Vạn Linh Pháp Thoại 4 - Trí Tuệ Xuất Thế
VẠN LINH PHÁP THOẠI 4 - TRÍ TUỆ XUẤT THẾ
Thích Minh Thành
Kính thưa đại chúng, trong thời Đức Phật còn tại thế không có tông phái, mục đích của người theo Đức Phật là đoạn dứt khổ đau và chấm dứt khổ đau cũng là mục đích của đạo Phật. Cái khổ bắt nguồn từ cái nhìn sai lầm về thân và tâm, nhìn sai bên trong mình có một cái tôi, cái nhìn sai ngã về thân kiến tức là cái kiến chấp về thân. Chính cái nhìn sai này mới tham muốn cho mình, mà tham muốn không được thì sân hận. Cho nên nói theo thứ tự là si, kế đó là tham, mọi người quen nói là tham sân si nhưng thực tế si có trước, nó là cái gốc, là sự si mê, là không thấy được bản chất sự thật của chính mình, cho nên tinh thần cội gốc của Đức Phật rất đơn giản, không có nhiều vấn đề như mình bây giờ, vì đã trải qua mấy ngàn năm mình đã phát triển thêm rất nhiều trong đó nên lần lần mình không tìm ra được cái gốc. Chỗ này mình phải nắm thật vững chắc, Đức Thế Tôn còn tại thế không hề có tông phái nào hết, mục đích của người tu là đoạn diệt tham sân si, và dùng giới – định – tuệ để đoạn diệt tham sân si. Cái quan trọng nhất trong giới – định – tuệ là chánh kiến phải đứng đầu, chánh kiến là thấy chính xác thân mình, tâm mình. Cho nên bất cứ tu theo pháp môn nào mà không thấy đúng thì không có kết quả, tu không thành tựu, vì vậy cứ trì chú hoài đến khi buông câu chú ra thì tham sân si vẫn y nguyên, người ta chọc tức mình vẫn sân như thường, thấy món đồ đẹp, người đẹp vẫn còn ham muốn. Tại sao lại có hai cái này? Vì cái si thấy mình là thật, mình là tôi, là ta, là tự ngã của ta, đây là cội gốc của vô minh, tham ái và chấp thủ. Đây là cội gốc của luân hồi sanh tử, căn nguyên của khổ đau. Vì vậy điều quan trọng đầu tiên là phân biệt rõ Tiểu Thừa, Đại Thừa, bất cứ tông nào, môn nào hay phái nào mà không thấy được chánh tri kiến, không thấy đúng sự thật về thân tâm là vĩnh viễn tu không đi đến thành tựu, phải nắm thật vững cái gốc của Phật pháp. Mọi người nhìn kĩ có phải mình tham muốn là do mình thấy cái đó là đẹp, là hấp dẫn, lôi cuốn không? Mình thấy như vậy tức là mình không thấy được bản chất thân thể, vì lẽ đó nên trí tuệ quan trọng nhất trong Phật giáo là phải thấy được thân này là tứ đại. Có một điều khi học thì cứ nói tứ đại ngũ uẩn, tứ đại giai không nhưng khi trở ra mình lại sống với sự thường tình, sống với tập khí thói quen chứ mình không sống theo lời dạy của Đức Phật trong giáo pháp, không tư duy quán chiếu tu tập văn – tư – tu. Phải nghe rồi phải nghiền ngẫm suy tư, sống với nó, thực tập hành trì với nó thì mới thành tựu trí huệ, còn mình mở kinh ra đọc, mình thấy như vậy rồi trở ra lại sống với thói quen, tập khí, phiền não, chính vì vậy sự tu của mình vĩnh viễn tu không tiến, mình với pháp không thể nhập làm một được, cho nên không khéo ngộ, không chứng đắc. Vì vậy niệm Phật là phải thấy được sự thật, niệm Phật là phải thành tựu trí tuệ, phải thành tựu chánh tri kiến, cho nên cái quan trọng nhất chính là sự ngộ nhận về thân thể này, đây là cội gốc của tất cả vấn đề. Tất cả cái khổ đều từ cái nhìn sai lầm về chính mình, trong tạng kinh Nikāya có một bài kinh Một Ung Nhọt.
Ví như, này chư Hiền, một ung nhọt đã trải nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này. (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử , (V) (15) Một Ung Nhọt)
Việc khó khăn nhất trong cuộc đời tu sĩ là gì mọi người? Chính là ái dục, trong tất cả giới luật thì giới quan trọng nhất là giới dâm đứng đầu, tất cả người tu đều không vượt qua nổi cái này, nếu vượt qua được cái này thì sứ mệnh thành thánh. Làm thế nào để vượt qua được? Chính phương pháp quán bất tịnh sẽ giúp mình vượt qua, ngoài phương pháp này ra không có phương pháp nào khác để diệt tận, diệt hết được tham ái, tham dục, đây là phương pháp do Đức Phật, bậc Chánh Đẳng Giác phát hiện ra, cho nên ngoài phương pháp này ra không có một phương pháp nào khác để diệt tham dục, tham ái. Mình đến nay đã 60-70 tuổi mà nhìn lại tham dục trong người còn không? Tại sao vậy? Vì mình chưa tu tập bất tịnh quán, bất tịnh quán có năng lực nhiếp phục tham dục, diệt tận tham ái. Cái hiểu lầm vô cùng nguy hại chính là mình chê đây là phương pháp Tiểu Thừa, cái này rất nguy hiểm, đây là một sự ngộ nhận rất lớn, mình phải biết cái nào là gốc, cái nào là ngọn, ngoài phương pháp này ra không có phương pháp nào khác để diệt trừ được tham ái, phương pháp này cần được tu tập không phải một ngày, một tháng hay một năm mà cần được tu tập nhiều năm, nhiều chục năm cho đến suốt cả cuộc đời. Nếu mình nói con quán bất tịnh xong rồi thì đó là vấn đề không chấp nhận học pháp, đây là một lỗi rất lớn trong kinh tạng Nikāya. Không chấp nhận học pháp thì sẽ không thể thành tựu pháp được, vì đây là pháp của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, cho nên một điều nguy hiểm là tự mình chế ra pháp để mình tu theo đó, mình chế ra rồi cuối cùng mình tu theo kiểu phàm phu của mình. Vì vậy mình phải y cứ theo 37 phẩm trợ đạo, Tứ Niệm Xứ, Bát Chánh Đạo, Tứ Thánh Đế, đó là cội gốc, là căn, là rễ, là linh hồn của Phật giáo, là trái tim của Tam Tạng thánh điển, là con mắt của 12 bộ kinh, không thể lìa khỏi những cái này. Cho nên trong bài kinh này dạy mình nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Chín cái lỗ mà mình phải quán chiếu là hai lỗ tai, hai lỗ mũi, hai khóe mắt, cái miệng, nơi đại tiểu tiện. Không có chỗ nào bài tiết ra sạch sẽ, không có chỗ nào thơm tho, vậy mà mình không thấy sự thật. Mình bị vô minh, tham ái dày sâu làm mình điên loạn, thậm chí cuồng loạn sống chết trong đó, yêu không được là tự tử, "không yêu được người đó là con chết", "nếu thầy không cho con ra đời là con tự vẫn", cái này rất nguy hiểm. Vì vậy trí tuệ bất tịnh quán này cần phải được huân tập mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi năm, mỗi tháng, từ từ mới tích lũy, như mình ra ruộng có thấy ít quá thì không làm, nhưng mà nhiều hộ thành ra lít, nhiều lít ra dạ (giạ), nhiều dạ ra cả bồ lúa, nhiều bồ lúa thành tấn, thành nhiều tấn xuất khẩu cả thế giới, vậy mà lúc đầu mình lại chê ít. Đức Phật đã nói giáo pháp của ta không đột nhiên hay do may mắn mà chứng ngộ, trong giáo pháp của ta phải có sự tích lũy dần dần, tu tập từ từ. Như giọt nước chảy từng giọt vào thùng biết chừng nào mới đầy nhưng một lúc nào đó nước sẽ đầy tràn thùng, cũng giống như vậy, mình đem hết tâm lực cố gắng tu tập thì chắc chắn sẽ thành tựu, cho nên mọi người hãy cứ cố gắng tu tập, nhưng nếu mình có thầy hướng dẫn sẽ rất mau lẹ.
Minh Thành có một bài nói chuyện với bên Cao đẳng Phật học về đề tài tầm quan trọng của quán bất tịnh, mọi người có thể vào trang web linhquyphapan.vn để xem lại, chính vì mình không quán cái này thì không diệt được tham dục, không diệt được cái này thì không giữ giới được, không giữ giới được thì tâm không yên định, tâm không yên định thì trí huệ không tỏa sáng, trí huệ không tỏa sáng thì không thấy được bản chất của sự thật, không thấy được bản chất của sự thật thì mình không nhàm chán mà mình lại ưa thích, còn khi đã thấy được bản chất của sự thật thì mình sẽ nhàm chán, nhàm chán thì không ham muốn, mà không ham muốn thì mình sẽ giải thoát. Đó là định lý của giải thoát, uy định của giác ngộ, rất rõ ràng chứ không phải khó, Đức Phật đã trải qua vô lượng kiếp để thành tựu con đường tối thượng trong giáo pháp. Bây giờ mình cứ đi tìm pháp hành hoài, vài bữa lại trì chú, vài bữa tụng kinh, không thì qua Tây Tạng, Thái Lan, Miến Điện, Đài Loan học. Học riết rồi đủ thứ màu mè hết, đi đâu để tìm trong khi nó ở trong kinh Nikāya, nó là bộ kinh gốc, đó là những bộ kinh quyền uy của Phật giáo thế giới, tất cả trên thế giới nghiên cứu về Phật giáo đều lấy từ tạng kinh Nikāya, đó mới là gốc của Đức Phật. Cho nên Minh Thành mong quý huynh đệ để ý quán chiếu thật kĩ ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng. Bốn đại tác thành chính là đất, nước, gió, lửa, nếu như mình nhìn cái nào ra cái đó thì đó là vô minh của phàm phu, điều này rất quan trọng, nếu như nhìn cái bàn thấy đó là bàn, nhìn cái bảng thấy đó là bảng thì giữa người tu và cư sĩ có gì khác nhau? Người ta thấy sao thì mình cũng thấy như vậy thì mình và họ có gì khác? Đức Phật gọi kẻ vô phàm phu là phàm phu không nghe chánh pháp, không thành tựu chánh quả, còn bậc đa văn thánh đệ tử phải nhìn bằng trí huệ tất cả các sắc đều chỉ là sắc uẩn không hơn không kém. Phải tập nhìn bằng con mắt quán chiếu còn nhìn bằng con mắt thường là nhìn bằng thói quen, nhìn bằng tập khí, nhìn bằng kiến chấp, nhìn bằng vô minh và phiền não, nếu nhìn như vậy thì vĩnh viễn không có cơ hội thể nhập trí huệ. Bây giờ mình xuất gia mà cứ thấy tượng Phật bằng gỗ quý đẹp quá thì mình cũng giống như phàm phu, không khác gì, bên ngoài người ta xây nhà cao cửa rộng còn mình xây chùa lớn, tượng Phật đẹp, vậy thì có gì khác nhau ở đây? Đó chỉ là tham dục, là sắc thủ uẩn chứ không có gì hết, phải tất cả đều là sắc pháp, đó là công phu quán chiếu của mình, không phải một ngày một bữa mà phải có tu tập, có quán chiếu thì nhất định sẽ làm được. Lúc ban đầu tập chạy xe té hoài, trầy trụa hết người, bị hư xe nhưng khi chạy hoài thì quen dần rồi nhuần nhuyễn, sự tu tập cũng giống y như vậy, đừng sợ khó, mình làm được hết, phải thấy được tứ đại là tứ đại. Minh Thành có chia sẻ với lớp Trung cấp Phật học quán chiếu tứ đại, cũng đã được đưa lên trang linhquyphapan.vn. Điều này rất quan trọng, không phải cứ nói đã học rồi, biết rồi là xong, mình suy nghĩ như vậy là mình chết trong giáo pháp, không có tăng tượng tâm học, không tăng thượng tuệ học, không tăng thượng giới học vì mình nghĩ mình biết hết rồi, hiểu hết rồi. Hiểu rồi sao mình vẫn còn vô minh? Hiểu rồi sao vẫn còn tham? Hiểu rồi sao vẫn sân? Hiểu rồi sao vẫn còn sầu bi khổ ưu não? Chính vì học theo kiểu phớt bên ngoài, học theo kiểu chữ nghĩa thì không bao giờ mình có thể thành tựu thánh đạo thánh quả, mình phải đem cả trái tim chân thành tha thiết nhìn lại để thấy phiền não như thế nào, thấy bản ngã, tham dục hoành hành như thế nào rồi từ đó thấy xấu hổ, nhục nhã, sợ hãi để phấn đấu nỗ lực thì sự tu hành mới tiến triển. Có hai pháp cực kì quan trọng trong kinh tạng Nikāya mà Đức Phật nói quyết định đưa đến thành công, thứ nhất là tàm quý tức là hổ thẹn với tội lỗi của mình, tàm quý, xấu hổ khi nhìn lại thấy mình tràn đầy lòng tham sân, bản ngã quá lớn thì phải xấu hổ, sợ hãi, khiếp đảm thì mình mới chuyển hóa được chứ không phải tu là nửa tháng lên sám hối là xong, hồi còn là cu sĩ tập sự thì ai nói gì cũng được còn giờ là Tỳ-kheo rồi ai nói là không được vì "tôi là Tỳ-kheo rồi à", thật sự rất nguy hiểm. Vì thế trong đạo Phật càng thành tựu trí huệ chừng nào thì càng nhìn thấy tham sân si, bản ngã, phiền não rõ chừng đó, càng thấy những thứ uế nhiễm trong nội tâm mình nhiều chừng nào thì càng sợ hãi, càng điều chỉnh, càng lo tu tập tẩy rửa nhiều chừng đó thì người đó chuẩn bị bước vào dòng thánh, sắp sửa thành tựu trí huệ xuất thế. Còn tu mà ai thấy cũng sợ, tránh xa là xong rồi, đó là sự thất bại, nên người chân tu nhìn lại phải thấy. Cho nên việc quán chiếu tứ đại rất quan trọng, mình phải tập nhìn tất cả đều là sắc pháp, bây giờ nước cam, nước chanh, café sữa, nước sinh tố đều là thủy đại, còn đưa nước dừa mới uống, nước nấu chín không uống thì đó là vô minh phàm phu, không thấy được bản chất của các pháp, có cái nhìn như vậy thì mình có rất nhiều phiền não. Ví dụ mình đi làm từ sáng đến chiều tối về mệt mỏi mà có người đem ra vài chục lon nước yến loại thượng hạng, chia hết cho từng người mà đến mình hết nước yến, người đó đưa cho mình chai nước suối thì lúc đó cái tâm mình ra sao? Có bình thản không? Lúc đó nếu có tu tập thì nhìn thấy đây chỉ là thủy đại chứ có gì đâu, cũng chỉ là nước như nhau thôi, uống vào rồi đến lúc cũng phải cho ra để được nhẹ nhàng, trước lúc uống là nước màu trắng còn khi thải ra biến thành màu nước trà, nó là thứ bất tịnh dơ bẩn, không có gì quan trọng trong cuộc đời này hết. Vì vậy nếu có tu tập thì mình sẽ làm chủ được cảm giác, cái tâm mình không hướng ra bên ngoài. Người ta mới cúng dường cho mình tượng Phật rất đẹp, ưng ý vô cùng, cúng đám giỗ xong là mất tiêu rồi lúc đó ra sao? Nếu bình thường mình không tu tập quán chiếu, không có chánh niệm tỉnh giác thì mình sân si, phiền não như người phàm phu không tu. Còn cái tâm có tu tập sẽ nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và sáng chói, trong hoàn cảnh nào cũng uyển chuyển linh động như dòng suối, còn tâm không tu tập là cứng cỏi, ai nói gì góp ý là mình giận liền, đó là tâm không có tu tập. Học cái này là cái gì trong nội tâm mình cũng được lôi ra hết, có khi mình khó chịu nhưng phải chịu khó thì lúc đó mình mới thấy tuyệt vời, thành ra mình tập nhìn bằng tứ đại.
Thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt. Thân mình cho tinh cha huyết mẹ mà được sanh ra, mỗi ngày mình bưng chén cơm tô cháo lên ăn thì phải thấy thân này thật vô thường, vì phải ăn mới được không ăn là chết, cho nên thức ăn tập khởi thì sắc tập khởi, thức ăn đoạn diệt thì sắc đoạn diệt, không có thức ăn mình không thể tồn tại được. Mình không được phép lệ thuộc vào nó, nó là pháp duyên sanh, nó là pháp điều kiện, không có những thứ đó là thân này không tồn tại, mình thở là phong đại, những thức ăn là địa đại, nước mình uống là thủy đại, trong cơ thể mình lúc nào cũng có hơi ấm là hỏa đại, lúc mình sân lên nóng bức thì lúc đó hỏa đại phát triển mạnh mà phong đại không đủ thì sẽ bị tê liệt, chân không bước đi được. Những người lớn tuổi không bước đi nổi là do phong đại không đủ, nên không có phong đại là không nói chuyện được. Tất cả mọi thứ trong cơ thể từ bước đi, ăn uống đến ngủ nghỉ mà mình cho đó là mình thì đó là vô minh, phải thấy được phong đại đang vận hành chứ không có tôi, không có cái nào của tôi trong đây, không có tự ngã trong này. Không có phong đại cái tay không thể đưa lên được, cái miệng không thể nói được. Không có địa đại thì làm gì có thức ăn. Cho nên mình phải tập nhìn, có thể lúc đầu chưa quen nhưng cứ tập lần lần để nhìn ra cái nào cũng là tứ đại, không hơn không kém. Tập nhìn được như vậy thì bắt đầu đi vào trí huệ xuất thế gian vì cái biết của mình không còn là cái thấy biết thông thường, mặc dù chưa nhập thánh nhưng bắt đầu siêu phàm còn giờ tu 3 năm, 10 năm cũng vậy, không có gì thay đổi hết, sự nghiệp giác ngộ không có, chỉ là được thêm nhiều tuổi tác, tính thêm tuổi hạ, cái này không có giá trị mà phải tăng trưởng giới học, tăng trưởng tâm học, tăng trưởng tuệ học thì đó mới là cái đáng nói. Thân thể này biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, đi đứng không cẩn thận để té ngã có thể nằm một chỗ ngay, vào toilet không cẩn thận trượt chân mà không ai hay biết thì nguy hiểm tính mạng.
Năm pháp này, này các Tỳ-kheo, khiến Tỳ-kheo hữu học thối chuyển. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo hữu học có nhiều công việc, có nhiều việc phải làm, khéo léo trong công việc phải làm, từ bỏ độc cư Thiền tịnh, không chuyên chú vào nội tâm tịnh chỉ. Ðây là pháp thứ nhất khiến Tỳ-kheo hữu học thối chuyển. (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V – Năm Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (X) (90) Vị Tỷ Kheo Hữu Học (2))
Tại sao gọi là hữu học? Hữu học là còn học, học có nghĩa là tu học. Nếu gọi theo trong kinh Tứ Niệm Xứ thì Đức Phật gọi vị Tỳ-kheo thực tập Tứ Niệm Xứ trọn vẹn sẽ chứng A-la-hán, còn tu tập Tứ Niệm Xứ chưa trọn vẹn thì gọi là hữu học, còn đang thực tập. Học kinh này sẽ có nhiều cái vượt tưởng tượng của mình, mình cứ nghĩ siêng năng làm việc là hay nhưng đó chỉ hay trong đường lối công quả.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hữu học suốt ngày làm những công việc nhỏ nhặt, từ bỏ độc cư Thiền tịnh, không có chuyên chú vào nội tâm tịnh chỉ. Ðây là pháp thứ hai khiến vị Tỳ-kheo hữu học thối chuyển. (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V – Năm Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (X) (90) Vị Tỷ Kheo Hữu Học (2))
Sự thật đau lòng nhưng phải giải phẫu ra hết thì mới hết bệnh, bây giờ đang bị bướu độc mà không giải phẫu thì làm sao lấy ra chết nọc độc đó. Mình học để mình tu chứ không phải mình học để đi nói người khác, học để nhìn lại chính mình để trong công việc mình khéo léo sắp xếp. Những điều này là kinh nghiệm tối thượng của bậc Chánh Đẳng Giác, không thể người bình thường có thể nói được, ngay cả hiền thánh cũng chưa nói được mà cái này là đại thánh xuất thế gian, là bậc toàn giác. Những công việc nhỏ nhặt là muốn làm đẹp chỗ này tới chỗ kia, hết cái này tới cái nọ, hết cái nọ đến cái khác, đủ thứ chuyện để làm. Tại vì mình không có pháp, không nắm vững được cội rễ của giáo pháp để biết cái nào là quan trọng, cái nào là thứ yếu, mình lãng phí cuộc đời tu của mình rất nhiều. Suốt ngày làm những công việc nhỏ nhặt rồi từ bỏ luôn độc cư thiền tịnh, không nhìn lại thân tâm của mình, không phát hiện bản ngã trong này hoạt động như thế nào, không nhìn ra tham dục, sân hận như thế nào, chỉ chạy theo sắc pháp, sắc uẩn bên ngoài. Đây là sự đau đớn.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hữu học sống liên hệ nhiều với các vị tại gia và xuất gia, hệ lụy với các sự việc tại gia không thích đáng, từ bỏ độc cư Thiền tịnh, không chuyên chú vào nội tâm tịnh chỉ. Ðây là pháp thứ ba khiến Tỳ-kheo hữu học thối chuyển. (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V – Năm Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (X) (90) Vị Tỷ Kheo Hữu Học (2))
Cái nào mình cũng bị dính, người xuất gia khi về nhà mình cũng hạn chế tiếp xúc với mọi người trong gia đình, dù cha mẹ, anh chị em ruột, có chuyện gì thật sự quan trọng thì mới về nhà chứ không phải không có gì cũng chạy về thăm nhà. Cha mẹ, anh chị em ruột là tình nghĩa sâu sắc nhất trong cuộc đời mà mình cũng từ bỏ, còn nếu không khéo mình lại nhận cha mẹ, chị nuôi, mẹ nuôi là xong đời tu, đó là chuyện trái ngược, hoàn toàn phi pháp, trái với đạo nghĩa luân thường, tại sao cha mẹ lại từ bỏ mà đi nhận người khác làm cha mẹ nuôi? Có phải vì danh lợi không? Cho nên nếu không thấy rõ được cái tâm của mình là rất nguy hiểm, vì vậy người xuất gia thân cận quá nhiều đến cư sĩ là pháp thối đọa, không được thân cận bất cứ ai, người nào đến với mình vì Phật pháp, vì Phật sự thì được nhưng cũng phải hạn chế vì chưa chắc chỉ có Phật pháp không. Hệ lụy với các sự việc tại gia không thích đáng, hệ lụy là khi có chuyện gì của gia đình họ cũng chạy vào nói với mình, có ai chết cũng nói với mình, trúng số cũng vào khoe… đó là mình bị hệ lụy, phiền lụy, trói buộc vào họ, những cái này không được dính dáng, chỉ có nói pháp, ngoài ra dành hết thời gian cho việc độc cư thiền định. Mình ở trên núi là tuyệt vời so với những chỗ khác, không thiếu gốc cây, tảng đá, bờ hồ để vào đó ngồi quán chiếu, mở kinh tạng ngồi đó nghiền ngẫm, suy tư.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo hữu học đi vào làng quá sớm, từ giã làng quá muộn, từ bỏ độc cư Thiền tịnh, không chuyên chú vào nội tâm tịnh chỉ. Ðây là pháp thứ tư khiến vị Tỳ-kheo hữu học thối chuyển. (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V – Năm Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (X) (90) Vị Tỷ Kheo Hữu Học (2))
Mình cứ đi tới đi lui, đi đây đi đó, suốt ngày lấy xe chạy ngoài đường dù không có chuyện gì chính đáng, đây là sự thối đọa, lùi lại và sẽ rơi xuống.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo hữu học đối với các câu chuyện nghiêm trang, khai tâm như các câu chuyện về ít dục, câu chuyện về tri túc, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về không hội họp, câu chuyện về tinh cần, tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến. Các câu chuyện ấy, vị ấy có được có khó khăn, có được có mệt nhọc, có được có phí sức. Vị ấy từ bỏ độc cư Thiền tịnh, không chuyên chú vào nội tâm tịnh chỉ. Ðây là pháp thứ năm khiến vị Tỳ-kheo hữu học thối chuyển. (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V – Năm Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (X) (90) Vị Tỷ Kheo Hữu Học (2))
Những câu chuyện về đề tài nghiêm trang, khai tâm như các câu chuyện về ít dục, câu chuyện về tri túc, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về không hội họp, câu chuyện về tinh cần, tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến thì không chịu nói, ít nói nhưng vị này thích nói những câu chuyện về xe cộ, tiền bạc, đồ đạc, thể thao… đến chừng vô pháp lại nói khó khăn. Đây là sự thối chuyển của Tỳ-kheo hữu học, vì người thật tâm tha thiết tu hành cầu pháp rất thích thú, khao khát, ham muốn trong cái pháp, nếu tu tập đúng theo tinh thần của Phật thì chỉ có hai điều: Một là im lặng đúng như chánh pháp, hai là nói năng đúng theo pháp, ngoài chánh pháp không có gì để nói, nếu có công việc thì làm rồi là thôi, không nói thì thôi còn nói là chia sẻ chánh pháp. Nếu như nói về vấn đề giới – định – tuệ, ít dục, tri túc, viễn ly… mà cảm thấy khó khăn, thấy phí sức, mệt nhọc thì đây là điểm yếu, vì bên trong mình không khao khát trên con đường cầu pháp.
Đức Phật dạy năm pháp khiến cho vị Tỳ-kheo hữu học không thối chuyển là ngược với những cái mình đã nói bên trên, mà ngược với những cái bên trên thì thành tựu. Như vậy mình phải ý thức sâu sắc đời sống cao thượng của người xuất gia, người xuất gia rất cao thượng, là những người đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Tại sao lại vậy? Mình ở trong một chung cư cao tầng bị chập điện cháy, mình đi từng phòng để ngắt cầu dao điện thì chừng nào mới xong? Chưa làm được đã cháy hết chung cư rồi, bây giờ mình gạt cầu dao tổng xuống, tắt một lần là ngắt hết điện chung cư. Mọi người có biết cầu dao tổng đó là gì không? Thật sự trong nội tâm mình có muốn đời sau mình đẹp hơn bây giờ, giỏi hơn bây giờ hay thật sự mình muốn nhàm chán, thấy rõ những thứ bất tịnh, bẩn thỉu, vô thường, không muốn tiếp tục nữa mà chỉ muốn giải thoát cho mau để chấm dứt vòng luân hồi khổ đau của tham sân si, bản ngã, chấp thủ này? Thật sự trong tâm mình đã làm được cái này chưa? Cái tâm mình vẫn còn ham muốn cái này, ham muốn cái kia, ham muốn ra trụ trì có chùa riêng, có chức vị gì đó, nhìn sâu vào trong nội tâm thấy rất sâu xa, muốn chấm dứt sự tiếp tục đầu tư cho luân hồi sanh tử nên cái tu này phải khéo léo, còn không trên miệng cứ nói muốn chấm dứt luân hồi sanh tử giải thoát nhưng thực ra trong việc làm, hành vi lại đầu tư cho sanh tử. Đây là chỗ rất thâm sâu, làm cách nào để chấm dứt? Mình phải thành tựu chánh tri kiến, thấy được sắc thân này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, thấy được điều này thì mình mới phát huy sự nhàm chán tột độ. Chán cái gì? Chán sắc thân tứ đại này, sắc uẩn vô thường này, chán cuộc đời ảo mộng, tạm bợ này, mới thấy chạy đó mà nằm đó, thấy đẹp đẽ vậy mà lại bị ung thư. Điều này đòi hỏi mình phải có sự quán chiếu, mình phải bước sâu vào trong trí huệ này nữa chứ không phải dừng lại ở đó là đủ.
Đức Phật dạy phần chánh tinh tấn trong Bát Chánh Đạo là tinh cần đoạn tận, tinh cần tu tập, tinh cần hộ trì. Sự siêng năng đầu tiên là lúc nào cũng hộ trì căn, giữa gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Chỉ cần con mắt nhìn thấy là mình chạy theo liền, nhìn thấy là tâm mình hướng theo cái đó liền, thì đó là không có hộ trì căn. Đức Phật đã nói nếu không hộ trì căn thì không thành tựu giới, vì vậy lúc nào cũng thường trực hộ trì căn. Khi mọi người đang ngồi thiền mà nghe tiếng chó sủa, nghe tiếng xe chạy hoặc có tiếng động vang lên thì lúc đó nghiêng đầu ra ngó "chó sủa ai vậy?", "giờ này ngồi thiền mà ai chạy xe rồ ga lớn vậy?", đó là mình không có hộ trì tâm ý. Còn có hộ trì là khi nghe tiếng như vậy là mình nhiếp tâm lại ngay, đó chỉ là thanh trần, cái tiếng bên ngoài thôi. Còn giờ nhìn thấy một người đẹp đi phớt qua mà không hộ trì căn là sẽ quay qua nhìn liền, còn có hộ trì căn là mình sẽ trú vào cảm giác toàn thân để thấy mình đang có cảm giác gì, chánh niệm tỉnh giác. Khi ngồi thiền mà có hình bóng hiện lại thì đó là sắc tưởng, những lời nói vang vọng lại là thanh tưởng, lúc đó có mùi thơm là hương tưởng. Vì vậy trong kinh tạng Đức Phật nói chỗ cư trú của ái rất khủng khiếp, mình cứ nghĩ ái dục là chuyện nam nữ, nếu nghĩ vậy là phàm phu. Đức Phật nói chỗ cư trú của tham ái là không thể tưởng tượng được, Minh Thành dùng từ chiến thuật tâm linh của Đức Thế Tôn, Đức Phật đánh vào 6 căn, 6 trần, 6 thức, 6 tưởng, 6 xúc, 6 thọ, 6 ái, 6 tư, 60 cái pháp vận hành mà mình không hay biết gì hết nên gọi là si mê. Ái ở đây không chỉ là chuyện nam nữ mà còn là sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Sắc mà mình nhìn thấy, yêu thích là màu sắc nhưng khi trở về chỉ còn sắc tưởng, cái hình bóng của món ăn, của người đó hiện lên, lúc đó mình yêu thích nữa. Người ta nói xong rồi có gì đâu mà mình về phân tích cái tiếng đó, thì đó là thanh tưởng, cái tâm mình vận hành như một quy trình vận hành của một xí nghiệp lớn. Trong phần quán pháp của Tứ Niệm Xứ rất khủng khiếp, khi một cơn giận khởi lên mình cứ nghĩ đơn giản nhưng trong đó là cả một quy trình vận hành quy mô, nếu mình không học kĩ thì lúc ngồi thiền mình không biết gì để quán chiếu, mình chỉ thấy tôi đang giận, cái giận này là tôi, hoặc là tôi đang tham, cái tham này là tôi. Mình không thấy cái tham đó là một pháp đang hiện hữu trong nội tâm, trong cảm giác của mình, hiện tại bây giờ tâm mình đang có tham, cái tham này vô thường, biến hoại, cái tham này do duyên sanh vì do mình nghe, mình thấy nên mình mới tham chứ nếu không nghe, không thấy thì mình không có tham. Cái sân này là do duyên sanh vì mình nghe, mình thấy nên mình mới sân chứ nếu không nghe, không thấy thì mình không có sân. Vì vậy mình phải thấy được các pháp vận hành trong nội tâm của mình, mình thấy bằng pháp thì gọi là quán pháp, lúc đó mình mới giải phá được vấn đề, nhưng cái giải phá này không phải bình thường mà là giải phá tận vấn đề, bứng tận gốc rễ, diệt tận không còn sanh khởi để chấm dứt sanh tử luân hồi.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.
http://linhquyphapan.vn/audio/2-van-linh-phap-thoai-4-tri-tue-xuat-the
https://www.budsas.org/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi05-0712.htm
Thích Minh Thành
Kính thưa đại chúng, trong thời Đức Phật còn tại thế không có tông phái, mục đích của người theo Đức Phật là đoạn dứt khổ đau và chấm dứt khổ đau cũng là mục đích của đạo Phật. Cái khổ bắt nguồn từ cái nhìn sai lầm về thân và tâm, nhìn sai bên trong mình có một cái tôi, cái nhìn sai ngã về thân kiến tức là cái kiến chấp về thân. Chính cái nhìn sai này mới tham muốn cho mình, mà tham muốn không được thì sân hận. Cho nên nói theo thứ tự là si, kế đó là tham, mọi người quen nói là tham sân si nhưng thực tế si có trước, nó là cái gốc, là sự si mê, là không thấy được bản chất sự thật của chính mình, cho nên tinh thần cội gốc của Đức Phật rất đơn giản, không có nhiều vấn đề như mình bây giờ, vì đã trải qua mấy ngàn năm mình đã phát triển thêm rất nhiều trong đó nên lần lần mình không tìm ra được cái gốc. Chỗ này mình phải nắm thật vững chắc, Đức Thế Tôn còn tại thế không hề có tông phái nào hết, mục đích của người tu là đoạn diệt tham sân si, và dùng giới – định – tuệ để đoạn diệt tham sân si. Cái quan trọng nhất trong giới – định – tuệ là chánh kiến phải đứng đầu, chánh kiến là thấy chính xác thân mình, tâm mình. Cho nên bất cứ tu theo pháp môn nào mà không thấy đúng thì không có kết quả, tu không thành tựu, vì vậy cứ trì chú hoài đến khi buông câu chú ra thì tham sân si vẫn y nguyên, người ta chọc tức mình vẫn sân như thường, thấy món đồ đẹp, người đẹp vẫn còn ham muốn. Tại sao lại có hai cái này? Vì cái si thấy mình là thật, mình là tôi, là ta, là tự ngã của ta, đây là cội gốc của vô minh, tham ái và chấp thủ. Đây là cội gốc của luân hồi sanh tử, căn nguyên của khổ đau. Vì vậy điều quan trọng đầu tiên là phân biệt rõ Tiểu Thừa, Đại Thừa, bất cứ tông nào, môn nào hay phái nào mà không thấy được chánh tri kiến, không thấy đúng sự thật về thân tâm là vĩnh viễn tu không đi đến thành tựu, phải nắm thật vững cái gốc của Phật pháp. Mọi người nhìn kĩ có phải mình tham muốn là do mình thấy cái đó là đẹp, là hấp dẫn, lôi cuốn không? Mình thấy như vậy tức là mình không thấy được bản chất thân thể, vì lẽ đó nên trí tuệ quan trọng nhất trong Phật giáo là phải thấy được thân này là tứ đại. Có một điều khi học thì cứ nói tứ đại ngũ uẩn, tứ đại giai không nhưng khi trở ra mình lại sống với sự thường tình, sống với tập khí thói quen chứ mình không sống theo lời dạy của Đức Phật trong giáo pháp, không tư duy quán chiếu tu tập văn – tư – tu. Phải nghe rồi phải nghiền ngẫm suy tư, sống với nó, thực tập hành trì với nó thì mới thành tựu trí huệ, còn mình mở kinh ra đọc, mình thấy như vậy rồi trở ra lại sống với thói quen, tập khí, phiền não, chính vì vậy sự tu của mình vĩnh viễn tu không tiến, mình với pháp không thể nhập làm một được, cho nên không khéo ngộ, không chứng đắc. Vì vậy niệm Phật là phải thấy được sự thật, niệm Phật là phải thành tựu trí tuệ, phải thành tựu chánh tri kiến, cho nên cái quan trọng nhất chính là sự ngộ nhận về thân thể này, đây là cội gốc của tất cả vấn đề. Tất cả cái khổ đều từ cái nhìn sai lầm về chính mình, trong tạng kinh Nikāya có một bài kinh Một Ung Nhọt.
Ví như, này chư Hiền, một ung nhọt đã trải nhiều năm. Nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Thầy hãy nhàm chán thân này. (Tăng Chi Bộ, Chương IX - Chín Pháp, II. Phẩm Tiếng Rống Con Sư Tử , (V) (15) Một Ung Nhọt)
Việc khó khăn nhất trong cuộc đời tu sĩ là gì mọi người? Chính là ái dục, trong tất cả giới luật thì giới quan trọng nhất là giới dâm đứng đầu, tất cả người tu đều không vượt qua nổi cái này, nếu vượt qua được cái này thì sứ mệnh thành thánh. Làm thế nào để vượt qua được? Chính phương pháp quán bất tịnh sẽ giúp mình vượt qua, ngoài phương pháp này ra không có phương pháp nào khác để diệt tận, diệt hết được tham ái, tham dục, đây là phương pháp do Đức Phật, bậc Chánh Đẳng Giác phát hiện ra, cho nên ngoài phương pháp này ra không có một phương pháp nào khác để diệt tham dục, tham ái. Mình đến nay đã 60-70 tuổi mà nhìn lại tham dục trong người còn không? Tại sao vậy? Vì mình chưa tu tập bất tịnh quán, bất tịnh quán có năng lực nhiếp phục tham dục, diệt tận tham ái. Cái hiểu lầm vô cùng nguy hại chính là mình chê đây là phương pháp Tiểu Thừa, cái này rất nguy hiểm, đây là một sự ngộ nhận rất lớn, mình phải biết cái nào là gốc, cái nào là ngọn, ngoài phương pháp này ra không có phương pháp nào khác để diệt trừ được tham ái, phương pháp này cần được tu tập không phải một ngày, một tháng hay một năm mà cần được tu tập nhiều năm, nhiều chục năm cho đến suốt cả cuộc đời. Nếu mình nói con quán bất tịnh xong rồi thì đó là vấn đề không chấp nhận học pháp, đây là một lỗi rất lớn trong kinh tạng Nikāya. Không chấp nhận học pháp thì sẽ không thể thành tựu pháp được, vì đây là pháp của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, cho nên một điều nguy hiểm là tự mình chế ra pháp để mình tu theo đó, mình chế ra rồi cuối cùng mình tu theo kiểu phàm phu của mình. Vì vậy mình phải y cứ theo 37 phẩm trợ đạo, Tứ Niệm Xứ, Bát Chánh Đạo, Tứ Thánh Đế, đó là cội gốc, là căn, là rễ, là linh hồn của Phật giáo, là trái tim của Tam Tạng thánh điển, là con mắt của 12 bộ kinh, không thể lìa khỏi những cái này. Cho nên trong bài kinh này dạy mình nó có chín miệng vết thương, có chín miệng nứt rạn. Từ đấy có cái gì chảy ra, chắc chắn bất tịnh rỉ chảy, chắc chắn hôi thúi rỉ chảy, chắc chắn nhàm chán rỉ chảy; có cái gì nứt chảy, chắc chắn bất tịnh nứt chảy, chắc chắn hôi thúi nứt chảy, chắc chắn nhàm chán nứt chảy.
Chín cái lỗ mà mình phải quán chiếu là hai lỗ tai, hai lỗ mũi, hai khóe mắt, cái miệng, nơi đại tiểu tiện. Không có chỗ nào bài tiết ra sạch sẽ, không có chỗ nào thơm tho, vậy mà mình không thấy sự thật. Mình bị vô minh, tham ái dày sâu làm mình điên loạn, thậm chí cuồng loạn sống chết trong đó, yêu không được là tự tử, "không yêu được người đó là con chết", "nếu thầy không cho con ra đời là con tự vẫn", cái này rất nguy hiểm. Vì vậy trí tuệ bất tịnh quán này cần phải được huân tập mỗi ngày, mỗi giờ, mỗi năm, mỗi tháng, từ từ mới tích lũy, như mình ra ruộng có thấy ít quá thì không làm, nhưng mà nhiều hộ thành ra lít, nhiều lít ra dạ (giạ), nhiều dạ ra cả bồ lúa, nhiều bồ lúa thành tấn, thành nhiều tấn xuất khẩu cả thế giới, vậy mà lúc đầu mình lại chê ít. Đức Phật đã nói giáo pháp của ta không đột nhiên hay do may mắn mà chứng ngộ, trong giáo pháp của ta phải có sự tích lũy dần dần, tu tập từ từ. Như giọt nước chảy từng giọt vào thùng biết chừng nào mới đầy nhưng một lúc nào đó nước sẽ đầy tràn thùng, cũng giống như vậy, mình đem hết tâm lực cố gắng tu tập thì chắc chắn sẽ thành tựu, cho nên mọi người hãy cứ cố gắng tu tập, nhưng nếu mình có thầy hướng dẫn sẽ rất mau lẹ.
Minh Thành có một bài nói chuyện với bên Cao đẳng Phật học về đề tài tầm quan trọng của quán bất tịnh, mọi người có thể vào trang web linhquyphapan.vn để xem lại, chính vì mình không quán cái này thì không diệt được tham dục, không diệt được cái này thì không giữ giới được, không giữ giới được thì tâm không yên định, tâm không yên định thì trí huệ không tỏa sáng, trí huệ không tỏa sáng thì không thấy được bản chất của sự thật, không thấy được bản chất của sự thật thì mình không nhàm chán mà mình lại ưa thích, còn khi đã thấy được bản chất của sự thật thì mình sẽ nhàm chán, nhàm chán thì không ham muốn, mà không ham muốn thì mình sẽ giải thoát. Đó là định lý của giải thoát, uy định của giác ngộ, rất rõ ràng chứ không phải khó, Đức Phật đã trải qua vô lượng kiếp để thành tựu con đường tối thượng trong giáo pháp. Bây giờ mình cứ đi tìm pháp hành hoài, vài bữa lại trì chú, vài bữa tụng kinh, không thì qua Tây Tạng, Thái Lan, Miến Điện, Đài Loan học. Học riết rồi đủ thứ màu mè hết, đi đâu để tìm trong khi nó ở trong kinh Nikāya, nó là bộ kinh gốc, đó là những bộ kinh quyền uy của Phật giáo thế giới, tất cả trên thế giới nghiên cứu về Phật giáo đều lấy từ tạng kinh Nikāya, đó mới là gốc của Đức Phật. Cho nên Minh Thành mong quý huynh đệ để ý quán chiếu thật kĩ ung nhọt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng. Bốn đại tác thành chính là đất, nước, gió, lửa, nếu như mình nhìn cái nào ra cái đó thì đó là vô minh của phàm phu, điều này rất quan trọng, nếu như nhìn cái bàn thấy đó là bàn, nhìn cái bảng thấy đó là bảng thì giữa người tu và cư sĩ có gì khác nhau? Người ta thấy sao thì mình cũng thấy như vậy thì mình và họ có gì khác? Đức Phật gọi kẻ vô phàm phu là phàm phu không nghe chánh pháp, không thành tựu chánh quả, còn bậc đa văn thánh đệ tử phải nhìn bằng trí huệ tất cả các sắc đều chỉ là sắc uẩn không hơn không kém. Phải tập nhìn bằng con mắt quán chiếu còn nhìn bằng con mắt thường là nhìn bằng thói quen, nhìn bằng tập khí, nhìn bằng kiến chấp, nhìn bằng vô minh và phiền não, nếu nhìn như vậy thì vĩnh viễn không có cơ hội thể nhập trí huệ. Bây giờ mình xuất gia mà cứ thấy tượng Phật bằng gỗ quý đẹp quá thì mình cũng giống như phàm phu, không khác gì, bên ngoài người ta xây nhà cao cửa rộng còn mình xây chùa lớn, tượng Phật đẹp, vậy thì có gì khác nhau ở đây? Đó chỉ là tham dục, là sắc thủ uẩn chứ không có gì hết, phải tất cả đều là sắc pháp, đó là công phu quán chiếu của mình, không phải một ngày một bữa mà phải có tu tập, có quán chiếu thì nhất định sẽ làm được. Lúc ban đầu tập chạy xe té hoài, trầy trụa hết người, bị hư xe nhưng khi chạy hoài thì quen dần rồi nhuần nhuyễn, sự tu tập cũng giống y như vậy, đừng sợ khó, mình làm được hết, phải thấy được tứ đại là tứ đại. Minh Thành có chia sẻ với lớp Trung cấp Phật học quán chiếu tứ đại, cũng đã được đưa lên trang linhquyphapan.vn. Điều này rất quan trọng, không phải cứ nói đã học rồi, biết rồi là xong, mình suy nghĩ như vậy là mình chết trong giáo pháp, không có tăng tượng tâm học, không tăng thượng tuệ học, không tăng thượng giới học vì mình nghĩ mình biết hết rồi, hiểu hết rồi. Hiểu rồi sao mình vẫn còn vô minh? Hiểu rồi sao vẫn còn tham? Hiểu rồi sao vẫn sân? Hiểu rồi sao vẫn còn sầu bi khổ ưu não? Chính vì học theo kiểu phớt bên ngoài, học theo kiểu chữ nghĩa thì không bao giờ mình có thể thành tựu thánh đạo thánh quả, mình phải đem cả trái tim chân thành tha thiết nhìn lại để thấy phiền não như thế nào, thấy bản ngã, tham dục hoành hành như thế nào rồi từ đó thấy xấu hổ, nhục nhã, sợ hãi để phấn đấu nỗ lực thì sự tu hành mới tiến triển. Có hai pháp cực kì quan trọng trong kinh tạng Nikāya mà Đức Phật nói quyết định đưa đến thành công, thứ nhất là tàm quý tức là hổ thẹn với tội lỗi của mình, tàm quý, xấu hổ khi nhìn lại thấy mình tràn đầy lòng tham sân, bản ngã quá lớn thì phải xấu hổ, sợ hãi, khiếp đảm thì mình mới chuyển hóa được chứ không phải tu là nửa tháng lên sám hối là xong, hồi còn là cu sĩ tập sự thì ai nói gì cũng được còn giờ là Tỳ-kheo rồi ai nói là không được vì "tôi là Tỳ-kheo rồi à", thật sự rất nguy hiểm. Vì thế trong đạo Phật càng thành tựu trí huệ chừng nào thì càng nhìn thấy tham sân si, bản ngã, phiền não rõ chừng đó, càng thấy những thứ uế nhiễm trong nội tâm mình nhiều chừng nào thì càng sợ hãi, càng điều chỉnh, càng lo tu tập tẩy rửa nhiều chừng đó thì người đó chuẩn bị bước vào dòng thánh, sắp sửa thành tựu trí huệ xuất thế. Còn tu mà ai thấy cũng sợ, tránh xa là xong rồi, đó là sự thất bại, nên người chân tu nhìn lại phải thấy. Cho nên việc quán chiếu tứ đại rất quan trọng, mình phải tập nhìn tất cả đều là sắc pháp, bây giờ nước cam, nước chanh, café sữa, nước sinh tố đều là thủy đại, còn đưa nước dừa mới uống, nước nấu chín không uống thì đó là vô minh phàm phu, không thấy được bản chất của các pháp, có cái nhìn như vậy thì mình có rất nhiều phiền não. Ví dụ mình đi làm từ sáng đến chiều tối về mệt mỏi mà có người đem ra vài chục lon nước yến loại thượng hạng, chia hết cho từng người mà đến mình hết nước yến, người đó đưa cho mình chai nước suối thì lúc đó cái tâm mình ra sao? Có bình thản không? Lúc đó nếu có tu tập thì nhìn thấy đây chỉ là thủy đại chứ có gì đâu, cũng chỉ là nước như nhau thôi, uống vào rồi đến lúc cũng phải cho ra để được nhẹ nhàng, trước lúc uống là nước màu trắng còn khi thải ra biến thành màu nước trà, nó là thứ bất tịnh dơ bẩn, không có gì quan trọng trong cuộc đời này hết. Vì vậy nếu có tu tập thì mình sẽ làm chủ được cảm giác, cái tâm mình không hướng ra bên ngoài. Người ta mới cúng dường cho mình tượng Phật rất đẹp, ưng ý vô cùng, cúng đám giỗ xong là mất tiêu rồi lúc đó ra sao? Nếu bình thường mình không tu tập quán chiếu, không có chánh niệm tỉnh giác thì mình sân si, phiền não như người phàm phu không tu. Còn cái tâm có tu tập sẽ nhu nhuyến, mềm mại, dễ sử dụng, vững chắc và sáng chói, trong hoàn cảnh nào cũng uyển chuyển linh động như dòng suối, còn tâm không tu tập là cứng cỏi, ai nói gì góp ý là mình giận liền, đó là tâm không có tu tập. Học cái này là cái gì trong nội tâm mình cũng được lôi ra hết, có khi mình khó chịu nhưng phải chịu khó thì lúc đó mình mới thấy tuyệt vời, thành ra mình tập nhìn bằng tứ đại.
Thân này do bốn đại tác thành, do cha mẹ sinh ra, do cơm cháo chất chứa nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt. Thân mình cho tinh cha huyết mẹ mà được sanh ra, mỗi ngày mình bưng chén cơm tô cháo lên ăn thì phải thấy thân này thật vô thường, vì phải ăn mới được không ăn là chết, cho nên thức ăn tập khởi thì sắc tập khởi, thức ăn đoạn diệt thì sắc đoạn diệt, không có thức ăn mình không thể tồn tại được. Mình không được phép lệ thuộc vào nó, nó là pháp duyên sanh, nó là pháp điều kiện, không có những thứ đó là thân này không tồn tại, mình thở là phong đại, những thức ăn là địa đại, nước mình uống là thủy đại, trong cơ thể mình lúc nào cũng có hơi ấm là hỏa đại, lúc mình sân lên nóng bức thì lúc đó hỏa đại phát triển mạnh mà phong đại không đủ thì sẽ bị tê liệt, chân không bước đi được. Những người lớn tuổi không bước đi nổi là do phong đại không đủ, nên không có phong đại là không nói chuyện được. Tất cả mọi thứ trong cơ thể từ bước đi, ăn uống đến ngủ nghỉ mà mình cho đó là mình thì đó là vô minh, phải thấy được phong đại đang vận hành chứ không có tôi, không có cái nào của tôi trong đây, không có tự ngã trong này. Không có phong đại cái tay không thể đưa lên được, cái miệng không thể nói được. Không có địa đại thì làm gì có thức ăn. Cho nên mình phải tập nhìn, có thể lúc đầu chưa quen nhưng cứ tập lần lần để nhìn ra cái nào cũng là tứ đại, không hơn không kém. Tập nhìn được như vậy thì bắt đầu đi vào trí huệ xuất thế gian vì cái biết của mình không còn là cái thấy biết thông thường, mặc dù chưa nhập thánh nhưng bắt đầu siêu phàm còn giờ tu 3 năm, 10 năm cũng vậy, không có gì thay đổi hết, sự nghiệp giác ngộ không có, chỉ là được thêm nhiều tuổi tác, tính thêm tuổi hạ, cái này không có giá trị mà phải tăng trưởng giới học, tăng trưởng tâm học, tăng trưởng tuệ học thì đó mới là cái đáng nói. Thân thể này biến hoại, tan nát, hủy hoại, hoại diệt, đi đứng không cẩn thận để té ngã có thể nằm một chỗ ngay, vào toilet không cẩn thận trượt chân mà không ai hay biết thì nguy hiểm tính mạng.
Năm pháp này, này các Tỳ-kheo, khiến Tỳ-kheo hữu học thối chuyển. Thế nào là năm?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo hữu học có nhiều công việc, có nhiều việc phải làm, khéo léo trong công việc phải làm, từ bỏ độc cư Thiền tịnh, không chuyên chú vào nội tâm tịnh chỉ. Ðây là pháp thứ nhất khiến Tỳ-kheo hữu học thối chuyển. (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V – Năm Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (X) (90) Vị Tỷ Kheo Hữu Học (2))
Tại sao gọi là hữu học? Hữu học là còn học, học có nghĩa là tu học. Nếu gọi theo trong kinh Tứ Niệm Xứ thì Đức Phật gọi vị Tỳ-kheo thực tập Tứ Niệm Xứ trọn vẹn sẽ chứng A-la-hán, còn tu tập Tứ Niệm Xứ chưa trọn vẹn thì gọi là hữu học, còn đang thực tập. Học kinh này sẽ có nhiều cái vượt tưởng tượng của mình, mình cứ nghĩ siêng năng làm việc là hay nhưng đó chỉ hay trong đường lối công quả.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hữu học suốt ngày làm những công việc nhỏ nhặt, từ bỏ độc cư Thiền tịnh, không có chuyên chú vào nội tâm tịnh chỉ. Ðây là pháp thứ hai khiến vị Tỳ-kheo hữu học thối chuyển. (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V – Năm Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (X) (90) Vị Tỷ Kheo Hữu Học (2))
Sự thật đau lòng nhưng phải giải phẫu ra hết thì mới hết bệnh, bây giờ đang bị bướu độc mà không giải phẫu thì làm sao lấy ra chết nọc độc đó. Mình học để mình tu chứ không phải mình học để đi nói người khác, học để nhìn lại chính mình để trong công việc mình khéo léo sắp xếp. Những điều này là kinh nghiệm tối thượng của bậc Chánh Đẳng Giác, không thể người bình thường có thể nói được, ngay cả hiền thánh cũng chưa nói được mà cái này là đại thánh xuất thế gian, là bậc toàn giác. Những công việc nhỏ nhặt là muốn làm đẹp chỗ này tới chỗ kia, hết cái này tới cái nọ, hết cái nọ đến cái khác, đủ thứ chuyện để làm. Tại vì mình không có pháp, không nắm vững được cội rễ của giáo pháp để biết cái nào là quan trọng, cái nào là thứ yếu, mình lãng phí cuộc đời tu của mình rất nhiều. Suốt ngày làm những công việc nhỏ nhặt rồi từ bỏ luôn độc cư thiền tịnh, không nhìn lại thân tâm của mình, không phát hiện bản ngã trong này hoạt động như thế nào, không nhìn ra tham dục, sân hận như thế nào, chỉ chạy theo sắc pháp, sắc uẩn bên ngoài. Đây là sự đau đớn.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo hữu học sống liên hệ nhiều với các vị tại gia và xuất gia, hệ lụy với các sự việc tại gia không thích đáng, từ bỏ độc cư Thiền tịnh, không chuyên chú vào nội tâm tịnh chỉ. Ðây là pháp thứ ba khiến Tỳ-kheo hữu học thối chuyển. (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V – Năm Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (X) (90) Vị Tỷ Kheo Hữu Học (2))
Cái nào mình cũng bị dính, người xuất gia khi về nhà mình cũng hạn chế tiếp xúc với mọi người trong gia đình, dù cha mẹ, anh chị em ruột, có chuyện gì thật sự quan trọng thì mới về nhà chứ không phải không có gì cũng chạy về thăm nhà. Cha mẹ, anh chị em ruột là tình nghĩa sâu sắc nhất trong cuộc đời mà mình cũng từ bỏ, còn nếu không khéo mình lại nhận cha mẹ, chị nuôi, mẹ nuôi là xong đời tu, đó là chuyện trái ngược, hoàn toàn phi pháp, trái với đạo nghĩa luân thường, tại sao cha mẹ lại từ bỏ mà đi nhận người khác làm cha mẹ nuôi? Có phải vì danh lợi không? Cho nên nếu không thấy rõ được cái tâm của mình là rất nguy hiểm, vì vậy người xuất gia thân cận quá nhiều đến cư sĩ là pháp thối đọa, không được thân cận bất cứ ai, người nào đến với mình vì Phật pháp, vì Phật sự thì được nhưng cũng phải hạn chế vì chưa chắc chỉ có Phật pháp không. Hệ lụy với các sự việc tại gia không thích đáng, hệ lụy là khi có chuyện gì của gia đình họ cũng chạy vào nói với mình, có ai chết cũng nói với mình, trúng số cũng vào khoe… đó là mình bị hệ lụy, phiền lụy, trói buộc vào họ, những cái này không được dính dáng, chỉ có nói pháp, ngoài ra dành hết thời gian cho việc độc cư thiền định. Mình ở trên núi là tuyệt vời so với những chỗ khác, không thiếu gốc cây, tảng đá, bờ hồ để vào đó ngồi quán chiếu, mở kinh tạng ngồi đó nghiền ngẫm, suy tư.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo hữu học đi vào làng quá sớm, từ giã làng quá muộn, từ bỏ độc cư Thiền tịnh, không chuyên chú vào nội tâm tịnh chỉ. Ðây là pháp thứ tư khiến vị Tỳ-kheo hữu học thối chuyển. (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V – Năm Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (X) (90) Vị Tỷ Kheo Hữu Học (2))
Mình cứ đi tới đi lui, đi đây đi đó, suốt ngày lấy xe chạy ngoài đường dù không có chuyện gì chính đáng, đây là sự thối đọa, lùi lại và sẽ rơi xuống.
Lại nữa, này các Tỳ-kheo, vị Tỳ-kheo hữu học đối với các câu chuyện nghiêm trang, khai tâm như các câu chuyện về ít dục, câu chuyện về tri túc, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về không hội họp, câu chuyện về tinh cần, tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến. Các câu chuyện ấy, vị ấy có được có khó khăn, có được có mệt nhọc, có được có phí sức. Vị ấy từ bỏ độc cư Thiền tịnh, không chuyên chú vào nội tâm tịnh chỉ. Ðây là pháp thứ năm khiến vị Tỳ-kheo hữu học thối chuyển. (Tăng Chi Bộ Kinh, Chương V – Năm Pháp, IX. Phẩm Trưởng Lão, (X) (90) Vị Tỷ Kheo Hữu Học (2))
Những câu chuyện về đề tài nghiêm trang, khai tâm như các câu chuyện về ít dục, câu chuyện về tri túc, câu chuyện về viễn ly, câu chuyện về không hội họp, câu chuyện về tinh cần, tinh tấn, câu chuyện về giới, câu chuyện về định, câu chuyện về tuệ, câu chuyện về giải thoát, câu chuyện về giải thoát tri kiến thì không chịu nói, ít nói nhưng vị này thích nói những câu chuyện về xe cộ, tiền bạc, đồ đạc, thể thao… đến chừng vô pháp lại nói khó khăn. Đây là sự thối chuyển của Tỳ-kheo hữu học, vì người thật tâm tha thiết tu hành cầu pháp rất thích thú, khao khát, ham muốn trong cái pháp, nếu tu tập đúng theo tinh thần của Phật thì chỉ có hai điều: Một là im lặng đúng như chánh pháp, hai là nói năng đúng theo pháp, ngoài chánh pháp không có gì để nói, nếu có công việc thì làm rồi là thôi, không nói thì thôi còn nói là chia sẻ chánh pháp. Nếu như nói về vấn đề giới – định – tuệ, ít dục, tri túc, viễn ly… mà cảm thấy khó khăn, thấy phí sức, mệt nhọc thì đây là điểm yếu, vì bên trong mình không khao khát trên con đường cầu pháp.
Đức Phật dạy năm pháp khiến cho vị Tỳ-kheo hữu học không thối chuyển là ngược với những cái mình đã nói bên trên, mà ngược với những cái bên trên thì thành tựu. Như vậy mình phải ý thức sâu sắc đời sống cao thượng của người xuất gia, người xuất gia rất cao thượng, là những người đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được đảnh lễ, đáng được cúng dường, là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Tại sao lại vậy? Mình ở trong một chung cư cao tầng bị chập điện cháy, mình đi từng phòng để ngắt cầu dao điện thì chừng nào mới xong? Chưa làm được đã cháy hết chung cư rồi, bây giờ mình gạt cầu dao tổng xuống, tắt một lần là ngắt hết điện chung cư. Mọi người có biết cầu dao tổng đó là gì không? Thật sự trong nội tâm mình có muốn đời sau mình đẹp hơn bây giờ, giỏi hơn bây giờ hay thật sự mình muốn nhàm chán, thấy rõ những thứ bất tịnh, bẩn thỉu, vô thường, không muốn tiếp tục nữa mà chỉ muốn giải thoát cho mau để chấm dứt vòng luân hồi khổ đau của tham sân si, bản ngã, chấp thủ này? Thật sự trong tâm mình đã làm được cái này chưa? Cái tâm mình vẫn còn ham muốn cái này, ham muốn cái kia, ham muốn ra trụ trì có chùa riêng, có chức vị gì đó, nhìn sâu vào trong nội tâm thấy rất sâu xa, muốn chấm dứt sự tiếp tục đầu tư cho luân hồi sanh tử nên cái tu này phải khéo léo, còn không trên miệng cứ nói muốn chấm dứt luân hồi sanh tử giải thoát nhưng thực ra trong việc làm, hành vi lại đầu tư cho sanh tử. Đây là chỗ rất thâm sâu, làm cách nào để chấm dứt? Mình phải thành tựu chánh tri kiến, thấy được sắc thân này không phải là tôi, không phải của tôi, không phải tự ngã của tôi, thấy được điều này thì mình mới phát huy sự nhàm chán tột độ. Chán cái gì? Chán sắc thân tứ đại này, sắc uẩn vô thường này, chán cuộc đời ảo mộng, tạm bợ này, mới thấy chạy đó mà nằm đó, thấy đẹp đẽ vậy mà lại bị ung thư. Điều này đòi hỏi mình phải có sự quán chiếu, mình phải bước sâu vào trong trí huệ này nữa chứ không phải dừng lại ở đó là đủ.
Đức Phật dạy phần chánh tinh tấn trong Bát Chánh Đạo là tinh cần đoạn tận, tinh cần tu tập, tinh cần hộ trì. Sự siêng năng đầu tiên là lúc nào cũng hộ trì căn, giữa gìn mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Chỉ cần con mắt nhìn thấy là mình chạy theo liền, nhìn thấy là tâm mình hướng theo cái đó liền, thì đó là không có hộ trì căn. Đức Phật đã nói nếu không hộ trì căn thì không thành tựu giới, vì vậy lúc nào cũng thường trực hộ trì căn. Khi mọi người đang ngồi thiền mà nghe tiếng chó sủa, nghe tiếng xe chạy hoặc có tiếng động vang lên thì lúc đó nghiêng đầu ra ngó "chó sủa ai vậy?", "giờ này ngồi thiền mà ai chạy xe rồ ga lớn vậy?", đó là mình không có hộ trì tâm ý. Còn có hộ trì là khi nghe tiếng như vậy là mình nhiếp tâm lại ngay, đó chỉ là thanh trần, cái tiếng bên ngoài thôi. Còn giờ nhìn thấy một người đẹp đi phớt qua mà không hộ trì căn là sẽ quay qua nhìn liền, còn có hộ trì căn là mình sẽ trú vào cảm giác toàn thân để thấy mình đang có cảm giác gì, chánh niệm tỉnh giác. Khi ngồi thiền mà có hình bóng hiện lại thì đó là sắc tưởng, những lời nói vang vọng lại là thanh tưởng, lúc đó có mùi thơm là hương tưởng. Vì vậy trong kinh tạng Đức Phật nói chỗ cư trú của ái rất khủng khiếp, mình cứ nghĩ ái dục là chuyện nam nữ, nếu nghĩ vậy là phàm phu. Đức Phật nói chỗ cư trú của tham ái là không thể tưởng tượng được, Minh Thành dùng từ chiến thuật tâm linh của Đức Thế Tôn, Đức Phật đánh vào 6 căn, 6 trần, 6 thức, 6 tưởng, 6 xúc, 6 thọ, 6 ái, 6 tư, 60 cái pháp vận hành mà mình không hay biết gì hết nên gọi là si mê. Ái ở đây không chỉ là chuyện nam nữ mà còn là sắc ái, thanh ái, hương ái, vị ái, xúc ái, pháp ái. Sắc mà mình nhìn thấy, yêu thích là màu sắc nhưng khi trở về chỉ còn sắc tưởng, cái hình bóng của món ăn, của người đó hiện lên, lúc đó mình yêu thích nữa. Người ta nói xong rồi có gì đâu mà mình về phân tích cái tiếng đó, thì đó là thanh tưởng, cái tâm mình vận hành như một quy trình vận hành của một xí nghiệp lớn. Trong phần quán pháp của Tứ Niệm Xứ rất khủng khiếp, khi một cơn giận khởi lên mình cứ nghĩ đơn giản nhưng trong đó là cả một quy trình vận hành quy mô, nếu mình không học kĩ thì lúc ngồi thiền mình không biết gì để quán chiếu, mình chỉ thấy tôi đang giận, cái giận này là tôi, hoặc là tôi đang tham, cái tham này là tôi. Mình không thấy cái tham đó là một pháp đang hiện hữu trong nội tâm, trong cảm giác của mình, hiện tại bây giờ tâm mình đang có tham, cái tham này vô thường, biến hoại, cái tham này do duyên sanh vì do mình nghe, mình thấy nên mình mới tham chứ nếu không nghe, không thấy thì mình không có tham. Cái sân này là do duyên sanh vì mình nghe, mình thấy nên mình mới sân chứ nếu không nghe, không thấy thì mình không có sân. Vì vậy mình phải thấy được các pháp vận hành trong nội tâm của mình, mình thấy bằng pháp thì gọi là quán pháp, lúc đó mình mới giải phá được vấn đề, nhưng cái giải phá này không phải bình thường mà là giải phá tận vấn đề, bứng tận gốc rễ, diệt tận không còn sanh khởi để chấm dứt sanh tử luân hồi.
Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.
./.
http://linhquyphapan.vn/audio/2-van-linh-phap-thoai-4-tri-tue-xuat-the
https://www.budsas.org/uni/u-kinh-tangchibo/tangchi05-0712.htm