Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

ÁI DỤC 3 - Nguy Hại Và Sự Xuất Ly 2

2026-03-03 00:56:09
Kinh NIKAYA Giảng Giải

Ái Dục 3 - Vị Ngọt - Nguy Hại & Sự Xuất Ly 2

( Đại Kinh Khổ Uẩn )

Nguy Hại Và Sự Xuất Ly 2

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Thánh trí về các Dục PAGEREF _Toc84841904 \h 1

II. Vị ngọt của dục PAGEREF _Toc84841905 \h 8

III. Sự nguy hại của dục PAGEREF _Toc84841906 \h 11

I. Thánh trí về các Dục

Kính lễ ân đức Thế Tôn, Chánh pháp, chúng Tăng.

Kính bạch chư tăng ni và tất cả quý Phật tử, hôm nay chúng ta tiếp tục nghe Đức Thế Tôn trình bày về dục, mọi khía cạnh của dục, tiếp tục về vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly.

Trong bài kinh Đại khổ uẩn này Thế Tôn giải thích, phân tích, trình bày một cách rộng rãi về vị ngọt, sự nguy hiểm và tác hại của dục và sự xuất ly, thoát ra khỏi dục.

Từ ái dục là từ Hán Việt, tiếng Việt của chúng ta là ưa thích, tham muốn, khi dẫn ra tiếng Việt có thấy dễ hiểu không? Vậy nên chúng ta không rành chữ hán, chúng ta nghĩ chữ ái dục chỉ nói về nam nữ. Ái là yêu thích, dục là ham muốn, nên sự yêu thương, yêu thích, yêu mến, yêu dấu đều ham muốn rồi đi đến nắm giữ, đó là một nhóm của nó. Thế Tôn nói chỗ nào có dục tham thì chỗ đó có chấp thủ, tức chỗ nào có sự ham muốn, thích thú, yêu thương, yêu thích, thì chỗ đó nhất định có sự nắm giữ, nắm chặt.

Từ đó, chúng ta hiểu được ái dục ở phạm vi rộng là yêu thích, yêu thương, ham muốn.

Chúng ta tiếp tục qua bài kinh đặc biệt, dù chúng ta đã học qua nhiều lần nhưng hôm nay sẽ trích một phần về vị ngọt của dục, của sự yêu thích và tham muốn, vị ngọt của năm dục trưởng dưỡng: sắc, thanh, hương, vị, xúc. Sự nguy hiểm và tác hại của lòng yêu thương và tham muốn, cùng với con đường thoát ra khỏi tâm yêu thương, tham muốn, nắm giữ đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc.

Bài Đại Kinh Khổ Uẩn, đại kinh là kinh dài, kinh lớn, để phân biệt với tiểu kinh là bài kinh ngắn, bài kinh nhỏ. Bài kinh này là bài kinh dài nói về tổ hợp khổ đau, nói về nhóm khổ, sự tích tụ đau khổ, chất chứa đau khổ, tập khởi đau khổ, đó gọi là khổ uẩn. Tức là Đức Thế Tôn giải thích cho chúng ta hiểu được: tại sao có khổ, khổ do đâu, từ những gì tập hợp, tích tụ lại, mà nó hình thành. Đức Thế Tôn nói cho chúng ta biết nhóm khổ, đống khổ, tổ hợp khổ, sự kết hợp của các khổ, về tại sao nó sanh khởi, sanh khởi ra sao và nó đưa chúng ta đến kết cuộc như thế nào, làm sao chấm dứt được cái khổ bằng con đường, phương pháp, cách thức nào? Bài kinh này sẽ trình bày cho chúng ta những điều đó, nên gọi là Đại Kinh Khổ Uẩn.

Đây là bài kinh số mười ba trong Trung Bộ Kinh. Lúc xưa Minh Thành học tám năm nhưng các hòa thượng bên Nam Tông dạy mà Minh Thành không hiểu được vì nói tiếng Pa-li rất nhiều nên không hiểu hay cảm thọ được, vậy nên không thấy được giá trị của nó sâu sắc. Giờ thì chúng ta học có được những cảm xúc rất hiền thiện, thấm thía, nhất là cái khổ rất quan trọng trong bước đường tu của chúng ta.

“Một thời, Thế Tôn ở Savatthi, tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), trong vườn ông Anathapindika (Cấp Cô Độc). Lúc ấy nhiều Tỷ-kheo buổi sáng đắp y, cầm y bát, vào thành Savatthi khất thực. Rồi các Tỷ-kheo ấy suy nghĩ: "Nay còn quá sớm để đi khất thực ở Savatthi. Chúng ta hãy đi đến ngôi vườn các Du sĩ ngoại đạo".”

Du sĩ ngoại đạo là những người không thuộc đạo Phật, là người tu đạo khác nhưng người này luôn nay đây mai đó, đi khắp nơi, không có nhà hay chỗ ở cố định nên gọi là du sĩ. Du là du hành, vân du.

“Các Tỷ-kheo ấy đi đến ngôi vườn các Du sĩ ngoại đạo, nói lên những lời chúc tụng hỏi thăm xã giao rồi ngồi xuống một bên. Các Du sĩ ngoại đạo ấy nói với các Tỷ-kheo đang ngồi xuống một bên.

– Chư Hiền, Sa-môn Gotama nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các dục”

Ý nói thầy của các vị hiền trí đã trình bày tất cả mọi phương diện, khía cạnh về dục, sự tham muốn của con người hay về năm đối tượng tham muốn. Vậy nên về dục, chúng ta giải thích hai khía cạnh, một là đối tượng tham muốn bên ngoài, một là chủ thể tham muốn bên trong.

Đối tượng tham muốn bên ngoài là năm dục trưởng dưỡng (sắc, thanh, hương, vị, xúc), chủ thể tham muốn bên trong là tư duy tham ái, tức những cảm giác, nghĩ tưởng, tham muốn. Vậy nên cần hiểu đầy đủ chữ dục là ý nghĩa như vậy, không thể hiểu đơn giản chữ dục là tham muốn thôi. Vì ham muốn gồm cảm giác và suy nghĩ, tư tưởng bên trong và đối tượng của sự tham muốn bên ngoài là sắc, thanh, hương, vị, xúc. Vậy nên chủ đề của chúng ta đề cập là Ái dục nhưng khi học thì rất rộng, gồm cả sắc, thanh, hương, vị, xúc thậm chí tới pháp.

– Chư Hiền, Sa-môn Gotama nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các dục, chúng tôi cũng nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các dục. Chư Hiền, Sa-môn Gotama nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các sắc pháp, chúng tôi cũng nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các sắc pháp. Chư Hiền, Sa-môn Gotama nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các cảm thọ, chúng tôi cũng nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các cảm thọ. Chư Hiền, ở đây có sự đặc thù nào, sự dị biệt nào, sự sai khác nào giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi về vấn đề thuyết pháp hay vấn đề giáo huấn?”

Ý nói: Bậc đạo sư của các Ngài nói về dục đầy đủ, chúng tôi cũng nói về dục một cách đầy đủ vậy thì có điều gì đặc thù, đặc biệt, dị biệt sai khác giữa Sa-môn Gotama về vấn đề thuyết pháp và dạy dỗ? Và khác nhau như thế nào?

“Các Tỷ-kheo ấy không hoan hỷ cũng không chỉ trích những lời nói các Du sĩ ngoại đạo, không hoan hỷ, không chỉ trích, các Tỷ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, từ biệt với ý nghĩ: "Chúng ta sẽ học ý nghĩa lời nói này từ Thế Tôn".”

Đoạn này rất sâu sắc để chúng ta học hỏi, nếu là mình bị nói như vậy thì mình có ngồi yên được không? Mình sẽ trình bày, nói rằng “Tôi sâu sắc hơn, tôi cao thâm, vi diệu hơn. Các ông thì cạn hơn!” Đó là điểm khác nhau giữa các bậc tu hành, hiền trí, chứng tỏ chúng ta chưa “hiền” vì thọ còn rất sôi nổi, thọ, tưởng, hành còn hoạt động rất mạnh mẽ.

“Các Tỷ-kheo ấy không hoan hỷ cũng không chỉ trích những lời nói các Du sĩ ngoại đạo” tức các vị ấy không vui cũng không chỉ trích lại những người Du sĩ và “các Tỷ-kheo từ chỗ ngồi đứng dậy, từ biệt”, chào các vị Du sĩ đó để đi khất thực. “Với ý nghĩ: "Chúng ta sẽ học ý nghĩa lời nói này từ Thế Tôn"” như vậy thì mới thành Thánh tăng được.

Nếu là chúng ta thì ai hỏi thì cứ nói nhiều, lanh lợi, hiểu biết lắm nhưng vẫn là phàm phu. Vì đó là tri kiến của phàm phu, vô minh, bản ngã, nói trong dục, thúc giục, hơn thua, cao thấp, cái tôi, cái ta, cái bản ngã thì đó không phải là pháp. Còn các Ngài ấy mới đúng là bậc thiện, bậc hiền trí. Dù bị nói như vậy, lòng không bằng lòng, cũng không chỉ trích mà chỉ đứng dậy từ biệt đi khất thực và suy nghĩ là sẽ được hiểu và học hỏi ý nghĩa của lời nói này với Đức Thế Tôn.

Cũng nhờ đó mà có được bài kinh Đại Khổ Uẩn này, nếu như chúng ta lanh lợi, giỏi giang quá thì sẽ không có bài kinh này, cũng sẽ không có thánh nhân.

Chính vì vậy, chỗ học của chúng ta không thành tựu được là vì vậy. Tự mình suy diễn tư kiến cá nhân, sự thấy biết định kiến của mình. Vấn đề nào thì mình cũng dùng thọ, tưởng, hành của mình suy diễn ra và cũng tự mình cho đó là đúng hay không đúng rồi phán nó. Cuối cùng thì chúng lại nằm trong phàm phu tri kiến, trong sự thấy biết của vô minh và tham ái, bản ngã, hơn thua. Nếu như bình thường thì sẽ có hơn thua, phải quấy, tôi ta, bĩ thử, chính ở chỗ này chúng ta mới thấy được tầm quan trọng của tâm hiền.

Vậy nên chúng ta cần học theo trong kinh, thường nên nói “Kính thưa các bậc Hiền trí”, giữa các huynh đệ cũng vậy, nói về chữ hiền để tự nhắc mình và nhắc cho đối tượng đó.

“Rồi các Tỷ-kheo ấy, sau khi khất thực ở Savatthi, khi ăn xong và đi khất thực trở về, liền đến chỗ Thế Tôn ở, đảnh lễ Ngài và ngồi xuống một bên. Sau khi ngồi xuống một bên, các Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

– Bạch Thế Tôn, ở đây chúng con buổi sáng đắp y, cầm y bát vào thành Savatthi khất thực. Bạch Thế Tôn, rồi chúng con suy nghĩ: "Nay còn quá sớm để đi khất thực ở Savatthi. Chúng ta hãy nghĩ đến ngôi vườn các Du sĩ ngoại đạo". Bạch Thế Tôn, rồi chúng con đi đến ngôi vườn các Du sĩ ngoại đạo, sau khi đến xong, nói lên những lời chúc tụng hỏi thăm xã giao rồi ngồi xuống một bên, Bạch Thế Tôn, các Du sĩ ngoại đạo ấy nói với chúng con đang ngồi một bên:

"Chư Hiền, Sa-môn Gotama nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các dục, chúng tôi cũng nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các dục. Chư Hiền, Sa-môn Gotama nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các sắc pháp, chúng tôi cũng nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các sắc pháp. Chư Hiền, Sa-môn Gotama nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các cảm thọ, chúng tôi cũng nêu rõ sự hiểu biết hoàn toàn về các cảm thọ. Chư Hiền ở đây có sự đặc thù nào, sự dị biệt nào, sự sai khác nào giữa Sa-môn Gotama và chúng tôi về vấn đề thuyết pháp hay vấn đề giảng huấn?" Bạch Thế Tôn, chúng con không hoan hỷ, không chỉ trích những lời nói các Du sĩ ngoại đạo. Không hoan hỷ, không chỉ trích, chúng con từ chỗ ngồi đứng dậy, từ biệt với ý nghĩ: "Chúng ta sẽ học ý nghĩa lời nói này từ Thế Tôn".

– Này các Tỷ-kheo, các Du sĩ ngoại đạo nói như vậy cần được trả lời như sau: "Chư Hiền, thế nào là vị ngọt các dục? Thế nào là sự nguy hiểm, thế nào là sự xuất ly? Thế nào là vị ngọt các sắc pháp, thế nào là sự nguy hiểm, thế nào là sự xuất ly? Thế nào là vị ngọt các cảm thọ, thế nào là sự nguy hiểm, thế nào là sự xuất ly?"

Này các Tỷ-kheo, khi được hỏi vậy, các Du sĩ ngoại đạo không thể trả lời được và sẽ bị mắc vào các khó khăn khác. Vì sao vậy? Này các Tỷ- kheo, vì vấn đề này không thuộc khả năng hiểu biết của họ.

Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai trong thế giới này với chư Thiên, Mara, Phạm thiên, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, mà câu trả lời các câu hỏi được chấp nhận, trừ Như Lai, đệ tử Như Lai và những ai được nghe hai vị này.”

Tại điểm này chúng ta thấy được sự thâm sâu của kinh Nikāya, vì học kinh Nikāya khác với những bài học khác vì không được sai một chữ, vì sai một ly đi một dặm. Như định lý, định luật mà phát biểu sai một chữ thì khi thực nghiệm có đúng được không hay là bị sai hết? Nhưng giờ chúng ta học thì cứ việc diễn theo suy nghĩ của mình là điểm thất bại.

“Các Du sĩ ngoại đạo nói như vậy cần được trả lời như sau: "Chư Hiền, thế nào là vị ngọt các dục? Thế nào là sự nguy hiểm, thế nào là sự xuất ly? Thế nào là vị ngọt các sắc pháp, thế nào là sự nguy hiểm, thế nào là sự xuất ly? Thế nào là vị ngọt các cảm thọ, thế nào là sự nguy hiểm, thế nào là sự xuất ly?"”

Khi được hỏi vậy thì các vị Du sĩ ngoại đạo đó sẽ bị rối rắm, “vì vấn đề này không thuộc khả năng hiểu biết của họ”. Họ sẽ không trả lời được và gặp khó khăn, vì nó không thuộc phạm trù mà họ có thể hiểu biết, nhận thức, vượt ngoài khả năng của họ.

“Ta không thấy một ai trong thế giới này với chư Thiên, Mara, Phạm thiên, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, mà câu trả lời các câu hỏi được chấp nhận, trừ Như Lai, đệ tử Như Lai và những ai được nghe hai vị này.”

Tại sao lại như vậy? Vì chỉ có Đức Thế Tôn là bậc Chánh Biến Tri, Thế Gian Giải, bậc đã nhìn thấy, nhiếp phục, đoạn tận, hoàn toàn xuất ly ra khỏi các dục thì Ngài mới chỉ ra con đường thoát ra được. Còn đối với những người còn mê đắm trong dục, còn bị dục sai khiến, hành hạ còn làm nô lệ, tôi đòi, còn bị nó đè đầu cưỡi cổ thì làm sao chỉ ra con đường để thoát ra được?

Vậy nên tại sao mình thành tựu? Vì mình học với những người không biết: thứ nhất là tự thân họ đã bị lún sâu trong đầm lầy của dục, thì làm sao họ chỉ được mình cách thoát dục? Thứ hai, họ chưa từng được gặp, chưa từng được nghe, chưa từng được hiểu biết về đạo lộ của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, thì làm sao chỉ được mình? Vì chỉ có Đức Như Lai, đệ tử của Như Lai và những người nghe hai vị này nói. Nghe và lặp lại đúng như vậy chứ nếu nghe và lặp lại không đúng thì là sai.

Nên khi chúng ta nghe các vị giảng kinh chỉ đọc lướt qua các ý, không đọc bài kinh thì đó rất nguy hiểm. Từ các vị đã thành tựu, đã lão luyện, còn đa số rời kinh một chữ là “oan cho ba đời Chư Phật”, là đồng ma thuyết, tức là chỉ rời kinh một chữ là trở thành lời nói của ma, không còn là lời nói của Phật nữa. Gọi là “ly kinh nhất tự, tích đồng ma thuyết” – rời kinh một chữ trở thành lời nói của ma, không là lời nói của Phật.

“Này các Tỷ-kheo, Ta không thấy một ai trong thế giới này với chư Thiên, Mara, Phạm thiên, với chúng Sa-môn, Bà-la-môn, với chư Thiên và loài Người, mà câu trả lời các câu hỏi được chấp nhận, trừ Như Lai, đệ tử Như Lai và những ai được nghe hai vị này.” Câu trả lời này được chấp nhận là đúng, chân xác, chính xác, đúng đắn. Chỉ “trừ Như Lai, đệ tử Như Lai và những ai được nghe hai vị này” nên chúng ta cảm thấy rất may mắn, chúng ta biết được đạo lộ, phương pháp trên trời, thiên giới, ma giới, phạm thiên giới, tất cả những giới tu hành không chỉ ở thế giới này mà ở nhiều thế giới khác, vô lượng vô biên thế giới, Phạm thiên, đại thiên thế giới. Ở ba ngàn thế giới mà chúng ta lại may mắn và biết được.

Đây chỉ nói về việc chúng ta được nghe, hiểu và nhớ đúng theo lời dạy của Đức Phật thì đó đã là hy hữu, hiếm có. Nên Đức Phật nói là người nghe hiểu, người có thể nói lại những lời dạy của Đức Phật thì Đức Phật gọi là báu vật, vật báu trên đời, thế gian chí bảo. Vậy nên Minh Thành luôn khuyến khích các thầy, các cô học kinh, nghiền ngẫm pháp để ngấm sâu, chia sẻ pháp hoài như vậy để ngấm được vào trong, không mất và đời nào sanh ra cũng tiếp tục như vậy đến khi Nhập lưu.

Chúng ta cứ so sánh đất dính ở móng tay và đất ở cả địa cầu thì đó là bao nhiêu? Và người nghe được, hiểu được Thánh pháp này như đất dính ở móng tay, vì vậy nên phải trân quý, trân trọng, trân kính trên cả sinh mạng của mình để kính pháp, học pháp, chia sẻ pháp, lưu bố, truyền bá pháp.

Vì Đức Phật đã nói rõ chỉ “trừ Như Lai, đệ tử Như Lai và những ai được nghe hai vị này” nên các Phật tử, quý thầy cô được nghe trong pháp hội Nikāya này thì cũng là các bậc quý hiếm, hy hữu, khó gặp, là châu báu trên thế gian này. Đức Thế Tôn đã tuyên bố là “Ta không thấy một ai” trong cả thế giới này, vô lượng thế giới này, có thể nói đúng câu hỏi này “Thế nào là vị ngọt các dục? Thế nào là sự nguy hiểm, thế nào là sự xuất ly?” Không một ai có thể trả lời chính xác ngoại trừ Như Lai, đệ tử Như Lai (là Bốn đôi Tám chúng Hiền Thánh) và người nghe được từ hai vị đó. Nghe và nhớ phải chính xác, nếu nói sai là không được.

Chúng ta thấy mình có may mắn không? Thấy mình được hạnh phúc, phước báo, hiếm có, thù thắng, trân trọng, trân quý, trân kính không? Vậy nên nếu mình nghe pháp và bất ngờ ngã ra mất tại đây thì sẽ được sanh thiên, làm Thánh đệ tử thiên, nếu quay trở lại đời này thì cũng là quân tập, tu tập Chánh Tri kiến – tri kiến bậc Thánh. Việc nghe pháp, nghiệm pháp và thực hành pháp này mới thật sự là công chuyện, mục đích của đời sống này, ngoài ra không có điều gì khác. Vì đã ăn, ngủ vô lượng kiếp, làm những chuyện theo dục vô lượng kiếp rồi.

II. Vị ngọt của dục

“Và này các Tỷ-kheo, thế nào là vị ngọt các dục?

Này các Tỷ-kheo, có năm pháp tăng trưởng dục này”

Năm pháp tăng trưởng dục là năm thứ nuôi lớn lòng tham muốn, tu duy tham ái, cảm giác, nghĩ tưởng yêu thích, tham muốn, say mê đều là từ năm thứ này nuôi lớn chúng

Này các Tỷ-kheo, có năm pháp tăng trưởng dục này: Các sắc pháp do nhãn căn nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, tương ứng với dục, hấp dẫn, các tiếng do nhĩ căn nhận thức... các hương do tỷ căn nhận thức... các vị do thiệt căn nhận thức... các xúc do thân căn nhận thức, khả ái, khả lạc, khả ý, khả hỷ, tương ứng với dục, hấp dẫn. Này các Tỷ-kheo, có năm pháp tăng trưởng dục như vậy. Này các Tỷ- kheo, y cứ vào năm pháp tăng trưởng dục này, có lạc hỷ khởi lên, như vậy là vị ngọt các dục.

Ý nói, năm pháp đó gồm: các sắc-sắc đẹp do mắt nhận biết là những sắc đáng yêu, đáng vui, vừa lòng, thích ý, tương ứng với sự tham muốn của mình, nó hấp dẫn. Tiếp theo là các tiếng (thanh) do tai nghe thấy, các mùi (hương) do mũi nhận thức, các vị do lưỡi nhận thức, các sự xúc chạm (xúc) là do thân nhận thức những thứ đều là đáng yêu, vừa lòng, thích ý, phù hợp với ham muốn của mình, hấp dẫn, là sức hút. Năm thứ này nuôi lớn sự tham muốn như vậy.

Sắc, thanh, hương, vị, xúc là sắc đẹp, mùi, vị, sự xúc chạm, vừa lòng, thích ý, đáng yêu, dễ chịu, làm cho mình khoan khoái, thích thú, ham muốn, hấp dẫn. Năm thứ này làm cho tham muốn của mình lớn thêm.

“Này các Tỷ- kheo, y cứ vào năm pháp tăng trưởng dục này, có lạc hỷ khởi lên, như vậy là vị ngọt các dục.”

Câu trên rất sâu sắc nên chúng ta cần tìm hiểu kỹ. Năm đối tượng bên ngoài gồm có sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, sự xúc chạm, đụng chạm êm ái, vừa lòng, thích ý, khoan khoái, hấp dẫn làm cho mình sanh khởi lên sự tham muốn. Đó chính là năm thứ nuôi lớn lòng tham muốn.

Bên trong thì các suy nghĩ, nghĩ tưởng, cảm giác yêu thích năm thứ đó. Và khi dựa vào năm thứ bên ngoài đó, lạc hỷ khởi lên thì như vậy là vị ngọt của các dục. Dựa vào năm thứ: sắc đẹp, tiếng hay, mùi thơm, vị ngon, sự xúc chạm, đụng chạm êm ái làm cho bên trong khởi lên cảm xúc, cảm giác lạc hỷ, vui thích, vui mừng. Lạc là vui thích, vui vẻ, khoan khoái, sung sướng, từ đó sanh khởi lên những cảm giác dễ chịu, khoai khoái, vui sướng, thích thú, hoan hỷ, cái đó là vị ngọt của các dục.

Chúng ta cần thấy sự khác nhau. Khi con mắt nhìn thấy sắc đẹp, như thấy một người đẹp đi ngang qua thì xúc sanh thọ, tức là mắt tiếp xúc với sắc đẹp đó làm sanh khởi lên một cảm thọ lạc hỷ, làm vui thích, cảm giác dễ chịu, thích thú, khoan khoái. Thì chính cảm giác vui sướng, dễ chịu, khoan khoái, thích thú đó khởi lên thì đó là vị ngọt.

Vậy nên nếu chúng ta không cảm giác toàn thân, quán chiếu cảm thọ, nhận diện năm uẩn thì làm sao mình biết được đó là gì? Và tất cả chúng sanh là mật ngọt chết ruồi, như con thêu thân lao vào bóng đèn, vì không biết vị ngọt đó là gì, cứ ham thích, khoái để rồi bay vào như vậy thôi. Khi nó sanh khởi lên hỷ lạc, lạc hỷ, vui sướng, khoan khoái, ưa thích, sung sướng đó thì đó là vị ngọt. Giống như giọt mật bài trước chúng ta đã nói, đều là vị ngọt rồi đắm chìm vào trong vị ngọt đó rồi lún sâu vào vũng lầy đó. Vào miệng hùm, hang cọp cũng là vì vị ngọt đó, sẵn sàng chết vì vị ngọt đó nên tan nhà nát cửa, tù tội, mất mạng vì vị ngọt đó.

Vì vậy tất cả chúng sanh đều chết vì vị ngọt này. Như món ngon dọn lên thì lúc đó vị ngọt ra sao? Đầu tiên là mắt tiếp xúc, thọ do nhãn xúc sanh, là đã thấy thích, nghe người ngồi bên cạnh húp lên tiếng sột soạt thì thọ do nhĩ xúc sanh, tiếp theo là mũi nghe mùi làm sanh khởi cảm xúc, thọ do tỹ xúc sanh, làm khởi lên cảm giác lạc hỷ, vị ngọt. Khi nếm, lưỡi có cảm nhận đó là thọ do thiệt xúc sanh.

Vị ngọt làm cho con người chết nên có người suốt đời chỉ chạy đi tìm kiếm miếng ăn, thích món ăn này món ăn kia rồi quán nào ngon là có mặt, bất cứ chỗ nào, thậm chí đi qua nước ngoài để được ăn. Nên có người làm cực khổ để dành tiền để đi du lịch trong nước, ngoài nước thì cũng vì cảnh đẹp thì còn được ăn uống, đó đều là nằm trong vị ngọt. Chỉ một chút vị ngọt đó thôi là mật ngọt chết ruồi, không thoát ra được.

Ví dụ căn nhà đẹp, chiếc xe đẹp có vị ngọt không? Khi mình bước vào thì sáu xúc của mình sanh khởi, sáu thọ sanh khởi, mắt nhìn thấy, tai nghe, mũi ngửi, hay nhiều thứ thậm chí thấy thôi không đủ còn phải sờ, ngửi. Ví như những tủ để đồ ghi chữ cấm đụng vào thì cũng có người đi đến đụng vào mới được. Vì đồ quý của người ta thì người ta không cho đụng vào, khi cố đụng vào rồi lỡ làm rơi bể của người ta, nên đó là vị ngọt làm lôi cuốn.

Hay như con mèo chỉ nhìn thấy thôi không chịu mà phải đi đến ôm vào, sờ nó hay vuốt nó thì như giờ có thể bị lây nhiễm covid. Vị ngọt là giống như vậy, luôn có hiểm họa bên trong đó, nguy hại như vậy. Người đó nhìn thấy cảnh đẹp, cây đẹp, hoa đẹp nhưng lại muốn hái nó đem về nhà. Đó là ái hữu, muốn nắm giữ, chiếm hữu nó, để rồi sau đó có nhiều vấn đề. Sự khoai khoái, thích thú khởi lên thì không phải chỉ vậy rồi xong, nó muốn thực hiện, đem về, chiếm hữu. Như vậy thì chúng ta thấy được vị ngọt của nó.

Về xúc chạm của thân xác thì nó còn sanh khởi vị ngọt rất khủng khiếp. Vì trong sắc, thanh, hương, vị, xúc thì xúc chạm có đầy đủ sáu thọ: cảm giác của mắt, mũi, tai, lưỡi, thân, ý nên khi đã vào rồi khó ra được. Chính nó làm vị ngọt bên trong, làm cho chúng ta đau khổ, sống chết với dục đó, đời đã đau khổ biết bao nhiêu vì nó.

Nguời tu không khéo cũng bị nó hành hạ, nhiều khi thấy bên ngoài vậy nhưng bên trong là rầu thúi ruột, quậy tưng bừng bên trong, làm loạn bên trong. Nên cả cuộc đời tu của mình là cả một sự chiến đấu. Chúng ta thấy vị ngọt của sắc, thanh, hương, vị, xúc thì chúng ta dễ thấy, vị ngọt của pháp ái là ngồi nhớ lại những cái đó thì có khởi lên lạc hỷ không? Khởi lên sự khoan khoái, thích thú, rồi lại thèm thuồng, khao khát, đòi hỏi, kiếm tìm. Chúng ta cảm thấy mệt mỏi, khổ sở, thiếu thốn, khát khao vậy không? Đó là dục và bản chất của dục là vậy, lúc nào cũng thiếu thốn, khát khao, làm nô lệ, tôi đòi, đầy tớ để cung phụng, phục dịch cho nó, đủ thứ tham muốn như vậy.

Chính vị ngọt đó làm cho người ta phải chạy hoài, truy tìm, đuổi tìm mãi, đau khổ, nhọc nhằn, vất vả, bất an, lo toan, sợ hãi vì vị ngọt này. Điều này chỉ có bậc Chánh Đẳng Chánh Giác hay những người đệ tử của Ngài, những người được nghe họ nói thì bằng không, sẽ không biết được vị ngọt thật sự của nó là gì? Vì chỉ biết mê mẩn, si mê trong đó, hôn ám, ngu muội trong đó mà không biết gì, cứ nhảy vào như ruồi chết trong chén mật.

III. Sự nguy hại của dục

Tiếp theo là:

“Này các Tỷ-kheo, thế nào là sự nguy hiểm các dục?”

Khi chúng ta chiêm nghiệm thì thấy đau đớn cho hữu tình chúng sanh, thấy ngán ngẩm vô cùng, mệt mỏi, nhọc nhằn, khổ sở.

“Ở đây, này các Tỷ-kheo, có thiện nam tử nuôi sống với nghề nghiệp, như đếm ngón tay, như tính toán, như ước toán, như làm ruộng, như buôn bán, như chăn bò, như bắn cung, như làm công cho vua, như làm một nghề nào khác. Người ấy phải chống đỡ lạnh, phải chống đỡ nóng, phải chịu đựng sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, sức nóng, mặt trời, các loài bò sát, bị chết đói chết khát.

Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục, thiết thực hiện tại, thuộc khổ uẩn, lấy dục làm nhân, lấy dục làm duyên, là nguồn gốc của dục, là nguyên nhân của dục.

Này các Tỷ-kheo, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy, nhưng các tài sản ấy không được đến tay mình.”

Dù người đó đầu tắt mặt tối, vất vả, nhọc nhằn, khó khăn thậm chí có khi bị thương, bị tai nạn nhưng làm không ra tiền, làm không đủ ăn. Ví như người chạy xe ôm cả ngày, có ba bốn đứa con, vợ thì bệnh đau, không đủ tiền mua thuốc nhưng các tài sản đó không được đến tay mình. Hay khi làm còn bị cướp giật như bà cụ hơn bảy mươi tuổi bị mù bán vé số nhưng lại bị cướp giật, bị lừa gạt. Hay chuyện những người nghèo bị những người đến kêu đưa giấy chứng minh, hộ khẩu rồi họ đem lại ngân hàng thế chấp. Nên tự dưng lại bị mắc nợ mấy chục triệu trong khi nhà rất nghèo khổ.

“Này các Tỷ-kheo, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy, nhưng các tài sản ấy không được đến tay mình, vị ấy than vãn, buồn phiền khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: "Ôi! Sự nỗ lực của ta thật sự là vô ích, sự tinh cần của ta thật sự không kết quả". Này các Tỷ-kheo, như vậy, là sự nguy hiểm các dục... (như trên) ... là nguyên nhân của dục.

Này các Tỷ-kheo, nếu thiện nam tử ấy nỗ lực như vậy, tinh cần như vậy, tinh tấn như vậy, và các tài sản ấy được đến tay mình, vì phải hộ trì các tài sản ấy, vị ấy cảm thọ sự đau khổ, ưu tư: "Làm sao các vua chúa khỏi cướp đoạt chúng, làm sao trộm cướp khỏi cướp đoạt chúng, làm sao lửa khỏi đốt cháy, nước khỏi cuốn trôi, hay các kẻ thừa tự không xứng đáng khỏi cướp đoạt chúng?"

Dầu vị ấy hộ trì như vậy, giữ gìn như vậy, vua chúa vẫn cướp đoạt các tài sản ấy, trộm cướp vẫn cướp đoạt, lửa vẫn đốt cháy, nước vẫn cuốn trôi hay các kẻ thừa tự không xứng đáng vẫn cướp đoạt chúng. Vị ấy than vãn, buồn phiền, khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: "Cái đã thuộc của ta, nay ta không có nữa". Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục... (như trên) ... là nguyên nhân của dục.”

Bước thứ nhất là phải chịu đựng những thống khổ, khó khăn, vất vả, cực khổ tai nạn, như vậy. Khổ thứ hai là cố gắng như vậy nhưng không được, lại bị trộm cướp, thất thoát, phá sản, lừa gạt nên người đó khổ. Thứ ba là cố gắng, nỗ lực, siêng năng, làm đủ mọi thứ để được tài sản đó và các tài sản đó được đến tay mình thì người này phải lo lắng, lo sợ, giữ gìn tài sản đó.

Người đó sẽ có các cảm thọ đau khổ, ưu tư, lo lắng, sợ hãi để "Làm sao các vua chúa khỏi cướp đoạt chúng, làm sao trộm cướp khỏi cướp đoạt chúng, làm sao lửa khỏi đốt cháy, nước khỏi cuốn trôi, hay các kẻ thừa tự không xứng đáng khỏi cướp đoạt chúng?" Họ nghĩ những người thừa tự phải là người xứng đáng, đúng với ý mình, nếu không thì chúng sẽ giành nhau, tuy là thừa tự nhưng con cháu vẫn giành nhau, thưa kiện, tranh đấu.

Như câu chuyện của bà già tám mươi tuổi bị con đuổi ra đường, bị con gạt kí tên giao nhà. Nên dù người đó có giữ gìn ra sao cuối cùng thì “Vị ấy than vãn, buồn phiền, khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: "Cái đã thuộc của ta, nay ta không có nữa". Vị ấy than vãn, buồn phiền, khóc than, đấm ngực, mê man bất tỉnh: "Cái đã thuộc của ta, nay ta không có nữa". Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục... (như trên) ... là nguyên nhân của dục.”

Chúng ta nhận thấy có từng giai đoạn, thứ nhất là phải chịu khổ, khó khăn, cực khổ, nhẫn nại để làm. Thứ hai là chịu khổ như vậy nhưng không nhận được gì, dù có bao nhiêu là mồ hôi, nước mắt, máu thậm chí là tai nạn (như khi chạy xe, làm tài xế), có thể vào tù, thậm chí là mất mạng… mà không được tài sản gì. Thứ ba là đã được đến tay rồi lại lo lắng, lo sợ rồi lại bị cướp mất.

Dù dành cả một đời, ba chục, năm chục năm để gây dựng nhưng nằm một đêm rồi có thể thân cũng không còn, vì nhà cửa cháy do chập điện, bình gas nổ, đốt giấy tiền cúng, thậm chí mất mạng. Như sóng thần ở Nhật Bản, động đất dù chỉ vài ngày nhưng có hàng trăm trận động đất, núi lửa phun trào hay như cả đời dành dụm, tích lũy đến khi bị nhiễm dịch bệnh thì chỉ vài ngày sau chỉ còn là hũ tro cốt. Tất cả đó là sự nguy hiểm, tác hại của dục.

Những suy nghĩ, lo toan, tính toán, mưu mô, tâm huyết, bao nhiêu sự bất an, khổ sầu, suy tư, lao tâm rồi đến cuối cùng lại là sự nguy hiểm, không còn gì. Nếu có được thì phải lo giữ, không có được cũng khổ và phải mất bao nhiêu là mồ hôi, nước mắt mới có được. Đó chính là nguy hiểm. Mình chạy ra thì bao nhiêu là tai nạn vô thường, nát bể, vỡ hết mà lại dành cả đời mình để đi theo đó thì có nguy hiểm không? Dành cả tâm huyết, sinh mạng mình để đổ vào cái tan nát, bại hoại, không được là khổ mà được cũng khổ vì luôn phải lo lắng, nhưng mất đi thì càng khổ hơn. Đó gọi là nguy hiểm của dục, tai nạn của dục, sự khổ đau của dục, của khổ uẩn này.

“Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, do chính dục làm nhân, vua tranh đoạt với vua, Sát-đế-lỵ tranh đoạt với Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn tranh đoạt với Bà-la-môn, gia chủ tranh đoạt với gia chủ, mẹ tranh đoạt với con, con tranh đoạt với mẹ, cha tranh đoạt với con, con tranh đoạt với cha, anh em tranh đoạt với anh em, anh tranh đoạt với chị, chị tranh đoạt với anh, bạn bè tranh đoạt với bạn bè.”

Dù là vua chúa, Bà-là-môn, gia chủ - người giàu cũng tranh đoạt với nhau. Cha, mẹ tranh đoạt với con… Ví dụ như hai chú chó mới đó quấn quýt, thân thương, vui vẻ với nhau thì chỉ cần quăng một khúc xương thì giành nhau, cắn nhau. Huynh đệ tương tàn, tàn hại, tàn sát nhau chỉ vì cái lợi trước mắt. Anh, chị, em tranh đoạt với nhau, bạn bè tranh đoạt với nhau. Dù mới đó là bạn nhưng gặp cái lợi rồi thì không còn bạn bè gì nữa, cứ tranh giành, tranh đoạt, tranh đấu.

Đây là đề tài quán chiếu, chiêm nghiệm, cả thế gian này là bức tranh vĩ đại của thế giới này, là bức tranh của cuộc sống, là toàn cảnh của hành tinh, là tổ hợp của khổ đau. Chỉ vì tham muốn mà không còn cha con, vợ chồng, anh em, mẹ con… mà sẵn sàng lọc lừa, dối trá lẫn nhau, thủ đoạn với nhau, mưu hại, hạ độc thủ nhau, sẵn sàng đạp nhau rơi xuống vực sâu.

“Trường Giang hậu lãng thôi tiền lãng

Thế thượng tân nhân toản cựu nhân.”

Ý nói sông Trường Giang sóng sau đùa sóng trước, đời người thì người mới đạp người cũ để đi lên, chà đạp nhau để bước lên, bước lên máu, thịt, xương của người khác.

Thật đau lòng, đau xót, xót xa cho thế gian, thế giới này, tất cả đều là sự tham dục, không còn tình nghĩa, không còn nhân ái, đạo đức, chỉ biết tiền, dục vọng, sự ích kỷ, lợi nhuận của mình mà sẵn sàng đạp đổ hết tất cả lễ nghĩa, ân nghĩa, tình nghĩa, ân đức đều tiêu tan.

Đức Phật nói về cả một bức tranh vĩ đại, thực tả về thế giới, đời sống, nhân sinh, vũ trụ này. Thời điểm hai ngàn sáu trăm năm trước đã nói như vậy thì chúng ta cần biết đây là những cái đúc kết, tinh túy, chúng ta cần chiêm nghiệm hết cùng khắp. Vua với vua tranh đoạt, quan với quan đấu đá, người tu với người tu giành giật với nhau chức vụ, lợi ích, danh lợi, vật chất, tiền tài, lòng tham muốn của con người.

Bao nhiêu những dòng nước mắt chảy xuống vì dục, tham, ái, bao nhiêu những sự đau khổ, lo lắng, sợ hãi, bất an, bao nhiêu dòng máu, sinh mạng. Như người ta bệnh, đau khổ như vậy còn đi bán thuốc giả. Người ta chết chóc nhiều vậy còn mượn cơ hội tăng giá các bình oxy. Đều là khổ vì dục, khổ vì tham, khổ vì tranh đoạt, tranh đấu, hơn thua, tranh giành, tranh chấp. Đây là đại khổ uẩn, một nỗi khổ to lớn, tổ hợp của đau khổ.

Sự tập khởi, sự chất chứa để sanh khởi nên tất cả những đau đớn, cay đắng, khổ đau trong cuộc đời này. Đó là sự nguy hiểm của lòng tham muốn, thiết thực hiện tại, là nguyên nhân dẫn đến khổ đau, lấy sự ham muốn làm nhân, làm duyên, tất cả đều bắt nguồn từ sự tham muốn, nguyên nhân của sự đau khổ là từ sự tham muốn, tham dục, tham ái, ái dục. Tất cả khổ đều bắt nguồn từ lòng tham muốn, từ năm đối tượng ở bên ngoài và những cảm giác, nghĩ tưởng ở bên trong kết hợp với nhau, nội công, ngoại kích, trong ngoài phối hợp gây ra tan thương, dâu bể, chiến tranh, dịch bệnh, thiên tai, hoạn nạn, khổ sầu.

Cảm giác thật là khổ, thật cay đắng, xót xa cho thế gian này. Anh em, chị em giành với nhau, huynh đệ tương tàn, bạn bè chỉ tích tắc trở thành kẻ thù. Giàu có chút thôi là thay đổi tính tình, khinh khi những người thân thương, ân nghĩa với mình nhất giờ lại trở mặt. Thật đau lòng, đau xót, đau đớn, tất cả đều là dục. Bạn bè tranh đoạt với bạn bè, anh em tranh đoạt với anh em, chị em tranh đoạt với nhau.

Khi họ đã dấn mình vào tranh chấp, tranh luận, tranh đoạt; họ công phá nhau bằng tay; họ công phá nhau bằng đá; họ công phá nhau bằng gậy; họ công phá nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục, thiết thực hiện tại, thuộc khổ uẩn, lấy dục làm nhân, lấy dục làm duyên, là nguồn gốc của dục, là nguyên nhân của dục.

Dục là nguyên nhân, căn nguyên, gốc rễ, tạo ra tất cả những sự tranh đoạt, tranh đấu đó. “Khi họ đã dấn mình vào tranh chấp” là có thể thưa kiện nhau mấy chục năm, suốt đời cũng chưa xong, như tranh chấp tài sản giữa anh em ruột, cô cháu, dì cháu, cậu cháu, vợ chồng đưa nhau ra tòa, cự cãi, la mắng, đánh đập nhau. “Khi họ đã dấn mình vào tranh chấp, tranh luận, tranh đoạt; họ công phá nhau bằng tay; họ công phá nhau bằng đá; họ công phá nhau bằng gậy; họ công phá nhau bằng kiếm.” Là khi con người dùng vũ lực, tay chân để công phá nhau, ném đá, bằng gậy, gươm dao, súng ống, thuốc độc, giăng bẫy, thuê xã hội đen.

Như chuyện người con dàn cảnh giết cha mình để cướp tài sản, thuê xã hội đen giăng bẫy, dàn trận, để đưa cha mình vào chỗ chết, để lấy tài sản cho mau, cho nhanh. Chúng ta thấy thật khủng khiếp về lòng tham muốn của con người, thật ác độc, bất hiếu, ngỗ nghịch như vậy.

Vậy nên cả bài kinh này là một sự thật vĩ đại, của thế giới này, thế gian này, của đời sống này. Hai bài kinh Tiểu kinh khổ uẩn và Đại kinh khổ uẩn cần đọc tụng ngàn lần, thiền quán ngàn lần để ngấm vào trong tâm sự nhàm chán, ngao ngán, ê chề, não nề, gớm ghê, chán chê với lòng tham dục của mình, của hữu tình chúng sanh. Ngay cả giữa người tu với người tu không đi trên con đường, đạo lộ nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham, ly tham, thì vẫn rơi vào bẫy này, bẫy đau đớn, khổ sở này. Hố, vực này, thảm họa, tai nạn này, là chức quyền, danh lợi, chùa chiền, địa vị, tiếng tăm để làm gì, được gì?

Tất cả đều là sự nguy hiểm của lòng tham muốn, tai nạn của lòng tham muốn, khổ nạn của lòng tham muốn, nguyên nhân, nguồn gốc là từ nơi lòng tham muốn. Toàn cảnh đau khổ này được đạo diễn dục đại tài dựng lên bộ phim của toàn thế giới đau khổ này, đạo diễn đứng phía sau là dục vọng, tham dục, dục mê, dục cuồng, dục si, dục ái, dục chấp thủ, dục khao khát, dục đòi hỏi, dục điên cuồng, dục ác độc.

Đại thảm họa của toàn cầu là dục vọng, chúng ta không nhìn ra được và chúng ta bị hút vào, cuốn vào vòng xoáy đó, suốt cuộc đời tu của chúng ta sẽ không có mục đích hướng thượng để đi đến sự ly tham, diệt dục vọng. Chúng ta phải nhìn thấy đây chính là sự nguy hiểm, tác hại của dục.

“Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do dục làm nhân... do chính dục làm nhân, họ cầm mâu và thuẫn, họ đeo cung và tên, họ dàn trận hai mặt, và tên được nhắm bắn nhau, đao được quăng ném nhau, kiếm được vung chém nhau. Họ bắn đâm nhau bằng tên, họ quăng đâm nhau bằng đao, họ chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục... (như trên) ... là nguyên nhân của dục.”

Chính tham muốn này mà họ đem cung tên, dàn trận bắn nhau, quăng ném nhau bằng đao, bằng kiếm, họ vung chém nhau, chặt đầu nhau. Tất cả chìm đắm trong lòng tham muốn, dục vọng đó mà không biết gì về sự bình an, yên bình của loài người, của xã hội, của thế giới. Để rồi họ đi đến chỗ chết và đi đến sự đau khổ gần như là chết. Như vậy là sự nguy hiểm của các dục, của các lòng tham muốn, sự tai hại, hiểm họa, ác độc của dục vọng con người.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do dục làm nhân... do chính dục làm nhân, họ cầm mâu và thuẩn, họ đeo cung và tên, họ công phá thành quách mới trét vôi hồ và tên được nhắm bắn nhau, đao được quăng ném nhau, kiếm được vung chém nhau. Ở đây, họ bắn đâm nhau bằng tên, họ quăng đâm nhau bằng đao, họ đổ nước phân sôi, họ đè bẹp nhau bằng đá, họ chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục... (như trên) ... là nguyên nhân của dục.

Cướp đất, cướp biển, nổ sung, ném bom, công phá thành trì với nhau. Hiện giờ, vẫn có những nước sống trong chiến tranh, không chỉ mười năm, hai mươi năm, năm chục năm… Lúc nào cũng có tiếng nổ súng, bom đạn, những đứa trẻ mất cha mẹ, cha mẹ mất con, những căn nhà, thành trì sụp đổ, thành cát bụi. Chôn vùi, đè lên bao nhiêu người chết, bao nhiêu máu hồng đổ xuống, bao nhiêu dòng nước mắt, sinh mạng chết đi… Tất cả đều là dục vọng của con người, không được hòa bình và mãi mãi trong chiến tranh.

Thật đáng thương xót, nguy hiểm và tác hại của dục vọng đó, của lòng tham muốn đó.

“Ở đây, họ bắn đâm nhau bằng tên, họ quăng đâm nhau bằng đao, họ đổ nước phân sôi, họ đè bẹp nhau bằng đá, họ chặt đầu nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong.

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do dục làm nhân... do chính dục làm nhân, họ đột nhập nhà cửa, họ cướp giật đồ đạc, họ hành động như kẻ cướp, họ phục kích các đường lớn, họ đi đến vợ người. Các vua chúa khi bắt được một người như vậy liền áp dụng nhiều hình phạt sai khác. Họ đánh bằng roi, họ đánh bằng gậy, họ đánh bằng côn, họ chặt tay, họ chặt chân, họ chặt tay chân, họ xẻo tai, họ cắt mũi, họ xẻo tai cắt mũi, họ dùng hình phạt vạc dầu, họ dùng hình phạt bối đồi hình (xẻo đỉnh đầu thành hình con sò), họ dùng hình phạt la hầu khẩu hình... Hỏa man hình (lấy lửa đốt thành vòng hoa )... chúc thủ hình (đốt tay)... khu hành hình (lấy rơm bện lại rồi siết chặt)... bì y hình (lấy vỏ cây làm áo)... linh dương hình (hình phạt con dê núi)... câu nhục hình (lấy câu móc vào thịt)... tiền hình (cắt thịt thành hình đồng tiền)... khối trấp hình... chuyển hình... cao đạp đài... họ tưới bằng dầu sôi, họ cho chó ăn, họ đóng cọc những người sống, họ lấy gươm chặt đầu. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm của dục... (như trên) ... là nguyên nhân của dục.”

Bao nhiêu những hình phạt đó, bao nhiêu sự thống khổ đó, bây giờ thì có thuốc độc, tử hình, chung thân, họ đánh đập tàn bạo, dã man, khóa tay chân trong tù. Tất cả những điều đó đều từ phi pháp, ác pháp nên bị rơi vào những cảnh tù tội như vậy, đau khổ, sống trong hối hận, hối tiếc như vậy, chết chóc như vậy. Tất cả những thứ đó gọi là sự nguy hiểm của lòng tham muốn, dục vọng.

“Lại nữa, này các Tỷ-kheo, do dục làm nhân... do chính dục làm nhân, họ sống làm các ác hạnh về thân, làm các ác hạnh về lời nói, làm các ác hạnh về ý. Do họ sống làm các ác hạnh về thân, làm các ác hạnh về lời nói, làm các ác hạnh về ý, khi thân hoại mạng chung, họ sanh vào cõi dữ, ác thú, đọa xứ, địa ngục. Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục, đưa đến đau khổ tương lai, là khổ uẩn, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nhân duyên, do chính dục làm nhân.”

Khi chịu khổ như vậy cũng chưa đủ, chưa xong, chưa vừa mà khi nhắm mắt rồi họ phải rơi vào cảnh đọa xứ, khổ cảnh, vực sâu, rơi vào chỗ tối tăm quằn quại, kinh hãi và khủng khiếp, khiếp đảm, rơi vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Do tâm nghĩ ác, nói lời ác, hành động những nghiệp ác nên khi nhắm mắt ra đi thì thân hoại, mạng chấm dứt và bị đọa vào cõi dữ, những đường ác, cảnh khổ.

“Này các Tỷ-kheo, như vậy là sự nguy hiểm các dục, đưa đến đau khổ tương lai, là khổ uẩn, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nhân duyên, do chính dục làm nhân.”

Như vậy là sự nguy hiểm của lòng tham muốn, là tác hại của dục, tai hại của dục vọng, là đau khổ trong tương lai, đưa đến đau khổ ở ngày mai, ngày sau, như vậy là một đống khổ to lớn, tổ hợp của khổ đau. Tất cả đống khổ to lớn, vĩ đại, khủng khiếp, kinh hãi này bắt nguồn từ lòng tham muốn của con người.

Từ sự tham lam, tham ái, tham dục, tham muốn, ác tham mà làm ra đau khổ đầy rẫy trong hiện tại và tương lai.

Đức Thế Tôn đã giảng cho chúng ta nghe về sự nguy hại của dục, giải thích cho chúng ta sự nguy hiểm, tác hại của dục vọng, tham muốn, tạo nên một đống khổ như vậy. Đây là chúng ta chỉ mới diễn bài kinh ra nhưng đã thấy rất ghê gớm, ngao ngán, nhàm chán. Chính những tư duy, tham muốn bên trong mình, chạy theo năm đối tượng bên ngoài, thì kết quả của nó giống như chúng ta đã nói trong bài.

“Này các Tỷ-kheo, thế nào là sự xuất ly các dục?

Này các Tỷ-kheo, đây là sự điều phục dục tham đối với các dục, sự đoạn trừ dục tham, như vậy là sự xuất ly các dục.

Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn nào không như thật tuệ tri vị ngọt các dục là vị ngọt như vậy, sự nguy hiểm là sự nguy hiểm như vậy, sự xuất ly là sự xuất ly như vậy, những vị này nhất định sẽ không như thật tuệ tri các dục của họ, họ cũng không có thể đặt người khác trong một địa vị tương tự, nghĩa là như thật tuệ tri các dục, sự kiện như vậy không thể xảy ra.”

Tức là tự thân họ không biết đúng như Đức Phật nói mà họ lại giúp cho người ta biết đúng thì điều đó không thể xảy ra.

“Này các Tỷ-kheo, những Sa-môn, Bà-la-môn nào như thật tuệ tri vị ngọt các dục là vị ngọt như vậy, sự nguy hiểm là sự nguy hiểm như vậy, sự xuất ly là sự xuất ly như vậy, những vị này nhất định sẽ như thật tuệ tri các dục của họ, họ cũng có thể đặt người khác trong một địa vị tương tự, nghĩa là như thật tuệ tri các dục, sự kiện như vậy có xảy ra.”

(Bài Đại Kinh Khổ Uẩn – Trung Bộ Kinh)

Tức là vị này sẽ biết bằng trí tuệ đúng sự thật về các dục bên trong họ, tức là họ có khả năng hướng dẫn người khác biết được tự thân của những người khác giống như họ, thành tựu trí tuệ về dục để thoát ra khỏi dục, sự kiện như vậy thì có xảy ra.

Chúng ta vừa nghe qua bài kinh, phần trích đoạn về dục, vị ngọt, sự nguy hiểm, tác hại của dục và sự xuất ly, thoát khỏi dục, mong rằng chúng ta lấy bài này để làm thiền quán. Tiếp tục an trú để quán xét vấn đề này trong sự tu học của chúng ta, quán chiếu một cách sâu sắc, đây là Khổ Tập Thánh Đế, nguyên nhân của đau khổ mà các bậc Thánh đã chứng ngộ. Để từ đó tâm của chúng ta hướng đến sự ly tham, nhiếp phục, viễn ly các lòng tham muốn, say đắm, ưa thích, đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, đối với thân xác, thọ, tưởng, hành, thức này. Chúng ta sẽ có được tâm bình an, thảnh thơi, chấm dứt đống khổ to lớn này.

Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính chúng ta. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này.

Chư vị nghe hiểu được âm thanh này, cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho chúng ta, lòng yêu thương tự thân chúng ta và yêu thương muôn loài.

Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn, vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau, lòng tha thiết chân thành cầu nguyện, sự an lạc và bình an, trí tuệ và giải thoát, đến với cùng khắp tất cả.