đọc là rúng động hết, Tương Ưng Bộ Kinh, tiếp tục chương Sáu Xứ, bài kinh Liễu tri “Này các Tỷ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả thời không thể đoạn tận khổ đau, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ mắt thời không thể đoạn tận khổ đau; không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ các sắc thời không thể đoạn tận khổ đau; nhãn thức, nhãn xúc, những cảm giác, cảm thọ, khổ, vui, hay là không khổ không vui không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ cảm thọ ấy thời không thể đoạn tận khổ đau. Tai, mũi, lưỡi, thân không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ ý thời không thể đoạn tận khổ đau; các pháp ý thức, ý xúc do duyên ý xúc khởi lên các cảm thọ lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ các cảm thọ ấy thời không thể đoạn tận thời khổ đau”. Nghe những điều này thật rúng động, có một cảm xúc ngoài sức tưởng tượng về Đức Phật siêu việt vĩ đại, Thánh chúa, Thánh của tất cả các bậc Thánh. Không có một cái biết thù thắng, một cái biết trọn vẹn, không có rời khỏi sự ham muốn, không có từ bỏ những mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, những cảm giác này, những nghĩ tưởng nhận thức này thời không có thể đoạn tận khổ đau. Không hiểu biết nó một cách tận tường, triệt để, trọn vẹn thì làm sao mà mình không tham nó được, cho nên phải từ thắng tri, liễu tri, ly tham rồi mới từ bỏ. Thánh tri là Chánh tri kiến, Thánh tri kiến. Không thắng tri, không liễu tri thì làm sao mà ly tham, mà không ly tham thì làm sao từ bỏ. Cho nên không thắng tri, không thấu suốt, không tận tường, không hiểu biết triệt để những mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, những sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, tứ đại, ngũ uẩn này, không ly tham, không lìa tham muốn đối với nó, không từ bỏ nó thời không có thể đoạn tận khổ đau, tại sao vậy? Chỗ này mới là chỗ mình phải dập đầu trước Đức Phật vì Đức Phật khám phá ra toàn bộ một hệ thống vận hành, nguồn máy của sự sanh và diệt, sự hoạt động của nó và làm thế nào để chấm dứt từng bộ phận, khủng khiếp không cái Thánh trí kinh khủng này. Sắc từ đâu sanh khởi, từ đâu tập khởi, nó an trú như thế nào, chấm dứt ra làm sao? Cảm giác từ đâu sanh khởi, an trú như thế nào, vận hành như thế nào và chấm dứt ra làm sao? Những hình bóng trong nội tâm, trong tưởng từ đâu nó sanh, an trú như thế nào, vận hành như thế nào và chấm dứt làm sao? Những suy nghĩ từ đâu nó sanh, vận hành làm sao, tính chất như thế nào, tên, tuổi, mặt, mũi, tánh tình, bản chất như thế nào và nó chấm dứt ra làm sao, làm sao để nó chấm dứt? Thậm chí bây giờ đến thức uẩn là một cái khủng khiếp, tất cả các ngoại đạo, tu chứng đến mức độ tám muôn bốn ngàn kiếp mà vẫn không nhìn ra được những thức uẩn và thọ uẩn. Cuối cùng đâu giải thoát được vì lấy thức uẩn, cái biết đó, cảm giác đó là mình. Trong khi đó Đức Phật nói rành rõ là nó sanh khởi làm sao, nó an trú, vận hành sao, nó ái, thủ sao, ưa thích, bám chặt, chấp thủ, sầu, bi, khổ, ưu não như thế nào và làm sao cho nó chấm dứt. Nói rành mạch từng thứ, từng thứ như vậy mới là Chánh Đẳng Chánh Giác, vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là chỗ đó. Tức là cả một bộ máy, guồng máy mà nó vận hành ra ngũ uẩn, nó sinh thành vạn vật, nhân sinh, vũ trụ, những dục, tham, ái, vô minh, bản ngã thâm sâu, cùng cực, cực kì cùng cực, mà Phật thấy, Phật biết không còn chỗ nào sót cho dù bằng một sợi lông, như vậy mà không phải bậc Chánh Đẳng Chánh Giác hay sao, Thánh trung chi Thánh chúa, Thánh của tất cả các bậc Thánh, là bậc tối thượng của chư thiên và loài người. Từ đâu nó sanh ra cái biết của mình, làm sao mình biết? Một ngàn ông đứng đầu khoa học trên thế giới này mà suy nghĩ bể cái đầu ra cũng chưa biết một phần tâm thức của mình nữa, cộng hết 7 tỷ người trên thế giới này ngồi lại suy nghĩ nát óc ra cũng không nghĩ ra được một chút xíu Thánh trí của Đức Phật. Thầy của Trời, Người, Thiên nhân sư là đây, bậc Thế gian giải là chỗ này, vô thượng sĩ, bậc ứng cúng là bậc xứng đáng cho tất cả sáu nẻo Trời và Người quỳ lại dưới chân này, tôn quý nhất trên đời là Thế Tôn. Cho nên đọc những cái này là rúng động, nổi da gà, nước mắt tràn ra khi thấy được tầm vóc của Đức Phật siêu việt, không có một lời nào diễn tả nổi Thánh trí trong tạng kinh Nikaya này. Mình chỉ có làm y như trong đây thôi, không xê xích một chút nào hết, là mình gặp được Đức Phật ở cuối đường. Cho nên hết sức là không thể nào nói nổi, nếu bây giờ không giảng ra thì làm sao, ai đọc trong đây mà hiểu. “Này các Tỷ-kheo,Ta sẽ thuyết cho các Ông về pháp đưa đến đoạn tận tất cả. Hãy lắng nghe. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp đưa đến đoạn tận tất cả? Mắt, này các Tỷ-kheo, cần phải đoạn tận. Các sắc cần phải đoạn tận. Nhãn thức cần phải đoạn tận. Nhãn xúc cần phải đoạn tận. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy cần phải đoạn tận. Tai, Mũi, Lưỡi, Thân. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là pháp đưa đến đoạn tận tất cả.” “Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về pháp đưa đến đoạn tận tất cả nhờ thắng tri, liễu tri. Hãy lắng nghe. Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là pháp đưa đến đoạn tận tất cả nhờ thắng tri, liễu tri?” Con mắt này phải chấm dứt nhờ thấy biết tận cùng bản chất của nó. Lỗ tai này cần phải chấm dứt, do thấy biết tận cùng bản chất của vô thường, khổ, không, trống rỗng, vô ngã, bất tịnh của nó. Cái mũi này, cái lưỡi này, cái thân này cần phải chấm dứt do thấy biết bản chất bất tịnh, vô thường, trống rỗng của nó mà không được tiếp tục, tiếp nối nữa, không có làm cho nó sanh khởi nữa. Nhờ thắng tri, nhờ liễu tri, tất cả những cảm giác sanh khởi lên trong sau căn này khổ, vui, hay là không khổ không vui cần phải đoạn tận, chấm dứt nhờ sự thấu biết nó một cách toàn vẹn tất cả những cảm giác, mình biết nó, thấy nó, quán nó, soi thủng nó. Một ngàn mỏ kim cương cũng không so sánh được với những lời này, không có người thứ hai nào ở trong ba ngàn thế giới nói được những lời này. Mình thích bị còng, mình thích sắc này còng mình, những dục ái đầy dẫy, những bệnh hoạn hành hạ, sai xử khiến mình ngủ cũng không yên. Sắc dục còng mình, thọ dục trong cám giác đó nó còng mình, những cái tưởng nó còng mình, những suy nghĩ, cái thức nó còng mình, còn mình thì thích ở trong còng đó, thích còng số 8. Mình muốn có cái còng đó, muốn sanh già bệnh chết, muốn ung thư, muốn tai nạn giao thông, muốn đống thịt bầy nhầy, muốn mù điếc câm ngọng, muốn tham, sân, si, bản ngã chứ mình không muốn niết bàn, tịch tịnh, thanh lương, chấm dứt các khổ, đó là cái gì, là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu nó muốn. “Này các Tỷ-kheo, tất cả phải bị sanh, và này các Tỷ-kheo thế nào là tất cả phải bị sanh? Mắt, này các Tỷ-kheo, phải bị sanh. Các sắc phải bị sanh. Nhãn thức phải bị sanh. Nhãn xúc phải bị sanh. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy phải bị sanh. Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý phải bị sanh. Các pháp phải bị sanh. Ý thức phải bị sanh. Ý xúc phải bị sanh. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy phải bị sanh. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt không còn trở lui trạng thái này nữa ". Ra khỏi ngũ uẩn, chấm dứt, từ bỏ đống thịt bầy nhầy, đống bệnh hoạn đầy phân và nước tiểu, từ đó thành tựu Thánh trí kim cương bất hoại vượt ra ngoài ngũ uẩn. “Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị già, phải bị bệnh, phải bị chết, phải bị sầu, phải bị phiền não, phải bị đoạn tận, phải bị tiêu diệt, phải bị tập khởi, phải bị đoạn diệt”, chỗ này hay lắm, mình cứ tưởng tu dứt ngũ uẩn là mình đoạn diệt, không phải, chính ngũ uẩn này mới là thứ đoạn diệt, thứ bại hoại, thứ tan hoại, tan nát, ran rã, chứ không phải mình tu dứt ngũ uẩn rồi là đoạn diệt. Chính đam mê ngũ uẩn này mới là đam mê cái đoạn diệt, đam mê phiền não, đam mê cái bị tiêu diệt, đam mê cái hoạn nạn, khổ nạn, ách nạn, khốn nạn, tại nạn, hiểm nạn, là mình đam mê cái ngũ uẩn này. Chính chấm dứt ngũ uẩn mới là hết đoạn diệt và đi tới chỗ bất sanh, không có bị sanh, không bị già, không bị bệnh, không bị chết, không bị phiền não, không bị đoạn tận, không bị tiêu diệt, không bị tập khởi, không bị đoạn diệt.
Khủng khiếp như vậy nên không ai nói điều này ngoài Đức Như Lai, ba ngàn năm nay lưu truyền như vậy, ai giảng cái này, ai dám tu học cái này, thì người đó đi trên Thánh đạo.
./.
-THÍCH MINH THÀNH-
Một người thường trực hộ trì căn một cách quen và thuần thục, người này có sự vững trú thì những cảnh sắc bên ngoài, những âm thanh, những mùi vị, những sự đụng chạm, tiếp xúc khó mà tác động đến họ. Người có gìn giữ, bảo vệ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân thì những sắc, thinh, hương, vị, xúc bên ngoài mà muốn tác động vào là không phải chuyện dễ. Giống như căn nhà mà có cửa, có khóa, có gài chốt kỹ mà người dưng muốn đi vào hay muốn trộm cắp không phải là chuyện dễ. Cho nên sự hộ trì căn của mình là giữ gìn tai, mắt, mũi, miệng, thân, ý giống như là ngôi nhà có cửa, có ổ khóa, có chìa khóa, có ống khóa, có chốt gài. Còn khi mình thả lỏng các căn thì đừng nói chi là có tiếng, có sắc bình thường thôi thì đã buông lung, phóng giật rồi, mình ngồi đó nhưng trong tâm mình có yên không. Cho nên hộ trì căn và oai nghi tỉnh giác khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm; tỉnh giác khi nói đến động, tĩnh; tỉnh giác khi co, duỗi, cuối; tỉnh giác khi nêm, nhai, nuốt, nói, im lặng là hết sức quan trọng. Đó là cả một sự tinh vi của trí huệ bén nhạy, sắc bén, thiện xảo, chứ còn mình cứ lơ đơ, lờ đờ, ngơ ngơ, ngáo ngáo thì làm sao mình nhìn ra và nhiếp phục nó nổi. Trong đó có cái gì, vận hành ra làm sao mình không thấy, nó qua mặt mình nhưng mình cũng không biết, thì phải làm sao? Cho nên mấy chú phải thấy Thánh trí đâu phải chuyện đơn giản, một bậc Tu Đà Hoàn, bậc thành tựu chánh tri kiến đâu phải chuyện đơn giản.“Hơn thống lãnh cõi đất, hơn làm chủ cõi trời, hơn chủ trì vũ trụ, quả Dự lưu tối thắng”, không phải Đức Phật nói câu đó là nói một cách cho có. Chúng ta nghĩ thử, một vị mà thống lãnh quả đất này, thì tầm vóc và đầu óc của người đó cỡ nào, đừng nói thống lãnh cả trái đất, giờ nói người đứng đầu một quốc gia thôi thì đầu óc của người ta cỡ nào. Mà vị thống lãnh cõi đất này cũng không bằng 1/16 của vị Tu Đà Hoàn, của một bậc thấy pháp, 1/16 là con số hồi xưa thôi, cũng giống như mình ở đây mình nói 1% vậy, như vậy có biết Thánh trí ở mức độ nào không? Mình đâu thể đem sự tu học cẩu thả mà so sánh được. Tại sao thiền quán thì nước mắt tràn ra, nhưng với cảnh như vậy thì thầy không chảy nước mắt ra, nó khác. Taị sao cha mẹ của Thầy mà mấy chú còn xúc động như vậy, tới cha mẹ mấy chú thì sao. Mình coi lại cảm thọ của mình, có những cái mình sẽ cho nó sanh khởi mãnh liệt, nhưng mà cái nào cần thiết không cho sanh khởi thì mình nhiếp phục nó, thì đó là quán cảm giác. Quán duyên sanh pháp trong lúc nghe tiếng đập bàn, thì mình phải nhận rõ đó là cảm giác do lỗ tai mình tiếp xúc mà sanh ra. Các pháp phải hiện rõ ra bên trong thân, tâm của mình, mình phải thấy được cái duyên sanh pháp nó vận hành khi mà cảm giác đó nó sanh khởi khi lỗ tai tiếp xúc với âm thanh đó. Lúc căn, trần, xúc nó giao thoa, tức là lỗ tai, âm thanh đập bàn và sự rõ biết âm thanh, ba pháp này hội tụ, tiếp xúc, giao thoa, xúc chạm sanh khởi lên cảm giác đó, trong đó mình cũng thấy cảm giác vô thường. Thầy muốn phá cái cảm giác hỷ lạc của mấy chú đang ngay lúc đó, để cho mấy chú nhìn thấy cảm giác hỷ lạc đó là vô thường. Lúc đó có tiếng chim hót, trúc lay, gió mát, tiếng phong linh thổi lên, vang lên rất là hay, ngay lúc đó thầy đập bàn một cái thì lạc thọ của mấy chú văng mất hết, khổ thọ sanh khởi. Để cho thấy được rằng đó là cảm giác nhẹ nhàng, dễ chịu, ta cứ ưa thích trong cảm giác đó. Mình biết nó dễ chịu thì mình vẫn biết là dễ chịu, dễ chịu thì khỏe hơn khó chịu, nhưng mà mình phải thấy tính chất dễ chịu đó cũng là vô thường. Mình đột phá luôn cảm thọ thiện, dễ chịu, nhưng nó vẫn là vô thường, đừng dính mắc, đừng chấp chước vào nó, đừng ham mê trong đó, nhìn thấy được sự vận hành, sanh khởi và ngoại diệt của các cảm thọ. Phải sống quán tánh sanh khởi, tánh diệt tận, tánh sanh diệt đối với các cảm thọ. Có một tiếng đập bàn thôi mà nãy giờ nói ra bao nhiêu thứ, nó có tóm thầu những ý nghĩa trong tạng kinh Nikaya không. Lỗ tai là vô thường, là cục thịt thôi, âm thanh là vô thường, cái rõ biết được âm thanh này là vô thường, là duyên sanh, mà ba thứ vô thường, ba thứ duyên sanh, ba thứ vô ngã hợp lại thì một ngàn thứ vô ngã hợp lại cũng là vô ngã, mười ngàn thứ vô thường hợp lại cũng vô thường, không thể một trăm thứ vô thường, một ngàn thứ vô thường hợp lại thành một cái thường được. Những cái làm ra nó đã là vô thường thì nó sao là thường được, cũng như cảm giác sanh khởi lên khi tiếp xúc âm thanh làm sao là thường được, nó là vô thường, là duyên sanh, là vô ngã, là trống rỗng, không có tính kiên cố, không có bền chắc gì ở đây hết. Mình càng thấy được điều này thì trí mình càng sáng, tuệ mình càng tỏ và hỷ lạc của mình càng sanh. Chỗ nãy là chỗ độc đáo, không phải thấy vô thường, khổ là mình khổ, mình càng thấy nó càng sâu sắc chừng nào, càng sáng tỏ chừng nào thì khổ của mình theo cái thấy biết đó mà được đoạn giảm. Một người mà có hiểu biết hết về những thực phẩm, biết chất nào có lợi, chất nào có hại, chất nào tốt cho sức khỏe, chất nào không tốt cho sức khỏe, thì khi ăn người ta có chọn lựa những thực phẩm tốt cho sức khỏe để họ ăn không, hay là lựa độc tố để ăn, thì họ cũng ăn chứ đâu phải không ăn. Cũng vậy, một người thấy rõ và sử dụng các pháp một cách thiện xảo, thấy rõ được tính chất vô thường, khổ, vô ngã, trống rỗng của các pháp thì mình không bị nó lừa gạt, làm lầm, che mắt, mình không còn say mê, đắm đuối nữa. Thấy được định lực của mình trong tiếng đập bàn, mình có định lực hay là không. Tại sao mà thầy hay nhắc mấy huynh đệ, trong lúc làm việc của mình đều phải tỏa ra sức niệm, định, tuệ của mình từ những việc nhỏ nhất, chứ đâu phải đợi mình cầm micro mình nói thì lúc đó mới trình pháp, mình trình trong tất cả sinh hoạt hằng ngày của mình, đó là đang trình pháp, Thánh pháp, thực pháp, ngũ uẩn pháp của mình đang triển hiện. Nói là chỉ một góc độ thôi để bày tỏ thôi, còn cái mà ta nhìn là ngũ uẩn đang triển hiện, tâm mình cần phải có sự huấn luyện, để ý và nó phải rộng lớn. Tại sao mình đặt máy quay phim ở đây, mà mình lo sửa âm thanh là mình quên cái máy, tại vì tâm mình rất là nhỏ hẹp, nó chỉ trú vô một cái thôi, còn hai, ba cái thì nó làm không được, hễ trú vô cái này, thì nó quên cái kia, chỉ biết có chút xíu đó thôi, cái tâm đó là cái tâm nhỏ hẹp, cái tâm bình thường, chưa có tu tập. Tâm tu tập là cái tâm rộng mở, lớn lao và có thể vận hành cùng một lúc nhiều thứ. Có thể nhìn ra được sắc nó đang như thế nào, thọ, tưởng, hành, thức đang như thế nào; có thể nhìn được tham, sân, si, bản ngã nó vận hành trong đó như thế nào cùng một lúc. Bây giờ chụp cái này thì quên cái kia, ở ngoài cầm trêm tay còn rớt, ở trong không có hình tướng luôn thì sao mà nhìn, nó vận hành nhanh, liên tục, siêu tốc như vậy đó thì sao mà nhìn. Nên mình ngồi thiền là để nhìn, chứ không phải ngồi là để tính giờ, ngồi để nhìn, nhìn để thấy, thấy để biết, biết để có cách xử lí tốt đẹp nhất. Chứ leo lên đó ngồi tính mấy tiếng đồng hồ để làm gì, mà ngồi đó để làm cái gì, thành ra nhiều khi mấy huynh đệ nói sao thầy khó tánh, đối với Thánh trí chưa là gì hết. Phải nhìn ra được hết tất cả những cái tưởng thô và tưởng tới, những cái thọ thô, thọ tới, thọ cực vi. Cũng như mấy huynh đệ trình pháp nói rằng lúc đó con thấy cái thọ của con không khổ cũng không vui, không phải, tại vì không thấy. Thậm chí trong cái thọ mà không khổ, không vui, mình xâu nó vô đó là lạc thọ vi tế. Mình tưởng đâu đó là mình không khổ, không vui, không phải, đó là lạc thọ vi tế, hay nó là khổ thọ vi tế một chút mà mình không thấy được hoặc là trí mình nó mờ, ngũ cái nó che. Ngũ cái che thì làm sao thấy được, một cái dục nó che là cũng không thấy rồi chứ đừng nói là năm cái cùng tấn công, thì thấy gì được nữa mà thấy. Thí dụ trường hợp mình ngồi mình lắc đùi, lắc chân, tự rung đùi luôn mà cũng không biết thì thấy cái gì nữa. Từ đó, ta thấy vô minh nó dày đặc, cái si ám nó tối thui. Bây giờ mình nghe vậy, nên mình nói ôi chao khó quá nên con không tu, có nhiều người ngồi đây suy nghĩ vậy đó. Không phải. Chính điều khó đó, mình làm được từ từ từng bước,từng bước thì mình mới lên bậc hiền Thánh, mới gọi là tu. Khi mà một người chu đáo, thận trọng, kỹ lưỡng rồi thì đâu có gì để lính quýnh, ghim một sợi dây, bấm nút lên là rồi. Người ta làm tới hơn 1.000 lần cái đó nữa, người ta lên người ta lái máy bay rồi. Bây giờ, đi du lịch lên không gian rồi đó, du lịch vũ trụ chứ không phải du lịch Mỹ đồ đâu. Cho nên chứng tỏ tâm mình còn thô tháo, còn nhà quê lắm, chưa có sâu sắc và tế nhị, mình phải để ý nó nhiều hơn nữa nhất là những giờ thiền, nhất là những khi mình đụng chuyện. Mình phải nhìn thật là kỹ, đừng để cho thọ nó tăng trưởng, phải làm cho thọ nó giảm thiểu cái cảm giác trong mình, cho cái thọ ngày càng giảm xuống. Chánh niệm và tỉnh giác của mình phải được duy trì, nuôi dưỡng và thực tập liên tục. Thực tập l úc nào cũng phải nhìn lại cảm giác nghĩ tưởng, lỡ quên thì thôi, nhớ là quay lại liền, thì từ từ nó sẽ thuần thục. Thành công đến với những người nỗ lực, kiên trì, chuyên cần, chịu khó, quyết tâm, chứ không thể đến với người biếng nhác, ẩu tả, cẩu thả, xem thường, được chút ít cho là đủ. Ở trong một tiếng đập bàn đó thực hành được Tứ Niệm Xứ, nếu mình không có hộ trì căn, thân của mình bị động chuyển, thọ mình động chuyển, tâm mình động chuyển và pháp bên trong động chuyển. Tứ động tâm không phải là ở Ấn Độ, mà một âm thanh thôi là ngũ uẩn mình động chuyển; tứ đại động chuyển; căn,trần, thức động chuyển; thọ, tưởng, hành, thức động chuyển. Đừng để nhiều thời gian vào những việc, những lời nói vô ích, bớt càng nhiều càng tốt. Hai điều quan trọng, im lặng của bậc Thánh và nói năng của bậc Thánh, đầu tư hết mức vào hai điều đó, nói là nói pháp còn không là thiền định, học kinh, công quả. Cho nên, trong một tiếng đập bàn là thấy được trí huệ đối với các pháp của mình, trí huệ nhận thức thân tâm các pháp về công phu hành trì của mình như thế nào nó hiện rõ trong một âm thanh đó thôi. Khi mình trình pháp thì những gì bên trong mình đều hiện ra hết, có dục, có tham, có ái, có bản ngã, có muốn thể hiện không. Luôn luôn chánh niệm tỉnh giác thì mình nhìn từ từ mình thấy thêm từng chút, từng chút. Mà mình không chịu để tâm, để ý là hoài luôn mình tu không có tiến, nếu có tiến được thì là thêm một số tri thức và chút ít kinh nghiệm, hiểu biết vậy thôi, chứ còn vấn đề nhìn rõ thân tâm của mình thì mình không rõ hết, không có xác đáng, không cặn kẽ được. Cho nên vấn đề lậu hoặc hết sức là qua mặt mình, qua mặt mình vù vù, lén lút, âm thầm, mình tưởng đâu là mình làm vậy, mình tu vậy, nhưng thật ra là nó đang điều khiển mình, mình chỉ như con robot làm theo nó hết, làm theo dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu. Những suy nghĩ, những cảm giác, những cái tưởng, những lời nói, hành động của mình, mình không nhìn ra được dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu đang điều khiển, cho nên càng ngày mình phải càng sâu sắc thêm. Các huynh đệ ở đây là có một bước tiến khác là mình chịu khó, phải chịu khó, và hết sức là chịu khó, chứ chịu khó thôi là chưa đủ, phải dám đánh đổi bằng sinh mạng, sẵn sàng đem một trăm cái mạng này, một ngàn cái mạng này để đổi lấy Thánh pháp, phải học như vậy đó. Nghe huynh đệ góp ý đúng thì quỳ xuống lạy liền và cảm ơn. Đó mới là tinh thần của người chân tu thật học. Còn đằng này cứ góp ý là giận, Thầy góp ý cũng giận luôn nữa rồi làm sao, bản ngã chình ình như vậy thì học cái gì. Chưa góp ý nữa mà đã suy nghĩ phi Như lý tác ý rồi chứ đừng nói là góp ý thì làm sao mà thành tựu các Thánh pháp. Góp ý một lời mà trong lòng mình vẫn có khổ thọ, khó chịu nhưng mình vẫn phải nhiếp phục, quỳ xuống lạy, xin lỗi, cảm ơn, khắc ghi, chấp nhận học pháp. Như vậy mới nhiếp phục được bản ngã, nhiếp phục được cái ta đây, nhiếp phục cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc ở bên trong. Ngọn cờ của bản ngã còn cao hơn cả 33 tầng trời nữa, chính nó đã chặn mình không bước vô được cánh cửa của Thánh trí, “Ngày nào bản ngã chưa diệt tận. Ngày ấy ta chưa được an toàn. Ngày nào bản ngã chưa đoạn tận. Ngày ấy tử thần vẫn theo ta”. Phải hết sức thận trọng đối với bản ngã, nó được coi như là thủ phạm chính yếu nhất khiến ta không thể nhập được Thánh trí, chỉ cần đánh gục cái này xuống thì thể nhập Thánh trí rất là mau. Biết bao nhiêu người bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ nhà, bỏ sự nghiệp, bỏ hết tất cả để vào tu, nhưng mà lại ôm bản ngã, bỏ bản ngã không được, cuối cùng thất bại hết tất cả, không thể bước vào Thánh pháp, chỉ là phước báu nhân thiên thôi, không thể thật sự mở được con mắt Thánh tri kiến-cái thấy biết của bậc Thánh. Thậm chí Thánh nhân, Thánh pháp tới trước mặt luôn, đưa con mắt sáng mà không nhận, tự cho là tôi hay rồi, tôi có pháp rồi, để trở thành bậc hiền Thánh không phải chuyện đơn giản đâu. Tại sao mình học được pháp này, mình phải chặt đầu, trảm cái đầu của bản ngã xuống để nó mọc cái đầu của trí huệ lên, Thánh trí mọc lên. Lúc nãy có một chú hỏi, giờ mình tu sắc, thọ, tưởng, hành, thức, cái gì cũng hết trơn hết trội rồi, thì bây giờ mình chứng cái gì, ai tu, ai chứng. Điều này hết sức sâu sắc, ngay cả người xuất gia tu lâu năm cũng không vượt qua được suy nghĩ này, đó chính là bản ngã nằm trong hành uẩn, điều này có trong rất nhiều bài kinh mai mốt mình sẽ học. Từ thời Đức Phật đã có rồi, Đức Phật đang thuyết pháp thì có một thấy suy nghĩ như vậy, Đức Phật đọc cái tâm, Phật nói “Này kẻ ngu si, Như Lai đang thuyết Chánh giáo, mà lại suy nghĩ như vậy”. Mà điều này là bình thường thôi, tất cả phàm phu và ngay cả người tu rất lâu năm đều suy nghĩ như vậy hết.
Mình cứ tưởng Phật là một thái tử, một vị tướng hảo, quang minh, đẹp như vậy, đó là mình chỉ nhìn thấy kiếp cuối cùng ở trên thân ngũ uẩn, hình ảnh đó giờ tan nát thành tro bụi rồi mà mình cho đó là thật. Phật thật sự là ai, mình có biết không? Chỉ có bậc thật sự khai pháp nhãn mới thấy được, bậc thành tựu được Thánh tri kiến mới thấy, biết được Phật là ai. Thí dụ, mấy người nghèo, người dân tộc ở biên giới, ở vùng sâu, vùng xa hẻo lánh, nghèo khó không có điện, không có truyền thông, không có viễn thông, không có điện thoại, không có gì hết, họ có bao giờ họ biết và tiếp xúc được với quốc vương, vị lãnh tụ của quốc gia không. Sao có cơ hội mà tiếp xúc được. Cho nên họ cũng tưởng ông vua là cũng giống giống mình, đẹp hơn mình một chút, đó chỉ là cái thí dụ tương đối, dễ hiểu thôi, nó cũng chưa phải nữa. Phật là một bậc đã vượt hết lên ngũ uẩn rồi, không còn ở trong ngũ uẩn nữa, mà mình là những người đang khao khát, khát ái, ưa thích, đắm đuối, khổ sở, sầu, bi, ưu não, với những thứ ngũ uẩn này. Còn Phật là người đã vứt bỏ nó như một nùi giẻ, nhìn nó là như những bong bóng nước, những bọt bèo, ảo ảnh, mà mình thì khổ đau với những thứ đó, Phật là người đã đi ra khỏi cái đó. Phật không có ở trong ngũ uẩn, không ở trong cái sắc tứ đại, không ở trong những cảm giác, không ở trong những cái tưởng, cái suy nghĩ, không ở trong những cái thức, cái rõ biết đó, thì làm sao mình biết được, bây giờ nói tới cảnh giới niết bàn làm sao mình diễn tả được. Mình sống với những cái đó, mà đó là những thứ vô thường, khốn khổ, khốn nạn, hoạn nạn, ách nạn, khổ nạn, hiểm nạn, tai nạn nhưng cứ mình nhận cái đó là mình, của mình rồi cười, khóc, lo lắng, sợ hãi, suy nghĩ, được mất, hơn thua rồi cứ mãi lòng vòng trong đó. Phật là bậc tri giả, kiến giả, bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác, bậc đã thấy, bậc đã biết, bậc đã diệt tận tất cả những sự vô minh và khát ái đối với năm uẩn, bậc đã thấu suốt trọn vẹn hoàn toàn, tận cùng, tất cả đối với thế giới năm uẩn này. Làm sao mà mình có thể diễn tả nổi một bậc như vậy, là bậc Thánh chúa, bậc thầy của trời và người. Đức Phật có những bài kinh nói những chư thiên còn đam mê trong sắc, khao khát trong sắc, đau khổ vì sắc, luyến ái trong sắc, sầu, bi, khổ, ưu não trong ngũ uẩn. Cho nên như thế mình mới là đệ tử của Phật, mới lạy chân Phật, vì ngoài Ngài, bậc A La Hán ra thì tất cả là đống giòi, những còn giòi trong đống phân tứ đại, ngũ uẩn này. Chúng bò lết ở trong đây, ăn nuốt ở trong đây, lăn lộn, tham đắm, dâm dục ở trong đây, sân hận, si mê, vô minh và bản ngã ở trong đây, mà trong khi các Ngài đã đi ra khỏi thì làm sao mình nói hết được công đước của Như Lai. Sắp tới mình sẽ có mười bài nói về mười trí đức của Đức Phật, mỗi một bài là lạy. Cho nên khó mà thấy được dung nhan của Ngài, cái dung nhan vô tướng của Thánh trí, Phật đâu phải là những hình tượng, màu sắc đó, mà tối ngày mình vô mình lạy, mình cầu xin, dung nhan của Ngài là vô tướng, là Thánh trí.
Cho nên bài kinh sau đây khi đọc là rúng động hết, Tương Ưng Bộ Kinh, tiếp tục chương Sáu Xứ, bài kinh Liễu tri “Này các Tỷ-kheo, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ tất cả thời không thể đoạn tận khổ đau, không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ mắt thời không thể đoạn tận khổ đau; không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ các sắc thời không thể đoạn tận khổ đau; nhãn thức, nhãn xúc, những cảm giác, cảm thọ, khổ, vui, hay là không khổ không vui không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ cảm thọ ấy thời không thể đoạn tận khổ đau. Tai, mũi, lưỡi, thân không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ ý thời không thể đoạn tận khổ đau; các pháp ý thức, ý xúc do duyên ý xúc khởi lên các cảm thọ lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc không thắng tri, không liễu tri, không ly tham, không từ bỏ các cảm thọ ấy thời không thể đoạn tận thời khổ đau”. Nghe những điều này thật rúng động, có một cảm xúc ngoài sức tưởng tượng về Đức Phật siêu việt vĩ đại, Thánh chúa, Thánh của tất cả các bậc Thánh. Không có một cái biết thù thắng, một cái biết trọn vẹn, không có rời khỏi sự ham muốn, không có từ bỏ những mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, những cảm giác này, những nghĩ tưởng nhận thức này thời không có thể đoạn tận khổ đau. Không hiểu biết nó một cách tận tường, triệt để, trọn vẹn thì làm sao mà mình không tham nó được, cho nên phải từ thắng tri, liễu tri, ly tham rồi mới từ bỏ. Thánh tri là Chánh tri kiến, Thánh tri kiến. Không thắng tri, không liễu tri thì làm sao mà ly tham, mà không ly tham thì làm sao từ bỏ. Cho nên không thắng tri, không thấu suốt, không tận tường, không hiểu biết triệt để những mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, những sắc, thinh, hương, vị, xúc, pháp, tứ đại, ngũ uẩn này, không ly tham, không lìa tham muốn đối với nó, không từ bỏ nó thời không có thể đoạn tận khổ đau, tại sao vậy? Chỗ này mới là chỗ mình phải dập đầu trước Đức Phật vì Đức Phật khám phá ra toàn bộ một hệ thống vận hành, nguồn máy của sự sanh và diệt, sự hoạt động của nó và làm thế nào để chấm dứt từng bộ phận, khủng khiếp không cái Thánh trí kinh khủng này. Sắc từ đâu sanh khởi, từ đâu tập khởi, nó an trú như thế nào, chấm dứt ra làm sao? Cảm giác từ đâu sanh khởi, an trú như thế nào, vận hành như thế nào và chấm dứt ra làm sao? Những hình bóng trong nội tâm, trong tưởng từ đâu nó sanh, an trú như thế nào, vận hành như thế nào và chấm dứt làm sao? Những suy nghĩ từ đâu nó sanh, vận hành làm sao, tính chất như thế nào, tên, tuổi, mặt, mũi, tánh tình, bản chất như thế nào và nó chấm dứt ra làm sao, làm sao để nó chấm dứt? Thậm chí bây giờ đến thức uẩn là một cái khủng khiếp, tất cả các ngoại đạo, tu chứng đến mức độ tám muôn bốn ngàn kiếp mà vẫn không nhìn ra được những thức uẩn và thọ uẩn. Cuối cùng đâu giải thoát được vì lấy thức uẩn, cái biết đó, cảm giác đó là mình. Trong khi đó Đức Phật nói rành rõ là nó sanh khởi làm sao, nó an trú, vận hành sao, nó ái, thủ sao, ưa thích, bám chặt, chấp thủ, sầu, bi, khổ, ưu não như thế nào và làm sao cho nó chấm dứt. Nói rành mạch từng thứ, từng thứ như vậy mới là Chánh Đẳng Chánh Giác, vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác là chỗ đó. Tức là cả một bộ máy, guồng máy mà nó vận hành ra ngũ uẩn, nó sinh thành vạn vật, nhân sinh, vũ trụ, những dục, tham, ái, vô minh, bản ngã thâm sâu, cùng cực, cực kì cùng cực, mà Phật thấy, Phật biết không còn chỗ nào sót cho dù bằng một sợi lông, như vậy mà không phải bậc Chánh Đẳng Chánh Giác hay sao, Thánh trung chi Thánh chúa, Thánh của tất cả các bậc Thánh, là bậc tối thượng của chư thiên và loài người. Từ đâu nó sanh ra cái biết của mình, làm sao mình biết? Một ngàn ông đứng đầu khoa học trên thế giới này mà suy nghĩ bể cái đầu ra cũng chưa biết một phần tâm thức của mình nữa, cộng hết 7 tỷ người trên thế giới này ngồi lại suy nghĩ nát óc ra cũng không nghĩ ra được một chút xíu Thánh trí của Đức Phật. Thầy của Trời, Người, Thiên nhân sư là đây, bậc Thế gian giải là chỗ này, vô thượng sĩ, bậc ứng cúng là bậc xứng đáng cho tất cả sáu nẻo Trời và Người quỳ lại dưới chân này, tôn quý nhất trên đời là Thế Tôn. Cho nên đọc những cái này là rúng động, nổi da gà, nước mắt tràn ra khi thấy được tầm vóc của Đức Phật siêu việt, không có một lời nào diễn tả nổi Thánh trí trong tạng kinh Nikaya này. Mình chỉ có làm y như trong đây thôi, không xê xích một chút nào hết, là mình gặp được Đức Phật ở cuối đường. Cho nên hết sức là không thể nào nói nổi, nếu bây giờ không giảng ra thì làm sao, ai đọc trong đây mà hiểu. “Này các Tỷ-kheo,Ta sẽ thuyết cho các Ông về pháp đưa đến đoạn tận tất cả. Hãy lắng nghe. Và này các Tỷ-kheo, thế nào là pháp đưa đến đoạn tận tất cả? Mắt, này các Tỷ-kheo, cần phải đoạn tận. Các sắc cần phải đoạn tận. Nhãn thức cần phải đoạn tận. Nhãn xúc cần phải đoạn tận. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ, hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy cần phải đoạn tận. Tai, Mũi, Lưỡi, Thân. Như vậy, này các Tỷ-kheo, là pháp đưa đến đoạn tận tất cả.” “Này các Tỷ-kheo, Ta sẽ giảng cho các Ông về pháp đưa đến đoạn tận tất cả nhờ thắng tri, liễu tri. Hãy lắng nghe. Và thế nào, này các Tỷ-kheo, là pháp đưa đến đoạn tận tất cả nhờ thắng tri, liễu tri?” Con mắt này phải chấm dứt nhờ thấy biết tận cùng bản chất của nó. Lỗ tai này cần phải chấm dứt, do thấy biết tận cùng bản chất của vô thường, khổ, không, trống rỗng, vô ngã, bất tịnh của nó. Cái mũi này, cái lưỡi này, cái thân này cần phải chấm dứt do thấy biết bản chất bất tịnh, vô thường, trống rỗng của nó mà không được tiếp tục, tiếp nối nữa, không có làm cho nó sanh khởi nữa. Nhờ thắng tri, nhờ liễu tri, tất cả những cảm giác sanh khởi lên trong sau căn này khổ, vui, hay là không khổ không vui cần phải đoạn tận, chấm dứt nhờ sự thấu biết nó một cách toàn vẹn tất cả những cảm giác, mình biết nó, thấy nó, quán nó, soi thủng nó. Một ngàn mỏ kim cương cũng không so sánh được với những lời này, không có người thứ hai nào ở trong ba ngàn thế giới nói được những lời này. Mình thích bị còng, mình thích sắc này còng mình, những dục ái đầy dẫy, những bệnh hoạn hành hạ, sai xử khiến mình ngủ cũng không yên. Sắc dục còng mình, thọ dục trong cám giác đó nó còng mình, những cái tưởng nó còng mình, những suy nghĩ, cái thức nó còng mình, còn mình thì thích ở trong còng đó, thích còng số 8. Mình muốn có cái còng đó, muốn sanh già bệnh chết, muốn ung thư, muốn tai nạn giao thông, muốn đống thịt bầy nhầy, muốn mù điếc câm ngọng, muốn tham, sân, si, bản ngã chứ mình không muốn niết bàn, tịch tịnh, thanh lương, chấm dứt các khổ, đó là cái gì, là dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu nó muốn. “Này các Tỷ-kheo, tất cả phải bị sanh, và này các Tỷ-kheo thế nào là tất cả phải bị sanh? Mắt, này các Tỷ-kheo, phải bị sanh. Các sắc phải bị sanh. Nhãn thức phải bị sanh. Nhãn xúc phải bị sanh. Do duyên nhãn xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy phải bị sanh. Tai, Mũi, Lưỡi, Thân, Ý phải bị sanh. Các pháp phải bị sanh. Ý thức phải bị sanh. Ý xúc phải bị sanh. Do duyên ý xúc khởi lên cảm thọ gì, lạc, khổ hay bất khổ bất lạc; cảm thọ ấy phải bị sanh. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử nhàm chán đối với mắt không còn trở lui trạng thái này nữa ". Ra khỏi ngũ uẩn, chấm dứt, từ bỏ đống thịt bầy nhầy, đống bệnh hoạn đầy phân và nước tiểu, từ đó thành tựu Thánh trí kim cương bất hoại vượt ra ngoài ngũ uẩn. “Tất cả, này các Tỷ-kheo, phải bị già, phải bị bệnh, phải bị chết, phải bị sầu, phải bị phiền não, phải bị đoạn tận, phải bị tiêu diệt, phải bị tập khởi, phải bị đoạn diệt”, chỗ này hay lắm, mình cứ tưởng tu dứt ngũ uẩn là mình đoạn diệt, không phải, chính ngũ uẩn này mới là thứ đoạn diệt, thứ bại hoại, thứ tan hoại, tan nát, ran rã, chứ không phải mình tu dứt ngũ uẩn rồi là đoạn diệt. Chính đam mê ngũ uẩn này mới là đam mê cái đoạn diệt, đam mê phiền não, đam mê cái bị tiêu diệt, đam mê cái hoạn nạn, khổ nạn, ách nạn, khốn nạn, tại nạn, hiểm nạn, là mình đam mê cái ngũ uẩn này. Chính chấm dứt ngũ uẩn mới là hết đoạn diệt và đi tới chỗ bất sanh, không có bị sanh, không bị già, không bị bệnh, không bị chết, không bị phiền não, không bị đoạn tận, không bị tiêu diệt, không bị tập khởi, không bị đoạn diệt.
Khủng khiếp như vậy nên không ai nói điều này ngoài Đức Như Lai, ba ngàn năm nay lưu truyền như vậy, ai giảng cái này, ai dám tu học cái này, thì người đó đi trên Thánh đạo.
./.