Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tinh Hoa NIKAYA - Xuất Gia Phản Tỉnh 4

2026-03-03 00:56:10
Tinh Hoa Nikāya

XUẤT GIA PHẢN TỈNH 4

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tụng kinh PAGEREF _Toc114059089 \h 1

II. Thiền quán về núi yên tu PAGEREF _Toc114059090 \h 4

III. Nội quán PAGEREF _Toc114059091 \h 14

I. Tụng kinh

Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật đã dạy:

Thành này làm bằng xương,
Quét tô bằng thịt máu,
Ở đây già và chết,
Mạn, lừa đảo chất chứa.

(Kinh Pháp Cú 11 – Phẩm Già)

Chúng con kính lễ Đức Phật Bổn-sư Thích-ca Mâu-ni.

Trong kinh Pháp Cú, phẩm Thế Gian, Đức Phật đã dạy:

Ai sống trước buông lung,
Sau sống không phóng dật,
Chói sáng rực đời này.
Như trăng thoát mây che.

(Kinh Pháp Cú 13 – Phẩm Thế Gian)

Ai dùng các hạnh lành,
Làm xóa mờ nghiệp ác,
Chói sáng rực đời này,
Như trăng thoát mây che.

(Kinh Pháp Cú 13 – Phẩm Thế Gian)

Hãy khéo sống chánh hạnh,
Chớ sống theo tà hạnh!
Người chánh hạnh hưởng lạc,
Cả đời này, đời sau.

(Kinh Pháp Cú 13 – Phẩm Thế Gian)

Chúng con kính lễ Đức Phật Bổn-sư Thích-ca Mâu-ni.

Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật đã dạy:

Đường này đến thế gian
Đường kia đến niết bàn,
Tỳ-kheo, đệ tử Phật
Phải ý thức rõ ràng
Đừng đắm say thế lợi
Hãy tu hạnh ly tham.

(Kinh pháp cú – 75)

Chúng con kính lễ Đức Phật Bổn-sư Thích-ca Mâu-ni.

Niệm chú tâm cảnh giác, kinh Không Thể Rơi Xuống, Tăng Chi Bộ 1, trang 623.

“Và này các Tỳ-kheo, như thế nào là Tỳ-kheo chú tâm cảnh giác?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo ban ngày đi kinh hành, hay trong lúc ngồi, tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm, canh một, vị ấy đi kinh hành hay trong lúc ngồi tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại. Ban đêm, canh giữa, vị ấy nằm dáng nằm con sư tử bên hông tay phải, một chân đặt trên chân kia, chánh niệm tỉnh giác, tâm nghĩ đến thức dậy lại. Ban đêm, canh cuối, vị ấy thức dậy đi kinh hành hay trong lúc ngồi, tẩy sạch tâm tư khỏi các pháp chướng ngại.

Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo chú tâm cảnh giác.”

(Chương IV - Bốn Pháp, IV. Phẩm Bánh Xe ,(VII) (37) Không Thể Rơi Xuống)

Chúng con kính lễ Đức Phật Bổn-sư Thích-ca Mâu-ni.

Trong kinh Pháp Cú, Đức Phật đã dạy:

Vui thay, Phật ra đời!

Vui thay, Pháp được giảng!

Vui thay, Tăng hòa hợp!

Hòa hợp tu, vui thay

(Kinh pháp cú - Phẩm Phật Đà)

Chúng con kính lễ Đức Phật Bổn-sư Thích-ca Mâu-ni.

“Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo rõ biết khi thọ sanh khởi, Tỳ-kheo rõ biết khi thọ an trú, Tỳ-kheo rõ biết khi thọ diệt tận, rõ biết khi tưởng sanh khởi, rõ biết khi tưởng an trú, rõ biết khi khi tưởng diệt tận, rõ biết khi tầm sanh khởi, rõ biết khi tầm an trú, rõ biết khi tầm diệt tận. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo sống chánh niệm tỉnh giác.”

Chúng con kính lễ Đức Phật Bổn-sư Thích-ca Mâu-ni.

Niệm Con Đường Độc Nhất, Tứ Niệm Xứ, Trung Bộ kinh tập 1, bài 10.

“Này các Tỳ-kheo, đây là con đường độc nhất đưa đến thanh tịnh cho chúng sanh, vượt khỏi sầu não, diệt trừ khổ ưu, thành tựu chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Ðó là Bốn Niệm xứ.

Thế nào là bốn? Này các Tỳ-kheo, ở đây Tỳ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán thọ trên các thọ, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán tâm trên tâm, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời; sống quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm để chế ngự tham ưu ở đời.”

Chúng con kính lễ Đức Phật Bổn-sư Thích-ca Mâu-ni.

Công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

II. Thiền quán về núi yên tu

Chánh niệm trước mặt, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm nhận không gian nơi này, cảm nhận trời đất nơi này. Thở vào tâm lắng dịu, thở ra tâm dễ chịu. Mọi người hãy mở mắt ra, đừng nhắm mắt. An tịnh, bình an, thật là bình an! Thật là tịnh lạc! Thật là thiêng liêng trong giây phút này! Giây phút vi diệu, thoát tục, xuất trần. Mầu nhiệm làm sao! Tuyệt vời làm sao trong khoảnh khắc tịnh lạc này! Không gian thênh thang, trời đất bao la. Mình ta ngồi an tịnh, vững trú. Ta được ngồi yên trên đỉnh non thiêng. Ta được ngồi bình an bất động. Ta được cảm nhận vùng trời đất, đại ngàn bao la, mênh mông và vô tận này. Ta đã lăng xăng bao năm tháng. Ta đã rộn ràng và tất bật suốt thời gian vừa qua, giờ này ta được ngồi yên giữa đất trời. Ta đã thật sự dừng lại mọi sự thúc giục, dừng lại mọi sự khao khát, dừng lại mọi sự đuổi tìm, dừng lại bình an.

Về núi yên tu thật tuyệt vời!

Sớm chiều nghe chim mãi hót ca,

Một mình ngồi thiền trong nắng sớm,

An vui thanh bình không thể tả!

Về núi yên tu đẹp làm sao!

Bình minh, mây, sương trắng một màu,

Ngạt ngào hoa trà, hương tỏa ngát,

Nội tâm an tịnh thật thanh cao.

Về núi yên tu trí tuệ đầy,

Một mình yên lặng ngồi nơi đây,

Quán sâu xét kỹ căn, trần, thức,

Giữ tâm bất động chẳng lung lay.

Về núi yên tu sức oai hùng,

Tất cả buông xuống nhẹ vô cùng.

Độc cư thiền tịnh nhìn thế giới,

Cuộc đời sầu khổ bức tranh chung.

Về núi yên tu thật thanh cao!

Hồng trần thế tục khó nhuộm màu,

Ngày đêm chuyên chú luôn phản tỉnh,

Dục, tham, bản ngã khó lọt vào.

Về núi yên tu hưởng vui nhàn,

Tâm an, thân tịnh, hướng ngoại yên

Tư tu chuyên nhất không tạp loạn,

Thánh tuệ bừng sáng khắp đại ngàn.

Về núi chuyên tu thật là vui!

Tinh cần, chuyên chú chẳng hề lui.

Quyết chí, quyết tâm, quyết tiến bộ.

Diệt tận lậu hoặc chẳng dễ vui.

Về núi yên tu thật cao chiêu!

Nhìn ra bản ngã suốt sớm chiều.

Dập đầu, quỳ lạy chân thiên hạ,

Nhiếp phục cái ta hết tự kiêu.

Về núi yên tu thật cao minh,

Ngày đêm nội soi thân tâm mình.

Nhìn ra rác bẩn toàn cấu nhiễm,

Diệt trừ dục ái, dứt vô minh.

Về núi yên tu tối thượng thừa,

Thực hành tâm nguyện có từ xưa.

Diệt trừ tham, sân, si, bản ngã,

Tỉnh giác không để bị chúng lừa.

Về núi yên tu thật tuyệt vời!

Tấm lòng trải rộng khắp trùng khơi.

Bao đời dục, ái làm ta khổ,

Hôm nay thoát ra thật thảnh thơi.

Về núi yên tu tối thượng tôn,

Thế Tôn từng dạy thiền tránh ồn.

Gai nhọn an định là thanh, sắc,

Sống hạnh viễn ly sạch tâm hồn.

Về núi yên tu tối thượng thừa,

Bao nhiêu dục, ái quyết phải chừa.

Thực hành ly dục, tâm hỷ lạc,

An nhiên tự tại đã có thừa.

Về núi yên tu tối thượng tôn,

Phiền não quá khứ đã được chôn.

Thiện pháp lạc trú, lòng hoan hỷ,

Trong dòng sanh tử bước lên cồn.

Về núi yên tu thật kì tài,

Một nhảy vượt ra khỏi trần ai,

Tiêu diêu tự tại siêu vật ngoại,

Hồng trần tục lụy xin bái bai.

Về núi yên tu tối thượng tuệ,

Ngày đêm tinh tấn trừ sân nhuế.

Thân tâm mát lạnh cảnh núi rừng,

Chuyên chú tăng thượng Giới - Định - Tuệ.

Về núi chuyên tu tối thượng trí,

Tận cùng chân lý vượt thế gian.

Lòng yên, cảnh vắng, tâm vô lượng.

Tâm từ trải rộng khắp trần hoàn.

Về núi yên tu trí tuệ vua,

Xuất gia đâu phải là chuyện đùa.

Nếu không thành tựu đời

Nhục nhã đời tu ở trong chùa.

Về núi yên tu thật kỳ tài,

Ba mươi năm rồi chí chẳng phai.

Nhiệt tâm nóng bỏng hành Thánh đạo,

Nhiệt tâm nóng bỏng con Đường đạo.

Về núi yên tu thật là hay!

Nhìn ra thế sự như khói bay.

Mịt mù trắng xóa bao trùm hết,

Mặt trời vừa lên biến tan ngay.

Về núi yên tu quá tuyệt vời!

Thoát ra mọi cảnh khổ tơi bời.

Xuất gia mục đích là gì nhỉ?

Chưa thành Chánh quả chớ để lơi!

Về núi yên tu quá là siêu!

Thoát ra si ái khổ trăm chiều.

Ly dục, ly tham, ly bản ngã,

Cấu nhiễm dần dà nhất định tiêu.

Về núi yên tu tối thượng chiêu,

Ngày đêm trí tuệ hằng soi chiếu,

Phơi bày che khuất ngàn năm kín,

Diệt hết gian tà, ma quỷ yêu.

Về núi yên tu tối thượng kế,

Cú nhảy tuyệt luân đạt siêu thế.

Hồng trần tục lụy bụi đời bay.

Quyết tâm, quyết chí tròn nguyện thệ.

Về núi yên tu quá phi thường,

Thoát ra muôn cảnh đầy tai ương.

An bình, tịnh lạc chuyên nội quán,

Thấu rõ toàn cầu chỉ vô thường.

Về núi yên tu thật tinh vi,

Thăng thượng giới, định cần thực thi.

Khua môi múa mỏ, khôn lợi ích,

Thể nghiệm thực chứng tâm liễu tri.

Về núi yên tu bất tư nghị

Nhìn ra muôn pháp toàn hữu vi,

Nhất tâm quyết tiến Vô vi đạo

Một lần quyết tử chắc định kỳ.

Về núi yên tu là đại hỷ,

Quyết đón một lần hóa thần kỳ

Vui cha, vui mẹ, vui thầy Tổ

Vui cả muôn loài chuyện ly kỳ.

Về núi yên tu thật chẳng sai.

Nhọc nhằn lên xuống khổ lắm thay!

Tới lui qua lại toàn vô ích,

Tiền giả làm sao có thể xài?

Về núi yên tu thật thông minh,

Suốt đời phiêu bồng kiếp lưu linh.

Cầu đạo, bôn ba toàn thế giới,

Giờ đây tỏa ngộ chỉ tự mình.

Về núi yên tu thật cao minh,

Đi tìm cao Tăng khắp hành tinh

Tới nay tỏa ngộ trí năm Uẩn,

Mới hay thánh Tăng chính tự mình.

Về núi thật tuyệt chiêu!

Thoát ra khỏi cảnh lửa đốt thiêu.

Lửa tham, lửa dục, lửa sân hận,

Toàn cầu hỏa hoạn cảnh tiêu điều.



Về núi yên tu một trận liều,

Thoát ra luyến ái quyết chẳng chiều

Mạnh mẽ oai hùng cú vượt thoát,

Mạnh mẽ oai hùng vượt ngoạn mục,

Về núi yên tu thật là thương,

Thương người, thương vật, thương chiến trường

Thương lòng đố kỵ, thương ganh tỵ,

Thương khắp trần gian cảnh vô thường.

Về núi yên tu chẳng rộn ràng,

Trong ngoài yên tịnh tâm bình an,

Đất trời tĩnh lặng như bất động,

Trải lòng từ mẫn lệ, chứa chan.

Về núi yên tu giữa đại ngàn,

Tỉnh ra giấc mộng cõi trần gian.

Si si, dại dại trong ái luyến,

Sống sai, chết mộng khổ vô vàn

Về núi yên tu lòng ngậm ngùi

Xót thương tham, dục kẻ hủi cùi.

Chạy tìm hố than hừng nóng bức,

Hơ để tìm vui bao giờ nguôi.

Về núi yên tu lòng xót thương,

Nhìn toàn thế giới cảnh chiến trường.

Tranh giành, tranh đấu, tranh chiến mãi,

Gây ra thảm họa đầy tai ương.

III. Nội quán

Chúng ta tìm hiểu tiếp về xuất gia phản tỉnh. Hôm trước chúng ta đã tìm hiểu đến điều tâm niệm thứ 3 của người xuất gia là Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: "Nay cử chỉ uy nghi của ta cần phải thay đổi!". Hôm nay mình tìm hiểu tiếp Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: "Không biết tự ngã có chỉ trích ta về giới hạnh không?" (Tăng Chi Bộ kinh, Chương X. Mười Pháp, V. Phẩm Mắng Nhiếc, (VIII) (48) Các Pháp)

Tự ngã là chính tự thân mình, mình thấy 2 điều này rất đặc biệt. Sau khi Đức Phật nói về tự mình thì "Không biết các đồng Phạm hạnh có trí, sau khi tìm hiểu, có chỉ trích ta về giới hạnh không?". Trong kinh tạng Nikāya, Đức Phật dạy lúc nào cũng phải quay về nhìn chính mình trước rồi mới nhìn ra ngoài. Khi mình ngồi một mình đối diện với thân tâm, xem xét lại thì mình hiểu mình hơn ai hết. Khi ngồi một mình, nhất là khi nhập thất, hoặc khi ngồi trên bồ đoàn thì những lời mình đã nói, những hành động mình đã làm sẽ biểu hiện trở lại bên trong. Người đời gọi là tòa án lương tâm, người tu gọi là đối diện nội tâm, trực diện với bên trong.

Chính những lúc này, nếu mình có những sai phạm, có những cái ác, bất thiện pháp thì lúc đó tự động mình sẽ chỉ trích mình, như trong bài kinh Pháp Cú, Đức Phật có nói tự mình chỉ trích mình là chính chỗ này. Nếu ngồi lại một mình, hay vào tịnh thất độc cư, hoặc lên núi cao rừng vắng để quán chiếu, kiểm soát lại những hạnh nghiệp mình đã làm, và nếu giới đức, giới hạnh, giới luật được giữ gìn trong sạch thì lúc đó mình sẽ hỷ lạc. Đây là trình tự trong sự vận hành của tâm thức được Đức Phật dạy trong rất nhiều bài kinh, mình sẽ được vui rồi tâm được yên, nhẹ nhàng, khinh an, mình sẽ được an lạc, từ an lạc sẽ đi vào các trạng thái của thiền định. Còn nếu khi ngồi lại, mình thấy có rất nhiều sai quấy, nhất là phạm vào giới lớn thì lúc đó nội tâm mình sẽ ray rứt, hối hận, hối tiếc.

Sự ray rứt, hối hận, hối tiếc này gọi là trạo hối, là một trong 5 sự che đậy nội tâm, gọi là năm triền cái. Mình thấy mình phạm vào giới đó, mình có những hành vi, cử chỉ thô bỉ, thô tục, mình có những cái xấu xa, cấu nhiễm thì lúc đó trong tâm mình sẽ sanh khởi lên sự hối lỗi. Chính cái hối tiếc, hối lỗi này làm cho tâm không được yên, bất an, không thể đi vào các tầng thiền định.

Cũng vì vậy mà người ta sợ ngồi thiền, sợ ở một mình. Vì người ta sợ đối diện với nội tâm. Thành ra điều tâm niệm Đức Phật dạy người xuất gia là phải luôn quán sát, tìm xem chính mình có chỉ trích chính mình về giới hạnh hay không. Đây là điều hết sức quan trọng, chính điều này mới giúp cho tăng thượng giới, giúp tăng trưởng sự trong sạch. Những ngày ngồi bố tát, những ngày tụng giới mỗi nữa tháng được gọi là ngày trưởng tịnh, tức là những ngày trưởng dưỡng sự thanh tịnh, nuôi lớn sự trong sạch.

Nhưng nếu mình chỉ vào ngồi cho có mặt, đọc cho hết trang số lượng của giới mà mình không thấy tàm quý, không thấy xấu hổ, sai quấy, không thấy mình bị tội lỗi, nhục nhã khi mình đã sai phạm thì cái này không gọi là trưởng tịnh. Nói rộng ra khi mình nói lời làm cho người khác đau buồn mà lời nói đó không phải là chánh ngữ, từ ái, không phải là sự hòa hợp thì sau khi trở về xét nội tâm thì tự mình chỉ trích "Tại sao mình lại nói như vậy?", "Tại sao mình lại có những lời như vậy?", "Tại sao mình lại phát ngôn như vậy?", "Lời nói đó là lời nói chia rẽ, làm cho phân ly tình nghĩa, làm đổ nát sự đoàn kết hòa hợp trong chùa, trong Tăng đoàn, trong huynh đệ", thì lúc đó mình phải có sự chỉ trích chính mình. Từ đâu có sự chỉ trích đó? Từ chỗ luôn luôn quay về quán sát nội tâm. Nếu mình không quay về quán sát, xem xét nội tâm, mình bỏ qua rồi lo hướng ngoại, để những cái ác, bất thiện pháp qua mặt, đây gọi là lậu hoặc, mình đã bỏ sót và quên lãng.

Sau khi mình có hành động mà mình thấy hành động đó không phù hợp với người tu, đó là hành động của kẻ vô văn phàm phu, không phải là hành động của người đang đi trên con đường giác ngộ, đang đi trên thánh đạo, đó là hành động của sân si, của bản ngã, hành động đó không xuất phát từ tình thương, từ sự cảm thông, hành động đó của ta đây, tỏ ra là người lớn, mình có những hành động không tôn trọng, không hài hòa, không cung kính các huynh đệ cùng tu thì mình phải quay trở lại nội tâm chỉ trích mạnh mẽ và có sự sám hối. Mình phải xin lỗi và phải quỳ lạy sám hối.

Chính những cái quay lại chỉ trích chính mình sẽ làm cho mình tăng trưởng sự trong sạch, tăng trưởng sự hiền thiện, tăng trưởng thiện pháp, tăng trưởng sự thánh hiện trên đạo lộ bậc thánh. Điều này tuyệt đối quan trọng với người tu, dù người đó là xuất gia hay cư sĩ, dù cho người không biết tu ở ngoài đời cũng phải có sự quay lại nội tâm chỉ trích chính mình vì có những điều sai quấy. Mình có ray rứt, bức rứt, khó chịu, mình có tòa án lương tâm, lương tri, có thẩm pháp, có phán quan, phán xét bên trong mình thì đó gọi là người thầy bên trong, là bậc đạo sư của nội tâm. Còn mình nói sai, làm trật, biết là có lỗi, biết là sai nhưng sau đó mình phớt lờ, không thèm xin lỗi, không biết ý thức lỗi lầm để chấn chỉnh, sửa đổi thì Đức Phật gọi là vô tàm, vô quý, không biết hổ thẹn, sợ hãi đối với ác và bất thiện pháp. Người không biết sợ hãi với tội lỗi, không biết xấu hổ với những cái xấu ác thì người này sẽ đau khổ lâu dài trong hiện tại và tương lai.

Chính vì vậy chỗ quan trọng là người xuất gia phải luôn quán sát, không biết chính mình có chỉ trích mình về giới hạnh hay không? Nếu mình thấy phạm vào các giới thì phải sám hối, phải lo sợ, phải tàm quý để từ từ chấn chỉnh, điều chỉnh, tu chỉnh để đi đến mức hoàn chỉnh. Mình có được điều này thì mình đã có một trong những yếu tố để đi đến sự thành tựu đời sống Phạm hạnh tối thượng của khất sĩ, tu sĩ. Còn nếu không có điều này thì mình không có cơ hội để mình thăng tiến đối với các thiện pháp, đối với thánh đạo. Đây là điều mà hiện tại bây giờ mình học rất ít ngay cả trong các trường Phật học, trong khi đây là một trong những pháp hành hết sức quan trọng mà Đức Phật đã dạy.

Tiếp theo từ chỗ soi rọi chính mình rồi mới nhìn ra ngoài, chứ không phải theo thông thường là mình cứ sợ người ta chỉ trích, sợ người ta chê nhưng mình không sợ chính mình chỉ trích. Đây là tu theo kiểu hướng ngoại, cứ nhìn xem người ta nhìn mình ra sao, có quý mình không, có kính mình không mà mình không thấy chính mình có tự trọng, có tôn trọng chính mình hay không. Đây gọi là tự trọng, tự tôn. Tự trọng, tự tôn không phải là bản ngã mà là tự quý trọng đời sống tu tập trong sạch, thanh tịnh và sự cao thượng của lý tưởng xuất trần, xuất thế, xuất sĩ, xuất gia, thoát tục của người tu.

Điều tâm niệm tiếp theo là vị xuất gia cần luôn luôn quán sát: "Không biết các đồng Phạm hạnh có trí, sau khi tìm hiểu, có chỉ trích ta về giới hạnh không?". Những lời Đức Phật nói là khuôn vàng thước ngọc, thánh ngôn lượng, không thiếu cũng không dư. Những người đồng Phạm hạnh có trí chứ không phải những người cùng tu mà không có trí, si mê, chấp thủ, vô minh. Những người này không chỉ trích được. Kẻ phàm phu vô minh, si ám mà họ chỉ trích thì chưa chắc cái đó là đúng vì họ không có chánh tri kiến, không thấy đúng nên họ thấy lẫn lộn, lấy sai làm đúng, thấy đen làm trắng. Còn ở đây Đức Phật nói Không biết các đồng Phạm hạnh có trí, sau khi tìm hiểu, có chỉ trích ta về giới hạnh không?.

Đồng Phạm hạnh là những người cùng chung xuất gia với mình, Phạm hạnh là đời sống thanh tịnh. Những người này là những người có trí tuệ. Sau khi tìm hiểu, nghe và tiếp xúc thì những vị đó có chỉ trích mình hay không. Nếu các vị đó chỉ trích, mình được thầy quản chúng, được các sư huynh chỉ lỗi lầm của mình thì mình phải dập đầu lạy tạ bằng tất cả sự cung kính tri ơn, biết ơn. Trong kinh Pháp cú đã nói khi gặp người hiền trí chỉ lỗi và khiển trách cũng giống như chỉ chỗ chôn vàng, phải thân cận những bậc hiền trí như vậy. Còn ở đây chỉ lỗi rồi mình khó chịu, mình sân hận, buồn phiền, có khi hờn giận rồi ra đi.

Đó là thái độ của người không chấp nhận học pháp, không tăng thượng trong thiện pháp, không có cơ hội để bước lên thánh đạo, người này chỉ bảo vệ cái tự ngã của mình mà không nhìn nhận khi nghe lời chỉ dạy, hướng dẫn của những bậc đồng Phạm hạnh chứ chưa nói đến bậc thầy hay bậc Sư trưởng. Sau khi nghe chỉ dạy mình phải quay trở lại bình tĩnh lắng nghe, tiếp nhận sau đó mình quán xét xem có đúng vậy không. Nếu đúng vậy thì trước hết dập đầu lạy, "tạ ơn sư phụ, tạ ơn thầy, sư huynh đã chỉ dạy, sửa sai, tác thành cho con". Đằng này nghe rồi trơ trơ, có khi buồn thậm chí giận rồi xuống núi, vậy thì còn học gì nữa?

Chỉ thích nghe lời ngon ngọt để vuốt ve bản ngã, để o bế cái ta đây, để nuôi lớn thêm cái vô minh và chấp thủ, cho nên sự tu học không được thành tựu. Đây là tình trạng chung hiện nay của người tu trẻ, có rất nhiều trường hợp như vậy, thậm chí đến sư phụ cũng không dám nói, vì nói rồi là giận bỏ đi. Các thầy mà tu nhiều thì đại chúng cũng bỏ đi, "tu vừa vừa thôi chứ tu gắt quá là thôi, không ở". Thầy trụ trì chùa Hoằng Pháp cũng gặp tình trạng tương tự, con thấy rất đồng cảm nhưng con nghẹn ngào và xót xa. Riêng con thì đi cứ đi, còn một mình cũng không sao, không cần số lượng mà cần chất lượng, chỉ vài người thôi nhưng người nào cũng bốn đôi tám chúng, từ hướng Dự lưu đến Nhập lưu thánh quả. Một người như vậy thôi có thể làm rực sáng chánh pháp khắp thiên hạ, khắp địa cầu này. Cho nên loài có sừng tuy nhiều nhưng chỉ cần một con kì lân là đủ, đây là một trong tứ linh: Long Lân Quy Phụng. Thành ra mình phải biết sự tu là như vậy, phải ý thức mình cạo đầu, bỏ cha bỏ mẹ, bỏ quê hương, bỏ tình thương, có người bỏ người yêu, bỏ vợ bỏ chồng, bỏ con để đi vào cầu đạo nhưng cầu đạo gì?

Chứ không phải đi vào cầu sự dễ dãi, dễ vui, dễ ở, dễ sống. Cái đó là ẩn dương nương Phật chứ không phải cầu thánh pháp để đi đến sự chứng ngộ, diệt tận đau khổ để đem lại bình an, hạnh phúc cho chúng sanh. Con tìm ra thánh pháp từ bậc thiện tri thức một cách gian khổ và khi con hướng dẫn pháp tu thâm sâu này thì từng người một rơi rớt xuống núi. Mọi người chỉ thích tu cái gì dễ chứ cái này tu sâu, khó quá, tu cái gì cạn thôi. Thành ra đây là sự xót xa. Mình sẽ thấy xấu hổ, thấy lo lắng khi các bậc đồng tu, những huynh đệ, những bậc Sư trưởng, những bậc có đức độ, có trí tuệ, có thiền định, có giới hạnh chỉ trích mình thì mình thấy điều đó là sự đáng xấu hổ trong cuộc đời tu. Phải cố gắng phấn đấu và nỗ lực.

Sống như lửa cháy đầu, cầu chứng cảnh bất động, đây là lời Đức Phật nói, con nghe mà thấy rúng động. Sống như lửa cháy trên đầu, cầu chứng cảnh bất động. Phải luôn quán chiếu rằng cái vô thường lúc nào cũng có thể đến, nCov ập tới rồi, tích tắc vài ngày là chết. Không phải chết một trăm, một ngàn mà chết mấy chục ngàn, mình nhìn vậy thôi chứ thật sự mình không biết được số lượng, sự nguy hiểm này lan ra hết toàn cầu. Sống được như vầy thì tuyệt vời lắm! Chết cũng không sợ. Chưa diệt tận các lậu hoặc mới sợ, chưa hết dục tham ái mới sợ, chưa hết sân si, sân hận mới sợ, chưa hết vô minh, bản ngã mới sợ. Cái chết không sợ mà những thứ tham sân si, bản ngã mới đáng sợ. Phải diệt cho xong thì chết mới mỉm cười, lên tịnh cư Thiên ở rồi nhập Niết-bàn.

Cho nên phải quay lại nội quán, soi rọi, xem xét, tự mình chỉ trích mình, tự mình đi đến mình. Tuyệt diệu lắm! Đây là bí quyết của thánh pháp, người nào nắm được cái này sẽ đi đến thánh quả trong một đời. Chắc chắn là như vậy.

Vị xuất gia cần phải luôn luôn quán sát: "Mọi sự vật khả ái, khả ý của ta bị đổi khác, bị biến hoại". Đây là trái tim, là trí óc, là hơi thở, là gia tài thật sự của người xuất gia. Người xuất gia phải quán sát rằng mọi thứ đáng yêu, đáng thích, vừa lòng của mình đều sẽ bị đổi khác, sẽ bị biến hoại. Tất cả những thứ mình đang thích thú đều sẽ biến đổi và hoại diệt. Phải quán sát được như vậy. Mình phải nhìn thấy những thứ đó là vô thường, tan biến và hoại diệt.

Chúng ta đừng tưởng cái sân chùa này vững chắc, bất cứ lúc nào nó cũng có thể sụp xuống, đổ vỡ và cái thân này cũng đổ vỡ theo. Hằng ngày có bao nhiêu tin tức tai nạn giao thông, mấy chục người chết một ngày. Những người họ ra khỏi nhà không nghĩ rằng đây là ngày cuối cùng của cuộc đời họ. Những người bị tai nạn máy bay thì họ đâu có nghĩ rằng hôm nay là kiếp sống cuối cùng của họ, nếu biết thì không bao giờ họ lên chiếc máy bay đó. Những người bị tai nạn đâm chém, sát hại họ không biết rằng trưa hôm nay là ngày cúng giỗ của họ ở năm sau. Họ cứ nghĩ rằng đời sống này sẽ như vậy, những vật yêu thích đẹp đẽ, yêu thích của mình sẽ như vậy, ngày mai cũng vậy, tháng sau cũng vậy, năm sau cũng vậy. Bất thình lình một ngày kia đổ nát, nước mắt của họ ràng rụa đầy mặt, bứt tóc đấm ngực đau khổ, họ tiếc nuối hối hận, họ sầu bi ưu não.

Vì họ không quán chiếu như người xuất gia mọi vật đáng yêu, vừa ý của mình sẽ bị đổi khác, bị hoại diệt. Đây là điều tâm niệm của người xuất gia, nhìn cái gì cũng thấy nó sẽ đổi khác, nó sẽ hoại diệt. Bất cứ lúc nào thân thể này cũng ngã đổ xuống như bức tường như thợ xây dựng bị tường ngã đổ đè chết 4-5 mạng người.

Cho nên mình phải luôn quán chiếu cái chân lý này, cái sự thật này để xả ly lòng tham, bỏ xuống lòng ái, mở ra lòng dục, lòng ràng buộc đối với những thứ đáng yêu, hấp dẫn liên hệ đến dục trên thế giới này. Quán chiếu được như vậy thì lòng mình sẽ bình an một cách kì diệu trước tất cả sự biến động, bại hoại của mọi sự vật trên thế gian này. Đó là điều tâm niệm của người xuất gia, đó là hơi thở, là sinh mạng, là trí tuệ của người xuất gia. Bất cứ khi nào nhìn cái gì đều thấy được tính chất bại hoại, biến đổi, tan rã và đổ vỡ của các sắc uẩn này.

Nếu như bất thình lình biến đổi thì mình chứng ngộ hoặc tâm mình bất động giải thoát, không có sầu bi khổ ưu não, tại vì tất cả những cái này mình đã được trang bị hằng ngày, hằng giờ. Còn bằng không mình sống trong cái vô minh, sống trong si ám, sống trong sự tưởng rằng nó bền chắc, đẹp hoài. Một khi nó biến đổi thì nước mắt ràng rụa, sầu bi khổ ưu não sẽ tiếp diễn không ngừng nghỉ. Hãy nhìn ngôi chùa mà mình đã dựng lên, ngôi chùa này sẽ đổ nát. Hãy nhìn chiếc xe mà mình chạy, chiếc xe này sẽ tan hoại.

Hãy nhìn phòng ốc mình đang ở, chỗ này rồi sẽ đổi thay. Hãy nhìn tấm thân này, mắt mũi, tay chân rồi sẽ rã rời, phân hủy và bộ xương sẽ lòi ra trắng như vỏ ốc. Ngồi đây là hai mươi mấy bộ xương đang di động, tới một lúc nào đó, những bộ xương này sẽ ngã xuống và nằm bất động. Mình phải quán chiếu một cách sâu sắc về cốt tưởng.

Này các Tỳ-kheo, tu tập cốt tưởng sẽ đưa đến an lạc, lợi ích lâu dài, chánh trí, chứng ngộ Niết-bàn. Hãy tu tập bạch cốt tưởng.

Nếu không tu tập bạch cốt tưởng sẽ bị bạch cốt tinh hành hạ mình, đay nghiến, giày xéo, trói cột mình trong cảnh ngục tù. Nó hiện ra đủ thứ hình hài rồi dẫn dắt làm mình sầu bi khổ ưu não dài dài, không có ngày thoát ra. Hãy nhìn thấy sự biến đổi vô thường của thế giới, sự biến đổi vô thường của hành tinh này, sự biến đổi vô thường của đời sống này, của kiếp sống này. Hãy nhả ra cái tâm bám chấp, tháo ra cái tâm luyến ái, mở ra cái tâm ràng buộc để được thảnh thơi và bình an.

Lúc đại chúng vừa lên núi và bây giờ thì cảm thọ có thay đổi không? Xin đại chúng trải tâm từ đến khắp tất cả những người đang thống khổ trong dịch bệnh, đang nằm trong bệnh viện, đang thở những hơi thở khó khăn, đang đưa những thi thể vào lò hỏa táng. Gần 80.000 người đang lo lắng, hoảng loạn và sợ hãi. Nguyện tình thương của mình sẽ lan tỏa ra khắp địa cầu. Nguyện dịch bệnh sẽ chấm dứt để thế giới bớt khổ, được bình an. Nguyện chúng sanh nhìn ra được sự thật của chánh kiến mà Đức Thế Tôn và các bậc thánh Tăng đã truyền thụ. Nguyện cho chánh Pháp này được rực sáng, được lan tỏa khắp mọi nẻo đường để chúng sanh, hữu tình thấy được đạo lộ diệt khổ và bình an.

./.