Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tâm Đắc Tu Học NIKAYA 5-7-2022

2026-03-03 00:56:10
TÂM ĐẮC TU HỌC NIKĀYA 5-7-2022

–Thích Minh Thành–

Thầy Thiện Huệ: Đại chúng rõ biết ở trước mặt, trở về hơi thở, thở vào thở ra làm cho thân tâm an tịnh, lắng dịu, dễ chịu. Cảm nhận không gian nơi này, vùng đất này và trời đất rộng lớn này, cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể, nội tâm tỉnh giác, sáng tỏ, rõ biết ở trước mặt, rõ biết những cảm giác, những hình bóng, những suy nghĩ trong tâm.

Mời quý thầy và đại chúng chắp tay:

Con chân thành đảnh lễ

Phật Thích Ca Mâu Ni

Đời này con xin nguyện:

“Thấy biết rõ ngũ uẩn,

Thấy biết rõ tự thân,

Thành tựu chánh tri kiến,

Thể nhập vào Thánh quả,

Con nguyện xứng đáng là

Người con Phật chân chánh”.

Con xin đảnh lễ Ngài

Phật Thích Ca Mâu Ni

Bậc đoạn tận tham ái,

Bậc đoạn tận sợ hãi,

Tâm Ngài không dao động,

Tâm không nhiễm thế gian.

Con xin đảnh lễ Ngài

Phật Thích Ca Mâu Ni

Bậc Vô Thượng giải thoát

Ngài là thầy của con

Ngài - vị dẫn đường con

Ngài - vị con quy ngưỡng

Con chân thành quy hướng

Đảnh lễ bậc Vô Thượng

Đảnh lễ bậc Chánh Giác

“Con xin quy phục Ngài,

Con xin làm đệ tử,

Làm con ngoan của Ngài”.

“Con xin quy phục Pháp,

Quy phục Pháp Tám Đúng,

Nguyện thành tựu Tám Đúng”.

“Con xin tôn kính Tăng,

Tôn kính đời Giới Đức,

Nguyện thành tựu Giới Đức”.

Con kính bạch trên sư phụ, kính thưa Ni sư, kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể quý Phật tử. Nhân duyên chiều nay sư phụ chỉ dạy cho bốn huynh đệ chúng con ngồi đây để chia sẻ những lời Phật dạy, chia sẻ những tâm đắc trong sự tu học để đại chúng cùng nhau nhắc nhở trong chánh pháp. Cũng lâu lắm rồi mới có một buổi các quý thầy và quý Phật tử cùng ngồi lại với nhau trong không gian ấm áp của chánh pháp, chúng ta tác ý niềm vui, niềm hỷ lạc khi được ngồi yên với đại chúng và được nghe những lời Đức Phật dạy, nghe những lời chia sẻ của quý thầy để cùng nhau sách tấn trên bước đường tu học.

Phần chia sẻ đầu tiên là con. Thật sự trong kinh tạng Nikāya thì tất cả những lời dạy của Đức Thế Tôn đều là tâm huyết, đều là huyết lệ của ngài cho nên những lời dạy của ngài đều là những lời tâm đắc, tất cả những lời dạy của ngài trong kinh tạng Nikāya đối với chúng ta đều là những lời tâm đắc, đều là những lời đáng cung kính, đáng tôn trọng. Trong sự tu học của con, gần đây con tu tập quán chiếu về vô thường của cái chết, nó có thể đến với con hay với đại chúng trong mọi lúc mọi nơi, bất cứ lúc nào, nó luôn rình rập chúng ta, nó có thể vô thường bất trắc mà mình không thể lường trước được.

Cách đây vài ngày con đọc qua bài kinh Tổ Mẫu trong Tương Ưng Bộ, trong bài kinh đó Đức Phật hỏi đại vương đi từ đâu đến giữa trưa như thế này thì nhà vua lúc đó đang đau buồn nói rằng tổ mẫu mới qua đời. Tổ mẫu chính là bà nội của nhà vua, bà nội của vua Ba-tư-nặc khi mạng chung là 120 tuổi, đạt tuổi trưởng thượng, nhà vua nói rằng ai có thể làm cho bà nội sống lại thì nhà vua sẵn sàng cho voi báu, ngựa báu, thậm chí cho cả thôn làng tốt đẹp, cả một quốc độ. Đức Phật nói rằng:

"Tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết. Ví như, thưa Đại Vương, tất cả đồ gốm do người thợ gốm làm ra, chưa nung chín hay đã nung chín, tất cả đồ gốm ấy đều phải bể, đều kết thúc trong sự bể, đều không vượt qua sự bể. Cũng vậy, thưa Ðại Vương, tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết" (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III Phẩm Thứ Ba, II. Tổ Mẫu)

Đây là đề tài để chúng ta thiền quán, chúng ta cần chiêm nghiệm tại sao mình tu học mãi mà không tiến bộ, tại sao mình cứ thường buông lung phóng dật, thả lỏng các căn, muốn nói gì là nói, muốn làm gì là làm, tại sao tu mà không tiến bộ, tại sao mình cứ sân si, hờn giận, bản ngã với nhau là tại vì mình không nhớ mình sẽ già, mình không nhớ mình bị bệnh, mình không nhớ mình bị chết. Chính vì mình không nhớ mình bị già, bệnh, chết nên cái tham, sân, si, phiền não lừng lẫy, tất cả chúng ta ngồi đây đều phải già, phải bệnh và phải chết, Đức Phật ví dụ thân chúng ta như món đồ gốm dễ vỡ, dù món đồ gốm đó dù đã nung chín hay chưa nung chín cũng không tránh khỏi bị bể và phải đi đến chỗ kết thúc là bị bể, dù bên ngoài có sơn phết lòe loẹt gì đi nữa thì bên trong cái tính chất của món đồ gốm là sẽ bể. Sắc thân này cũng vậy, dù bên ngoài có trau chuốt, bao phủ, che đậy cho nó, lo lắng, nâng niu rồi cuối cùng thân này sẽ đi đến vô thường, biến đổi, đi đến chỗ tan rã, tan nát. Tính chất của thân này là một bộ xương khô, dần dần tan rã thành tro, thành bụi cho nên Đức Phật ví dụ món đồ gốm để nói về sắc thân tứ đại này dễ vỡ, dễ nát.

Chạy xe ra đường không có chánh niệm thì thân chúng ta dễ vỡ, thậm chí đi vấp té cũng dễ vỡ. Thân mình là hàng dễ vỡ, chỉ cần sơ hở chút là mình nằm dài, chỉ cần không thở được là vỡ liền cho nên mạng sống này rất mong manh vì thế cần nhắc bản thân già, bệnh, chết để giảm bớt tâm bực tức, tâm sân hận, làm cho lắng dịu những cái tâm vì do không nhớ mình già, bệnh, chết nên những cái đó mới lừng lẫy, mới sân si, bản ngã, còn khi nhớ mình già, bệnh, chết thì những cái đó sẽ lắng dịu, sẽ rơi rụng. Già đến nơi, bệnh đến nơi, chết đến nơi thì còn hơn thua với ai nữa, cãi nhau gì nữa, đó là tâm vô minh không thấy rõ sự thật, mạng sống chỉ duy trì trong một hơi thở mà mình còn không nhớ. Ở đây có ai nhớ mình đang thở không? Hơi thở là căn bản của sự sống nhưng nhiều khi mình không nhớ mình đang thở mà chỉ nhớ phiền não, sân si, hờn giận, bản ngã với nhau, trong khi cái quan trọng là hơi thở để duy trì sự sống thì mình lại không nhớ, đó là mình vô minh, mình quên đi những giây phút thực tại cho nên Đức Phật nhắc nhở mình phải nhớ cái già, cái bệnh, cái chết để mình quay lại nội tâm nhiếp phục, tu học để làm những thiện pháp, công đức, phước báo, đó là chỗ dựa cho mình sau này.

Mình làm tất cả những việc đem niềm vui cho mình, cho mọi người sẽ sanh ra cái phước nhưng trong cái làm đó lúc nào cũng luôn quán chiếu ngũ uẩn này là vô thường, khổ, vô ngã. Trong quá trình làm mà quán chiếu như vậy sẽ phát sanh ra trí tuệ, khi nào không kể công, không phô trương thì nó sanh ra công đức, chính vì vậy mình nhớ mình sẽ chết để mình lo làm những việc lành việc thiện, tu học chánh pháp thì đó là điểm tựa cho mình ra đi. Do đó căn nhà tứ đại ngũ uẩn này đang bị cháy, người trí phải biết khôn khéo lấy những món đồ quý trong căn nhà ra, món đồ quý đó chính là phước báo, công đức, trí tuệ. Người thế gian nói ra đi là trắng tay, không mang theo của cải, tài sản, vật chất gì cả nhưng người tu ra đi không được trắng tay mà mình phải đem theo phước báo, công đức và trí tuệ, người biết tu phải mang theo những thứ đó, nếu không sau này chúng ta nằm trên gường bệnh thở thoi thóp thì mình sẽ lo lắng, hoảng sợ, bất an, mình sẽ ăn năn hối hận, mình kêu trời "tại sao lúc còn trẻ, còn khỏe không lo tu tập, bây giờ nằm trên gường bệnh công đức không có, phước báo không có, trí tuệ lại càng không" thì người này sẽ ra đi trong hối hận. Trong mỗi bài kinh trong kinh tạng Nikāya, Đức Phật thường hay nhắc nhở, sách tấn các thầy Tỳ-kheo:

"Này các Tỳ-kheo, đây là những gốc cây, đây là những căn nhà trống. Hãy Thiền tư, chớ có phóng dật, chớ có hối hận về sau. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông" (Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (e), V. Mới Và Cũ, I. Nghiệp)

Đức Thế Tôn đã làm tất cả bằng từ tâm, bằng tình thương, những gì ngài làm được thì ngài đều làm và ngài căn dặn rất tha thiết, rất chân thành như một người cha căn dặn các con. Mình hối hận lúc nằm trên gường bệnh, lúc hấp hối nhưng đã quá muộn màng, khi còn sống thì tranh giành, hơn thua, đấu đá lẫn nhau đến lúc cuối đời mới biết rằng chỉ là một cơn mộng, đến khi khát nước mới đào giếng thì làm sao kịp, chẳng khác nào mò trăng dưới nước. Tóm lại Đức Phật nhắc nhở người đệ tử chân chánh của ngài lúc nào cũng phải niệm thân, niệm tử, lúc nào cũng nhớ niệm về cái chết, cái này sẽ phá được cảm giác si ám, thụ động, lười biếng. Những khi có cảm giác si thì phải thường quán chiếu về vô thường, về cái chết, phải niệm tử để đánh phá cảm giác trì trệ, lờ đờ vì thế lời dạy nào của Đức Phật cũng là lời tâm huyết của ngài và lời nào cũng đáng cho chúng ta thọ nhận, thọ trì để thực hành. Đó là những lời chia sẻ của con cũng như con tâm đắc câu "tất cả chúng sanh đều phải chết, đều kết thúc trong sự chết, đều không vượt qua sự chết"

"Mọi chúng sanh sẽ chết,

Mạng sống, chết kết thúc,

Tùy nghiệp, họ sẽ đi,

Nhận lãnh quả thiện ác,

Ác nghiệp, đọa địa ngục,

Thiện nghiệp, lên Thiên giới.

Do vậy hãy làm lành,

Tích lũy cho đời sau,

Công đức cho đời sau,

Làm hậu cứ cho người." (Tương Ưng Bộ, Tập I – Thiên Có Kệ, Chương III. Tương Ưng Kosala, III Phẩm Thứ Ba, II. Tổ Mẫu)

Thầy Pháp Nghĩa: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Kính bạch trên sư phụ, kính thưa quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng, được sự chỉ dạy của sư phụ ngày hôm nay bốn huynh đệ chúng con có một buổi chia sẻ tâm đắc trong thời gian tu học vừa, con xin cảm ơn sư phụ đã tạo điều kiện cho con nói lên sự tu tập của mình, nếu quý vị Phật tử nào thấy hợp với mình thì hãy cùng tu tập vì đối với con sự tu học là những pháp hành trong đời sống hằng ngày, nó luôn luôn đi theo con. Bản chất con làm việc nhiều, hay đi ra ngoài, gần đây con tâm đắc một bài kinh trong Tương Ưng Bộ, tập III, bài kinh Devadaha.

"Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Sakka, tại một thị trấn của dân chúng Sakka tên là Devadaha.

Lúc bấy giờ, một số đông Tỳ-kheo du hành ở phía Tây, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, các vị Tỳ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

-- Chúng con muốn xin Thế Tôn cho phép chúng con đi đến quốc độ phương Tây. Chúng con muốn trú ở quốc độ phương Tây.

-- Này các Tỳ-kheo, các Tỳ-kheo đã xin phép Sàriputta chưa?

-- Bạch Thế Tôn, chúng con chưa xin phép Tôn giả Sàriputta.

-- Này các Tỳ-kheo, vậy hãy xin phép Sàriputta. Sàriputta, này các Tỳ-kheo, là bậc Hiền trí, là người đỡ đầu các vị Tỳ-kheo đồng Phạm hạnh.

-- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.

Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta đang ngồi dưới cây ba đậu (elagalà: cassia), không xa Thế Tôn bao nhiêu.

Rồi các Tỳ-kheo ấy, sau khi hoan hỉ, tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài, rồi đi đến Tôn giả Sàriputta; sau khi đến, các vị ấy nói lên với Tôn giả Sàriputta những lời chào đón hỏi thăm, sau khi nói lên những lời chào đón hỏi thăm thân hữu rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, các Tỳ-kheo ấy nói với Tôn giả Sàriputta:

-- Chúng tôi muốn, thưa Hiền giả Sàriputta, đi đến quốc độ phương Tây. Chúng tôi muốn trú ở quốc độ phương Tây. Bậc Ðạo Sư đã cho phép chúng tôi.

-- Này các Hiền giả, có những người đặt câu hỏi với vị Tỳ-kheo thường đi các quốc độ khác nhau: Các Sát-đế-lị hiền trí, các Bà-la-môn hiền trí, các Gia chủ hiền trí, các Sa-môn hiền trí. Này chư Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát, sẽ hỏi: 'Bậc Ðạo Sư của Tôn giả nói gì, tuyên bố gì? Pháp có được chư Tôn giả khéo nghe, khéo nắm giữ, khéo tác ý, khéo thọ trì, khéo thâm nhập với trí tuệ không?' Ðể khi trả lời, các Tôn giả có thể lập lại các ý kiến của Thế Tôn, không có xuyên tạc Thế Tôn với điều không thật, có thể trả lời tùy pháp, đúng với Chánh pháp, và không để một vị đồng phạm hạnh nào, nói lời đúng pháp, có thể có lý do để quở trách.

-- Chúng tôi có thể đi đến thật xa, thưa Tôn giả, để nghe tận mặt Tôn giả Sàriputta nói về ý nghĩa của lời nói này! Lành thay, nếu được Tôn giả Sàriputta giải thích ý nghĩa của lời nói này!

-- Vậy này các Hiền giả, hãy lắng nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói.

-- Thưa vâng, Tôn giả.

Các Tỳ-kheo ấy vâng đáp Tôn giả Sàriputta. Tôn giả Sàriputta nói như sau:

-- Này các Hiền giả, có những người đặt câu hỏi với vị Tỳ-kheo thường đi các quốc độ khác nhau: Các Sát-đế-lị hiền trí... các Sa-môn hiền trí. Này các Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát, có thể hỏi: 'Bậc Ðạo Sư của Tôn giả nói gì, tuyên bố gì?' Ðược hỏi vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời: 'Này các Hiền giả, bậc Ðạo Sư của chúng tôi nói đến sự điều phục dục và tham'.

Ðược trả lời như vậy, này các Hiền giả, có thể có người hỏi thêm câu hỏi như sau: Có những vị Sát-đế-lị hiền trí... có những Sa-môn hiền trí. Này chư Hiền giả, các bậc hiền trí với óc ưa quán sát, có thể hỏi: 'Ðối với cái gì, bậc Ðạo Sư của các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham?' Ðược hỏi như vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời như sau: 'Ðối với sắc, này các Hiền giả, bậc Ðạo Sư chúng tôi nói về sự điều phục dục và tham... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... đối với thức, bậc Ðạo Sư chúng tôi nói về sự điều phục dục và tham'.

Ðược trả lời như vậy, này các Hiền giả, có thể có người hỏi thêm như sau: Các Sát-đế-lị hiền trí... các Sa-môn hiền trí. Các vị hiền trí có óc quán sát, này các Hiền giả, có thể hỏi: "Nhưng thấy sự nguy hiểm gì, bậc Ðạo Sư các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành, bậc Ðạo Sư các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham đối với thức?" Ðược hỏi như vậy, này các Hiền giả, các Ông cần phải trả lời như sau: 'Này các Hiền giả, đối với sắc, ai chưa viễn ly tham, chưa viễn ly dục, chưa viễn ly ái, chưa viễn ly khát, chưa viễn ly nhiệt tình, chưa viễn ly khát ái, khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, sẽ khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Ðối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... đối với thức, ai chưa viễn ly tham, chưa viễn ly dục, chưa viễn ly ái, chưa viễn ly khát, chưa viễn ly nhiệt tình, chưa viễn ly khát ái, khi thức ấy biến hoại, đổi khác, sẽ khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Này chư Hiền giả, do thấy sự nguy hiểm này đối với sắc mà bậc Ðạo Sư của chúng tôi nói lên sự điều phục dục và tham'.

Ðược trả lời như vậy, này các Hiền giả, có thể có người hỏi thêm như sau: Các Sát-đế-lị hiền trí... các Sa-môn hiền trí. Các vị hiền trí có óc quán sát, này các Hiền giả, (có thể hỏi): 'Nhưng thấy sự lợi ích gì, bậc Ðạo Sư các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành; bậc Ðạo Sư các Tôn giả nói đến sự điều phục dục và tham đối với thức?' Ðược hỏi vậy, này các Hiền giả, các Hiền giả phải trả lời như sau: 'Ðối với sắc, này các Hiền giả, ai đã viễn ly tham, đã viễn ly dục, đã viễn ly ái, đã viễn ly khát, đã viễn ly nhiệt tình, đã viễn ly khát ái, khi sắc ấy biến hoại, đổi khác, sẽ không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Ðối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành... đối với thức, này các Hiền giả, ai đã viễn ly tham, đã viễn ly dục, đã viễn ly ái, đã viễn ly khát, đã viễn ly nhiệt tình, đã viễn ly khát ái, khi thức ấy biến hoại, đổi khác, sẽ không khởi lên sầu, bi, khổ, ưu, não. Do thấy sự lợi ích này, này các Hiền giả, bậc Ðạo Sư của chúng tôi nói đến sự điều phục dục và tham đối với sắc... đối với thọ... đối với tưởng... đối với các hành; bậc Ðạo Sư của chúng tôi nói đến sự điều phục dục và tham đối với thức".

Và này các Hiền giả, đạt được và an trú trong các bất thiện pháp và ngay trong đời sống hiện tại, sống được an lạc, không bị chướng ngại, không bị ưu não, không bị nhiệt não, sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh thiện thú, đây không phải là sự đoạn tận các bất thiện pháp được Thế Tôn tán thán.

Nhưng này các Hiền giả, vì rằng đạt được và an trú trong các bất thiện pháp, và ngay trong đời sống hiện tại, sống bị đau khổ, bị chướng ngại, bị ưu não, bị nhiệt não và sau khi thân hoại mạng chung, sẽ phải sanh ác thú. Do vậy, đây là sự đoạn tận các bất thiện pháp được Thế Tôn tán thán.

Và này các Hiền giả, đạt được và an trú trong các thiện pháp, và ngay trong đời sống hiện tại, sống đau khổ, bị chướng ngại, bị ưu não, bị nhiệt não, và sau khi thân hoại mạng chung, sẽ phải sanh ác thú. Ðây không phải là sự thành tựu các thiện pháp được Thế Tôn tán thán.

Nhưng này các Hiền giả, vì rằng đạt được và an trú trong các thiện pháp, và ngay trong đời sống hiện tại, sống được an lạc, không bị chướng ngại, không bị ưu não, không bị nhiệt não, và sau khi thân hoại mạng chung, sẽ được sanh thiện thú. Do vậy, đây là sự thành tựu các thiện pháp, được Thế Tôn tán thán.

Tôn giả Sàriputta thuyết như vậy. Các Tỳ-kheo ấy hoan hỉ, tín thọ lời Tôn giả Sàriputta nói" (Tương Ưng Bộ, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità II. Devadaha)

Đối với sự chấp thủ vào năm thủ trong đời sống hằng ngày không có gì là cao siêu cả, sự chấp thủ mặc dù rất vi tế, rất nhẹ nhàng nhưng khi nhận diện năm uẩn sâu sắc thì mình sẽ thấy sự nắm giữ trong năm uẩn này nhưng cái đặc sắc nhất mà con nhận ra là chính cái sắc ở bên ngoài là cái nhà vệ sinh. Ở đây có 5 phòng, mỗi người một phòng, chú Lực hay tắm phòng con hay tắm, lúc đó chú tắm ra rồi, nhờ sự nhận diện kĩ càng con thấy được mình chấp vô cái phòng vệ sinh, cái phòng vệ sinh không có khả lạc, khả hỷ mà mình lại chấp thủ vào đó cho nên con mới nhận diện ra hỡi ơi cho cái thân này, đến cái nhà vệ sinh còn nắm giữ thì thế nào đây cho nên thường ngày con sẽ quán sát, xem xét rõ, lúc đó con sẽ tác ý "nhà vệ sinh là nơi dơ bẩn nhất của chính mình và của mọi người mà mình còn chấp vào đó, sự tu tập chưa đến đâu, một khi đột tử, đột biến ngã xuống sẽ như thế nào, cái bên ngoài mình còn nắm giữ thì mình còn khổ dài dài". Trong hình ảnh đó là sự vận hành của năm uẩn, sự chấp vào phòng vệ sinh mình hay đi thì mình sẽ có cảm giác quen thuộc, có những vật dụng mình hay để trong đó, khi mình không được đi trong phòng đó thì mình sẽ khởi lên sự khó chịu, vi tế cho nên bất chợt vô thường đến thì không biết mình sẽ đi về đâu cho nên mới thấy sự vô minh của mình thật là sâu dày. Khi con tác ý đến thì thấy hỡi ơi cho thân tứ đại này:

Đáng thương thay, cái tâm mê!

Vì mê nên mới luân hồi vầy đây.

Vậy mà giờ vẫn đang mê,

Vẫn đang chìm giữa ê chề đảo điên

Hỡi tâm mê, tỉnh ra ngay!

Đừng say mộng ảo, đừng mê vô thường.

Nơi đây, tỉnh giác ngay đi!

Tỉnh ngay, mở mắt thoát cơn mê này…

Mỗi khi con tác ý đều hướng vào nội tâm, hiện tại con cũng đang hướng vào nội tâm nên cảm xúc dạt dào cho nên trong sự tu này phải làm sao sanh khởi một cảm thọ tàm quý, xấu hổ đối với những pháp bất thiện thì lúc đó mình mới có thể nỗ lực tiến tu, bằng không sẽ trơ trơ, không có động lực, mục tiêu tu học bị mờ nhạt. Về vấn đề này con thấy cái sắc đang hiện hữu rõ, tất nhiên thọ; tưởng; hành; thức cũng có nhưng không rõ bằng, con chiêm nghiệm như vậy cho nên đối với cái sắc mà mình chưa viễn ly tham, chưa viễn ly ái, chưa viễn ly dục, đến khi nó biến hoại thì chúng ta sầu, bi, khổ, ưu, não. Cái sắc bên ngoài mình còn chưa bỏ được thì sắc thân mình muốn bỏ thật là khó nhưng nhờ nhận diện ngũ uẩn mình thấy được rác bẩn thì may ra mới gội rửa dần dần được.

Đó là về sắc, còn giờ là thọ, qua sự hành trì con thấy được tâm nhu nhuyến, tâm vâng lời dạy, do tính chất công việc nhiều nên đôi khi những điều nhỏ nhặt cũng khiến cho mình khởi lên tâm bất thiện. Một trường hợp con đã trải qua, vấn đề không có gì là to tát nhưng do sự hành trì còn yếu và do trong quá trình làm việc khởi lên mệt mỏi nên khi nhận sự chỉ dạy của sư phụ về vấn đề nhỏ, tâm khó chịu đang lấn át mình nê lúc đó mình chạy theo cảm giác khó chịu đó. Những gì sư phụ dạy là đúng, là không sai, không có gì lớn lao nhưng do hành trì còn yếu nên lúc đó mình khởi lên khó chịu, sau khi xong thì con nhìn lại mình, con đặt câu hỏi "tại sao bậc thầy chỉ dạy đúng mà mình không chấp nhận mà trong đó là sự khó chịu", khó chịu ở bên trong nhưng cũng thể hiện ra bên ngoài khẩu hành và cả sắc mặt. Thật là đáng xấu hổ nhưng tâm vô minh của mình rất sâu dày.

Con quay lại nhận diện ngũ uẩn thì có hai dòng trạng thái giữa thiện và bất thiện, một cái là đúng và một cái là không đúng. Thường thì khi quay về nội tâm mình thì mình sẽ bênh vực bản thân, mình không chấp nhận đó là sai, mình sẽ đưa ra ý kiến biện hộ cho mình. Khi mình chấp nhận cái sai thì bên trong khởi lên sự ngượng nghịu, không chấp nhận là sai, cho nên cảm thọ bất thiện này thật là kinh khủng, mình còn nhỏ chỉ vừa tu học mà không nghe lời chỉ dạy của sư phụ, đến khi thọ đại giới thì ai nói mình sẽ nghe, ai nói mình chấp nhận, lúc đó mình vô tình ngăn cản con đường tu học của mình, lúc nhỏ nói không nghe thì lớn nói đố mà nghe vì bản ngã càng ngày càng được huân tập. Khi thọ đại giới rồi tâm mình sẽ càng ghê hơn nữa "tôi đã là Tỳ-kheo", Tỳ-kheo với nhau không có quyền nói mình, chỉ khi Bố-tát hoặc khi sai lỗi lớn thì mình mới chấp nhận, như vậy thì thật là đáng tiếc. Khi ngũ uẩn này tan rã thì mình sẽ sầu, bi, khổ, ưu, não, chưa viễn ly tham, chưa viễn ly ái, chưa viễn ly dục, chưa viễn ly sự nhiệt tình, khao khát, khát ái, sự nhiệt tình của con chưa đủ nên khi gặp những tình huống như vậy mới xảy ra sự ngăn trở trong tu học. Đó là những pháp bất thiện con thấy được trong quá trình tu học.

Qua đây con cũng có một chút chia sẻ về sự hành trì của mình trong thực hành ba pháp trong đời sống hằng ngày. Con hay đi ra Bảo Lộc để làm việc, khi bước lên xe nếu không thực hành ba pháp là con chạy rất lẹ, vượt hết người này đến người khác, lúc đó cảm thọ thúc giục càng lên cao nếu không quán chiếu chánh niệm tỉnh giác, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Mặc dù mình có nhìn nhận lại nhưng chưa đủ sức nên con quán về tâm hiền, trong đó vẫn an trú vào ba pháp trong quá trình đi xe, cái này là trải nghiệm của con chứ con không khuyến khích mọi người. Khi con thực hành tâm hiền, chín đức hạnh của ngài Xá-lợi-phất thì lúc đó con quay về nội tâm đọc lên những bài kệ đảnh lễ đức hạnh ngài Xá-lợi-phất thì con chạy chậm hơn, không còn sự thúc giục, mặc dù không nhìn sâu vào vì đang chạy xe nhưng con tác ý:

Hạnh Ngài “tâm trú yên như đất”,

Không giận sân người thảy sạch, nhơ.

Hạnh Ngài “tâm trú yên như nước”,

Không giận sân người rửa nhớp nhơ.

Đại chúng hãy để ý khi mình quán chiếu một vấn đề gì, nhìn sâu vào bên trong đọc một cách tha thiết, nói chuyện với chính mình thì những cảm xúc, những thiện pháp sanh khởi lên, nó đem lại sự bất ngờ trong pháp mà mình chưa bao giờ trải nghiệm, cảm xúc tuôn trào, lúc đó không còn chạy nhanh nữa mà chạy rất chậm.

Ngài Xá-Lợi, Thánh Tăng hiền đức,

Hạnh đức Ngài chói sáng nhân thiên

Chúng sanh danh lợi tranh giành,

Hạnh Ngài Xá-Lợi thiện lành, thanh cao.

Lúc đó đang trú vào pháp nên không còn muốn đi nhanh nữa, qua đó con thấy sự hành trì lúc nào cũng phải quay về nội tâm và nhận diện ngũ uẩn một cách sâu sắc thì các thiện pháp mới khởi lên vì tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Qua đây con có đôi lời với đại chúng về sự tu học hành trì của con trong thời gian vừa qua, nếu cố gắng nhận diện ngũ uẩn trong một ngày thì rất nhiều đề mục để mình tu học và rất nhiều những pháp bất thiện khởi lên, mình thấy pháp rồi sẽ hành pháp, đưa đến thành tựu những pháp rất nhỏ nhưng kiến tha lâu cũng có ngày đầy tổ, những điều nhỏ sẽ đưa đến những điều lớn, đó là những điều con chia sẻ trong hôm nay, con xin cám ơn đại chúng đã lắng nghe con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Thầy Pháp Tâm: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Đệ tử con cúi đầu kính trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Hôm nay chúng con có được nhân duyên được sư phụ cho phép chúng con được chia sẻ những tâm đắc trong việc tu học, trong con thì sự tâm đắc cũng như sự học hiểu, thực hành trong dòng Thánh pháp này, con có những cảm giác thù thắng, tối thượng, với tấm lòng thiết tha, chân thành, tri ân và tha thiết đảnh lễ trên tam bảo, bậc thầy đã chỉ dạy cũng như con đường phước báo đầy đủ nhân duyên được trở về Linh Quy này, được là một thành viên của đại chúng, được trên quý thầy chỉ dạy rất tận tình, nhiệt tâm cùng với quý sư cô rất hiền thiện và đại chúng tinh tấn tu học. Thật là hạnh phúc và diễm phúc thay cho con!

Kính thưa quý thầy, quý sư cô và đại chúng, con xin được phép chia sẻ về việc tu học trong thời gian vừa qua, đó là tu tập về tâm hiền và tâm từ. Được sự chỉ dạy của sư phụ cũng như về việc tu tâm hiền và tâm từ, khi con hướng về chính tự thân tâm mình nhận diện ngũ uẩn, ban đầu cũng thấy "hiền rồi, thôi đừng tu tập nữa". Ý hành khởi lên như vậy và con thấy đây là sự chống đối học pháp, khi nhìn vào những lời nói thì thầm bảo rằng mình hiền rồi không nên tu nữa thì thật ra là không hiền, có bản ngã, ta đây, tuy không nói ra bên ngoài, không ai biết nhưng khi nhận diện ngũ uẩn mới thấy được, cảm thọ bên trong rất dễ dao động, lăng xăng. Ở bên ngoài con cảm thấy mình rất nhẹ nhàng, an tịnh nhưng khi mình bị kích động tâm sẽ dao động, con thấy tâm mình dễ dao động, dễ sanh lên cảm thọ. Ví dụ phân bổ kinh sách, xếp tọa cụ cho đại chúng tu học thì cảm thọ sanh lên khi quý thầy chỉ dẫn, vẫn nghe theo, vẫn thực hành theo nhưng cảm thọ bên trong có một cảm giác lạ, hoạt động ngấm ngầm, vẫn làm nhưng không được hân hoan cho lắm, không được hoan hỉ cho lắm. Khi nhìn lại con thấy phục vụ đại chúng mang lại công đức mà sanh lên cảm giác không hân hoan mà lại trơ trơ, nếu trú trong tâm an tịnh thì đi vào bất khổ bất lạc nhưng không thấy rõ pháp nên bị vô minh xâm chiếm chứ không phải sắp xếp tọa cụ cho đại chúng mà sanh khởi cảm giác bất thiện.

Qua đó con thấy không phải chỉ trên lời nói thô tháo bên ngoài, lúc đầu con chỉ tu học tâm hiền như đất mà thôi, ai nói gì cũng im, ai chửi cũng im, ai khen thì cười rồi thôi nhưng bên trong một cảm giác bất khổ bất lạc không hay biết được, cảm giác đó theo con rất lâu. Khi con nhận diện ngũ uẩn, thấy được do đâu có cảm giác này và một bản ngã ngấm ngầm bên trong con cũng không hay biết vì một cảm thọ sanh khởi lên sẽ kèm theo một bản ngã vi tế khi mình không thấy đang có cảm giác sanh khởi, mình nghĩ là cảm giác được an tịnh, lắng dịu, dễ chịu nhưng thật ra không phải, đó là tưởng điên đảo, tưởng bị lộn ngược. An tịnh không có trí tuệ là sự an tịnh trong khổ đau, trong cái khổ mà mình không biết đang ở trong khổ thì đó là sự đau khổ nhất mà con thấy được, đó là cái con thấy được khi tu học tâm an trú như đất nhưng bên trong chưa loại bỏ được dục, bản ngã, sân si vi tế.

Trong thời gian đã nhìn thấy như vậy thì con tiếp tục tu học tâm hiền như nước. Tâm như nước là tâm mềm mại, tâm dễ chịu, tâm hiền hòa, khi con tác động tâm ý "tâm hiền như nước thật là mềm mại, thật là mát mẻ, thật là uyển chuyển nhẹ nhàng, tu học theo dòng Thánh pháp" thì cảm giác bên trong con thấy vui, hoan hỉ, ý hành nói rằng thật dễ chịu, thật an tịnh. Lúc đó con thấy mỗi khi thực hành ba pháp hay cảm giác toàn thân trên gương mặt lúc nào cũng cảm thấy dễ chịu, cảm giác khó chịu cũng có chứ không phải không có, trên mặt cũng có đơ đơ vì vô minh, si mê, con vẫn còn đang tu học, vẫn còn nhiều rác bẩn bên trong thì chắc chắn sẽ có những biểu hiện không hài lòng trên gương mặt hoặc là trên hành động nhưng khi nhìn nhận lại thì thấy xấu hổ, sợ hãi vì những nhân duyên này, những điều kiện này sẽ đưa đến những bất hạnh về sau cho chính tự thân mình vì mình đã tạo nhân duyên để nó sanh khởi lên mà mình không thấy biết, không dọn dẹp, không tẩy rửa thì nó quay lại làm ô uế nội tâm mình.

Con lại tu tập thêm tâm như lửa, sanh khởi lên cho mình cảm giác nhiệt tâm, nhiệt huyết, nóng bỏng đối với pháp. Như thầy Thiện Huệ đã chia sẻ nếu không suy nghĩ đến cái chết, sự vô thường, đột ngột, đột biến, bất ngờ, trong thời gian tích tắc mình có thể rời xa cuộc đời này, lúc đó trong tâm mình đầy rác bẩn, đầy sự dục ái, tham, sân, si, bản ngã, ta đây, hơn thua. Lúc đó tu tập tâm như đất quá thuần thục nên cứ trơ trơ ra, thấy thiện hay ác cũng không có gì đáng quan tâm, nó đến rồi sẽ đi nhưng trước khi đi nó sẽ quậy phá trong căn nhà nội tâm của mình tan tành, nó đem hết của báu đi hết, mình tu tập một chút thiện pháp cũng bị nó lấy đi hết, trong căn nhà chỉ còn lại sự trống rỗng, trống không, nó để lại cái ta đây, cái hơn thua, cái cống cao ngã mạn bám chặt vô ngũ uẩn này nhiều hơn nữa. Cho nên phải tác động tâm ý để sanh ra nhiệt tâm với các thiện pháp, với các công việc cần làm, cần chia sẻ, cố gắng thực hiện bằng chính khả năng của mình nhưng đâu đó bên trong những thầm ý, những cảm giác vẫn sanh khởi sự chống đối, con thấy sự sợ hãi trong con đối với những cái bất thiện này.

Khi con ở yên một mình bên trong con vẫn có sự day dứt nhưng không hiểu lúc đó là như thế nào, nó muốn làm một công việc gì đó nhưng lại thôi. Con ngồi thiền nhìn nhận lại và thấy rằng đó là một cảm giác của dục lậu, nó luôn vận hành bên trong, nó thôi thúc phải làm cái này làm cái kia, khi làm việc thì chạy theo thọ; tưởng; hành, làm cho nhanh, cho xong, cho hoàn thành trách nhiệm. Khi mở rộng tâm thì con thấy tâm nhẹ nhàng hơn, ít có khó chịu, ít ham muốn sanh khởi, khi nhận diện ngũ uẩn và thấy được cảm giác tham muốn, thúc giục, sân hận, bực bội cho dù khởi nhỏ trên thân, khi con chưa sanh khởi được nhiệt tâm thì lúc nào cảm giác mắt cũng đơ ra, cái đầu dường như trống rỗng hoặc là trì trệ, khi con khởi tác ý, quán chiếu thì đau nhức, nó không chịu sanh khởi nhiệt tâm nữa, nó chỉ muốn trú vào cảm giác bình bình, yên ổn thôi. Khi ngồi thiền một mình thì con quán chiếu lại thì có nước mắt tuôn rơi, cảm giác ngay lồng ngực dường như muốn tan nát ra "mày tu mà con bực bội, sân hận bên trong vậy, khó chịu với huynh đệ vậy, sao nhìn huynh đệ hoài vậy, khen mình chê người hoài vậy. Thật là đau khổ cho nhà ngươi quá, thật là thương cho nhà ngươi quá đi, thương thật là thương", lúc đó con có cảm giác rung động toàn thân.

Con quán chiếu thêm tâm như gió để tâm nhẹ nhàng, tâm này con quán chiếu như tâm không bị dính mắc, không bị trói buộc. Mình thấy được những bất thiện bên trong, đào thải được nó với sự nhiệt tâm nhiệt huyết, thấy được như vậy và làm tất cả thiện pháp, tất cả sự thấy hiểu, thực hành trong pháp, chia sẻ với mọi người nhưng không dính mắc ở bên trong vì mình cũng là một ngũ uẩn đau khổ và tất cả những vị có nhân duyên với mình cũng là ngũ uẩn đau khổ, nhìn về cha mẹ thấy thân thương với lòng tri ơn, nhớ ơn, biết ơn vô hạn, mình mong muốn đem những gì học hiểu được trao truyền cho cha mẹ, cho anh chị, bạn bè để mọi người được biết về tam bảo, biết về thân tâm chính mình nhưng đối với con tu học còn yếu kém, còn non nớt, con thấy bản thân phải cố gắng nhiều hơn. Trước khi muốn giúp đỡ thì bản thân mình phải thoát ra được trước đã, mình chưa thoát khỏi bùn lầy mà mình muốn kéo người khác ra khỏi bùn lầy thì Đức Phật nói việc này không thể xảy ra, chính tự thân con tác động tâm ý lòng biết ơn, nhớ ơn đối với cha mẹ, khi con thấy những người con quỳ lạy dưới chân cha mẹ mình, ôm cha mẹ mình thì cảm giác trong con sanh khởi rất mãnh liệt, nước mắt không muốn rơi nhưng vẫn tuôn chảy vì đau khổ là rất nhiều nhưng thấy khổ rồi mới tu được vì Đức Phật đã nói thế giới, ngũ uẩn và thân tâm này là một đống của đau khổ, sự đến và đi, sự sanh và diệt, thành rồi bại, được rồi mất, hơn rồi thua bị dính mắc trong đó, mình hụp lặn trong đó. Mình muốn thoát khỏi khổ, mình muốn đi ra khỏi đống đau khổ này nhưng cứ thích đau khổ, ham đau khổ thì làm sao được?

Khi quán chiếu về tình thương thì con thấy xót xa, thương cho mình thật là nhiều, mình là người đau khổ nhất. Con luôn luôn suy nghĩ "chính bản thân nhà ngươi là người đáng thương nhất, người nghèo không đáng thương, người khổ không đáng thương bằng nhà ngươi". Cái tâm ngã mạn vô cùng khủng khiếp, lúc nào cũng tôi, ta, khi hết buổi thiền con thường cúi gập người xuống, đó là sự đảnh lễ trên tam bảo, trên sư phụ, trên quý thầy cũng như toàn thể đại chúng, đó là sự tri ân đối với thầy tổ, đối với đất nước, đối với Đàn-na tín thí. Trong khi đi khất thực cũng vậy, an trú mình chỉ là người ăn xin mà thôi, cuộc sống không nhà, không người thân, không bạn bè thân thích, vì lý tưởng, mục đích nhận thức đau khổ và mong muốn vượt khỏi đau khổ này. Sự tham ái, dính mắc thì rất sâu xa, vì vô minh, si mê không thấy không biết vô thường, đau khổ, bệnh hoạn, trống rỗng, trống không mà đem tâm yêu thích, tham đắm vào đây.

Buông hết đi, đời có chi hờn giận!

Tâm giận hờn là khổ lắm ai ơi!

Bụng chẳng yên, như lửa cháy trong lòng

Sân là khổ, càng sân là càng khổ.

Buông hết đi, hờn giận chi thêm khổ!

Khổ vô thường đã khổ lắm, ai ơi!

Hãy buông rơi những khối đá trong lòng,

Đừng tạo nghiệp, làm nặng thêm cuộc sống.

Đó là những sự quán chiếu cũng như việc tu học trong thời gian vừa qua ngay chính tự thân con vì chính tự thân con vẫn còn nhiều vô minh, si mê, chấp thủ, ngã mạn nên trong việc chia sẻ có khi sanh khởi ngu si, si mê. Kính trên sư phụ, quý thầy, quý sư cô cùng đại chúng hoan hỉ chỉ dạy cũng như lòng thương tưởng bỏ qua cho đệ tử. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Sư thầy: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Con kính đảnh lễ trên sư phụ, con kính trên quý thầy, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Hôm nay nhân duyên lành được sự cho phép trên sư phụ, con đường cùng quý thầy, quý sư cô và đại chúng có buổi chia sẻ, trao đổi những kinh nghiệm, những lợi ích trong việc học kinh tạng Nikāya cũng như trong quá trình tu tập ở Linh Quy Pháp Ấn. Lời đầu tiên con xin kính tri ân đức của sư phụ vì lòng từ mẫn, vì lòng thương tưởng sư phụ luôn dìu dắt tận tâm cho hàng đệ tử chúng con, luôn tạo những thuận duyên, thuận lợi để chúng con có sự tinh tấn trong tu học. Sự học của con rất hạn hẹp, rất sơ cơ nên khi chia sẻ trước quý thầy, quý sư cô và đại chúng chắc chắn không tránh khỏi thiếu sót, con kính mong toàn thể quý vị hoan hỉ cho con.

Nãy giờ con ngồi nghe về sự tu học của quý thầy cũng như những chia sẻ về pháp hành trong tu học, con thấy rất bổ ích, tâm con rất hoan hỉ. Thật là hạnh phúc trong buổi chiều hôm nay chúng ta được ngồi đây trong không khí trong lành, không gian yên bình và được lắng nghe những lời chia sẻ của quý thầy về pháp học cũng như pháp hành trong kinh tạng Nikāya rất thiết thực, rất thực tế, ứng dụng trong cuộc sống hằng ngày, từ sự đi, đứng, nằm, ngồi, sự sinh hoạt, làm việc, trong mỗi sự động chuyển con thấy thật may mắn vì mình được tu học cùng quý thầy cũng như quý sư cô và quý đại chúng. Ở gần quý thầy con được học hỏi rất nhiều vì bản thân con rất nhiều tập khí xấu dở, rất nhiều sự vô minh ví dụ như lười biếng, không tinh tấn tu học, nhìn qua tấm gương tinh tấn của quý thầy là động lực cho tự thân con mạnh mẽ hơn noi theo quý thầy.

Nhờ sự thân cận, gần gũi bậc thiện tri thức thì con thấy tự thân mình có sự chuyển hóa mỗi ngày. Lúc trước con rất nhiều tập tánh, những pháp của thối đọa, con rất vô minh, con xuất thân từ một gia đình vùng quê ven biển, từ nhỏ đã không biết Phật pháp nên tạo rất nhiều nghiệp dữ, nghiệp ác mà bản thân không hay biết. Mình sát sanh mà lại vui mừng, cướp đoạt sinh mạng chúng sanh, đập đầu, cắt cổ, đánh vảy, khi con nhớ đến là con thấy rùng rợn cho chính tự thân mình. Đi giăng lưới bắt cá chế biến món ăn thì thấy vui, cái vui đó rất vô minh, rất độc ác, những lời nói này con chỉ nói tự thân mình, nếu có động chạm đến ai thì con xin lỗi. Con uống bia rượu say sưa, nói ra những lời rất nặng nề, có khi chửi rủa, nói bậy bạ mà lại vui cười hả hê mà không biết đó là nghiệp dữ, thậm chí người lớn hơn mà con cũng cự lại, chửi lại, anh chị mà con cũng hỗn hào, nói những lời đau lòng, đắng cay, gây tổn thương cho họ, con nhớ con đã nói những lời làm cho mẹ rất đau lòng rồi đời sống tà hạnh, tà dâm, si mê, vùi đầu trong sự bẩn thỉu của dâm dục. Con nhớ đến mà con run sợ hết người, chỉ toàn là những nghiệp dữ, khi học kinh Nikāya rồi mới thấy đó là nghiệp dữ, là những cái nhân dẫn mình vào cõi địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh mà mình không hay biết, suốt ngày chỉ biết vùi đầu trong danh lợi, cơm áo gạo tiền, trong lo hưởng thụ vật chất trong đời sống tạm bợ của mình.

Có lần con gọi về nhà khi con xuất gia rồi thì chị dâu mới nói "lên chức rồi hả" thì con mới sững người không biết lên chức gì, con đính chính lại cho chị hiểu là mình đi tu rồi, không có chức quyền gì ở đây cả, chỉ là người ăn xin thôi. Như vậy chị mới hiểu nếu không chị sẽ cho rằng đi tu là được làm ông này ông nọ, làm người lớn hơn người khác, với tâm tưởng mình chỉ như một kẻ ăn xin, ôm bình bát đi khất thực thì làm gì có chức quyền, danh lợi gì ở đây. Đủ duyên lành con mới tu tập được dòng Thánh pháp Nikāya, những gì mình tụng đọc trong kinh Nikāya rất lợi lạc, rất dễ hiểu, bài nào cũng rõ ràng, soi thấu, phơi bày ra sự thật của cuộc đời này, của thế giới này, khi xưa mình nằm trong cái khổ mà mình không biết đó là khổ. Bài kinh nào cũng lợi ích, bổ dưỡng, còn có giá trị hơn kim cương hột xoàn, nhất là phương pháp nhận diện năm uẩn, con được chỉ dạy tận tình sắc là gì, thọ là gì, tưởng là gì, hành là gì, thức là gì, giống như mình được trao chìa khóa mở cánh cửa thân tâm của mình. Đây là cột mốc để đánh dấu mình đang bước lên trên mé bờ để thoát ra khỏi biển sanh tử trầm luân khổ đau trong vô lượng vô biên kiếp. Trước nay mình chưa biết được ngũ uẩn, mình không biết mình là cái gì, bên trong mình có cái gì, tự thân mình mãi là bí mật vì mình cứ hướng ra bên ngoài hưởng dục, hưởng lạc, cơm áo gạo tiền, danh lợi, ganh ghét, hận thù, đấu tranh triền miên trong đó, mình quên mình lại chính tự thân mình, mình tạo biết bao ác nghiệp, tội dữ, mình không hề hay biết nên cứ trơ trơ ra đó rồi bản ngã cứ phình trương, ai động đến là cháy lên, thậm chí đưa chạm vào mà chỉ mới liếc, nhìn xéo thôi là đã phừng phựt lên nhưng khi có chìa khóa nhận diện ngũ uẩn, quay lại thân tâm chính mình thì mình mới thấy, mới giải quyết được tận cùng gốc rễ khổ đau cho chính tự thân mình chứ không phải nhờ một ai đó có thể ăn giùm mình mà mình no được, có thể uống giùm mình mà mình hết khát được, điều đó không thể xảy ra.

Con được hướng dẫn nhận diện lại tham, sân, si, vô minh, bản ngã, từng cảm thọ của mình, từng hình bóng trong tâm, suy nghĩ trong tâm và phát giác, phát hiện những cấu bẩn, cấu nhiễm mà trước khi chưa nhận diện ngũ uẩn mình không thể nào thấy được, mình chỉ thấy lỗi người, người kia sai, người kia làm khổ mình, người kia làm trật chứ không thật sự thấy được chính những cảm giác, hình bóng, nghĩ tưởng và sự nắm giữ vào cảm giác, hình bóng, nghĩ tưởng này làm mình đau khổ. Từ những hình bóng, nghĩ tưởng này tiếp tục sanh ra những hình bóng, nghĩ tưởng khác, vẽ vời ra biết bao thứ rồi tự mình luẩn quẩn, loanh quanh trong đó không biết đường ra. Khi quay lại nhận diện chính thân tâm mình con mới thấy khủng khiếp, thấy kinh sợ với những gì mình đang chất chứa trong thân tâm mình. Chỉ khi tu học Thánh pháp tối thượng này mới phát hiện ra bản ngã thâm độc hoạt động ngấm ngầm, sai khiến, nó là tên đầu sỏ ra lệnh để mình tạo nghiệp, để gây khổ cho mình gây khổ cho người.

Thật là may mắn cho chúng con khi nhận ra được những điều này rồi được bậc minh sư, thầy lành bạn tốt soi đường dẫn lối, mỗi ngày chúng ta con được gội rửa, được tháo gỡ từng nút thắc làm mình đau khổ. Thời gian tu tập ở đây gần hai năm con thấy rất hiệu quả, rất lợi lạc cho chính tự thân mình, con đã dần dần gội rửa bớt phần nào nghiệp quả của mình, sự nóng giận thiêu đốt của ngày xưa có thể sanh ra những ý hành hủy diệt, trả đũa được thay thế bằng những dòng cảm xúc mát mẻ của tâm hiền, tâm từ, tâm bi, tâm thương hiểu, tâm xả, những cảm giác thúc giục, lăng xăng được thay bằng cảm giác an tịnh, lắng dịu, dễ chịu, không rộn ràng, cái bản ngã phình trương được thay bằng sự nhớ ơn, biết ơn, khiêm tốn, sẵn sàng cúi đầu xuống quỳ lạy dưới chân mọi người. Thật là có hiệu quả tức thì, đến để mà thấy, pháp của Đức Phật có khả năng hướng thượng được người trí tự mình giác hiểu.

"Như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc" (Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-la-hán Thứ Nhất, I. Dhananjàni)

Thật là vi diệu! Thật là hạnh phúc! Thật là ngọt ngào cho chúng con khi được học trong dòng Thánh pháp Nikāya tối tôn, tối thượng này. Một lần nữa con xin tri ân tất cả những nhân duyên đã giúp cho con quay trở về với Thánh pháp, với tam bảo bên bậc minh sư cũng như thầy lành, đại chúng hiền thiện để mỗi ngày con được gội rửa, được tiến tu có nhiều lợi lạc cho tự thân và hướng đến lợi lạc cho những người thân, những người có ân nghĩa, đền đáp công ơn sâu nặng của tất cả. Con xin phép đọc một bài cảm xúc của con khi con tu học. Hôm nay con đã đủ duyên lành đi tu học và được xuất gia nên con viết một bài Tu rồi tâm ơi.

Tâm ơi nay tâm đã tu rồi

Tu rồi còn thúc giục làm chi

Lăng xăng, vội vã thêm mệt mỏi

Lo lắng, não phiền được ích chi.

Tâm ơi nay tâm đã tu rồi

Tu rồi thôi sân hận tâm nha

Nóng giận đốt thiêu mình khổ lắm

Khổ cả cho người, tội lắm nha.

Bỏ đi tâm nhé nay tu rồi

Tu rồi ôm ấp mãi làm chi

Ôm hết vô minh rồi bản ngã

Tâm cứ suốt ngày tôi với ta.

Thôi bỏ đi mà, thôi bỏ nha

Dục ái tâm ơi cứ gian tà

Bày ra cạm bẫy thơm mật ngọt

Tâm lỡ sa vào không lối ra.

Tâm ơi tâm nay đã tu rồi

Tu rồi tâm lắng dịu nha tâm

Tâm hãy ngoan hiền nha

Tâm hãy thương mình, tâm nhớ chưa.

Tâm nhớ chưa, tâm đã tu rồi

Tu rồi thôi buông xả nha tâm

Ôm chi đủ thứ cho thêm nặng

Chất chứa tràn đầy khổ lắm nha.

Chất chứa tâm ơi đã bao đời

Bao đời tâm sân hận, si mê

Bao lần thương ghét rồi ganh tỵ

Nay đã tu rồi tâm bỏ đi.

Tâm ơi bỏ đi giữ làm gì

Ôm vào thuốc độc để làm chi

Để gây đau khổ cho người khác

Đau cả cho mình được ích chi.

Chớ giữ, chớ ôm, chớ nắm hoài

Để rồi hơn thua, rồi đúng sai

Rồi đau rồi khổ rồi phiền não

Để tâm chìm nổi bóng đêm dài.

Tâm thấy chưa tâm khổ thật mà

Tu rồi tâm phải thấy rõ nha

Thấy rõ sắc thân là hư hoại

Là bệnh, là đau, khổ thật mà.

Tâm ơi, nay tâm đã tu rồi

Tu rồi tâm nhìn lại đi nha

Nhìn ra chúng chỉ là cảm giác

Cảm thọ thôi mà, đâu có ta.

Tâm thấy chưa tâm, đó chỉ là

Bóng hình hư ảo ẩn trong tâm

Như mây, như khói đâu bền chắc

Sao cứ tưởng rằng đó là ta.

Tâm vẫn thường suy nghĩ lắm nha

Nghĩ suy bao nhiêu thứ gian tà

Hành hạ tâm can bao phiền não

Suy nghĩ vận hành không lối ra.

Tâm biết chưa tâm, rõ chưa nào

Tỉnh ra, thoát khỏi giấc chiêm bao

Thoát ra cảnh mộng và hư ảo

Nay đã tu rồi thức tỉnh mau.

Tâm thấy chưa tâm cảnh vô thường

Mang kiếp con người đầy tai ương

Là đau, là bệnh rồi già, chết

Là đấu, là tranh như chiến trường.

Tâm đã tu rồi hãy hiểu thương

Thương tâm, thương cuộc sống vô thường

Sắc thân rồi trở về cát bụi

Tâm đã tu rồi chớ vấn vương.

Con xin tri ân quý thầy, quý sư cô cùng đại chúng đã lắng nghe và cùng tu học với con. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Thầy Thiện Huệ: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật. Buổi chiều nay bốn huynh đệ chúng con đã có buổi chia sẻ những lời dạy của Đức Phật cũng như trong quá trình tu học để cùng đại chúng cùng nhau sách tấn trong thời khóa tu học. Chúng con xin được tri ân đến sư phụ, sư phụ đã nói chánh pháp là quan trọng nhất, sư phụ bằng cả tấm lòng lúc nào cũng tạo điều kiện, tạo nhân duyên cho chúng con cũng như toàn thể quý Phật tử đều được an trú trong chánh pháp. Một lần nữa chúng con xin thành kính cảm niệm ân đức tri ân trên sư phụ. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.

Nhớ mãi không quên

Biết ơn biết nghĩa

Nhớ mãi không quên

Hiền thiện từ bi.

Nhớ mãi không quên

Sáu pháp hòa kính

Nhớ mãi không quên

Diệt tham, sân, si.

Tâm biết ơn này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm biết ơn này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la.

./.