Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Hỷ Vô Lượng Tâm 2

2026-03-03 00:56:10
Kinh Nikāya Giảng Giải

Hỷ Vô Lượng Tâm 2

Thích Minh Thành

Ngày 18 tháng 07 năm 2021

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Sanh khởi tâm hỷ PAGEREF _Toc81921249 \h 1

II. Các cấp độ khi thực tập thiền quán PAGEREF _Toc81921250 \h 2

III. Đi vào tâm hỷ PAGEREF _Toc81921251 \h 6

I. Sanh khởi tâm hỷ

Đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán Chánh Đẳng Giác.

Kính bạch quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng, hôm nay chúng ta lại tiếp tục tìm hiểu về bài thiền quán Hỷ vô lượng tâm. Lần trước chúng ta đã tìm hiểu về tác dụng, công năng, mục đích, lợi ích của tâm hỷ. Bây giờ chúng ta đi tiếp theo, là làm cho sanh khởi tâm hỷ. Khi bắt đầu tu tập, bắt đầu ngồi thiền buổi tu tập tâm hỷ, chúng ta hít vào và thở ra nhẹ nhàng bốn lần.

Chúng ta vừa học vừa thực hành, hít vào, thở ra nhẹ nhàng bốn lần. Và thầm đọc những câu sau đây để mình khơi gợi cho tâm, cho cảm thọ hoan hỷ, sanh khởi theo chiều hướng vui vẻ, nhẹ nhàng, hân hoan. Mình hít vào và đọc thầm nhẹ nhàng, thở ra đọc thầm nhẹ nhàng, hít vào an lạc ơi, an vui ơi, mình thở ra an vui ơi, an lạc ơi, vui vẻ ơi, vui vẻ ơi, hoan hỷ ơi, hoan hỷ ơi.

Ta khơi dậy trong ta tình thương và niềm vui, ta khơi dậy trong ta niềm vui và tình thương, tình thương sống trong ta, niềm vui sống trong ta, tình thương có trong ta, niềm vui có trong ta, ta mở rộng tình thương, mở rộng tình thương đến các loài hữu tình, ta mở rộng niềm vui đến các loài chúng sanh. Chúng ta nhớ khi mình hít vào, thở ra nhẹ nhàng, mình đọc thầm những câu đó để khơi gợi trong tâm mình, cảm thọ sanh khởi theo chiều hướng vui vẻ, nhẹ nhàng, hân hoan, hoan hỷ. Đây là nghệ thuật dẫn tâm.

Thật ra người chưa biết gì mà không nhận diện được ngũ uẩn, không biết cảm thọ, không phân biệt được hỷ thọ, ưu thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thì họ không làm được điều này. Cho nên chúng ta thấy tại sao mình tu học một thời gian dài mới bắt đầu thực hành bốn tâm vô lượng. Trong khi hiện tại chúng ta cũng đang thực tập tâm rộng mở, rộng lớn, chứ chưa tới vô lượng nên khi thực tập mình phải hết sức để ý, để tâm vào trong cảm thọ.

Khi mình hướng dẫn thiền quán cũng vậy, không phải mình cứ nhìn mấy người ngồi ở dưới, mà là nhìn vô cảm thọ, hướng vào trong lồng ngực. Mắt mình nhìn xuống như vầy nhưng không phải nhìn ra mà con mắt của mình (ý căn) thực sự đang để ý vô chỗ cảm thọ ở lồng ngực, của toàn bộ cơ thể. Khi đó, những câu kêu nhẹ nhàng ơi, an lạc ơi, đó là khơi gợi. Chúng ta có ví dụ là đề máy cho chiếc xe nổ lên, chứ không phải mình đọc nhẹ nhàng ơi, an lạc ơi mà mình không thấy nhẹ nhàng.

Khi đọc, mình khơi gợi, đề khởi lên cảm thọ đó, thấy bắt đầu có sự thức dậy, gợi mở, khởi phát, sanh khởi trong thân tâm mình. Đây là cả một nghệ thuật dẫn tâm, hướng tâm. Mình kêu an lạc ơi, an lạc ơi, vui vẻ ơi, mình thấy trong này rõ ràng là cảm thọ nhẹ, an, vui, hoan hỷ lên. Mình phải cảm thấy rõ cảm thọ đó sanh khởi lên, và thật sự đang có mặt. Chúng ta thấy chỗ này vi tế như vậy, chứ không phải mình nghe thầy đọc bằng lỗ tai thôi, mà mình nghe bằng tai xong, nhĩ xúc sanh ra cảm thọ, cảm thọ đó được thầy tác ý, được mình tác ý.

Cho nên, tại sao khi mình thực hành thiền quán, có nhiều người lúc mới họ nghe thấy trơ trơ, đâu có gì mà khóc dữ vậy, thực hành tâm từ khóc nhiều quá, thiền quán thân trống rỗng cũng khóc nhiều như vậy. Thực hành thiền quán tâm hỷ mà không thấy hỷ, tâm đó là một tâm hoang vu, tâm chưa được thấy, chưa được biết, tâm chưa được rõ, chưa được nhìn, chưa được huấn luyện, đào tạo, giáo dục, dẫn dắt. Đó là tâm cứng cỏi, chai lì nên thiền quán không được chứ đâu phải dễ. Chính vì vậy, sự thực tập này hết sức tế nhị, nhỏ nhiệm, sâu sắc, phải đặt toàn tâm, toàn ý của mình vô khi thiền quán.

II. Các cấp độ khi thực tập thiền quán

Có rất nhiều cấp độ khi thực tập thiền quán. Ví dụ như thầy hướng dẫn bài thiền quán, mà mình ngồi để tâm đi du lịch, tâm mình bị phân tán, lo lắng chuyện gì đó. Lúc đó, mình không đi vào được tùy văn nhập quán. Tùy văn là mình theo câu, lời trong bài quán, rồi tâm mình đi vào trong pháp đó. Bây giờ nếu có cũng chỉ được phân nửa, vì tâm hơi lo ra, nghĩ này nghĩ kia, tạp tưởng, những tưởng khác xen vô, những suy nghĩ khác chen vô, làm tâm mình phân tán, không tập trung nên thọ không sanh khởi hoặc sanh khởi rất ít.

Trường hợp thứ nhất là không sanh khởi, trường hợp thứ hai là sanh khởi nhưng rất ít, khoảng bốn, năm phần trăm. Gặp những trường hợp đó mình phải tác ý thêm, chứ không phải chỉ nghe bài thiền quán hay nghe các thầy tác ý thôi mà mình nhắc lại những câu mấy thầy mới vừa đọc để làm cho tâm mình tập trung hơn: vui vẻ ơi, vui vẻ ơi, hoan hỷ ơi, hoan hỷ ơi…

Rồi mình sẽ thấy nó thấm dần vô như khi mình tắm dưới vòi sen, bắt đầu vui lên, hoan hỷ lên, an lạc lên, thấm nhuần lên. Cho nên, ta khơi dậy trong ta tình thương và niềm vui, giống như khi lên xe ta bấm nút, đề máy, máy bắt đầu nổ lên. Ta khơi dậy trong ta tình thương và niềm vui. Tình thương bắt đầu được khơi gợi lên, niềm vui bắt đầu được sanh khởi lên.

Cho nên nãy giờ lặp tới lặp lui chúng ta thấy không, bao nhiêu câu toàn là để khơi gợi lên. Đầu tiên là nhẹ nhàng ơi, nhẹ nhàng ơi, khinh an trước, hỷ lạc sau. Khi thân mình yên, tâm mình nhẹ, bắt đầu an rồi mới tới lạc. An vui ơi, an lạc ơi, mình khơi gợi lên. Rồi tới vui vẻ ơi, vui vẻ ơi, hoan hỷ ơi, hoan hỷ ơi. Người khéo hướng dẫn thực tập thiền quán, tới đây là bắt đầu trúng mạch nước, nước tuôn ra, bắt đầu dâng lên cảm thọ hỷ lạc, hoan hỷ.

Chúng ta thấy tám câu mà chỉ toàn nói về vui vẻ, an lạc, hoan hỷ, thật ra dùng từ khác nhưng ý là khơi cảm thọ lên. Nếu mình để ý, sẽ thấy đó là cả một nghệ thuật, cả sự thiện xảo, khéo léo để hướng vào trong cảm thọ của mình. Bắt đầu ta khơi dậy trong ta tình thương và niềm vui, lúc đó thấy tình thương của mình dào dạt, dâng lên niềm vui mình tràn lên, sanh khởi lên, vì tu cái gì cũng có bốn tâm vô lượng này, lúc nào cũng có tâm từ, tâm từ là nền tảng, không tu được tâm từ thì không tu được các tâm kia. Tâm từ càng viên mãn chừng nào, những tâm kia sẽ đi tới viên mãn.

Bây giờ mình giận hoài mà không xót thương làm sao xả được, làm sao mình bỏ qua, tha thứ được cho người đã có lỗi với mình. Chúng ta thấy không, chỉ một ví dụ thôi, mình giận hoài không bỏ qua làm sao có sự hoan hỷ với người ta được, làm sao cười được? Cho nên tâm từ là nền tảng. Cho ta khơi dậy trong ta, câu này mình đọc một lần mà chưa sanh khởi là tự ở nhà mình tu một mình, đọc hai lần, ba lần, năm lần, đọc khi nào sanh khởi rồi mới tiếp mấy câu bên dưới.

Chúng ta nhớ khi mình thực tập cũng vậy, mở bài hướng dẫn của thầy lên, bây giờ tới đó mà chưa sanh khởi, mình bấm lùi lại cho thầy đọc tiếp tục để cho cảm thọ sanh khởi lên. Làm như vậy ba lần cũng được, làm tới khi nào cảm thọ sanh khởi lên. Chúng ta phải biết rằng sự thành công hay không là ở chỗ cảm thọ trong thiền quán này.

Ta khơi dậy trong ta, tình thương và niềm vui, ta khơi dậy trong ta niềm vui và tình thương. Chúng ta thấy không, đưa qua đưa lại, lặp tới lặp lui, đổi câu đổi chữ nhưng ý chỉ có một, tức làm cho nó khơi dậy, nên đây gọi là làm sanh khởi tâm hỷ. Mỗi chủ đề rất rõ ràng, ở trên nói về công năng, tác dụng, mục đích, lợi ích của tâm hỷ, bữa đầu chúng ta chia sẻ rồi, giờ là mục làm sanh khởi tâm hỷ. Niềm vui và tình thương ta khơi dậy, cũng giống như mình đào giếng vậy, khi có nước mới tính đến chuyện làm gì, tưới hay ăn, uống, rửa. Nhưng phải đào được nước mới tính sau, xây hay đậy nắp cũng tính sau.

Cho nên, bước thứ nhất, khơi gợi phải thành tựu, phải có sanh ra cảm thọ, giống như mình đào giếng, có nước mới tính đến chuyện khác. Nếu cái này mình đọc rồi mà ngồi đơ đơ, trơ trơ, không cảm thấy gì, mặt thấy thảm chứ không phải thiền quán tâm hỷ, nhìn mặt chù ụ không thấy hỷ. Như vậy, người hướng dẫn thất bại mà người thực tập cũng không thành công. Mình phải biết được mấu chốt đó, sau này mấy tâm kia cũng vậy, rồi các pháp quán bất tịnh, thân trống rỗng hay tất cả những pháp quán sau này, mà rất nhiều pháp quán trong kinh Nikāya. Cả hàng ngàn pháp quán chứ không phải chỉ có mấy bài mình đang thực tập đây, những ví dụ của Đức Phật là những pháp quán đó, những câu Ngài lặp tới lặp lui trong kinh là pháp quán.

Chúng ta khơi gợi xong rồi bây giờ có mặt, tình thương sống trong ta, nước xuất hiện rồi, tức tình thương có, niềm vui có. Tình thương có trong ta, niềm vui có trong ta. Hồi nãy là khơi, gợi, làm cho sanh khởi, bây giờ là đã sanh khởi và đang có mặt. Chúng ta nhớ, tình thương sống trong ta, niềm vui sống trong ta, tình thương đang có trong ta, ta đang có tình thương, niềm vui, thật sự là đang có trong ta. Chúng ta thấy tuyệt vời không, vi diệu của thiền quán là như vậy.

Chính vì chúng ta thực tập thiền quán mỗi ngày nên bất cứ lúc nào mình muốn hỷ, chỉ cần tác ý là hỷ toàn thân, và an trú luôn như vậy một ngày, hai ngày, bảy ngày… Có những vị chia sẻ là an trú trong này hằng một năm hay nhiều năm, an trú trong hỷ, hỷ trong pháp. Vì vậy mà ta không đi tìm niềm vui của thế gian, mới ly dục được. Mình không tìm được hỷ trong đó thì phải tìm thú vui ngũ dục, chúng ta thấy rất rõ ràng cho nên ta mở rộng tình thương, mở rộng tình thương đến các loài hữu tình, ta mở rộng niềm vui đến các loài chúng sanh.

Sau khi có tình thương sống trong ta, niềm vui sống trong ta rồi, mới bắt đầu mở rộng, từng bước một. Khi nãy chưa, khơi phát, khởi phát, làm cho nó sanh khởi, sau khi làm cho nó sanh khởi rồi, lúc đó mới có mặt, tình thương có mặt, niềm vui có mặt, sự hoan hỷ, an lạc có mặt. Sau khi có rồi mới bắt đầu mở rộng, chúng ta đọc bài này có để ý không? Chúng ta thiền quán, có để ý không?

Tuy là một câu mở đầu làm sanh khởi tâm hỷ nhưng thật ra nó có ba giai đoạn, tiến trình của sự sanh khởi, an trú rồi bắt đầu rộng mở của tâm hỷ. Khi có rồi, ta mở rộng tình thương đến các loài hữu tình, ta mở rộng tình thương đến các loài chúng sanh, ta mở rộng niềm vui đến các loài hữu tình, ta mở rộng niềm vui đến các loài chúng sanh.

Bây giờ chúng ta mới đưa cảm thọ trong toàn thân mình. Nãy giờ mới đưa cả cảm thọ từng lỗ chân lông, từng tế bào của mình, từng đảnh tóc cho đến gót chân tràn ngập một tình thương dào dạt và một niềm vui hỷ lạc, mình mới bắt đầu cho trải thọ này ra, quán tưởng thọ này lan ra phía trước mặt, lan ra tận chân trời, lan cùng khắp, rồi bắt đầu lan tới những người thân thương nhất của mình, những người ân nghĩa nhất: cha mẹ, ông bà, cô bác, anh chị em.

Rồi lan ra những người mình không quen biết, những người khổ, những người bệnh chẳng hạn, những người đang bị chịu dịch bệnh, cảnh khốn cùng, khổ đau. Rồi lan ra cả những người họ ghét mình, hận thù mình, lan hết những người đó, lan tỏa hết tỉnh Lâm Đồng, rồi lan ra miền trung, nam, bắc, lan ra hết bản đồ hình chữ S rồi hết các châu lục, lan tỏa cùng khắp năm châu: châu Mỹ, châu Phi, châu Úc, châu Á, châu Âu, rồi lan ra bao bọc hết trái đất, quả địa cầu này…

Đó là lúc ta mở rộng tình thương đến các loài hữu tình, lúc đó mình phải quán. Những hình ảnh cha mẹ mình, hình ảnh những người đau khổ, nghèo cùng, bệnh tật, những người chết chóc. Tối qua có một thầy gửi cho Minh Thành một đoạn video rất ngắn: ở bên Indonesia, người ta chết chất đầy hết, không có quần áo. Những hình ảnh mình đã từng thấy, từng nghe, từng tiếp xúc, lúc đó cảm thọ mình, tưởng, hành của mình, mình tác ý, lan tỏa cùng khắp, rộng ra hết tất cả.

Cho nên bài này mình vô đọc ào ào làm sao kịp, tức mình không làm, không biết, thì người khác không làm. Những câu này, vào lúc đó, khi ta mở rộng tình thương đến các loài hữu tình, bắt đầu mình ngưng lại một chút để cho mọi người thực tập, mình thực tập và cho người khác thực tập. Lúc đó thọ, tưởng, hành của mình làm việc. Ta mở rộng niềm vui đến các loài chúng sanh, có mâu thuẫn nhau không? Không, tất cả tâm vô lượng này đặt nền tảng ở trên sự thấy, biết. Tâm từ là tâm hiểu, hiểu nỗi khổ của chúng sanh cho nên bốn tâm vô lượng này đặt nền tảng ở trên trí tuệ, sự thấy biết được chúng sanh đang đau khổ.

Mở rộng niềm vui là gì? Vui vì pháp mà ta đang thực tập đây, ta được nghe pháp, học pháp, hành pháp và đang sống trong pháp. Sự an lạc, hỷ lạc, hoan hỷ, lan tỏa ra để xoa dịu hết tất cả những nỗi khổ, niềm đau của chính mình và chúng sanh hữu tình. Điều đó làm mình hoan hỷ, an lạc, an vui, vui nhưng ra nước mắt. Không phải niềm vui ăn ngon, đi chơi của thế gian mà là vui vì sự hiểu pháp, hành pháp và đang sống trong pháp. Đó gọi là tâm hỷ.

III. Đi vào tâm hỷ

Cho nên nếu thắc mắc bây giờ người ta đang khổ sở khắp nơi, thầy dạy tâm hỷ làm sao hỷ nổi? Không phải, hoan hỷ, an vui, hạnh phúc ở trong pháp mình thực hành. Mà có hoan hỷ này mới làm giảm được những căng thẳng, bức xúc, những thúc giục của bên trong, hóa giải được căng thẳng, bức xúc, thúc giục, bực bội, gắt gỏng, cộc cằn, cau có trong thân tâm của mình và trong gia đình, trong tập thể. Nhất là giai đoạn này phải tu tập tâm hỷ, nên người ta lan tỏa, mở rộng niềm vui đến các loài chúng sanh, đó gọi là làm sanh khởi tâm hỷ. Bây giờ mới thật sự đi vào tâm hỷ, tâm hỷ để cho nó rộng khắp:

“Bằng tình thương hữu tình,

Bằng hỷ tâm chân thật,

Bằng tấm lòng thương tưởng,

Đến tất cả hữu tình,

Và thương cả chính mình,

Hiện đang còn lặn ngụp

Trong sanh tử khổ đau,

Trong những tâm sầu não,

Trong những tâm buồn bất an,

Những tâm buồn ganh tỵ,

Những tâm buồn mông lung.

Vì sự đau khổ này,

Của ta và hữu tình,

Ta thành tâm tha thiết,

Tu tập trải hỷ tâm”

Bằng tình thương, bằng một tấm lòng hoan hỷ đối với pháp, vì thương mình, thương tất cả hữu tình mình mới học pháp, hành pháp, cầu pháp. Bây giờ mình học pháp, hành pháp, cầu pháp, sống trong pháp bằng tâm vui vẻ an lạc, hoan hỷ, hạnh phúc, chân chánh, chân thật. Mình thương tưởng tới tất cả, chính mình và chúng sanh còn đang lặn hụp trong đau khổ.

Chúng ta thấy không, tuy thực tập tâm hỷ, nhưng lúc nào cũng có trí tuệ tâm từ bên trong chứ không phải tâm hỷ là vô cười từ đầu tới cuối. Nên nhiều người nói mình vô đây rồi bị dính mắc trong đó. Không phải, tâm hỷ đặt nền tảng trên tâm từ, còn tâm từ đặt nền tảng trên trí tuệ. Cho nên, mình thích thú, phấn khởi, an lạc, hạnh phúc ở trong pháp này, vui sướng, hân hoan, hỷ lạc, an lạc trong pháp.

Chính vì vậy mình mới thấy được từ bên trong tâm hỷ, tâm từ này, trí tuệ này, mình nhìn ra mới thấy mình và tất cả hữu tình lặn hụp trong sanh tử khổ đau. Tại sao phải tu tâm hỷ? Vì những tâm sầu não, buồn phiền, bất an, ganh tỵ, những tâm buồn, mông lung làm cho mình và chúng sanh đau khổ nếu không tu tâm hỷ. Mình tu tâm hỷ là để hóa giải những tâm sầu não, buồn phiền, bất an, ganh tỵ, những tâm buồn mông lung.

Chữ buồn ở đây là chính, tâm hỷ để đối trị với chữ buồn này. Chúng ta thấy từng chi tiết trong này đều rất nhỏ nhiệm, vi tế. Từng câu từng chữ phải chiêm nghiệm, soi xét, thiền tư, tâm hỷ để trị tâm buồn. Lâu lâu mình có buồn không? Chú Thiện Cần có buồn không, nhiều không? Đó là tâm buồn, mông lung, “Tôi buồn chẳng hiểu vì sao tôi buồn”

Ở đâu buổi chiều người ta đi thiền hành, an trú cảm giác toàn thân, hỷ lạc, Chánh Niệm đàng hoàng không chịu, mình nhìn núi mây rồi buồn, đứng nhìn xa xăm. Tâm lang thang, vất vơ vất vưởng, tâm hỷ này để trị nỗi buồn đó. Mà mấy cô có tâm này không, khai thiệt đi, có hay không? Chấp tay xa là có hay không? Rất nhiều, bởi vậy tâm hỷ để trị cái buồn này. Buồn, buồn vu vơ, không biết tại sao, thẫn thờ, đứng ngẩn ngơ, ngẩn ngơ sầu, buồn ngẩn ngơ, buồn thẫn thờ, buồn mông lung. Những tâm sâu sắc bên trong dục lậu, nó muốn một cái gì đó chưa rõ ràng, chỉ thấy thiếu thiếu gì đó, muốn cái gì đó, đòi cái gì đó mà chưa rõ ràng, còn mông lung, cộng với si, dục lậu đó. Nó bức xúc cũng vì dục lậu, rất nhiều, “Trong những tâm sầu não”

Tất cả những tâm này đều là thọ, tưởng, hành, những tâm này nổi cộm lên. Sầu là buồn phiền, buồn lo, buồn buồn, mà tâm buồn này rất bất an, nên nó đang trong trạng thái này, trong thọ này mà có xảy ra bên ngoài, huynh đệ làm gì hay có câu nói gì khiến mình buồn là dễ suy sụp. Lâu lâu chúng ta có thấy không, ở trong gia đình cũng vậy, mình đang ở trong tâm này mà ông chồng vô nói gì đó, hay đứa con vô nói gì đó, là rồi xong, có chuyện ngay.

Mình nhận diện ngũ uẩn mới thấy, trong trạng thái lúc đó là thọ gì, đây là thọ sầu não, rầu rầu, buồn buồn, phiền phiền, ưu ưu, lo lo. Thọ này là tâm bất an, không biết tại sao mà nó không yên. Chúng ta có thấy cảm thọ bất an không? Dù đang ở trong chỗ an lành nhưng không cảm thấy yên, phải nhìn thấy được tâm đó. Rồi tâm buồn ganh tỵ, thấy người ta giỏi hơn mình, đẹp hơn mình, thấy người ta giàu hơn mình, được thương hơn mình, nổi hơn mình nên gang tỵ, so đo, hơn, bằng hay thua. Cứ so đo, ganh tỵ nên buồn.

Ví dụ nhìn thấy mặt người kia sao đẹp quá, soi gương thấy mình không đẹp bằng nên buồn, buồn trong sự so đo, ganh tỵ, đố kỵ. Có rất nhiều trạng thái tâm, những tâm buồn mông lung này rất nhiều. Cho nên,

“Bằng tình thương hữu tình

Tâm hoan hỷ, chân thật

Bằng tấm lòng thương tưởng

Đến tất cả chúng sanh

Và thương cả chính mình

Hiện còn đang lặn hụp

Trong sống chết khổ đau

Trong những tâm sầu não

Những tâm buồn, bất an

Những tâm buồn ganh tỵ

Những tâm buồn mông lung”

Phải thấy được những tâm buồn đó, chú Nghiệp lâu lâu có thấy cái này không ạ? Buồn mông lung, buồn vẩn vơ, không có nguyên nhân, “Tôi buồn không biết vì sao tôi buồn” chính là nói về cái buồn này. Cứ buồn dàu dàu hoài, ngồi thiền cũng thấy ngán, giờ không lẽ không lên, vô nghe pháp ngồi cũng vậy, buồn buồn làm sao đó, không biết vì sao buồn. Cảm giác bị đơ đơ, trơ trơ, đứng nhìn trời mây, ngẩn ngơ sầu, không muốn làm gì hết, không muốn ngồi thiền, nghe pháp, không thấy thích thú… là có triệu chứng bệnh, buồn mông lung.

Điều này rất quan trọng, phải để ý. Học cũng không thấy vui, tu cũng không thấy hoan hỷ, làm việc cũng không thấy thích thú, đi đứng cũng bất an, không thoải mái. Mà không biết đòi cái gì, thiếu cái gì đó, bên trong thì bức xúc, đó chính là dục lậu. Thầy Pháp An có bị cái này không ạ? Không có con cháu gì lên, không có ai trên đây, có không ạ? Muốn trị cái này phải làm sao?

“Vì sự đau khổ này

Của ta và hữu tình,

Ta thành tâm tha thiết

Tu tập trải hỷ tâm”.

Đó là sự đau khổ, cái khổ tù ngục, mình không giải phá, giải phóng, thoát được cảm thọ đó thì nó đi theo mình tùy miên, mãi mãi. Phải giải phóng được cảm thọ đó mới trú trong hỷ lạc sơ thiền được. Cho nên:

“Ta thành tâm tha thiết

Tu tập trải hỷ tâm”.

Ta đưa chúng bay về chỗ vô dư hết, đưa cái buồn mông lung này tan biến thành mây, thành khói, thành hư không, đưa chúng mi đi khỏi cuộc đời ta, thân tâm ta, ta hoan hỷ lên, vui vẻ lên, an lạc lên, phấn khởi trong pháp.

“Tâm vui là tâm hỷ

Tâm hoan hỷ hân hoan

Tâm vui vẻ nhẹ nhàng

Tâm thuận hòa, an lạc”

Chúng ta thấy không, cả một câu như vậy nhưng thật sự có một chữ hỷ thôi. Dù dùng từ này, từ kia, từ nọ, nói cách này cách kia, lặp tới lặp lui, đảo qua đảo lại là để cho mình tiếp tục cảm thọ hoan hỷ đó, nó được tưới tẩm, duy trì, được tăng trưởng, phát triển, làm cho nó không gián đoạn. Đó là nghệ thuật của bài thiền quán, chứ không phải là bài thơ soạn ra để đọc, thiền sư là kỹ sư của tâm hồn, của tinh thần. Những câu này làm vui lên, lồng ngực phơi phới lên, hỷ lạc, bây giờ có chút nào không?

Tâm vui vẻ nhẹ nhàng

Tâm thuận hòa, an lạc

Ta vui vì người đẹp

Ta vui vì người sang

Ta vui vì người giàu

Ta vui vì người trẻ

Ta vui vì người khỏe

Ta vui vì người tài

Vui vì người may mắn

Vui vì người an vui”

Người đẹp, mình thấy vui vì sao? Mình biết nhân quả, nghiệp lành của người đó nên giờ này họ đang thụ hưởng hoa trái, thành quả của tâm từ bi, nhẫn nhục trong quá khứ của họ. Chứ không phải vui vì đẹp là mình dính mắc vô trong sắc uẩn. Câu này thấy vậy nhưng nó đặt nền tảng cho sự trí tuệ, từ bi, thấy biết được nhân quả, nghiệp báo của người đó. Mình nhìn thấy một người đẹp, mình vui vì đây là hoa trái từ tâm từ, tâm bi, từ tâm nhẫn nhịn, kham nhẫn ở đời trước, phước báu của họ mà đời này có thân tướng dễ nhìn, khả ái. Như vậy, mình vui với pháp lành, chúng ta thấy không, nhìn vậy nhưng nó khác, rất khác. Vì chỉ nhìn lệch qua một chút là dục sanh, ái sanh, tham sanh. Mình chỉ chỉnh cái nhìn một chút là thiện pháp, chúng ta thấy cái nhìn chánh tư duy, Chánh kiến.

“Ta vui vì người sang”, người cao quý, có địa vị, phước nghiệp của họ trong đời trước, tâm họ luôn nghĩ cho người ta, lo cho số đông, hy sinh mình vì mọi người nên người này ở địa vị cao. Chứ không phải tự nhiên họ ở địa vị cao quý, mà nhiều đời họ vì người quên mình, làm gì cũng nghĩ tới số đông, tới lợi ích, lợi lạc của đa số. Họ hy sinh mình vì người ta, giúp người ta thì người này sanh ra đời đời cao quý, hơn người ta. Đó là mình thấy được thiện pháp, nhân quả của họ, mình hoan hỷ.

Chúng ta để ý thấy những vị có chức sắc, từ ngoài đời cho tới trong đạo, họ thường lo cho người khác, vì người khác, suy nghĩ về người khác rất nhiều. Còn người nào có chức mà không biết lo cho ai, chỉ biết lo cho mình, sớm muộn gì cũng mất chức. Cho nên vui vì người sang trọng, cao quý, có địa vị, vui vì người giàu, biết bố thí, cúng dường, biết làm từ thiện, biết chia sẻ của cải vật chất với mình bằng tâm hoan hỷ khi bố thí, hoan hỷ khi đem cho, thích thú khi đem cho, bố thí với bàn tay rộng mở.

Mình nhìn thấy người giàu đó mình hoan hỷ không phải vì người ta giàu, mà nhìn sâu vô đó là phước lành bố thí, cúng dường, san sẻ, từ thiện giúp đời nên đời này họ được giàu. Mình vui vì thiện pháp của họ gieo trồng trong quá khứ và hiện tại, giờ họ đang hưởng thành quả.

“Ta vui vì người trẻ” trẻ có sức khỏe, khỏe mạnh. Chúng ta thấy có những người sinh ra đã yếu đuối, bệnh hoạn suốt đời cho tới chết, chứ không phải dễ có sức khỏe. Ngược lại, có những người hết sức khỏe mạnh để làm những việc nặng nhọc, do phước lành của họ trong đời trước. Đó là phước báu, phước thiện, nghiệp thiện của họ trong đời trước. Họ đem sức mình, lực mình, công sức ra để giúp đỡ những người khác bằng sức khỏe. Họ ít sát sanh, không sát sanh, họ được một thân khỏe mạnh, trường thọ, sức khỏe dồi dào. Mình vui vì họ biết giữ giới không sát sanh, vui với thiện pháp của họ.

“Ta vui vì người tài”,được may mắn, được an vui, người có tài năng, có ý chí, có sự rèn luyện, khổ luyện, có sự thành tựu trong những khả năng chuyên môn của họ nên mình vui. Những người này có đức kham nhẫn, kiên nhẫn, kiên trì, chịu khó rèn luyện. Mình vui với tâm đó, đức hạnh đó, thiện pháp đó của họ, người có tài phải có kham nhẫn, không kham nhẫn thì không có tài được. Tất cả mọi lãnh vực trên thế gian và xuất thế gian đều phải kham nhẫn, phải chịu khó, nhẫn nại, chịu đựng, chịu khổ, khổ luyện, người đó mới có tài. Mình thấy được đức tính bên trong người đó, mình hoan hỷ, vui cho họ.

Người được may mắn, mình vui cho họ, họ được những điều tốt lành. Đó là phước của họ, là pháp lành, nghiệp thiện, họ được may mắn, thấy gì cũng dễ nhìn, nghe gì cũng dễ chịu, tiếp xúc với cái gì cũng toàn những món ngon, đồ đẹp, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái. Người này nhiều đời tu tập những phước lành, phước báu, phước thiện ở trong thập thiện, giữ gìn năm giới, tu hành thập thiện nên người này được nhiều may mắn, tốt lành, hạnh phúc, hạnh vận tốt lành của họ nên mình vui với cái tốt lành của họ.

“Ta vui vì người an vui”, người được an vui, yên vui do không làm cho người khác sợ hãi, luôn luôn đem sự bình an, an ủi, hài hòa, hòa hợp, hòa thuận với mọi người nên người này sanh ra lúc nào cũng được an vui, không gặp những tai nạn bất thường, bất trắc, không có những hoạn nạn, lo lắng, khủng bố, rất an vui, thường xuyên được an vui cả một cuộc đời. Đời trước họ tu tập tâm hiền hòa, tâm từ ái, hòa thuận, hòa hợp, hòa kính. Và họ luôn đem cảm giác an toàn, bình an đến cho mọi người. Cho nên đời này sanh ra họ thường ở trong cảm thọ đó, an vui.

Chúng ta nhìn thấy trong mỗi cái đều có nhân quả của nó, nhân quả, hạnh nghiệp của nó chứ không phải tự nhiên. Mình nhìn thấy hạnh nghiệp của nó cho nên mình vui, vui vì thiện pháp, phước báu của họ.

“Vui vì người dễ mến

Vui vì người dễ thương

Vì người được người mến

Vui vì được người thương”

Người dễ mến, dễ thương và được người ta mến thương, người này tu tập tâm hiền, thuần thục, tâm từ rất sâu sắc, đi đâu người ta cũng mến, cũng thương, cũng quý, cũng dễ gần. Chúng ta ở đây chắc cũng có nhiều đúng không ạ? Phải không thầy Nghĩa, thầy Thiện Tuệ? Chúng ta thấy không, ở trong chúng hay ở ngoài xã hội cũng đều có nhiều. Gặp họ đem lại cho mình cảm giác dễ chịu, ngọt ngào, rất dễ mến. Cũng như thầy Pháp Tâm hướng dẫn khóa tu vừa rồi, Phật tử nói thầy hướng dẫn con xong rồi thầy quỳ xuống thầy lạy, người ta bất ngờ. Người ta tự cảm thấy xấu hổ với bản ngã của họ, người ta nói dễ thương, đó là những hành động dễ thương, dễ mến.

Điều này là do sự nhiếp phục bản ngã, điều này rất quan trọng. Bản ngã lớn có dễ thương không? Khó thương, khó gần lắm, khiến người ta chạy hết. Phải nhiếp phục bản ngã, tâm từ rộng qua tâm hiền. Chúng ta thấy không, tất cả mọi thứ nhìn vào nhân quả, nhìn vào hạnh nghiệp đều ra hết, giải mã hết tất cả vũ trụ nhân sinh này. Nhìn như vậy mình mới thấy được mình hoan hỷ với nghiệp lành, nghiệp thiện, thiện pháp của người ta.

“Vui vì người hòa hợp

Vui vì người hòa đồng

Vì người thân mến nhau

Vì người tốt với nhau”

Chúng ta thấy trong chúng mình có hòa hợp, hòa đồng không? Có thân mến với nhau, có đối đãi tốt với nhau không? Vui không? Đó là hỷ, phải tưới tẩm cái đó, tăng trưởng, phát triển nó, lan tỏa cảm thọ, cảm xúc đó cho nhau. Dù bên trong khó chịu thế nào đi nữa, giải phá, nhiếp phục liền. Mình đề khởi lên, làm sanh khởi lên những cảm giác hoan hỷ, an lạc, hòa hợp, hòa đồng, thân mến, đối đãi tốt với nhau.

Chúng ta nhớ bài kinh “Nhìn nhau bằng cái nhìn của thiện cảm, của từ ái”, bài kinh ví dụ “Cái cưa”, học thuộc lòng sáu pháp hòa kính đó. Sáu pháp đó phải thuộc lòng, ai cũng phải thuộc, bất thình lình chỉ ai là phải đọc thuộc lòng. Cho nên thấy người ta hòa hợp, hòa đồng, thân mến, tốt với nhau mình vui, mình hoan hỷ.

“Vui vì người được lợi

Vui vì người được danh

Vì người được cung kính

Vì người được tôn vinh”

Người ta được cái này, được cái kia, không phải tự nhiên mà được, đều là nhân quả. Họ đã trồng cây ở đời trước hay lúc trước, bây giờ cái cây đó ra bông, kết trái, chín rộ, giờ đang hưởng. Mình vui, mình được danh tiếng, được người ta cung kính, tôn vinh. Chẳng hạn mình là quý Phật tử hay quý thầy, gặp hòa thượng Thượng Thanh Hạ Từ - viện trưởng thiền viện Trúc Lâm, gặp là sụp xuống lạy, nước mắt tuôn ra. Thậm chí ngay cả những người lớn, có chức sắc gặp hòa thượng cũng vậy.

Có một cậu này, chức to, nào giờ không phải là người biết đạo. Hôm đó đi lại thiền viện Trúc Lâm, vô tình đứng trước sân, hòa thượng ở trong thất đi ra, có quý thầy đi theo, hòa thượng đang đi bình thường như vậy. Vị này cảm động, xúc động, quỳ xuống lạy. Đó mới chỉ là nhìn thấy, hòa thượng chưa nói lời nào nhưng sức cảm hóa lớn như vậy. Mình thấy hình ảnh đó mình vui, đức độ, giới đức, đạo hạnh, phong thái, uy nghi, dáng vẻ của các bậc cao tăng. Hay hòa thượng Quảng Đức, hòa thượng Thượng Trí Hạ Tịnh cũng vậy, mang đôi dép tổ ong, khi đó hòa thượng là chủ tịch hội Phật giáo. Các thầy, Phật tử nhìn thấy là sụp xuống lạy, cung kính hết lòng, hoan hỷ, tôn kính, tôn vinh. Những cái đó làm mình thấy vui, hoan hỷ.

“Vui vì nay ta biết”, đi một vòng rồi cũng quay trở lại, làm gì cũng quay lại mình, không quên mình.

“Vui vì nay ta biết

Xả bỏ tánh ghét ganh

Xả bỏ tâm tật đố

Xả bỏ lòng hơn thua”

Cái này rất hay, hay vô cùng, đừng sân khởi ra tánh ghét ai, ganh tỵ, tật đố hay hơn thua với ai, mà phải quay trở lại nhận diện ngũ uẩn. Mình thấy, biết và nhiếp phục, buông xuống, bỏ xuống được là cười vui, thích thú, vui sướng. Sanh khởi một cảm thọ gì đó mà mình nhiếp phục được rồi, mà mình buông bỏ xuống được là hạnh phúc vô cùng, chúng ta có thấy như vậy không ạ? Có cảm nhận được không?

Lâu lâu giữa tỷ muội, chị em với nhau, có cái này cái kia, xúc chạm với nhau mà mình buông bỏ xuống, nhiếp phục được, mình có hạnh phúc không? Có tuyệt vời không? Nhìn nhau cười nổi không? Điều đó rất tuyệt vời, là phép màu, là tâm hỷ. Không phải ở trên thiền đường mới thực tập tâm hỷ, mà bất cứ ở chỗ nào, vào thời điểm nào, trong thọ, tưởng, hành của mình. Bình thường mình thực tập, tới lúc hữu sự mình mới xài được, sử dụng được. Người khó chịu với mình, mình cũng có thể nhẹ nhàng với họ, gặp là mỉm cười. Mà cười sao cho người ta dễ chịu, chứ họ đang khó chịu mà mình cười khiến họ khó chịu hơn, là thất bại. Cười cho khéo, an lạc cho khéo, lan tỏa cảm thọ, cảm xúc, cảm giác đó ra, làm cho người ta đang nóng bức mà cảm thấy dịu xuống, mát từ từ. Đó là năng lực của sự tu tập tâm hỷ lan tỏa. Cho nên,

“Vui vì nay ta biết

Xả bỏ tánh ghét ganh

Xả bỏ tâm tật đố

Xả bỏ lòng hơn thua”

Vui lắm, không ghét ai hết, trong tâm không ghét bất cứ ai, không ganh với bất cứ một người nào, có gì đâu mà ganh, có ai đâu mà ganh? Có mấy cái đầu lâu, mấy bộ xương, có mấy bộ đồ lòng, mấy đống thịt thối, có mấy đống khổ ở đây còn tạo thêm khổ nữa hay sao? Mình tác ý như vậy, thấy đi đứng vậy mà bên trong là đất, nước, gió, lửa, máu, mủ, ruột, gan, phèo, phổi, tham, sân, si, vô minh, bản ngã… Những đống khổ đang di động, đang động chuyển, không có ai bên trong.

Dục đang điều hành bên trong, tham đang ra lệnh bên trong, ái trói cột bên trong, ngoài ra không có ai ở trong hết. Toàn là dưới sự chỉ huy của dục, tham, ái, vô minh, bản ngã, tổng tư lệnh chứ không có gì hết. Có ai ở đây đâu mà ganh, mà ghét, tật đố, hơn thua. Mục đích duy nhất, thật sự của đời sống này, không có gì khác hơn, duy nhất chỉ có một mà thôi: nhiếp phục và diệt tận những điều đó. Đó là mục đích tối thượng, tối thắng, duy nhất, độc nhất của đời sống này. Ngoài ra không còn gì quan trọng hơn, phải nhìn ra, thấy được điều đó thì sự tu của mình mới tiến.

Cả một cuộc đời này mình sanh ra cho đến khi chết, độc nhất, không có con đường thứ hai, là nhiếp phục và diệt tận tham, sân, si, vô minh và bản ngã, ngoài ra không còn gì quan trọng nữa hết. Cứ tác ý điều đó hoài, nhìn lại hoài, nhiếp phục hoài, ngày đêm, năm tháng nhìn vào trong đó để xả bỏ, nhiếp phục.

“Vui vì nay ta biết

Xả bỏ tánh ghét ganh

Xả bỏ tâm tật đố

Xả bỏ lòng hơn thua”

Chỉ mấy chữ này nhưng nếu phân tích ra, nghiền ngẫm và quán chiếu thì nó làm chúng sanh đau khổ vô lượng, vô biên, vô cùng, vô cực, vô thỷ kiếp, chỉ với mấy chữ này thôi: ghét ganh, tật đố, hơn thua. Anh em, huynh đệ, chị em, con cái, cha mẹ, vợ chồng gì cũng vì điều này. Hai vợ chồng chỉ cần hơn thua với nhau thì gia đình có chuyện không? Vợ muốn hơn, ông chồng có chịu không, có để cho hơn không? Ông cho rằng mình mới hơn, rồi gia đình tan nát, đổ vỡ. Anh em mà muốn hơn thua với nhau rồi còn huynh đệ hài hòa không hay tương tàn?

Đừng nói chi người dưng, hai anh em ruột mà người này đẹp trai, người kia xấu hơn, nó nhìn qua, nó thấy cũng ganh tỵ nữa. Tại sao ba mẹ sanh ra như vậy, con xấu sao anh lại đẹp. Đó mới chỉ là chuyện nhỏ thôi, chứ đừng nói đến chuyện phân chia tài sản không đồng đều là mệt, anh em ruột cùng chung nắm ruột chứ nói gì tới người dưng. Chúng ta thấy ngũ uẩn này nó như vậy không? Ganh tỵ, ganh ghét, tật đố, hơn thua, giành giật với nhau.

Có một câu chuyện vui, hai nhà hàng xóm, nhà bên đây bốn năm tầng, nhà bên kia có mấy tấm tôn. Lâu lắm, hiếm lắm họ mới nói chuyện với nhau, vì phân biệt giàu, nghèo. Bữa đó vô tình hai bà hàng xóm đều ngồi trước nhà, hai người tâm sự với nhau. Bà nhà nghèo nói bà nhà giàu: “Chị sung sướng, cái gì cũng có, đầy đủ, xe hơi, nhà lầu, tủ lạnh, ti vi, muốn gì cúng có, còn tôi khổ quá”. Bà kia nói: “Thôi chị, chị không biết chứ tôi cũng khổ, không có đêm nào ngủ yên, sợ ăn trộm, tôi khổ quá”. Bà nhà nghèo mới nói: “Vậy chị chia bớt cái khổ cho tôi đi”, bà nhà giàu trả lời: “Thôi, tôi chịu khổ quen rồi!”.

Đó là mình nói vui thôi, chứ có những trường hợp, họ thật sự không nói chuyện với nhau. Họ bốn tầng, bên kia có mấy tấm tôn làm sao nói chuyện, ganh tỵ, đố kỵ, hơn thua. Tuy nói vậy chứ “Chịu khổ quen rồi”, đừng chia cái khổ, mặc dù khổ nhưng mình tôi chịu thôi, không chia cho ai hết. Vậy đó, làm ra biết bao nhiêu đau khổ cho nên tánh ganh ghét, lòng hơn thua này là đề tài cho mình thiền quán, chiêm nghiệm.

Nói chuyện một hồi là có chuyện, nhất là mấy bà tám, ôi chao cái này khổ vô cùng. Ngồi nói một hồi là nói tới chuyện xấu, chuyện thị phi của người ta, nói tới chuyện này chuyện nọ, chuyện kia của người thứ ba, rồi đôi chối cho có chuyện khổ, rồi bất an, có tu được đâu. Thành ra xả bỏ được những điều đó rất là vui, tuyệt vời.

“Vui vì nay ta biết

Tu tập tâm hiểu thương

Tu tập tâm hiền thiện

Tu tập tâm hiền vui”

Điều này thật tuyệt vời, nó ngấm vào, vui vì nay ta biết, biết tu tập tâm hiểu thương. Không có ai hiểu mình hơn mình, nhìn thấy trong này, ôi thôi, ngao ngán, chán chường, xấu hổ, nhục nhã, tàm quý. Cho nên hiểu mình, thương mình, tội nghiệp cho ta quá, từ này thông dụng, dễ hiểu, tội nghiệp cho mình quá. Sao sân hoài vậy, hở một chút giận, hở một chút bực, hở một chút cộc cằn, gay gắt, khó chịu, hơn thua, tranh luận, hở một chút là dùng vũ khí bằng miệng lưỡi. Để làm gì? Tội nghiệp quá, đáng thương quá.

Cho nên, Minh Thành có bài: “Mình là kẻ đáng thương nhất hành tinh”, sao còn dục hoài, còn tham hoài, còn muốn hoài, đòi hoài, hỏi hoài, tìm hoài, kiếm hoài, khao khát hoài, tới khi nào mới hết đây? Tội nghiệp quá, sao si hoài, ngu hoài, mờ tối, si ám, ngu muội hoài, tội nghiệp quá vậy, đáng thương quá vậy. Sao bản ngã hoài, vênh váo, hống hách hoài, ta đây hoài, kiêu căng ngã mạn hoài, không biết chán sao? Không biết nhục hay sao, không thấy xấu hổ, tồi bại, đốn mạt, thấp hèn, đê tiện hay sao?

Mình hiểu mình, thương mình lắm, một cảm thọ thấm đượm từ đỉnh đầu tới gót chân, từng lỗ chân lông, thấy ê chề.

“Vui vì nay ta biết

Tu tập tâm hiểu thương

Vậy đó mà mình vui, thấy mình, hiểu mình, xưa nay mình không biết, hướng ngoại nhìn người ta, đòi hỏi, mà thương vô cùng thương. Thương cho ngũ uẩn này, cho sự u mê này, tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã này. Thương đống khổ này, đại khổ uẩn này, chỗ sản xuất ra tham, sân, si, sầu bi, ưu não; chỗ sản xuất ra sanh, già, bệnh, chết, ốm đau, hoạn nạn, tai nạn, ách nạn, hiểm nạn, nguy nan này. Hiểu, thương, tội nghiệp.

Như vậy, từ chỗ hiểu mình, thương mình, thật sự nó dào dạt, trào dâng, cảm xúc đầm đìa nước mắt. Nó ngấm trong da, vào thịt, vào trong xương, đi vào trong tủy, não của mình một sự hiểu và thương sâu sắc. Không gì diễn tả được cảm xúc, cảm thọ đó. Cho nên:

“Vui vì nay ta biết

Tu tập tâm hiểu thương”

Tu tập, tu tập tâm hiểu thương, thấu hiểu, xót thương, ta hiểu mình quá, ta rành mình sáu câu vọng cổ, ta thấy rõ nội tâm si ám, ngu muội này quá. Ta thấy hỡi ôi quá với một cái tâm dơ bẩn, cấu nhiễm, xú uế. Ta quá hỡi ôi, xấu hổ, tàm quý và nhục nhã, tâm đầy dẫy những dục, tham, ái, sân hận, tật đố, hơn thua, ganh tỵ, ích kỷ, hẹp hòi, nhỏ nhoi, nhỏ nhiệm, nhỏ bé… Ta thấy mình quá tội nghiệp, quá ư tội nghiệp. Tội nghiệp thay là ta mang tâm này vô thỉ, vô lượng kiếp cho đến nay. Tội nghiệp thay ta mang tâm xú uế như vậy từ hằng hà sa số kiếp vừa qua.

Ta thấy ngao ngán, nhàm chán, ta muốn viễn ly, xuất ly, xả ly, từ bỏ tâm này. Và ta nhìn trở ra những người xung quanh ta, những hữu tình, chúng sanh thì hỡi ôi… Đầy dẫy sự xâm chiếm, sự áp đảo, sự thiêu đốt, sự nhận chìm, thác lũ cuốn phăng hết tất cả vô lượng, vô biên chúng sanh trong hoàn vũ, trong hành tinh này, ta thấy hỡi ôi…!

Ta nhìn những người thân của mình, cũng bị đè nặng dưới ách nô lệ, làm đầy tớ cho tham ái, làm người hầu cho bản ngã, làm kẻ sai vặt cho sân hận. Thật sự hiểu và thương! Tình thương của ta lan tỏa, ta hiểu và xót thương cho mình, cho hữu tình, chúng sanh. Ta tu tập, thực tập, ta tập tới tập lui, tập tành, tập luyện, rèn luyện, tu tập tâm hiểu, thương. Ta nhìn bất cứ một sự thật, sự việc, con người nào cũng nhìn bằng tâm hiểu, thương.

Đừng nhìn bề ngoài hay việc làm của họ, đừng nhìn hành động, lời nói, ngôn ngữ của họ. Hãy nhìn sâu vào bên trong căn nguyên phát xuất ra những hành động, ngôn ngữ, lời nói, việc làm đó, ta mới thấy bên trong là vô minh và khát ái, là sự thúc giục, mê muội, si mê. Nhìn sâu vào trong đó, ta hiểu và thương, thương cho đến con tim ta rung động, chấn cảm – chấn động và cảm xúc dạt dào. Thương có thể bất cứ lúc nào nước mắt ta trào ra. Tội nghiệp cho chính ta và hữu tình chúng sanh, sống trong bóng đêm của si ám, si mê, si ái.

Ta hiểu, thương, vui lắm, vui vì ta biết tu tập tâm hiểu thương này. Ta thương, thương cha mẹ, ông bà ta, ta thương cô bác, anh chị, chú dì, họ đang bị đau khổ giống như ta. Ta thương, thương mọi người, những người đang sỉ vả, sỉ nhục ta. Ta thương những người đang lợi dụng, chỉ trích ta, thương những người đang sỉ vả, phỉ nhổ ta, những người đang muốn hãm hại ta. Ta hiểu và thương, ta thương khắp tất cả những ngũ uẩn, lặn ngụp, trôi nổi, trôi dạt, trôi lăn trong dòng của sống chết, khổ sầu. Ta thương rất nhiều, rất nhiều tình thương, tràn ngập trong ta là dạo dạt một tình thương xót bi mẫn ngập tràn của chúng sanh vạn loài.

Ta vui vì nay ta biết tu tập tâm hiểu thương. Vui mà rơi nước mắt, vui mà tràn giọt lệ, vui mà đầy lòng trắc ẩn, bi mẫn. Cả thế giới này bị bao phủ trong si ám, khắp hành tinh này, cả địa cầu này đều bị bóng đêm vô minh, si ám bao phủ ngày đêm, phải sống trong bóng đêm, bóng tối. Cho nên, ta phải biết tu tập tâm hiểu thương, hiểu và thương. Ta nhìn con kiến, con trùn, rắn, chó muỗi, tắc kè, ve sầu… tất cả ta nhìn bằng tâm hiểu thương. Hiểu rồi thương lắm, chỉ không hiểu mới giận thôi, cả địa cầu này ai cũng là người đáng thương, không có người nào đáng cho mình giận. Còn giận là chưa hiểu, hiểu rồi, giận không tồn tại nữa. Đó là lòng đại bi, đại từ của bậc đa văn Thánh đệ tử.

Chúng ta thấy không, người thân của chúng ta đáng thương lắm, hãy khuyên bảo, nhắc nhở, khuyến khích, khích lệ, an trú họ vào trong Chánh Pháp. Hằng ngày chúng ta lên chia sẻ, thực tập, thu hoạch, phát trực tuyến lên bằng tâm hiểu và thương. Đó là từ thiện, chúng ta phải làm bằng tâm đó, chứ không phải làm bằng danh lợi để được lên hình, làm bằng tâm hiểu thương. “Pháp vị thắng mọi vị, pháp thí thắng mọi thí”, “Ai cho Chánh Pháp, người đó cho bất tử”.

Hằng ngày chúng ta phải thực tập tâm hiểu thương trong mọi lúc mọi nơi, mọi suy nghĩ, mọi tưởng, mọi cảm thọ, hành động của mình. Mọi hành động của mình phải tu tập tâm hiểu thương. Ở dưới Sài Gòn, người ta mỗi ngày đem cho đồ ăn, mình ở đây cách xa không làm được, mình cho dinh dưỡng tinh thần, thức ăn của tâm linh. Hãy làm những việc đó, truyền tải pháp đó bằng cả trái tim, tấm lòng và sinh mạng của mình trong mỗi buổi chia sẻ và thực hành pháp trực tiếp cho tất cả mọi Phật tử khắp mọi miền, đất nước, trong nước, ngoài nước cả trái tim của mình.

Hãy chia sẻ niềm hoan hỷ với họ, họ đang rất đau khổ, bất an, đang lo lắng và sợ hãi, thống khổ, căng thẳng, bức xúc. Hãy lan tỏa cảm thọ của sự an lạc, sự hiểu thương, sự hoan hỷ Chánh Pháp này đến trái tim của tất cả hữu tình chúng sanh trong thời điểm đại thảm họa của toàn cầu. Mỗi lời đọc lên đều bằng trái tim, mỗi câu mình thốt ra đều bằng cả tấm lòng. Mỗi pháp mình hành trì, đều bằng cả sự sống và sinh mạng, làm sao để người ta cảm nhận được cảm thọ đó, để họ có được cảm giác bình an, an ổn, an lạc, nhẹ nhàng, hoan hỷ trong giáo pháp, để họ lấy đó làm động lực tu tập, tu hành trong thời điểm khó khăn nhất này.

“Vui vì nay ta biết

Tu tập tâm hiểu thương”

Chỉ một câu này thôi nhưng chúng ta phải thực tập rất nhiều.

“Tu tập tâm hiền thiện

Tu tập tâm hiền vui”

Mình thực tập tâm hiền này mình cảm thấy rất vui. Nghĩ cũng suy nghĩ hiền, nói lời hiền, làm việc hiền, suy nghĩ lành, nói lời lành, làm việc lành. Sắc mình là sắc hiền thiện, những cảm thọ hiền, những tưởng hiền thiện, những suy nghĩ lành hiền thiện, những nhận thức bằng chiều hướng hiền thiện. Buổi sáng hiền thiện, an lành; buổi trưa hiền thiện, an lành; buổi chiều hiền thiện, an lành; buổi tố hiền thiện, an lành.

Tuyệt vời lắm, tu tập tâm hiền vui, tâm hiền thiện này đem đến an vui, lúc nào hiền là lúc đó vui. Tâm an tịnh, lắng dịu, nhẹ nhàng, hiền hòa, tâm đó rất vui, hoan hỷ, an lạc, mỗi bước chân hiền thiện, hiền vui. Vui trong mỗi bước chân chứ không phải ai nói gì, khen gì khiến mình vui. Mỗi bước chân trong tâm hiền thiện, cảm thọ hiền hòa, hiền vui làm an lạc, tâm hỷ nằm trong đó. Mỗi lời nói của mình mà từ ái, sẽ có cảm giác hiền thiện, tâm hỷ ở trong đó. Mỗi hành động của mình an tịnh, lắng dịu, hiền vui lắm, tuyệt vời lắm, bình an.

“Vui vì ta được biết

Chánh Pháp của Thế Tôn

Vui vì ta được học

Lời dạy của Thế Tôn

Vui vì được nghe pháp

Vì được gặp bạn lành

Vì biết giữ giới hạnh

Vì biết tập nhìn tâm”

Bây giờ vào tới Chánh định, Chánh lý. “Vui vì ta được biết, Chánh Pháp của Thế Tôn”, còn cái vui nào bằng? Không có niềm vui nào trên thế gian tối thượng bằng biết được Chánh Pháp của Thế Tôn. Cho mình một chục kho tàng châu báu chỉ tăng thêm sầu bi, khổ, ưu não, không đủ. Mình cho mình được pháp tạng, kho tàng Chánh Pháp này có khả năng nhiếp phục dục tham, đoạn tận dục tham, thật sự ly tham, an lạc, giải thoát.

Tuyệt vời lắm, trong kinh Pháp cú, dù cho cả quả đất này biến thành vàng, hột xoàn; dù thống trị cả địa cầu này làm chuyển luân Thánh vương, không bằng một phần mười sáu của vị đã thấy pháp. Cho mình làm chuyển luân Thánh vương, làm chủ cả địa cầu này, thống lãnh cả thế giới, cho tất cả trái đất này thành vàng, kim cương không bằng một phần trăm của vị nhập lưu, cái an lạc, vui sướng, hạnh phúc của vị thấy pháp, thấy được khổ Thánh đế, thấy được ngũ uẩn, các lậu hoặc. Không bằng một phần mười sáu, tức mình nói phần trăm, là một phần rất nhỏ.

Vậy mình có vui không? Mình nghe pháp, ngồi thiền có vui không? Có không? Mình được bảo tạng, kho báu của Chánh Pháp.

“Vui vì ta được học

Lời dạy của Thế Tôn

Vui vì được nghe pháp

Vì được gặp bạn lành

Vì biết giữ giới hạnh

Vì biết tập nhìn tâm”

Câu này thật tuyệt vời, vui vì mình được biết Chánh pháp, được học pháp, nghe pháp của Thế Tôn, mình được gặp bạn lành, biết giữ giới hạnh và biết tập nhìn tâm, biết quay trở về chính mình, thấy biết được chính mình. Còn cái vui nào hơn? Tại sao vô lượng kiếp vừa qua mình không biết nhìn tâm, không biết mình là ai, là cái gì. Vô lượng kiếp vừa qua mình sống trong mù lòa, sống trong bóng đêm.

“Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỳ-kheo, chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói cột. Trái đất này có thể vỡ ra, tan nát thành cát bụi, biển cả có thế khô cạn không còn một giọt nước. Nhưng ta tuyên bố rằng khổ của chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc không có ngày chấm dứt vì không thành tựu Chánh kiến, tức không sáng con mắt mù ra”.

Bây giờ mình được sáng con mắt mù ra, vui hay là không. Sáng con mắt mù ra để mình thấy ngũ uẩn, để tập nhìn tâm, để hiểu thương chính mình. Vui lắm, gặp được Chánh Pháp, học được Chánh Pháp, vui vì gặp bạn lành, vì biết giữ giới hạnh, vui vì biết tập nhìn tâm. Hân hoan lên, hoan hỷ lên, hạnh phúc lên, vì mình thấy ngũ uẩn, thấy lậu hoặc, thấy vô minh, thấy dục, tham, ái. Mình thấy được cái ngấm ngầm đang hoạt động.

Vui vì mình thấy được thủ phạm thật sự gây ra khổ đau trong vô lượng kiếp vừa qua. Vui vì mình ở núi rừng, vì mình có một hội chúng hiền thiện. Vui vì hằng ngày mình được nghe Thánh pháp, Thánh trí, đi trên Thánh đạo. Vui vì mình sống trong sự hòa hợp, hòa kính, hòa ái, hòa an, hòa vui, hòa lạc. Vui vì mình biết rằng mục đích duy nhất, thật sự của đời này là diệt tận các lậu hoặc, cấu nhiễm. Vui lắm, hạnh phúc lắm, vì được biết hơn vô lượng vô biên chúng sanh khác. Trong bảy tỷ người, mấy người nhìn thấy ngũ uẩn, mấy người nhìn thấy dục, tham, ái, vô minh, bản ngã của chính họ? Mấy người biết xấu hổ, biết nhục nhã, biết gục đầu, cúi đầu, sụp xuống để lạy nhiếp phục bản ngã?

Có người bình luận, nghe không hiểu gì hết, không biết người nói có hiểu không? Người ta nghe bài Minh Thành chia sẻ về bi vô lượng tâm, làm sao người ta hiểu được khi không thấy năm uẩn, lậu hoặc? Thật sự hy hữu, hiếm có, khó gặp Thánh Pháp này. Phải vui, ngày đêm tinh tấn, tu tập; ngày đêm hoan hỷ ở trong pháp lành này, say sưa, thích thú, hân hoan, ngập tràn ở trong thiện pháp, Thánh pháp này.

Nếu mình để lơ là, nó kéo mình quay trở lại dòng đời, dòng của dục, tham, ái, muôn kiếp bất phục, vạn kiếp sau cũng không thể trở lại gặp được Thánh pháp này. Cho nên vui để tu học, để hành trì.

“Vui vì nay ta biết

Tu tập tâm hiểu thương

Tu tập tâm hiền thiện

Tu tập được hiền vui

Vui vì ta được biết

Chánh Pháp của Thế Tôn

Vui vì ta được học”

Lời dạy chân truyền của Thế Tôn, kinh tạng Nikāya, vui vì được nghe pháp, được gặp bạn lành, vui vì biết giữ giới hạnh, vui vì biết tập nhìn tâm.

“Vui vì ta biết ngán

Ngán nhân quả, trả vay

Ngán nghiệp lực thúc đẩy

Sanh vào chỗ đắng cay”

Vui vì ta được biết Chánh pháp của Thế Tôn, vui vì ta được học lời dạy của Thế Tôn, vui vì được nghe pháp, gặp bạn lành, biết giữ giới hạnh, vì biết tập nhìn tâm. Chúng ta cùng nhau trải tâm hỷ, chấp tay trải tâm hỷ.

“Đây là phương trước mặt,

Phía trên, phía dưới, bề ngang,

Rộng lớn và bao la,

Hòa lẫn khắp phương này

Là tâm vui của ta

Tâm tràn đầy vuivẻ

Tâm đầy ngập hân hoan

Tâm khoan khoái nhẹ nhàng

Tâm ngập tràn hỷ lạc

Tâm vui này tỏa rộng

Cùng khắp thế giới này

Tâm vui này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la

Tâm vui này tỏa rộng

Khắp trời đất bao la”

Kính gửi nguồn cảm thọ hoan hỷ, an lạc này đến tất cả quý vị Phật tử gần xa, cùng khắp, hoan hỷ trong Chánh Pháp này.