Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

CÔNG NĂNG THỰC HÀNH BA PHÁP 1

2026-03-03 00:52:31
CÔNG NĂNG THỰC HÀNH BA PHÁP

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Thực hành ba pháp PAGEREF _Toc70083208 \h 1

II.Công năng của đặt niệm trước mặt PAGEREF _Toc70083209 \h 1

III.Công năng của cảm giác toàn thân PAGEREF _Toc70083210 \h 3

IV.Giải đáp câu hỏi PAGEREF _Toc70083211 \h 11

Thực hành ba pháp

Mắt của chúng ta nhìn về phía trước, đừng nhắm mắt, mở rộng tầm nhìn hết mức ra hai bên, rõ biết ở trước mặt.

Cảm nhận hơi thở. Cảm nhận ba chỗ chuyển động của hơi thở: lồng ngực, chóp mũi và bụng. Từ ba chỗ động chuyển này, lan tỏa cảm nhận ra khắp cơ thể. Cảm nhận đỉnh đầu, mặt, cổ; cảm nhận vai, cánh tay, bàn tay, lòng bàn ta; cảm nhận mình, mông, chân, ống chân, bàn chân, lòng bàn chân; cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể. Đây gọi là cảm giác toàn thân. Bên trong tâm tỉnh giác, rõ biết ở trước mặt. Đừng nhắm mắt, mở mắt ra. Cảm nhận cảm giác của toàn bộ cơ thể từ đỉnh đầu cho tới gót chân.

Rõ biết, suy nghĩ và hình bóng trong tâm, đang có những suy nghĩ gì, đang có hình bóng gì trong tâm, rõ biết. Đây gọi là nội tâm tỉnh giác.

Đại chúng có cảm nhận được cảm giác của toàn bộ cơ thể không? Có ai thực tập cảm giác toàn thân không được không? Mình có cảm nhận được cảm giác của toàn bộ cơ thể từ đỉnh đầu tới gót chân không? Vừa rồi là chúng ta thực hành ba pháp.

Công năng của đặt niệm trước mặt

Chúng ta phải nhớ là tuyệt đối không nhắm mắt khi ngồi thiền. Điều này rất quan trọng. Chánh niệm trước mặt, hay rõ biết trước mặt cũng đồng một nghĩa, hay đặt niệm trước mặt cũng như nhau, đây là từ trong kinh tạng Nikāya. Xin thưa với đại chúng, Minh Thành không biết còn nhân duyên với chúng ta bao lâu nữa, cho nên Minh Thành sẽ chia sẻ những pháp hành quan trọng, đại chúng cố gắng nắm bắt thật kỹ những pháp hành. Đây là mình thực hành theo Mười sáu hơi thở của kinh tạng Nikāya, nhưng mình tóm gọn lại trong ba pháp.

Phần hết sức quan trọng mà trước nay chúng ta không để tâm chú ý là phần rõ biết trước mặt. Chúng ta đã quen, cứ ngồi thiền là nhắm mắt lại, chỗ đó là chỗ chết. Tuy là Minh Thành kêu mọi người mở mắt, nhưng nhìn xuống cũng còn nhiều người nhắm mắt, tại vì mình đã quen. Khi nhắm mắt, tâm mình lúc đó sẽ rơi vào trạng thái hoặc là hôn trầm, hoặc là trạng thái của tưởng, hoặc là si. Nếu nhắm mắt, mình sẽ rơi và ba trạng thái đó. Rơi vào ba trạng thái này rồi thì giờ ngồi thiền của mình coi như không có gì hết.

Tại sao vậy? Vì, khi nhắm mắt, mình thấy hình ở phía trước là màu đen, nó không rõ ràng, lờ mờ; và rất dễ, nếu mình mệt cả ngày, sáng đi làm việc, chiều đi học, tối ăn một bụng, xong lên ngồi thiền, mình nhắm mắt lại, là xong. Một là rơi vào si, hai là đi vô hôn trầm. Ngồi đó gật gù, hoặc ngủ gục luôn, nhẹ là đi vô hôn trầm. Hôn là tối tăm, trầm là chìm, chìm vào trạng thái tăm tối, hôn mê, si mê. Trạng thái thứ ba, mình tỉnh nhưng lúc đó hiện ra đủ thứ hình này hình kia. Đó là do mình nhắm mắt lại, nó hiện lên cảnh này, cảnh kia, rồi mình vào trong cảnh đó, rơi vào trạng thái của tưởng. Lúc đó, mình không rõ biết thực tại. Thực tại là sự thật ngay trong giây phút hiện tại, mình không rõ biết; trước mắt có gì, mình không biết; đang ngồi ở đâu, mình không biết. Ngồi trong trạng thái si, mê, hôn trầm, tưởng..., như vậy thì làm sao mình thiền được? Cho nên, phải rõ biết ở trước mặt, tức là tầm nhìn của mình nhìn xuống về phía trước khoảng một mét, phải mở hết mức tầm nhìn ra hai bên tận cùng có thể mở được, cái nhìn của mình là cái nhìn rộng lớn, sáng tỏ, rõ biết.

Đại chúng thực tập ngay bây giờ đi. Mắt nhìn xuống, đừng chú trọng vào một điểm, chú trọng vào một điểm trên bàn gỗ, mấy cái vân.., một lát sẽ hiện lên con này con kia, sẽ tưởng nữa. Chỗ này hơi khó, nhưng mình làm được là rất tuyệt vời. Tức là mình không chú tâm vào một điểm, như vậy một lát sẽ mỏi mắt, rồi tưởng lung tung; thảm, gạch, gỗ.., tưởng ra con này con kia, mặt quỷ, có không? Cho nên, không tập trung vào một chỗ, không trú một điểm, mà là cái nhìn rộng mở, bao quát, sáng tỏ tất cả ở tầm nhìn của mình. Làm được điều này thôi thì đã trú trong thực tại rồi. Bây giờ, con nhìn xuống vậy đó, con nhìn phổ quát hết tất cả không gian của lớp học này nhưng không trú vào một điểm nào, không nhìn kỹ một người nào, nhưng cái nhìn rõ, tỏ ra, tầm nhìn rộng hết mức không gian ở phía trước, không trú vào một điểm, một người, một chỗ. Đó gọi là chánh niệm trước mặt, đặt niệm trước mặt, rõ biết trước mặt. Điều này hết sức quan trọng, không những khi ngồi thiền, mà còn khi mình bước đi ra ngoài, hoặc mình ngồi ở đâu đó, mình cũng trú ngay trước mặt, rõ biết ở trước mặt.

Đại chúng thực tập được không, nếu có gì thắc mắc phải hỏi liền, nếu đi qua bước khác rồi là không trở lại. Sau này, tới giờ vào học là mình thực hành ba pháp, không cần nhắc nữa. Tức là, mình rõ biết trước mặt, sau này mình tu cái tâm rộng lớn, xuyên qua tường vách, cái thấy, cái nhãn thức của mình mở rộng và quán tới từ vô lượng tâm là nó bung ra hết tất cả mười phương, trên dưới, trong ngoài, cùng khắp, hư không giới thì sau này mình mới tu tập tâm vô lượng được. Người không tu tâm nhỏ hẹp lắm, nó ở trong những suy tưởng, những cảm giác không đi ra được. Như vậy, chúng ta đã tìm hiểu chánh niệm trước mặt. Còn ngồi nhắm mắt là mình hoàn toàn sống trong si mê, hôn mê, sống trong tưởng, mình không biết được mình đang ngồi ở đâu, không biết trước mặt, xung quanh mình có cái gì.

Công năng của cảm giác toàn thân

Chúng ta càng ngày đi vào pháp càng sâu sắc, cái này rất quan trọng, đó là pháp hành. Cảm nhận hơi thở đi vào, đi ra; hơi thở dài hay ngắn phải cảm nhận được. Từ từ bắt đầu mình cảm nhận được ba chỗ động chuyển lớn của hơi thở. Pháp này là pháp viên mãn nên cái nhìn của nó là phổ quát tất cả thân tâm, không bỏ sót chỗ nào. Hơi thở động chuyển rõ nhất là nơi chóp mũi của mình, hơi thở vào ra, hơi thở là phong đại, là gió. Cảm nhận ở chóp mũi, chỗ đường hô hấp, không khí vào ra. Kế đến là lồng ngực, tim đập mình cũng cảm nhận được hơi thở. Cuối cùng là dưới bụng, nó phồng xẹp liên tục. Ba chỗ động chuyển lớn, nổi bật trên thân là: chóp mũi, lồng ngực và bụng. Mình phải cảm nhận được, đồng thời ba chỗ đó đang vận hành, đây là cái biết phổ quát, toàn diện của thân, sau rồi mới đi qua tâm. Như vậy, trên cơ thể mình, mỗi một chỗ nào đều không thể qua mặt mình, mình biết hết, cảm nhận được hết trên toàn bộ cơ thể.

Vừa nói mọi người vừa thực hành luôn, đại chúng cảm nhận ba chỗ hơi thở, nói tới đâu thực hành tới đó. Có thấy hơi thở vô ra ngay lỗ mũi không? Từ ba chỗ đó, bắt đầu mình cho cảm nhận, cảm giác của mình lan tỏa lên mặt, lên đỉnh đầu của mình. Cảm nhận hiện tại, đỉnh đầu mình như thế nào, hai gò má như thế nào? Cảm nhận cảm giác trên đầu, trên mặt, lỗ tai, trên môi, vai, cổ của của mình; cảm nhận từng chi phần, cánh tay, bàn tay, lòng bàn tay, mông, chân, bàn chân, ống chân v.v.. Từ trên đỉnh đầu mình cảm nhận hết từng chi phần, từng bộ phận, cảm nhận tất cả toàn bộ cảm giác của cơ thể mình, đó gọi là cảm giác toàn thân.

Điều này rất quan trọng. Tại sao mình làm điều này? Không phải tự nhiên mình muốn làm là làm. Làm điều đó có công năng gì, tác dụng, mục đích gì? Sẽ có những người không biết cảm giác toàn thân là như thế nào, do đó, mình đưa hai tay cao lên rồi hạ hai tay xuống, khom xuống tận cùng, hết sức của mình, giữ nguyên tư thế đó, tập trung vào cảm giác của cơ thể. Chúng ta đưa hai tay lên, cuối xuống lại, giữ thật lâu, càng lâu càng tốt, tay chạm vô ngón chân cái và giữ yên tư thế. Chúng ta có thấy được cảm giác của toàn bộ cơ thể không? Đó chính là cảm giác toàn thân, là cảm nhận cảm giác của cơ thể mình. Cảm nhận cảm giác của tất cả các chi phần trong cơ thể, quan trọng lắm! Một lát sẽ giải thích tại sao mình phải làm như vậy. Có ai biết tại sao không? Câu hỏi này nếu trả lời đúng sẽ có thưởng lớn. 

Chúng ta hay nói, tu là diệt tham, sân, si, mục đích, đường lối của sự tu tập là diệt tham, sân, si. Vậy, tham sân si ở đâu? Mình phải biết chỗ thì mới diệt được nó, điều này rất quan trọng. Nhiều khi tu suốt đời, mình nói đã diệt tham, sân, si nhưng lại không biết tham, sân, si ở đâu. Minh Thành tu học gần 30 năm, Minh Thành không biết tham, sân, si ở đâu cho tới khi vào dòng pháp này thì mới thấy được. Hành trì theo tạng kinh Nikāya, mình mới thực sự thấy được tham, sân, si nó như thế nào.

Minh Thành xin thưa đại chúng, nếu mình thấy tham, sân, si một cách đầy đủ mọi khía cạnh của nó thì mình sẽ thành tựu Thánh trí, như vậy mới là cái thấy đầy đủ của một bậc Tu-đà-hoàn. Điều này không phải dễ. Sự tu tập của mình là để thấy biết được tham, sân, si và nhiếp phục được tham, sân, si chứ không có cái gì khác. Không phải tu là được điều gì đó mà tu là nhiếp phục được tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Nhưng đầu tiên, mình phải biết được chỗ của nó. Như đi đánh giặc, phải biết giặc ở đâu thì mới dẫn quân đi đánh. Hay đi đòi nợ mà không biết con nợ ở chỗ nào thì làm sao đi đòi? Cũng vậy, mình nói mình tu, phải nhiếp phục được tham sân si, phải diệt tận được tham sân si, phải đánh gục được tham sân si, phải trừ diệt tham sân si..., mà không biết tham, sân, si ở đâu thì lấy gì trừ diệt.

Trong Tăng Chi Bộ kinh, bài kinh “Cội rễ của sự vật”, Đức Phật nói, “Này các Tỳ-kheo, tất cả các pháp hội tụ nơi cảm thọ.” Cảm thọ là cảm giác và tham, sân, si chính là ở trong cảm giác. Muốn biết nội tâm của mình như thế nào, chỉ cần nhìn vào trong cảm giác, tất cả các pháp hiện ra hết ở trong cảm giác. Cho nên, tập cảm giác an trú toàn thân để thấy được nội tâm của mình. Vì sao chúng ta không thấy được thân tâm của mình? Vì mình hướng ngoại, suốt ngày mình đi tìm cái thấy, cái nghe, đi tìm cái ngửi, nếm, xúc chạm..., bên trong thì suy nghĩ lung tung, những hình bóng tưởng, những suy nghĩ của hành..., nhưng những cảm giác bên trong mình hoàn toàn không biết gì hết. Đó là một nội tâm vô minh, tăm tối, dục tham, hướng ngoại.., nó không nhìn thấy được tự thân của nó. Và bao nhiêu sầu bi, khổ não chồng chất tháng ngày, khi đụng chuyện tới là quờ quạng, tâm thức mù lòa, vì không biết nên làm sao nhiếp phục được.

Cho nên, sự tu tập này là nội soi, phản chiếu, nhìn lại tự thân tâm của mình một cách chính xác, tường tận, đầy đủ, đồng đều tất cả mọi phương diện, khía cạnh ở trong tâm, đó gọi là ngũ uẩn. Trước giờ mình nói là “tâm tôi” là mình nói không đúng. Tâm là gì? Những nhà khoa học, bác học nổi tiếng trên thế giới nói “Tôi suy nghĩ”, là lúc đó là có tôi, như vậy thì mới có hành uẩn. Nói “Tôi cảm giác là lúc đó có tôi”, thì lúc đó là thọ uẩn. Rồi “Tư tưởng là tôi”, những hình bóng trong tâm hiện ra, đó mới có tưởng uẩn thôi. Bây giờ “Tôi nhận thức lúc đó có tôi”, thì đó mới là thức uẩn. Như vậy, tất cả chỉ là cục bộ, sự thấy biết như vậy chỉ là khía cạnh, góc độ nhỏ hẹp, chưa thấy được toàn diện của tâm thức. Bậc Thế Tôn của chúng ta, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác về thân tâm cho chúng ta biết: tâm là thọ, tưởng, hành, thức. Đó là sự chứng ngộ của Như Lai. Chúng ta phải tìm hiểu về vấn đề cảm thọ trước, sau đó chúng ta sẽ bắt đầu bước qua sự thực tập nhận diện năm uẩn đầy đủ thân tâm của mình.

Minh Thành xin thưa với đại chúng, chúng ta đang học ở đây là tinh túy kinh tạng Nikāya. Chúng ta đã nói tham, sân, si ở trong cảm giác, đó là mình mới nói phần cảm giác của tâm thôi, bên cạnh đó, tham, sân, si còn có chỗ trong thân. Nếu mình thường an trú trong cảm giác toàn thân, khi nổi giận lên, bắt đầu trong cơ thể mình sẽ như thế nào, có biến động không, biến động ở chỗ nào? Có người nói lồng ngực, có người nói ở mặt. Đầu tiên là lồng ngực sẽ biến động, nó hừng hực, nóng lên, lan tỏa khắp cơ thể. Rồi trên mặt bắt đầu đỏ lên, kế đến là lỗ tai, con mắt.

Cho nên, chúng ta phải an trú cảm giác ở trong thân để kiểm soát tham, sân, si. Khi nó sanh khởi lên, lập tức thay đổi cảm giác toàn thân ngay, chúng ta sẽ biết được ngay vì mình thường trực an trú trong đó để kiểm soát. Bình thường như nhà không có chủ, như người đi lang thang không có nhà, tâm thức của mình không có chỗ trú. Còn khi cảm giác toàn thân là mình định tâm ở trên thân, lúc nào cũng thường xuyên rà soát từ đỉnh đầu cho đến gót chân, có biến đổi, biến động là mình thấy được liền. Đó là lý do tại sao phải thực tập cảm giác toàn thân.

Mỗi khi giận lên là từ chỗ lồng ngực biến động, sôi sùng sục, hừng hực, rừng rực lên, sắc mặt đổi màu. Nếu mình tu tập cảm giác toàn thân, một biến động nhẹ thôi, người tu tập thâm sâu, thuần thục sẽ nắm bắt được liền và nhiếp phục nó. Tất cả đều có phương pháp để đối trị hết. Đức Phật chỉ cho mình tham dục trị như thế nào; sân, si dùng phương pháp gì trị. Có từng thứ, từng món thuốc, từng loại để trị, chứ không phải là chung hết, pháp này rõ ràng lắm.

Si biểu hiện nơi mắt với đầu. Khi sắp buồn ngủ, ngồi thiền, mình thấy đầu nằng nặng, trì trì, trầm trầm xuống; con mắt thì bắt đầu nhướng nhướng, sụp sụp, đó là chỗ cư trú của si. Lúc đó mình phải tác ý, phải mở con mắt lớn lên, tác ý để đánh tan dòng cảm thọ, si ám, trì trệ. Cái sân lúc nãy cũng vậy, cũng phải tác ý từ tâm giải thoát. Điều này sẽ học sau, còn bây giờ mình đang nói tới cảm giác toàn thân để thấy được cái giá trị của nó.

Dục sanh khởi ở chỗ phát dục, đó là căn cứ địa của nó. Đó là chỉ nói tới dục bình thường, nam nữ thôi. Nếu cái dục là tham dục, dục lậu thì khủng khiếp lắm. Không chỉ có tham dục về nam nữ, mà còn dục ăn, dục nói, dục ngủ, dục buông lung phóng dật.., đủ thứ, vô số các loại dục. Tất cả pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả thế giới này hình thành, đứng vững được là từ dục, dục là gốc rễ của tất cả các pháp. Trước khi mình nói, mình có thấy trong lồng ngực của mình có sự thúc giục muốn nói không? Trước khi mình nói, mình có cái muốn nói không? Cho nên, dục là sự thúc giục. Hôm trước mình đã phân biệt dục và tham ái khác nhau như thế nào, tu cảm giác toàn thân là tất cả những điều đó mình thấy biết hết. Đó là điều đặc biệt.

Giống như một người đi qua hải quan, người ta cầm một cây rà từ trên xuống, từ dưới lên, rà qua lại. Chỗ nào kêu tít tít là có đồ trong đó, hàng lậu, hay có giấu đồ. Tu cảm giác toàn thân này cũng vậy, mình rà hết toàn bộ cơ thể của mình, rà soát, kiểm tra, kiểm kê, kiểm toán hết..., rà từng giờ từng phút. Khi mình ăn, có thúc giục bên trong không? Cái nhai ngấu nghiến, ngồm ngoàm, nhai chưa hết cái này là đã gắp cái thứ hai, cầm chờ để ăn tiếp. Đó là hoạt động của dục, của tham, của ái mà mình không thấy. Học điều này tuyêt diệu lắm! Thánh trí ngũ uẩn đem đèn sáng vào trong bóng tối, phơi bày hết tất cả những gì che kín, soi rọi thân tâm một ngàn năm bị khuất lấp trong vô minh. Bây giờ dùng Chánh pháp này, rọi ánh sáng vào để phơi bày ra hết tất cả những sâu kín, che đậy, giấu diếm ở bên trong. Chúng ta cố gắng học, tuyệt vời lắm!

Cố gắng nắm bí kíp Chánh pháp, đừng để rơi rớt. Mình sẽ thấy, sẽ giật mình, sốc toàn tập khi nhìn trở lại cái cảm giác nghĩ tưởng, nhận thức tâm của mình, sẽ thấy bất ngờ. Tại vì đã quen với cách sống hướng ngoại, mình không nhìn được ngũ uẩn. Mà không nhìn được ngũ uẩn thì mình sẽ nhìn thân tâm một cách lờ mờ, lộn xộn, rối bời, không rõ pháp. Chính vì vậy mà mình không thấy được các lậu hoặc, cấu nhiễm. Sống trong hôn ám. Còn trí huệ năm uẩn này phơi bày hết, cái nào nó ra cái đó, không lẫn lộn, sắc ra sắc, thọ ra thọ, tưởng ra tưởng, hành ra hành, thức ra thức. Cho nên, khi học điều này rồi thì tất cả những kiến thức, sách vở học trước nay, mình để qua một bên. Tâm mình hoàn toàn giống như tờ giấy trắng thì sẽ dễ học cái này hơn, còn nếu đem kiến thức đã học ở tông này phái kia vào là nó che mình hết, vì đó là sở tri chướng. Chúng ta cứ nhìn thẳng vào cảm giác của mình, có cái gì mình sẽ thấy trực tiếp, không cần qua ai hết.

Nương vào lời kinh của Đức Phật trong kinh Nikāya, chúng ta sẽ thấy dục sanh khởi, chỗ phát dục, thấy dục động chuyển, biến động, thay đổi. Khi sân sanh khởi thì chỗ lồng ngực nóng lên, khi si xuất hiện thì cái đầu trì xuống, nặng xuống, hai con mắt cứ sụp xuống, thậm chí là quẹo cổ, khi có cảm giác toàn thân là thấy được ngay. Quẹo cổ thì chỉnh lại. Lúc nãy mình có đọc “cổ thẳng”, nên quẹo cổ là chỉnh lại liền nếu mình có cảm giác toàn thân. Cái lưng cong xuống thì chỉnh cho nó thẳng lên, khi ngồi mà nó cứng đơ, mình ráng thả lỏng, giữ cho thẳng và đọc câu “thân, vai thả lỏng”, đó là pháp lệnh khi thực tập thiền. Ví dụ, ngồi thiền nhưng mình nhớ chuyện dưới bếp thì phải cảm giác toàn thân, không đi theo những thứ đó và quay trở về. Giờ là đang ngồi trên thiền đường chứ không phải nhà bếp, quay trở về an trú trong thực tại, cảm giác toàn thân, không để cho tâm đi lang thang.

Tất cả những gì động chuyển, biến chuyển trong thân tâm, rục rịch một chút là thấy được liền nếu mình tu cảm giác toàn thân thường xuyên, thường trực, thường luôn, thường nhật.., mình sẽ thiện xảo, khéo léo trong cảm giác toàn thân. Nội tâm của mình như vậy rất tuyệt vời, là tỉnh giác. Khi an trú trong cảm giác toàn thân như vậy, mình sẽ vững chắc, định tâm ở trên thân, tâm vững chắc, an định chứ không có tâm thức lang thang.

Khi ngồi thiền, mọi người thường hỏi tâm mình định ở đâu, tập trung vô chỗ nào? Minh Thành trả lời là chúng ta sẽ an trú trong cảm giác toàn thân, thân ở đâu thì tâm an trú ngay đó, an trú vững chắc. Thực tập ngay tại đây luôn, sẽ nhìn thấy liền. Định tâm ở trên thân, cảm giác toàn thân, có cảm giác từ đỉnh đầu cho tới gót chân. Cảm giác mình đang ngồi như thế nào, có ngay không, cổ có quẹo không, ngồi có thẳng không? Cảm giác toàn thân, mình kiểm soát được tất cả oai nghi, hành động, dáng vẻ, đi đứng của mình. Nội tâm tỉnh giác sau khi an trú cảm giác toàn thân sẽ giúp mình kiểm soát được tham, sân, si. Có định tâm trên thân thì giống như người có nhà chứ không phải người vô gia cư; còn không tu tập cảm giác toàn thân là người vô gia cư, lang thang, không có nhà, không có chỗ để về. Một tâm lang thang, ngày đêm sống trong lang bạt, tâm thức vất vơ vất vưởng, không có chỗ trú.

Công năng của nội tâm tỉnh giác

Sau khi cảm giác toàn thân thì bước kế tiếp là nội tâm tỉnh giác. Nội tâm tỉnh giác là lúc đó mình phải rõ biết trước mặt, cảm giác toàn thân, bên trong những hình bóng gì sanh khởi lên, phải thấy được hình bóng đó, một cảm giác gì sanh khởi lên phải ghi nhận được cảm giác đó, suy nghĩ gì đang có mặt, đang xuất hiện, phải đọc được suy nghĩ đó. Thọ, tưởng, hành sanh khởi, mình phải biết, đó mới gọi là nội tâm tỉnh giác. Nhiều khi ngay trong tâm mình, hỏi có tưởng gì không thì có người trả lời: “Thưa thầy, nãy giờ con không có tưởng gì, không có hình bóng gì.” Như vậy không phải, đó là do tâm mình hướng ngoại, không nhìn thấy bên trong đang có gì. Giống như một người tối ngày đi chơi, không quét dọn nhà cửa, bỏ nhà đầy mạng nhện, gián, chuột, kiến. Mình không tu, thì nhận diện năm uẩn cũng giống như vậy, vì mình vô minh nên không thấy. Vì mình không biết nhận diện năm uẩn. Nói “bây giờ không có suy nghĩ gì hết”, như lúc nãy, sư huynh của mình lên nói “con làm không được”, không phải như vậy mà là mình chưa nhận diện được. Cho nên, tu sâu vào rất tuyệt vời, các pháp sẽ hiện rõ ra hết.

Với cả cái mình thấy, nghe, mình hiểu rõ như vậy đó nhưng cũng đừng tin vội tin vào, toàn là không đúng, mình vô minh mà tưởng thông minh, đó là mình chấp. Khi đã chấp vào cái thức thì khủng khiếp lắm, đã được học điều gì rồi là điều đó đúng thôi, còn điều khác là sai. “Tông ông sao bằng tông tui”. Đó là thức thủ uẩn, biết cái nào là chết chỗ đó. Xuống nhà bếp là chết ở nhà bếp, “ai vô nhà bếp là phải qua tui mới được, tự động xuống ăn, không xin phép tui gì hết, muốn nấu gì nấu phải không? Tui là bếp trưởng đây.” Lên giữ chánh điện cũng vậy, mới lau sàn hai, ba nước, bỗng có người chân sình dơ, trời mưa đi vào dậm tùm lum, khi đó là sân nổi lên. Cho nên, làm gì dính nấy, làm gì chấp nấy, đó là tâm thức của chúng sanh, chấp thủ ghê gớm lắm. Hoặc có người ở gần trụ trì, được làm thị giả là đi toàn nhìn lên trời, không còn biết ai nữa.

Tâm thức này ác độc lắm, cái tâm si mê, hôn ám, chấp thủ. Mình không tu thì không thể nào thấy được sự tinh quái, quỷ quyệt, xảo trá của tâm. Tâm mình là yêu tinh, ghê gớm lắm, nó gạt mình hết mọi người. Ông Đường Tăng thấy Hồng Hài Nhi, “tội nghiệp quá, nó nhỏ, dễ thương”; ông Tôn Ngộ Không thì thấy trong bụng nó toàn lửa, ổng cõng, ném xuống vực thẳm. Tới khi Đường Tăng bị nhốt rồi thì mới biết đó là yêu quái. Con mắt bảy, bảy, bốn chín ngày, con mắt tròng vàng, nung đốt trong lò bát quái, con mắt của Tôn Ngộ Không là ví dụ cho pháp nhãn. Người thành tựu trí năm uẩn mới có được mắt pháp, mới thấy được năm uẩn, mới thấy được sự thật. Thấy được năm uẩn là thấy được Như Lai. Như Lai do chứng ngộ năm uẩn mà thành Vô Thượng Chánh Giác. Cho nên, chúng ta không tin được tâm mình.

Trở lại nội tâm tỉnh giác, là nhìn thấy được ở trong mình có hình bóng gì. “Tôi buồn chẳng biết vì sao tôi buồn”, trời mưa, nhìn ra thấy buồn, đó chính là cái dục nó buồn, đó là dục lậu, ghê lắm. Học rồi mình sẽ thấy dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu, khủng khiếp lắm. Mình sẽ giải mã hết tất cả những bí mật của thế giới nội tâm khi học pháp này, không còn gì trong thân tâm mà mình không biết. Chỉ là có nhiếp phục sớm hay muộn thôi. Cho nên tất cả những cảm giác nghĩ tưởng, mình đều phải rõ biết, gọi là nội tâm tỉnh giác. Một cảm giác sanh khởi lên, cảm giác an trú, cảm giác chấm dứt thì mình phải biết.

Ví dụ, tâm mình sanh khởi lên là muốn ăn mì; tới 8-9h00 đêm có người mới cho gói mì Hàn Quốc cay lắm, ngon lắm. Nghe Minh Thành nói đến đây là thọ, tưởng, hành vận hành liền, hình bóng tô mì hiện ra, hương vị tô mì hiện ra, cái sắc tưởng hiện ra, cái cảm giác, cái suy nghĩ hiện ra, thấy ghê gớm chưa, đó là ngũ uẩn đang vận hành. Mình phải biết: “đây là dục, bây giờ không phải giờ ăn”; phải tu và nhiếp phục cái dục đó. Phải Như Lý Tác Ý nói: “Ăn chiều không biết xấu hổ, ta giữ giới không ăn chiều, thấy nhục không? Bây giờ còn muốn ăn đêm, tu mà không chịu giác ngộ, không muốn thành thánh nhân, muốn thành quỷ hay sao? Đi chỗ khác chơi, để cho chị học kinh, đi chỗ khác chơi.”

Đó là Như Lý Tác Ý, khi tỉnh giác thì mình mới thấy được cái dục, cái sân trong thân, có gì trong này là thấy được hết, mình mới có phương pháp trị từng tên. Phải huấn luyện tâm của mình vậy đó. Tu điều này thú vị lắm.

Giải đáp câu hỏi

Câu hỏi:

Để bắt đầu vào thời khóa thực hành, như chúng con được học, đầu tiên tư lương mà con chuẩn bị là mình phải có thế ngồi như thế nào. Con cũng xin Sư từ bi chỉ cho con các bước đầu. Khi bắt đầu thiền hành, mình phải đặt niệm ở trước mặt thì con đã hiểu; nếu như chưa được học với Sư thường thì con cũng nhắm mắt, hoặc là mở khép hờ khoảng 3/4. Nhưng hôm nay con được học với Sư, Sư dạy là phải biết rõ trước mặt và mở rộng tầm nhìn của mình. Nhưng, nếu con không hiểu rõ, có thể con sẽ cử động cái đầu để nhìn qua nhìn lại, nên con chưa biết cách thực hành trước đó như thế nào? Xin Sư hướng dẫn cụ thể hơn bước đầu tiên thế nào, rồi mới đến cái bước đặt niệm ở trước mặt. Dạ, con đã hỏi xong.

***

Bước đầu tiên là mình vào ngồi tư thế của thiền, có câu pháp lệnh “thân ngồi, lưng thẳng, cổ thẳng, vai đều, thân vai thả lỏng”, rồi mới đến rõ biết trước mặt. Mình cảm nhận hơi thở, cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác. Khi mình ngồi, con mắt của mình phải khép xuống, nhìn xuống, chứ không nhìn lên và ngó ra. Không ai ngồi thiền mà nhìn qua nhìn lại, nhìn người này người nọ. Nhìn xuống, nhưng khép 1/3 thì nguy hiểm, dễ sụp xuống lắm. Khép ở mức độ vừa phải là nửa con mắt hoặc tùy lúc, như lúc buồn ngủ là phải mở hết ra. Về thực tập, thực tập ngay tại chỗ này, và bất cứ lúc nào mình cũng có thể thực tập. Không phải đợi ngồi thiền mới thực tập rõ biết ở trước mặt. Ba pháp này rất quan trọng và phải để ý và thực tập mọi lúc mọi nơi.

Thứ hai, điều cực kỳ quan trọng là cảm giác toàn thân. Như chúng ta đã có chia sẻ, đầu tiên là mình phải cảm nhận hơi thở vào ra, từng bước rồi dẫn đến cảm giác toàn thân, chứ không phải tự động mà cảm giác toàn thân ngay được. Đầu tiên, cảm nhận hơi thở vào ra, hơi thở ngắn, hơi thở dài, hơi thở vào, hơi thở ra...

Minh Thành xin thưa đại chúng, cái khó ở đây là mình đã quen lúc ngồi thiền, điều đầu tiên là phồng - xẹp, thứ hai là thở vô - thở ra. Nhưng cách ngồi thiền Đức Phật dạy không phải đơn giản như vậy. Nếu mình ngồi theo kiểu phồng - xẹp, hay thở vô - thở ra, hay ngồi niệm Phật là mình ngồi trong vô minh, không thấy rõ tất cả các pháp đang hiện hữu. Chúng ta cứ ngồi hoài như vậy thì phát sanh trí huệ không được, nó chỉ được lắng yên một chút thôi. Lúc đầu học cách này sẽ khó, vì chúng ta quen ngồi là nhắm mắt, thở vô thở ra thôi. Tuy nhiên, một chút xíu hơi thở đó không thể nào đủ sức để đánh vỡ được khối vô minh uẩn to lớn. Pháp hơi thở nhỏ bé lắm, không đủ sức để phá vỡ được vô minh uẩn, chấp thủ, chấp ngã, dục ái, tham, sân, si ở bên trong. Vì thế, mình phải thực hành đầy đủ tất cả pháp.

Học được điều này, khi ngồi thiền mình sẽ là một dũng tướng xung trận, làm việc rất đắc lực, tả xung hữu đột, cầm binh khí xông ra, cờ lọng, trống kèn nổi lên, la lên, cầm gươm xông ra trận. Đó là Bồ tát ngồi dưới cội bồ đề. Cho nên, ngồi thiền không giống như mình hiểu. Cứ ngồi thiền theo cách của mình thì ngồi hoài rồi ra cũng ù lì một cục, ngồi năm năm, bảy năm nhưng trí huệ không được khai mở. Tại cứ thở vô ra, phồng xẹp, niệm một câu... thì không thể thấy được gì từ thân tâm mình.

./.