Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Quán Chiếu Thâm Sâu Về Cảm Thọ 2

2026-03-03 00:56:09
QUÁN CHIẾU THÂM SÂU VỀ CẢM THỌ 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Các loại cảm thọ PAGEREF _Toc112839108 \h 1

II. Tham – sân - si PAGEREF _Toc112839109 \h 4

III. Như Lý Tác Ý PAGEREF _Toc112839110 \h 12

I. Các loại cảm thọ

Chúng ta chỉ còn gặp nhau ngắn ngủi trong khóa học này, con tha thiết chân thành muốn gửi đến cho quý thầy những phần quan trọng trong pháp học và pháp hành để làm món quà cuối cùng khi mãn khóa. Hôm nay chúng ta sẽ tiếp tục tìm hiểu một cách sâu sắc về quán chiếu cảm thọ, chúng ta chỉ còn 2 buổi gặp nhau nên chúng ta sẽ đi vào Tương Ưng Thọ, là phần cực kì quan trọng trong đại tạng kinh Nikāya.

Xin đại chúng biết rằng đây là phần tinh túy nhất của tạng kinh Nikāya và cũng là phần quan trọng trong tất cả phần quan trọng của sự tu học. Chúng ta sẽ được trích dẫn những giáo nghĩa tinh túy trong phần Tương Ưng Thọ của Tương Ưng Bộ kinh, trong phần này chúng ta sẽ thấy Đức Phật đưa ra rất nhiều hình ảnh để nói về cảm xúc, cảm giác, cảm thọ. Thế Tôn đưa ra nhiều hình ảnh rất hay để chúng ta thấy được những kinh luận sau này đều bắt nguồn từ Nikāya.

 “Ví như, này các Tỳ-kheo, một nhà khách, ở đấy, từ phương Ðông có một người đến ở. Từ phương Tây, có người đến ở. Từ phương Bắc, có người đến ở. Từ phương Nam, có người đến ở. Những người Sát-đế-lỵ đến ở, những người Bà-la-môn đến ở, những người Phệ-xá (Vessa) đến ở, những người Thủ-đà (Suddà) đến ở. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, trong cái thân này có nhiều loại thọ sai biệt khởi lên. Lạc thọ khởi lên, khổ thọ khởi lên, bất khổ bất lạc thọ khởi lên.

Có những lạc thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những khổ thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những bất khổ bất lạc thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những lạc thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những khổ thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những bất khổ bất lạc thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên.”

(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, IV. Khách Xá) 

Trong nhà khách này có nhiều người đến ở, có nhiều hạng người, nhiều thành phần trong xã hội. Trong thân cũng có nhiều cảm xúc, cảm giác sanh khởi lên, có cảm giác dễ chịu sanh khởi lên, có cảm giác khó chịu sanh khởi lên, có cảm giác không dễ chịu không khó chịu sanh khởi lên. Có những cảm giác vui liên hệ đến vật chất khởi lên, có những cảm thọ khổ liên hệ đến vật chất khởi lên, có những cảm thọ không vui không khổ liên hệ đến vật chất khởi lên, ngược lại có 3 loại cảm thọ không liên hệ đến vật chất.

Chúng ta phải phân biệt được cảm thọ liên hệ đến vật chất và cảm thọ không liên hệ đến vật chất, những từ này trong kinh Nikāya dùng rất nhiều, phải nắm được để đọc kinh mới hiểu được. Thế nào là cảm thọ liên hệ đến vật chất? Khi được ăn món ngon có cảm giác dễ chịu, vui sướng đó là cảm thọ liên hệ đến vật chất. Được xưng tán khen ngợi, cúng dường, tôn trọng có cảm thọ hoan hỉ thì đó là cảm thọ liên hệ đến vật chất. Được đi chơi thì vui thích, phấn khởi, đó là cảm thọ liên hệ đến vật chất hoặc nhớ đến kỉ niệm đẹp thời thơ ấu rồi cảm thấy vui thì đó là cảm thọ liên hệ đến vật chất.

Thế nào là cảm thọ không liên hệ đến vật chất? Khi ngồi thiền tâm được bình an, cảm thấy nhẹ nhàng, hỷ lạc hoặc khi nghe pháp được thấm nhuần trí tuệ của bậc Chánh Đẳng Giác hoặc quán từ bi, trải tâm từ khi thấy chúng sanh đau khổ, mình khởi lên sự xót thương, lòng trắc ẩn, có khi nước mắt tuôn trào, đó là cảm thọ khổ nhưng của từ bi thì đó là cảm thọ không liên hệ đến vật chất. Nói một cách dễ hiểu là cảm xúc của đời và cảm xúc của đạo, cảm xúc của đời là do tiếp xúc với những cái dục lạc, vật chất làm sanh khởi cảm giác, cảm thọ của đạo là do ngồi thiền, nghe pháp, tu tập làm sanh khởi cảm giác.

Chúng ta phải phân biệt được cái nào là cảm thọ liên hệ đến vật chất và cái nào là cảm thọ không liên hệ đến vật chất, cái này không học thì làm sao phân biệt được cho nên khi ngồi thiền thấy hỷ lạc, khinh an thì đó là cảm thọ không liên hệ đến vật chất, khi nghe pháp thấy vui sướng, hoan hỉ khi tiếp xúc với sự thật, với trí tuệ của Đức Phật thì đó là cảm thọ không liên hệ đến vật chất. Sau này khi tiếp xúc chúng ta phải kiểm tra xem cảm thọ đó là liên hệ đến vật chất hay không liên hệ đến vật chất, nếu liên hệ đến vật chất làm sanh khởi cảm thọ hỷ lạc thì chắc chắn hỷ lạc này sẽ đưa đến tham tùy tăng trong lạc thọ đó.

“Này các Tỳ-kheo, do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy tùy tăng.” 

(Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)

Do duyên có con mắt, có sắc, khởi lên sự rõ biết sắc. Ba pháp này giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của con mắt thì ngay đó sẽ sanh thọ, tiếp xúc để sanh ra cảm thọ, cảm giác. Khi nói thì tuần tự như vậy nhưng pháp diễn ra chỉ trong tích tắc, khi sanh ra cảm thọ vui thích, hoan hỉ mà trú ở ái trước tức là mình yêu thích, dính mắc. Khi cảm thọ vui sướng, hoan hỉ, thích thú sanh khởi mà mình không nhìn thấy, trong khi đó lại trú trong sự tham ái, dính mắc thì tham tùy miên của vị ấy tùy tăng, như vậy cái tham sẽ theo cảm thọ vui đó tăng trưởng.

Vì thế tham dục của mình tăng trưởng khi nào mình không biết do mình không biết cảm thọ, không biết đó là thọ gì, không biết trong thọ đó có tham tùy miên cho nên mỗi lần tiếp xúc với cảm thọ thì tham sẽ tăng theo đó, chính chỗ này mà người thế gian vĩnh viễn không thỏa mãn được dục vọng, do mỗi lần lạc thọ sanh khởi thì cái tham tăng trưởng trong đó, tham tùy miên của vị ấy tùy tăng theo cảm giác vui sướng đó cho nên người này không thỏa mãn vì cảm giác cứ leo thang, lúc Minh Thành còn nhỏ không nghe đến xì ke còn giờ đầy rẫy, vậy mà cũng không thỏa mãn, chỉ riêng á phiện, xì ke đã gây bao đau khổ rồi vậy mà giờ này còn thêm nhiều thứ gây nghiện độc hại gấp trăm lần, cái dục bình thường buộc chặt con người mình trăm ngàn vạn kiếp không có lối ra vậy mà giờ còn có thêm các loại thuốc hỗ trợ, các chất kích thích khác nhưng lòng dục vẫn khao khát, thiếu thốn, làm nô lệ cho tham ái vì tham tùy miên của vị ấy tùy tăng trong lạc thọ. Tham sân si đi theo ba cảm thọ này và nó tăng trưởng, mình ở trong vô minh nên không nhận thức được điều này, mình đã đi tu được một thời gian rồi mà tham tăng hay giảm mình cũng không biết vì:

Thứ nhất mình không nhận diện được cảm thọ.

Thứ hai không phân loại được cảm thọ.

Thứ ba không biết trong cảm thọ có gì trong đó.

Thứ tư là không biết sự tùy miên của nó và sự tăng trưởng phát triển của nó, đồng thời không dùng Như lý tác ý, không có những phương pháp tu tập quán chiếu đối trị như tẩy sạch, đoạn tận, trừ diệt.

Cho nên mình không biết tham sân si của mình đang ở mức độ nào, như thế sự tu học của mình rất bấp bênh, lênh đênh như lục bình trôi sông, vì thế đây là chỗ chúng ta thường lầm tưởng, trong kinh tạng Nikāya sẽ chỉ cho mình thấy tham sân si ở đâu, tại sao có tham sân si, làm cách nào để đoạn tận tham sân si.

II. Tham – sân - si

Tham sân si sẽ lớn theo, tăng trưởng, phát triển theo cảm giác vui sướng mà mình lại không biết, người nào thích xe mà có 2-3 chiếc vẫn chưa thỏa mãn, đến khi có hàng chục chiếc vẫn không dừng lại nếu họ có tiền, nếu không có tiền thì ăn cắp, ăn trộm để hưởng thụ. Cái sân hận, tức giận cũng tăng theo trong cảm giác khó chịu, bực bội đó, mỗi lần cảm giác bực bội sanh khởi là mình đang nuôi lớn sân. Vì thế thức ăn của tham là gì? Tại sao lại có tham?

Có tham vì thấy tịnh tướng.

Có sân vì thấy chướng ngại tướng.

Có si vì làm biếng, uể oải.

Tịnh tướng là sự đẹp đẽ, nếu thấy cái gì là đẹp, là dễ thương, đáng yêu thì mình đang cho tham ăn để tham phát triển, mình thấy điều gì là chướng tai gai mắt là đang cho sân ăn để phát triển, mình dã dượi, ăn no buồn ngủ là thức ăn của si, vô minh. Cho nên không thấy những điều này là không thấy tham sân si, mình tưởng si, vô minh là cái gì xa xôi nhưng hằng ngày mình cho nó ăn, làm nó tăng trưởng, phát triển quảng đại.

“Vị ấy do cảm xúc khổ thọ, mà sầu muộn, than van, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy tùy tăng.” 

(Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)

Mỗi lần cảm giác khổ thọ sanh khởi lên thì sân tùy miên tăng trưởng, lòng sân, tâm sân được nuôi lớn, phát triển.

“Vị ấy do cảm xúc bất khổ bất lạc thọ, mà không như thật biết sự tập khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly khỏi cảm thọ ấy; vô minh tùy miên của vị ấy tùy tăng.” 

(Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)

Người đó không biết vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly các cảm thọ. Vị ngọt là khi tiếp xúc đem lại những hỷ lạc, vui sướng nhưng vấn đề là không biết sự nguy hiểm ở phía sau, thuốc lá là vị ngọt, ma túy là vị ngọt, cỏ Mỹ là vị ngọt, nam/nữ sắc là vị ngọt nhưng mình không thấy sự nguy hiểm của vị ngọt đó. Người không biết tu chỉ thấy vị ngọt chứ không thấy nguy hiểm, còn bậc đa văn thánh đệ tử là quán sung mãn, sâu sắc tất cả mọi góc độ, khía cạnh, phương diện của sự nguy hiểm trong cảm giác lạc thọ, trong sự vui sướng đó có tác hại, những độc tố thì mới xuất ly, thoát ra khỏi nó. Vì thế người biết tu lúc nào cũng nhìn thấy tính chất nguy hiểm và tác hại trong các cảm giác, nguy hiểm và tác hại đưa đến trong các cảm thọ, nếu không thấy mình sẽ chết trong các cảm thọ.

“Này các Tỳ-kheo, vị ấy chính do không đoạn tận tham tùy miên đối với lạc thọ, do không tẩy trừ sân tùy miên đối với khổ thọ, do không nhổ lên vô minh tùy miên đối với bất khổ bất lạc thọ, không đoạn tận vô minh, không làm cho minh khởi lên, có thể ngay trong hiện tại là người chấm dứt đau khổ, sự kiện như vậy không xảy ra.”

(Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)

Đức Phật đã nói rất rõ ràng, nếu không đoạn tận tham sân si trong ba loại cảm thọ này mà muốn chấm dứt đau khổ thì sự kiện đó không thể xảy ra. Bây giờ Đức Phật ví dụ hình ảnh vực thẳm, khi nãy chúng ta có ví dụ nhà khách, tức là trong thân này khởi lên biết bao nhiêu cảm xúc, cảm thọ mà tất cả những cảm giác đó đều là khách và mình đi theo khách đó thì mình chết. Trong kinh thủ Lăng Nghiêm đưa ra hình ảnh khách trần là lấy từ trong kinh Nikāya, tất cả những gì sau này đều lấy từ Nikāya. Trong kinh thủ Lăng Nghiêm lấy ví dụ khách trần, đưa ra hình ảnh bụi bặm so sánh với hư không, bụi thì động mà hư không thì bất động, khách thì tới lui nhưng chủ ở một chỗ, tất cả đều lấy từ trong đây.

“Ví như ở trên hư không có nhiều loại gió thổi. Có gió từ phương Ðông thổi. Có gió từ phương Tây thổi. Có gió từ phương Bắc thổi. Có gió từ phương Nam thổi. Có gió có bụi thổi. Có gió không bụi thổi. Có gió lạnh thổi. Có gió nóng thổi. Có gió lượng nhỏ thổi, có gió lượng lớn thổi. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, trong cái thân này, có nhiều loại thọ sai biệt khởi lên. Lạc thọ khởi lên. Khổ thọ khởi lên. Bất khổ bất lạc thọ khởi lên.” 

(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, II. Hư Không) 

Cội nguồn của tất cả kinh điển đều nằm trong đây, bao nhiên ngọn gió thổi lên cũng giống như có biết bao cảm thọ sanh khởi trong tâm.

“Khi Tỳ-kheo nhiệt tâm,

Tỉnh giác, không sanh y,

Do vậy, bậc Hiền giả,

Liễu tri tất cả thọ.

Vị ấy liễu tri thọ,

Ngay hiện tại, vô lậu,

Thân hoại, bậc Pháp trú,

Ðại trí, vượt ước lường.”

(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, II. Hư Không) 

Sanh y là chỗ nương dựa cho mình tái sanh, không sanh y là đập vỡ chỗ nương dựa để tiếp tục sanh tử, đó là sự khát ái, tham ái cho nên phá vỡ tham ái đối với ngũ uẩn tức là đập vỡ sanh y. Sanh là tái sanh, y là nương dựa, sanh y là sự tái sanh, sanh khởi ra sanh tử luân hồi. Chỗ dựa cho sanh tử luân hồi là ái, sự yêu thích, vô minh và khát ái đối với năm uẩn, nói gọn là cảm giác.

Tại sao trong tâm có sự thúc giục bên trong, không ở yên trong thất một mình, không ở được trong rừng vắng không bóng người? Trong tâm có một sự thúc giục có khi mình thấy, mình biết có khi lại không biết, chỉ thấy trống vắng, thiếu thiếu thứ gì đó thì đó chính là dục lậu, vì sâu thẳm bên trong cảm thọ là sự khao khát, yêu thích, thiếu thốn, đòi hỏi nên mình không ở yên được, đó cũng là dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu. Tâm của mình là một cái tâm bị ô nhiễm bởi dục, bởi sự hiện hữu, dao động, bị nhiễm bởi sự dơ bẩn, vô minh nhiễm.

Một hồ nước dơ bẩn, hôi thối sẽ có lăng quăng, nòng nọc, từ đó có muỗi, ếch, nhái… ba lậu hoặc này ở sâu trong các tầng cảm thọ trong tâm thức thì tâm thức này giống như một hồ nước lâu ngày không chùi rửa, bốc mùi hôi nên sanh ra lăng quăng, sanh ra nòng nọc, ếch nhái, từ vô minh nên trong đó có sự dao động, sanh sản ra thì đó là hữu lậu cho nên mới sanh ra thân ngũ uẩn liên tục, không sanh chịu không được vì thế Đức Phật đã nói các ông bị sanh mà lại đi tìm cái bị sanh, mình không phải "được" hay "muốn" sanh mà là "bị" sanh do dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu cứ thúc giục, vận hành trong tâm. Đây là ba loại lậu hoặc khủng khiếp sâu thẳm trong thân tâm, chính vì tâm bị cấu nhiễm ô uế thì sản sanh ra lăng quăng, ếch nhái thì gọi là tái sanh, thọ sanh, là sanh tử luân hồi.

“Ở đây, này các Tỳ-kheo, có người tự mình bị sanh lại tầm cầu cái bị sanh, tự mình bị già lại tìm cầu cái bị già, tự mình bị bệnh... tự mình bị chết... tự mình bị sầu... tự mình bị ô nhiễm lại tầm cầu cái bị ô nhiễm.”

(Trung Bộ Kinh, 26. Kinh Thánh cầu)

Cho nên phải lắng nghe thọ; tưởng; hành thật kĩ thì mới thấy được các dòng cảm thọ thâm sâu rù rì, dao động làm mình bất an nên ngồi yên không được, thiền không được, tu không được vì trong tâm là một sự thúc giục, nếu không nhìn ra được những trạng thái này thì không bao giờ đối diện được với tâm thức, không nhiếp phục được dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu, đây là sự sâu sắc trong sự tu tập quán chiếu về cảm thọ.

Sự thâm sâu bên dưới là một cái tâm bị ô nhiễm trong vô lượng vô biên kiếp, nó hôi dơ khủng khiếp và trong tâm là một sự khát ái mãnh liệt, nó luôn hoạt động ngày đêm trong tâm thậm chí cả trong giấc ngủ, chỉ có những bậc thành tựu chánh tri kiến hoặc các bậc thành tựu lậu tận mới diệt trừ được nó, vì thế Đức Thế Tôn được gọi là bậc phơi bày những gì bị che kín, những kẻ vô văn phàm phu không học, không thực hành chánh pháp thì không thể biết được dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu vì nó rất thâm sâu và cũng chính nó điều khiển tâm thức mình, phải có sự thiền định thâm sâu bằng trí huệ quán chiếu thật tỉ mỉ, tinh vi, miên mật, sát sao các dòng cảm thọ, còn không thì nằm chiêm bao cũng chưa giải thoát được, đừng mong đoạn tận được sanh tử nếu không nhìn thấy được các lậu hoặc này, thâm sâu bên trong là một sự rì rào vận hành, hoạt động, sự dao động, thúc giục, sự uế nhiễm, cấu nhiễm, ô nhiễm, nhiễm dục.

Con tu học, tìm cầu liên tục giáo pháp trong 30 năm mới biết được hữu lậu, dục lậu, vô minh, chỉ mới biết được một phần nhỏ thôi, vì thế nếu mình không thiết tha, chân thành thiền định, quán chiếu, không được các bậc thiện tri thức hướng dẫn, chỉ dạy thì tới chết cũng không biết được tại sao lại như vậy, không biết được mặt mũi nó ra sao, nó hoạt động như thế nào và nó luôn làm cho mình bất an trong cảm thọ, không lắng dịu, an tịnh.

Liễu tri thọ là biết hết tất cả mọi phương diện, khía cạnh, góc độ đầy đủ viên mãn, thâm sâu, trọn vẹn, không còn thiếu bất cứ cái gì trong cảm thọ. Sạch hết tất cả dục lậu, hữu lậu và vô minh lậu thì gọi là ngay hiện tại vô lậu.

Thân hoại, bậc Pháp trú

Ðại trí vượt ước lường.

Khi thân hoại là vị này đã hoàn toàn trú trong thánh trí, thánh pháp. Cho nên đối với vị này là bậc đại trí huệ, vượt hết tất cả mọi ước lường của thế gian, những cái suy nghĩ, ước lường, đặt định của thế gian không thể nhìn được vị này vì người này đã tận cùng các lậu hoặc. Vì thế chỗ thâm sâu của cảm thọ là chúng ta bị vô minh nhiễm và khát ái nhiễm, nói gọi là vô minh và khát ái, nếu không nhận diện năm uẩn, không nhìn thấy năm uẩn là năm uẩn, là năm tổ hợp ác độc lừa dối, chỉ là tổ hợp sắc, tổ hợp cảm giác, tổ hợp những hình bóng trong tâm, tổ hợp của những suy nghĩ, nhận thức, chúng ta không nhìn thấy năm tổ hợp này, không thành tựu trí huệ, không có sự thiền quán sâu sắc, thiền tuệ, quán chiếu để nhìn nhận bản chất, bản tánh của nó thì chúng ta ở trong vòng kiềm tỏa của vô minh, đương nhiên có vô minh thì có khát ái, có khát ái thì có vô minh, hai cái này lúc nào cũng song hành với nhau.

Sự khao khát này, thèm muốn này, yêu thích này, đam mê, dính mắc, chấp thủ này ở sâu thẳm trong các tầng cảm thọ, cho nên sự tu học của chúng ta gọi là quán cảm thọ là sự đào bới, moi móc lên. Một khi vô minh, khát ái đóng tổ, làm hang, làm căn cứ địa trong cảm thọ, trong sự suy tưởng của chúng ta, trong thân thể hình hài này, trong nhận thức này thì sự tu này không phải chỉ đơn giản là ngồi yên, cái đó chỉ hỗ trợ để thiền quán, sự tu này là nhìn sâu và đào bới gốc rễ cây cổ thụ vô lượng năm, vô lượng kiếp của vô minh và khát ái đã tăng trưởng, phát triển, quảng đại, áp đảo và chinh phục toàn bộ ngũ uẩn chúng ta.

Cho nên sự tu không phải chỉ tu ngoài hình thức mà phải là đào bới, moi móc nó ra, tức là trong lúc thực tập thiền định, nhận diện ngũ uẩn và phải đọc ra tại sao có suy nghĩ, tại sao lại sanh khởi lên, hình bóng này tại sao có mặt trong tâm, cảm giác này tại sao cứ thúc giục trong này, phải nhìn sâu thật sâu xuống nhiều lớp.

Ví dụ nấu nồi nước, do lửa nung ở dưới cho nên tới đúng mức đó thì nước sôi lên, sôi mạnh thì đầu tiên thì nắp nồi dao động, nước trào lên, có thể văng nắp nồi ra nước tuôn xuống, cảm thọ của mình cũng giống mình, từ phía dưới thâm sâu là do vô minh và khát ái nung phía dưới làm cho cảm thọ bên trên sôi sùng sục lên, cảm thọ sôi lên có hình ảnh, có suy nghĩ, cảm giác, nhận thức cuồn cuộn hiện ra cho nên nó trào ra bên ngoài là hành động sân si, tham dục, bản ngã.

Vô minh và khát ái từ phía dưới nung lên, thúc giục làm tràn ra ngoài cho nên toàn bộ sắc; thọ; tưởng; hành; thức là biểu hiện của tham sân si, vô minh và bản ngã, cho nên sự tu tập chúng ta để thành tựu chánh tri kiến, thấy đúng để bắt đầu đào sâu xuống để lấy củi ra, hạ nhỏ lửa để giảm bớt nước sôi, thậm chí đi đến bước không còn củi, không còn lửa nữa để diệt tận.

Đức Phật thường ví dụ hai hình ảnh ngọn đèn dầu, cứ châm dầu khơi tim thì ngọn đèn cứ cháy hoài do được tiếp nhiên liệu, Đức Phật gọi là tiếp tế nhiên liệu, nuôi dưỡng làm ngọn đèn cháy hoài. Bây giờ không cung cấp, không nuôi dưỡng nữa, làm cho dầu cạn kiệt, tim đèn từ từ lụn tàn thì ngọn lửa sẽ tắt, muốn làm như vậy phải thành tựu chánh kiến để biết vô minh và khát ái đưa đến khổ đau, cho nên trí huệ trong cuốn Nghi Thức Nikāya có bốn thánh trí về ngũ uẩn, sự chấp thủ vào ngũ uẩn là phiền não, khổ đau.

Cho sắc; thọ; tưởng; hành; thức là mình, của mình, là tôi và của tôi, tự ngã của tôi thì phiền não và khổ đau. Ngũ uẩn sanh khởi do vô minh, khát ái, ngũ uẩn đoạn diệt là do đoạn tận vô minh và khát ái, con đường chấm dứt vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn là con đường Bát Chánh Đạo, trong Bát Chánh Đạo điều đầu tiên là phải thấy đúng cho nên trong giai đoạn này thật sự chúng ta đang học chỉ hai chữ "chánh kiến", thấy đúng vô minh và khát ái đưa đến đau khổ, thống khổ, đưa đến sự tập khởi của toàn bộ khổ uẩn này, đưa đến sự sầu, bi, khổ, ưu, não cho chúng sanh.

Tất cả nhân loại toàn cầu đều bị dục ái làm cho thống khổ, gây ra biết bao nước mắt, tan thương, sầu bi, cho nên quán chiếu theo tinh thần của Đức Phật trong kinh Nikāya này là cực kì thâm sâu, khi thực tập thiền định, thiền quán nhìn lại thân tâm mới thấy sốc, bất ngờ, không ngờ tâm thức của mình là một cái tâm nhiễm, dục nhiễm, hữu nhiễm và vô minh nhiễm. Không thể bằng sự tu học đơn sơ, qua loa mà có thể đoạn tận được tham sân si, cho nên khi đào bới gốc rễ của "cây" vô minh, khát ái trong vô lượng vô biên kiếp là cả một vấn đề, phải có sự tẩy não.

III. Như Lý Tác Ý

Tại sao phải có Như lý tác ý, trong kinh Nikāya sẽ thấy Đức Phật dạy Như lý tác ý xuyên suốt chứ không phải ngồi yên là xong việc. Như lý tác ý là tác động tâm ý đúng như chân lý của Đức Phật chứng ngộ, không phải đúng theo ý nghĩ của mình, không được đứng lên trình bày theo kiểu "Theo con nghĩ…", không được trình bày như vậy vì đó là sai, trong kinh Đức Phật dạy như vậy thì mình phải đi theo lời dạy đó mới thể nhập được thánh trí huệ, còn mình cứ trình bày theo ý mình, nhận thức của mình, nói theo cái thấy, cái biết của mình thì tất cả đều là phàm phu vô minh cho nên tu không đạt được thánh đạo, thánh quả.

Mình phải y cứ vào thánh trí huệ của Đức Phật thì mới đi trên thánh đạo rồi mới tới thánh quả, bây giờ cái học của chúng ta toàn là "tôi", "mình" hoặc sáng chế ra các pháp tu rồi tự làm tổ sư pháp tu đó, vậy thì làm sao thành tựu được? Cho nên sự tác động tâm ý này là tác động tâm ý theo trí huệ của Phật, từ đó giờ mình cho thân này là tôi, là của tôi thì giờ tác ý "Thân này do tứ đại tạo thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt", mỗi khi nghĩ về thân này phải tác ý như vậy. Tác ý liên tục sẽ tẩy não vô minh, chấp ngã, khát ái, tẩy não tịnh tướng cho là sạch đẹp, thơm tho, hấp dẫn, khả ái, đáng yêu, đáng nhìn, khi tẩy sạch thì thể nhập thánh trí, đó là tác ý trong hành uẩn, sự suy nghĩ.

Trong tưởng uẩn Đức Phật dạy quán cửu tưởng, quán tứ đại, quán 32 thể trược để đưa những hình ảnh của sự thật, của thánh trí huệ vào nội tâm để thay thế cho những hình ảnh của dục nhiễm, vô minh, chấp thủ. Vì trong tâm mình lúc nào cũng là hình ảnh đẹp, mịn màng, say sưa, yêu thích, tham đắm, bây giờ đưa vào hình ảnh bộ xương, giòi, trương phình lên, nứt nẻ ra, đưa ra đống phân và nước tiểu, mủ và máu để phá hình ảnh đẹp đẽ đó, cho nên đây là dùng sắc diệt sắc, dùng thọ diệt thọ, dùng tưởng diệt tưởng, dùng hành diệt hành, dùng thức diệt thức, đây là cốt tủy của Nikāya, sự tu học được Đức Phật dạy đầy đủ nhưng chúng ta nhấn mạnh vào thọ là phần thâm sâu, thực tế Đức Phật dạy dùng ngũ uẩn phá ngũ uẩn vì mình thích thú, đam mê vào sắc, mình cho nó là khả ý, khả lạc, khả ái liên đến dục hấp dẫn thì Đức Phật phá cái đó, mình tịnh tướng thì Đức Phật đưa ra bất tịnh tướng, thấy được trí huệ của Đức Phật sẽ thấy khủng khiếp đến cỡ nào, bậc Chánh Đẳng Giác không đơn thuần như chúng ta thường suy nghĩ. Tịnh tướng đã làm tổ thâm căn cố đến, ăn sâu bám chắc trong nội tâm chúng ta trong vô lượng vô biên, vô tỷ kiếp đến giờ, mình cho nó là sạch đẹp, làm thèm muốn, là ưa thích, nắm giữ, truy tìm cho nên bây giờ không phá được cái này thì làm sao ly tham, làm sao xuất ly, viễn ly, cái này không phải Đức Phật tự đặt ra vì bản chất nó là thế.

“Thân này bản tánh là như thế, bản chất là như thế không thể vượt qua bản chất ấy.”

(Trung Bộ Kinh, 10. Kinh Niệm Xứ).

Đưa sự thật ra để đánh ra những suy nghĩ tham muốn, ưa thích, say đắm không còn nữa, chứng nhập trí huệ này thì xuất ly ra khỏi sắc. Quán tứ đại là những yếu tố kết thành thân này, quán 32 thể trược là khoa học, 3000 năm trước mà Đức Phật thấy từng bộ phận trong cơ thể thì không phải thiên nhãn nhìn thấy thì cái gì thấy?

Đức Phật không phải là bác sĩ mà nói rõ ràng như vậy, 9 giai đoạn của một tử thi cũng vậy, đem bất tịnh tướng để phá hoàn toàn tịnh tướng thì chứng nhập trí huệ, lúc đó không có gì đáng để tham, trong bài kinh Thông Điệp Đức Phật đã nói những lời dạy nào hướng đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, hướng đến từ bỏ, an tịnh, thắng trí chứng ngộ Niết-bàn thì hãy thọ trì, đó là lời dạy của Như Lai. Những lời dạy nào không đưa đến nhất hướng nhàm chán, không đưa đến ly tham, không đưa đến sự chấm dứt, từ bỏ, xả ly thì những lời dạy đó không phải pháp và luật của Như Lai, vì toàn bộ giáo lý của Đức Phật đưa đến nhàm chán, không tham muốn để hướng đến sự chấm dứt và từ bỏ đối với năm uẩn.

“Này Upàli, những pháp nào Thầy biết: "Những pháp này không được đưa đến nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: "Ðây không phải Pháp, đây không phải Luật, đây không phải lời dạy Thế Tôn". Và này Upàli, những pháp nào Thầy biết: "Những pháp này đưa đến nhất hướng, nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, Niết-bàn", thời này Upàli, Thầy cần phải nhất hướng thọ trì là: "Ðây là Pháp, đây là Luật, đây là lời dạy Thế Tôn".”

(Tăng Chi Bộ, Chương VII - Bảy Pháp, VIII. Phẩm Về Luật, (IX) Thông Ðiệp)

Đây là chỗ mà con học trọc đầu mới tìm ra được điều này, đi cầu đạo toàn thế giới mới tìm ra được thánh pháp này, tìm ra nó còn hơn đào trúng mỏ kim cương.

“Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, vị ấy tuệ tri: "Thọ ấy là vô thường". Vị ấy tuệ tri: "Ta không chấp trước thọ ấy". Vị ấy tuệ tri: "Ta không hoan hỷ thọ ấy".” 

(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)

Khi mình có cảm giác vui thì Đức Phật không cho mình đắm chìm trong cảm giác đó vì đắm chìm vào đó là bị trói buộc, ngay khi có cảm giác vui sướng đó thì phải biết cảm giác đó là vô thường để đừng bị dính mắc, chấp trước vào cảm giác đó, ngay khi được vui sướng nhất phải thấy nó là vô thường, đừng chấp trước, không hoan hỉ, ưa thích chứ không phải đợi đến khổ mới biết nó là vô thường.

“Lành thay, lành thay, này Tỳ-kheo! Này Tỳ-kheo, Ta nói rằng có ba thọ này: lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ. Ba thọ này được Ta nói đến. Nhưng này Tỳ-kheo, Ta lại nói: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh vô thường của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ". Chính vì liên hệ đến tánh đoạn tận, tánh tiêu vong, tánh ly tham, tánh đoạn diệt, tánh biến hoại của các hành mà lời ấy được Ta nói lên: "Phàm cái gì được cảm thọ, cái ấy nằm trong đau khổ".”

(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, I. Sống Một Mình)

Đức Phật đã nói cái gì được cảm thọ cái ấy đều nằm trong đau khổ, phải biết điều này để nhàm chán đối với các thọ, không ưa thích cảm thọ, cảm giác nữa để xuất ly ra khỏi cảm thọ. Cho nên toàn bộ kinh Nikāya đều nhất quán từ trên xuống dưới một ý, không phải lúc thì Đức Phật nói thế này, lúc lại nói khác, tất cả đều nói về vô thường, khổ, vô ngã, sự sanh diệt, trói buộc, khao khát, hành hạ trong các cảm thọ để nhàm chán, không ưa thích nữa.

“Phàm tưởng gì quá khứ, vị lai, hiện tại, thuộc nội hay ngoại, thô hay tế, liệt hay thắng, xa hay gần; tất cả tưởng cần phải như thật quán với chánh trí tuệ như sau: “Cái này không phải của tôi, cái này không phải là tôi, cái này không phải tự ngã của tôi”.”

(Tương Ưng Bộ, Tập III – Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (c), B. Năm Mươi Kinh Ở Giữa, I. Phẩm Tham Luyến, VII. Năm Vị (Vô ngã tưởng)) 

Cái tưởng này là tưởng đẹp, sạch, hấp dẫn, khoan khoái, khả ái, khả lạc, khả hỷ, khả ý hấp dẫn liên hệ đến dục, còn Đức Phật nói cái này chỉ là phân và nước tiểu, máu mủ, phèo phổi, ruột gan… giòi, bứt nẻ, trương sình, hôi thối, quán tứ đại, quán bất tịnh, quán 32 thể trược, quán 9 giai đoạn của một tử thi để phá cái tưởng cho là đẹp đẽ, thơm tho này. Đức Phật đem cái tưởng của thánh trí huệ, cái tưởng của sự thật, đem cái tưởng của chân lý vào thay thế cho cái tưởng của phàm phu vô minh, khát ái, điên đảo, chấp thủ, cái tưởng của thánh trí huệ phá tung sự ảo tưởng.

Cho nên tu thì không phải quán vài lần xong mà phải quán trăm ngàn lần, hàng vạn lần, quán cho đến khi chết thì chứng nhập vì gốc rễ vô minh, khát ái, điên đảo tưởng đã làm tổ trong vô tỷ kiếp, bây giờ mới tu vài năm mà muốn chứng nhập thì chưa đủ sức cho nên các phép quán tưởng phải được thực tập thường xuyên và liên tục. Đức Phật đã dạy mười cách quán tưởng để trị bệnh tâm và thân.

Suy nghĩ của mình là suy nghĩ về tôi, của tôi và tự ngã của tôi, suy nghĩ về hơn cao, đẹp, vui, còn hoài, bền chắc, kiên cố, trường viễn. Đức Phật dạy phải tác ý vô thường, khổ, vô ngã, dùng suy nghĩ của bậc thánh, dùng suy nghĩ của chân lý, sự thật, trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác để đánh phá suy nghĩ của phàm tình, vô minh, khát ái, tham sân si, bản ngã.

Cho đến lúc nào trong suy nghĩ của mình tuyệt đối 100% ngũ uẩn là vô thường, đau khổ, không có ngã và ngã sở thì mình thành tựu, đó là dùng hành diệt hành, dùng suy nghĩ này để diệt suy nghĩ vô minh, khát ái, tham đắm đó, đây là chỗ hết sức thâm sâu. Như vậy là dùng hành diệt hành, cho nên tu mà không có Như lý tác ý là tu không đến đâu hết, không thể nào tháo gỡ được vô minh và khát ái. Sáng nhìn vào gương thấy gương mặt trắng hồng, đẹp đẽ thì tác ý "Đây chỉ là lớp da, lột lớp da này ra chỉ là cái đầu sọ đầy máu, không có gì trong đây để đam mê, không có ai ở trong đây, chỉ là đống bất tịnh, là thịt máu, xương da.

Hãy từ bỏ lòng khát ái với lớp xương da này!

Hãy tháo gỡ sạch ý nghĩ tôi, của tôi và tự ngã của tôi trong hình bóng này!

Tất cả chỉ là vô minh, khát ái chấp thủ vào trong đống sắc uẩn, thịt máu mủ nên mới tạo thành bản ngã ảo tưởng. Hãy phá tan thân kiến này ra, chấm dứt hoàn toàn, không có ai trong này". Tác ý ngay trong lúc xem gương là mình đang tụng tối thượng thừa kinh, không phải đợi đến lúc mở kinh ra mới đọc mà ngay lúc xem gương là đọc tối thượng chân kinh, tối thượng thánh trí, tối thượng thánh pháp. Bất cứ lúc nào suy nghĩ về tự thân đều phải tác ý nhàm chán, nó là mũi tên, là ung nhọt, là hố than hừng, là gai độc, là kẻ sát nhân, không có gì trong đây để đam mê, thích thú, khát ái. Mình bị sắc; thọ; tưởng; hành; thức làm cho khốn khổ, hoạn nạn, tai nạn, hiểm nạn, ách nạn, nguy nan nên phải nhàm chán nó, muốn xa rời nó, không nhận nó làm mình, của mình. Mình loại dần những suy nghĩ, cảm thọ, hình bóng đó cho đến một ngày cắt đứt sợi dây thân kiến là Nhập lưu thánh quả, chỉ cần cắt sợi dây đầu tiên của thân kiến là Nhập lưu.

Hơn thống lãnh cõi đất,

Hơn được sanh cõi trời,

Hơn chủ trì vũ trụ,

Quả Dự Lưu tối thắng.

(Kinh Pháp Cú 13 – Phẩm Thế Gian, kệ 178)

Không có gì bằng trí huệ này, gia tài thật sự của người xuất gia chính là đây, khi mình Nhập lưu là quang tông diệu tổ, cha mẹ, bảy đời, chín đời cửu huyền thất tổ đều được lợi lạc, đều cứu giúp được bốn ơn ba cõi. Vì thế sự tu tập phải hướng đến chỗ này.

Tứ ân tổng báo,

Tam hữu tề tư,

Pháp giới chúng sinh,

Đồng viên chủng trí.

Dịch NghĩaRán tu trì nhứt thiết đức công,

Bốn ân, ba cõi trả xong,

Đáp đền ơn nghĩa khắp trong hữu tình,

Như Lai chủng trí viên thành.

(Sám Khể Thủ)

Thức uẩn là kẻ thâm độc vô hình, vi tế cực kì mà mình không biết. Mình cứ nghĩ chỉ có một cái biết nhưng thực tế là một tổ hợp biết, có đến 6 cái biết: Rõ biết các sắc gọi là nhãn thức, rõ biết các âm thanh gọi là nhĩ thức, rõ biết các mùi gọi là tỷ thức, rõ biết các vị gọi là thiệt thức, rõ biết sự đụng chạm gọi là thân thức, rõ biết được thọ; tưởng; hành, cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm gọi là ý thức. Ý thức chỉ biết được cảm giác, hình bóng, suy nghĩ trong tâm. Sáu cái thức là gọi là tổ hợp nhận thức, tổ hợp rõ biết và cái biết này cũng bị ô nhiễm. Do vì dục ái đối với ngũ uẩn nên thức có chỗ an trú, do những suy nghĩ bám víu vào sắc; thọ; tưởng; hành, do những cảm giác bám víu vào sắc; thọ; tưởng; hành, do những hình bóng bám víu vào sắc; thọ; tưởng; hành cho nên thức có chân đứng trong ngũ uẩn.

Nếu phá dục tham ái đối với ngũ uẩn, đối với sắc; thọ; tưởng; hành thì thức không có chân đứng. Thức có chân đứng, được an trú là do vô minh và khát ái đối với các uẩn còn lại, nó bám chắc, ăn sâu vào trong sắc; thọ; tưởng; hành và sự nhận thức chỉ toàn là duyên sanh, vô thường, giả dối, không có thật. Mình đừng tin vào sự nhận thức của mình dù cho tận mắt thấy tai nghe nhưng vẫn sai trật, mình chỉ biết theo nghiệp, vô minh, biết theo tư kiến cá nhân chấp thủ chứ không biết đến sự thật của sự thật, dù cho chính mắt thấy tai nghe nhưng vẫn là cái biết của vô minh, biết của dục, tập khí, thói quen. Thợ mộc nhìn vào cây chỉ thấy cái này làm cột được, làm bàn ghế, gường ngủ…

Thầy thuốc nhìn vào cây nào cũng chỉ thấy đó là cây thuốc để trị bệnh, người chơi cây kiểng lại nhìn theo cách nhìn người chơi kiểng, lâm tặc lại có cách nhìn cây riêng của lâm tặc… đó là biết theo lòng tham, lòng dục, lòng chấp thủ cho nên mình tin là mình chết theo đó. Trời mưa nên đứa trẻ chạy ra tắm mưa, chơi đùa với vũng nước, người lớn la mắng gọi vào nhà thì đứa nhỏ nói đây là vũng nước của nó, còn người lớn muốn chơi thì đi tìm vũng nước khác, cái biết của phàm phu cũng như đứa con nít đó, bị che đậy trong ngũ triền cái, trong dục tham, sân, vô minh, trạo cử, thụy miên, hoài nghi nên không đúng sự thật, đó chỉ là duyên sanh, là vô thường, trống rỗng.

Bây giờ phải dùng cái biết của thánh trí huệ để phá cái biết của ngã và ngã sở, chính vì chấp thủ vào cái biết này mới sanh ra tham sân si, giận lên cũng từ cái biết vì không biết thì đâu có giận, người nào chửi cách xa trăm cây số thì không biết nên không giận còn chửi trong tầm nghe của tai là ăn không ngon ngủ không yên, thậm chí xảy ra đánh nhau cho nên biết mà đưa đến sân si, tham dục, bản ngã thì cái biết này không đưa đến an lạc, hạnh phúc mà lại đưa đến đau khổ. Vì thế phải dùng cái biết của thánh trí huệ để phá cái biết của vô minh, tham ái, chấp thủ. Gọi là dùng thức diệt thức, xuất ly ra khỏi thức, như vậy là sự xuất ly ra khỏi năm uẩn của bậc thánh, đó là con đường đạo lộ của thánh đạo của Đức Thế Tôn.

Do những bậc này thấy thế gian không là gì nữa, đối với các ngài không còn ý nghĩa gì nữa cho nên ngài mới đạt được bất động tâm giải thoát đối với sắc; thọ; tưởng; hành; thức. Còn mình có người chửi thì làm sao mình kiềm lại được? Còn các ngài tu tập thành tựu thì không có mình nào trong đây thì làm gì giận nữa, không có tôi, không có của tôi thì làm sao giận, còn mình thấy rõ có cái mình mà có kiềm lại thì cũng kiềm được chút ít, giữ nghiệp đen nghiệp trắng chứ không thể đạt được bất động tâm giải thoát.

Tu như vầy mới đi đến chỗ bất động tâm giải thoát, thành tựu cứu cánh phạm hạnh là đồng nghĩa với Niết-bàn giới, đoạn tận tham sân si. Mọi người phải nắm thật vững những điều này, thực tập pháp hành và pháp học để lấy đó làm vốn vững chắc trên con đường tu, thời đại này rất khó để được nghe những điều này nên phải nắm vững đồng thời đọc nghe kinh, nghe thêm pháp, chỉ có điều này mới đưa đến xuất ly, viễn ly, xả ly thật sự.

./.