Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Độc Cư và Khổ Hạnh của Phật 1

2026-03-03 00:56:10
ĐỘC CƯ VÀ KHỔ HẠNH CỦA ĐỨC PHẬT.

ĐĐ. Thích Minh Thành giảng

Hôm nay trong thất Minh Thành đọc chuyên đề "Độc cư ở một mình" gần 4 tiếng đồng hồ, cầm lên đọc là không bỏ xuống. Trong đây là những lời dạy của Đức Phật về việc ở một mình để mình thấy được sự tu hành khổ hạnh của Đức Phật, từ đó so sánh với đời tu của mình không giống với Phật, vẫn còn cách xa. Đọc cái này chỉ muốn vào thất. Hôm nay Minh Thành muốn chia sẻ vài điểm quan trọng, huynh Thiện Trí bên Hà Lan nhận lời yêu cầu của Minh Thành nên đã soạn những chuyên đề trong kinh tạng Nikāya, đây là phần "Độc cư ở một mình" mà bây giờ mình hay gọi là Nhập thất.

Trong Trung Bộ Kinh, bài kinh "Sư tử hống", Đức Phật giải thích độc cư là sống một mình, không gặp ai và cũng không cho ai gặp mình. Đức Phật giải thích rất kỹ, mình sẽ bám sát vào đây và cái này sau này sẽ trở thành giáo trình của Cao đẳng Phật học. Ví dụ thấy một ai đó khi mình đang sống độc cư thì mình sẽ tránh không gặp, không tiếp xúc, tránh cho tới mức bỏ chạy:

Này Sariputta, Ta đi sâu vào một khu rừng và an trú tại chỗ ấy. Khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi hay người thợ rừng, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Vì sao vậy? Ta nghĩ rằng: "Mong họ đừng thấy Ta, và mong Ta đừng thấy họ!" Này Sariputta, giống như một con thú rừng thấy người liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. Cũng vậy, này Sariputta, khi Ta thấy người chăn bò, người mục súc, người cắt cỏ, người đốn củi, hay người tiều phu, Ta liền chạy từ rừng này qua rừng khác, từ lùm cây này qua lùm cây khác, từ thung lũng này qua thung lũng khác, từ đồi cao này qua đồi cao khác. (Trung Bộ Kinh- Đại Kinh Sư Tử Hống).

Minh Thành đọc tới đoạn nói về sự khổ hạnh của Phật là rơi nước mắt. Mình tu bây giờ không giống Phật. Thầy Pháp Từ hãy đọc tiếp đoạn nói về sự khổ hạnh của Đức Phật.

Này Sariputta, ở đây, khổ hạnh của Ta như sau: Ta sống lõa thể, phóng túng, không theo khuôn phép, liếm tay cho sạch, đi khất thực không chịu bước tới, không nhận đồ ăn mang đến, không nhận đồ ăn đặc biệt nấu cho mình, không nhận mời đi ăn, không nhận đồ ăn từ nơi nồi chảo, không nhận đồ ăn tại ngưỡng cửa, không nhận đồ ăn đặt giữa những cây gậy, không nhận đồ ăn đặt giữa những cối giã gạo, không nhận đồ ăn từ hai người đang ăn, không nhận đồ ăn từ người đàn bà có thai, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang cho con bú, không nhận đồ ăn từ người đàn bà đang giao cấu, không nhận đồ ăn đi quyên, không nhận đồ ăn tại chỗ có chó đứng, không nhận đồ ăn tại chỗ có ruồi bu, không ăn cá, ăn thịt, không uống rượu nấu, rượu men. Ta chỉ nhận đồ ăn tại một nhà, chỉ nhận ăn một miếng, hay chỉ nhận ăn tại hai nhà, chỉ nhận ăn hai miếng, hay chỉ nhận ăn tại bảy nhà, chỉ nhận ăn bảy miếng. Ta nuôi sống chỉ với một chén, nuôi sống chỉ với hai chén, nuôi sống chỉ với bảy chén. Ta chỉ ăn một ngày một bữa, hai ngày một bữa, bảy ngày một bữa. Như vậy Ta sống theo hạnh tiết chế ăn uống cho đến nửa tháng mới ăn một lần. Ta chỉ ăn cỏ lúa để sống, lúa tắc, gạo lức, ăn hột cải nivara, ăn da vụn, ăn trấu, uống nước bột gạo, ăn bột vừng, ăn cỏ, ăn phân bò, ăn trái cây, ăn rễ cây trong rừng, ăn trái cây rụng để sống. Ta mặc vải gai thô, mặc vải gai thô lẫn với các vải khác, mặc vải tẩm liệm rồi quăng đi, mặc áo phấn tảo y, mặc vỏ cây tititaka làm áo, mặc da con sơn dương đen, mặc áo bện từng mảnh da con sơn dương đen, mặc áo bằng cỏ cát tường, mặc áo vỏ cây, mặc áo bằng tấm gỗ nhỏ, mặc áo bằng tóc bện lại thành mền, mặc áo bằng đuôi ngựa bện lại, mặc áo bằng lông cú. Ta sống nhổ râu tóc, Ta theo tập tục sống nhổ râu tóc, Ta theo hạnh thường đứng không dùng chỗ ngồi, Ta là người ngồi chõ hỏ, sống tinh tấn theo hạnh ngồi chõ hỏ. Ta dùng gai làm giường, thường ngủ nằm trên giường gai, sống dùng ván gỗ làm giường, sống nằm trên đất trần, thường nằm ngủ một bên hông, sống để bụi và nhớp che dính thân mình, sống và ngủ ngoài trời, theo hạnh bạ đâu nằm đấy, sống ăn các uế vật, sống không uống nước lạnh, theo hạnh không uống nước lạnh, sống một đêm tắm ba lần, theo hạnh xuống nước tắm. Như vậy Ta sống theo hạnh hành hạ, dày vò thân thể theo nhiều cách. Này Sariputta, như vậy là khổ hạnh của Ta (Trung Bộ Kinh- Đại Kinh Sư Tử Hống).

Này Sariputta, ở đây hạnh bần uế của Ta như sau: Trên thân Ta, bụi bặm chất đầy trải nhiều năm tháng, đóng thành tấm, thành miếng. Như gốc cây tinduka bụi bặm chất đầy trải nhiều năm tháng, đóng thành tấm, thành miếng; cũng vậy, này Sariputta, trên thân Ta bụi bặm chất đầy trải nhiều năm tháng, đóng thành tấm, thành miếng. Này Sariputta, Ta không nghĩ rằng: "Với tay của Ta, Ta hãy phủi sạch bụi bặm này đi, hay những người khác với tay của họ hãy phủi sạch bụi bặm này đi cho Ta". Này Sariputta, Ta không có nghĩ như vậy. Này Sariputta, như vậy là sự bần uế của Ta.

Này Sariputta, như thế này là sự yểm ly của Ta. Này Sariputta, tỉnh giác, Ta đi tới; tỉnh giác Ta đi lui, Ta an trú lòng từ cho đến trong một giọt nước với tâm tư: "Mong rằng Ta không làm hại một chúng sanh nhỏ nào trong những ác đạo của họ!" Này Sariputta, như vậy là sự yểm ly của Ta.

Này Sariputta, rồi Ta bò bốn chân đến các chuồng bò, khi các con bò cái đã bỏ đi, khi các người chăn bò không có mặt, rồi Ta ăn phân các con bò con, các con bò còn trẻ, các con bò còn bú. Khi nước tiểu và phân của Ta còn tồn tại, Ta tự nuôi sống với các loại ấy. Này Sariputta, như vậy là hạnh đại bất tịnh thực của Ta.

Này Sariputta, Ta đi sâu vào một khu rừng rậm rạp kinh hoàng và an trú tại chỗ ấy. Này Sariputta, tại khu rừng rậm rạp kinh hoàng này, những ai còn tham ái đi vào khu rừng rậm rạp ấy, thời lông tóc người ấy dựng ngược. Này Sariputta, rồi Ta trong những đêm đông lạnh lẽo, giữa những ngày mồng tám, khi có tuyết rơi, trong những đêm như vậy, Ta sống giữa trời, và ban ngày sống trong khu rừng rậm rạp. Ta sống trong những ngày cuối tháng hè, ban ngày thì sống giữa trời, còn ban đêm trong khu rừng rậm rạp. Rồi này Sariputta, những bài kệ kỳ diệu từ trước chưa từng được nghe sau đây được khởi lên:

Nay bị thiêu đốt, bị buốt lạnh,

Cô độc sống trong rừng kinh hoàng,

Trần truồng, Ta ngồi không lửa ấm,

Ẩn sĩ, trong lý tưởng đăm chiêu.

Này Sariputta, Ta nằm ngủ trong bãi tha ma, dựa trên một bộ xương. Này Sariputta, những đứa mục đồng đến gần Ta, khạc nhổ trên Ta, tiểu tiện trên Ta, rắc bụi trên Ta và lấy que đâm vào lỗ tai. Này Sariputta, và Ta biết Ta không khởi ác tâm đối với chúng. Này Sariputta, như vậy là hạnh trú xả của Ta.

Này Sariputta, dầu Ta có theo cử chỉ như vậy, theo hành lộ như vậy, theo khổ hạnh như vậy, Ta cũng không chứng được các pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Vì sao vậy? Vì với những phương tiện ấy, không chứng được pháp thượng nhân với Thánh trí tuệ. Chính Thánh trí tuệ này chứng được thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau.

Ở đây thầy chỉ dẫn chứng một vài điều thôi, các huynh đệ có thời gian đọc thêm. Mình là vô văn phàm phu, mình không học, không có nghe, mình không biết Đức Phật tu cái gì, mình không biết giá trị của pháp bảo. Hôm qua có một chú hỏi thầy "sao con mở kinh sách ra đọc một lúc là con không muốn học, làm biếng", là tại vì mình chưa từng đọc những cái này, chưa thấy sự gian khổ tột độ của Thái tử, của Bồ Tát khi chưa tìm ra Bát Chánh Đạo, Tứ Thánh Đế. Trên đây chỉ là một đoạn nhỏ trong sự gian nan của Phật thôi cho nên bây giờ Minh Thành thấy những người đến cầu pháp với một thái độ không thể nào họ đạt được pháp vì họ không có tâm cung kính đúng mức đối với Phật, đối với pháp, đối với tăng. Thậm chí coi vị thầy giống như ca sĩ, thích người nào thì nghe người đó, không thì thôi, hoặc là dựa vào vị thầy danh tiếng, hay là tìm tới để giải khoây, chia sẻ vui buồn. Cái đó không phải là chân chánh cầu pháp, vì mình không biết được giá trị của pháp, mình không biết được giáo pháp mà mình đang được học thì Đức Thế Tôn phải trải qua bao gian khổ mới chứng ngộ được vì mình vô văn phàm phu, mình không có học, không tìm hiểu. Mình phải biết được Đức Thế Tôn phải đánh đổi như thế nào để thành tựu được thánh trí này, thành tựu được giáo pháp này để mình thành tựu được con đường chấm dứt khổ đau này chứ không phải chuyện đơn giản.

Trước khi Ngài chứng thành Chánh Giác dưới cội Bồ Đề thì Ngài phải trải qua khổ hạnh như thế nào, sống độc cư theo kiểu xưa khi Ngài chưa thấy đạo thì thấy người thì tránh, thấy người là trốn như con thú rừng, thấy người là hoảng sợ chạy mất từ lùm cây này đến lùm cây khác, từ khu rừng này đến khu rừng khác, từ đồi núi này đến đồi núi khác. Đó là hạnh độc cư của Ngài được Ngài tâm sự với Xá-lợi-phất.

Thắng tri là thấu triệt toàn vẹn hết về đời sống thanh tịnh "Này Sariputta, Ta thắng tri phạm hạnh, đầy đủ bốn hạnh: về khổ hạnh, Ta khổ hạnh đệ nhất; về bần uế, Ta bần uế đệ nhất; về yểm ly, Ta yểm ly đệ nhất; về độc cư, Ta độc cư đệ nhất". Mình nhìn lại những cái này mình thấy xấu hổ, hổ thẹn. Mỗi ngày mình tu cái gì mà bây giờ mình cầm cuốn kinh lên là làm biếng, tới giờ nghe pháp là thấy mệt thì làm sao mà thành tựu được? Khổ hạnh của Ngài là tất cả những cái mình nghe nãy giờ, thậm chí bảy ngày mới ăn, Ngài còn nói rờ tới bụng là chạm tới xương sườn. Thầy có thỉnh một tượng nhỏ là bộ xương đem về chùa Bửu Liên, khổ hạnh cho tới gần như chết để thành tựu thánh trí. Ngài nói với Xá-lợi-phất "Ta sống theo hạnh hành hạ, dày vò thân thể theo nhiều cách". Còn cái hạnh bần uế là bụi bận đầy mình qua năm tháng đống thành từng tấm, từng miếng. Ngài yểm ly một mình, cách xa xóm làng, người thân, bỏ hết mọi thứ. Hạnh đại bất tịnh thực tức là ăn cái dơ nhất là ăn phần bò, uống nước tiểu bò, đây là chuyện bình thường bên Ấn Độ, đến giờ vẫn còn như vậy và Ngài ăn phân chính mình, uống nước tiểu của mình. Đây là cái khổ hạnh của Ấn Độ ngày xưa, vì khi đó họ đề xướng cái khổ hạnh và rất quý khổ hạnh, càng khổ hạnh chừng nào thì càng được tôn kính chừng nấy và Ngài đã thử qua hết tất cả những điều này. Mùa đông lạnh lẽo tuyết rơi mà Ngài trần truồng không quần áo và bị những đứa con nít dùng cây đâm vào tai, đạp lên người, khi đó Ngài như con ma đói, không ai biết Ngài là Thái tử. Còn mình nghèo mạt xác đi tu mà làm dáng công tử, Ngài là Thái tử mà bỏ hết đến tận cùng để thực sự cầu đạo giải thoát, nằm ngủ trong bãi tha ma, dựa vào bộ xương. Bây giờ mình thấy bộ xương có dám nhìn kĩ không, có dám lại gần không chứ đừng nói gì đến việc nằm tựa vào bộ xương để ngủ.  "Những đứa mục đồng đến gần Ta, khạc nhổ trên Ta, tiểu tiện trên Ta, rắc bụi trên Ta nhưng Ta biết Ta không khởi ác tâm đối với chúng". Ngài tu tập cái tâm đến như vậy, nhiếp phục cái tâm đến mức độ đó mà vẫn chưa thành tựu thánh trí, chưa tìm ra thánh đạo.

Này Sariputta,  Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những cọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo. Vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, các xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh. Vì Ta ăn quá ít, các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột nhà sàn hư nát. Vì ta ăn quá ít, nên con ngươi của Ta long lanh nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu. Vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nheo khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nheo khô cằn. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: "Ta hãy sờ da bụng", chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: "Ta hãy sờ xương sống", thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Sariputta, da bụng của Ta bám chặt xương sống. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: "Ta đi đại tiện hay đi tiểu tiện", thì Ta ngã quỵ, úp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít. Này Sariputta, nếu Ta muốn thoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thì này Sariputta, trong khi Ta lấy tay xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít.

Này Sariputta, lại có một số Sa-môn, Bà-la-môn có những chủ thuyết như sau, có những kiến giải như sau: "Sự thanh tịnh đạt được nhờ món ăn". Họ nói: "Chúng ta sống nhờ đậu xanh, chúng ta sống nhờ vừng mè, chúng ta sống nhờ hột gạo", và họ ăn hột gạo, họ ăn hột gạo nghiền thành bột, họ uống nước gạo, và họ ăn hột gạo dưới nhiều hình thức. Này Sariputta, Ta tự xưng Ta sống chỉ ăn một hột gạo. Này Sariputta, có thể các Người nghĩ như sau: "Hột gạo thời ấy to lớn". Này Sariputta, chớ có hiểu như vậy. Vì hột gạo thời ấy giống với hột gạo hiện tại. Này Sariputta, trong khi Ta chỉ sống ăn một hột gạo, thân thể của Ta trở thành hết sức ốm yếu. Vì Ta ăn quá ít, tay chân Ta trở thành như những cọng cỏ hay những đốt cây leo khô héo. Vì Ta ăn quá ít, bàn trôn của Ta trở thành như móng chân con lạc đà. Vì Ta ăn quá ít, xương sống phô bày của Ta giống như một chuỗi banh. Vì Ta ăn quá ít các xương sườn gầy mòn của Ta giống như rui cột của một nhà sàn hư nát. Vì Ta ăn quá ít, con ngươi long lanh của Ta nằm sâu thẳm trong lỗ con mắt, giống như ánh nước long lanh nằm sâu thẳm trong một giếng nước thâm sâu. Vì Ta ăn quá ít, da đầu Ta trở thành nhăn nheo, khô cằn như trái bí trắng và đắng bị cắt trước khi chín, bị cơn gió nóng làm cho nhăn nheo, khô cằn. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: "Ta hãy sờ da bụng", thì chính xương sống bị Ta nắm lấy. Nếu Ta nghĩ: "Ta hãy rờ xương sống", thì chính da bụng bị Ta nắm lấy. Vì Ta ăn quá ít, nên này Sariputta, da bụng của Ta bám chặt xương sống. Này Sariputta, nếu Ta nghĩ: "Ta đi đại tiện hay đi tiểu tiện", thì Ta ngã quỵ, úp mặt xuống đất, vì Ta ăn quá ít. Này Sariputta, nếu Ta muốn xoa dịu thân Ta, lấy tay xoa bóp chân tay, thời này Sariputta, trong khi Ta lấy tay xoa bóp chân tay, các lông tóc hư mục rụng khỏi thân Ta, vì Ta ăn quá ít.

Này Sariputta, dầu Ta có theo cử chỉ như vậy, theo hành lộ như vậy, theo khổ hạnh như vậy, Ta cũng không chứng được các pháp thượng nhân, không có tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh. Vì sao vậy? Vì với những phương tiện ấy, không chứng được pháp thượng nhân với Thánh trí tuệ. Chính Thánh trí tuệ này chứng được thuộc về bậc Thánh, có khả năng hướng thượng, có thể dẫn người thực hành diệt tận khổ đau.

Mình nghe cái này để mình quý trọng cái pháp mình đang học, mình chưa thành tựu thánh trí năm uẩn cho nên làm tất cả khổ hạnh như vậy mà không đưa đến chấm dứt khổ đau, chưa thành tựu thánh trí năm uẩn cho nên vẫn còn thấy của tôi. Cho nên để cho Đức Thế Tôn thành tựu được thánh trí, thấy được con đường khổ xưa, Bát Chánh Đạo đó là phải trả qua như vậy, vì thế mình nói lễ Phật hành đạo là mình dập đầu xuống trước những điều này chứ không phải mình tổ chức rần rần, chưng bông hoa trái để cầu xin, không phải như vậy. Hiểu được những điều ghi trong bài kinh thì mới hiểu được Phật thành đạo gian khổ như thế nào, từ đó biết ơn Phật, biết ơn pháp, biết ơn Tăng. Hiểu được cái này mới biết mình bỏ ba mẹ, bỏ nhà cửa để làm gì. Hiểu được cái này mới biết mình lên núi để làm gì chứ không phải chuyện đơn giản mà mỗi ngày, mỗi tháng cho nó trôi qua rồi mình sống nhởn nhơ, vất vơ vất vưởng rồi mình chết trong vô minh, tham ái, chết trong cái chấp thủ của năm uẩn, mình không biết lo lắng, sợ hãi.

Bao nhiêu người là đệ tử Phật, là người xuất gia đọc được bài kinh này? Tới ngày hôm nay được mấy người nghe được bài kinh này? Có bao nhiêu người biết được năm xưa Đức Phật tu như thế nào hay là vào chùa chỉ để lạy lục, van xin, cầu khẩn? Đọc cái này mình mới thấy được sự khổ hạnh của Đức Phật, thấy được giá trị của trí huệ bậc thánh, thấy được sự gian khổ tầm đạo Bồ Tát để tìm ra được con đường mà bây giờ mình đang cầm trên tay, mình đang tụng hằng ngày. Mình lên bồ đoàn để ngủ hay vọng tưởng? Cái pháp giảng như vậy, hiểu rồi nhưng không làm theo, không học hoặc thực hành cho có, mình không biết giá trị của nó nên mình phải tụng đọc những bài kinh này để khai mở tuệ giác của mình để mình thấy được chứ không vẫn còn chạy lăng xăng, lạng lách, giành giựt, không được cái gì mà cuối cùng mình chết. Có đáng thương không kiếp sống của con người này khi tối ngày tham sân si, bản ngã, mưu mô đủ thứ rồi tạo ra bao nhiêu thứ nghiệp và chết, không có giây phút nào ngồi yên lại để nhìn nhưng giờ mình có đủ nhân duyên, có môi trường núi rừng thanh vắng, có thầy làm bạn tốt, có chánh pháp, bậc thiện tri thức chỉ cho mình đến tận cùng mà còn làm không được nữa thì lỗi tại ai? Mình chỉ cần nỗ lực thể nhập là mình vào dòng trí huệ, mình đâu có cần trải qua những cực khổ như vầy, Đức Phật đã tìm ra hết cho mình rồi.

Độc cư ở một mình để tu tập cái hạnh viễn ly, xa lì, đưa đến giải thoát. Thân viễn ly nhưng tâm không viễn ly, thân của mình lìa xóm làng, xa nhà nhưng tâm đã lìa chưa?

Có bốn hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. Thế nào là bốn?

Thân viễn ly, tâm không viễn ly; thân không viễn ly, tâm viễn ly; thân không viễn ly, tâm không viễn ly; thân viễn ly và tâm viễn ly.

Này các Tỳ-kheo, thế nào là thân viễn ly, tâm không viễn ly?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, các hạng người sống tại các núi non, khóm rừng, các trú xứ xa vắng; vị ấy nghĩ đến dục tầm, nghĩ đến sân tầm, nghĩ đến hại tầm. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là hạng người thân viễn ly, nhưng tâm không viễn ly.

Này các Tỳ-kheo, thế nào là thân không viễn ly, nhưng tâm viễn ly?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, các hạng người không sống tại các núi non, khóm rừng, các trú xứ xa vắng; vị ấy tại đó nghĩ đến tầm xuất ly, nghĩ đến tầm vô sân, nghĩ đến tầm bất hại. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là hạng người thân không viễn ly, nhưng tâm viễn ly.

Này các Tỳ-kheo, thế nào là thân không viễn ly, tâm không viễn ly?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, các hạng người không sống tại các núi non, khóm rừng, các trú xứ xa vắng; Tại đấy, vị ấy nghĩ đến dục tầm, nghĩ đến sân tầm, nghĩ đến hại tầm. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là hạng người thân không viễn ly nhưng tâm viễn ly

Này các Tỳ-kheo, thế nào là thân viễn ly và tâm viễn ly?

Ở đây, này các Tỳ-kheo, các hạng người sống tại các núi non, khóm rừng, các trú xứ xa vắng; vị ấy tại đó nghĩ đến tầm xuất ly, nghĩ đến tầm không sân, nghĩ đến tầm không hại. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là hạng người thân viễn ly và tâm viễn ly.

Có bốn hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, hiện hữu ở đời. (Tăng Chi Bộ, Chương IV. Bốn Pháp, XIV.Phẩm Loài Người, VIII.Viễn Ly).

Tầm là cái tâm mình hướng đến người đó, hướng ra ngoài ngoại cảnh. Mình suy nghĩ làm sao để ra khỏi tham sân si, suy nghĩ làm sao để ra khỏi sân hận, nóng giận như vậy gọi là thân tâm đều viễn ly. Sống viễn ly xa lìa y áo, xa lìa đồ ăn, viễn ly các vật chất. Có ba hạnh viễn ly:

Tỳ-kheo gìn giữ giới luật, từ bỏ ác giới, viễn ly ác giới, có chánh tri kiến, từ bỏ tà kiến, viễn ly tà kiến, đoạn tận các lậu hoặc, từ bỏ các lậu hoặc, viễn ly các lậu hoặc được gọi là đạt được tối thượng, đạt được căn bản thanh tịnh, được an trú trên căn bản. (Tăng Chi Bộ kinh, Chương X.Phẩm Hạt Muối, 92. Sống Viễn Ly)

Ai đạt được ba điều viễn ly như trên: Viễn ly ác giới; viễn ly tà kiến; viễn ly các lậu hoặc thì người đó "đạt được tối thượng, đạt được căn bản thanh tịnh, được an trú trên căn bản". Hay lắm! Mọi người hãy học và thực tập theo cái này. Người sống độc cư và viễn ly sẽ dứt được sáu pháp đưa mình đến chỗ lùi lại và rơi xuống, gọi là thối đọa.

Sáu pháp này, này các Tỷ-kheo, đưa Tỷ-kheo hữu học đến thối đọa. Thế nào là sáu?

Ưa công việc, ưa nói chuyện, ưa ngủ nghỉ, ưa hội chúng, các căn không phòng hộ, ăn uống không tiết độ.(Tăng Chi Bộ kinh, Chương VI.Sáu Pháp, IV.Phẩm Chư Thiên, I.Hữu Học)

Nếu mình ưa thích những cái này là mình đang thối đọa. Ưa thích công việc là mình cứ làm này làm kia hoài, như vậy thì làm sao chuyên tâm tu học. Ưa thích nói là suốt ngày nói chuyện người này, chuyện người kia mà không quay lại nhìn thân tâm mình, không nhiếp phục nó, nói suốt thì lấy đâu ra thời gian thiền định, nội quán từ đó sẽ không đưa mình đến sự thăng tiến trong thánh đạo. Dù cho nói hay, nói tốt nhưng cũng không nên nói nhiều, chừng nào mình dứt hết tất cả lậu hoặc thì lúc đó mình nói là nói pháp. Các vị tu hành lâu năm không có nói nhiều, cần thì mới nói còn mình nói nhiều không khéo sẽ biểu hiện bản ngã, sự khoe khoang, cái đó cũng là dục, là ham nói, thích nói, dù nó có là thiện pháp cũng không nên nói nhiều. Không ưa thích công việc không có nghĩa là làm biếng mà là không có bày công chuyện ra mà để thời gian nghe pháp và thiền định, dành nhiều thời gian đọc kinh. Ưa thích hội chúng là ưa thích chỗ đông người, ưa thích sự đông vui, nhộn nhịp. Ác ngôn là nói những lời không thiện, phù phiếm.

Này các Tỳ kheo những ai ở trong quá khứ đã thối đọa trong các thiện pháp tất cả đều là vì sáu pháp này.

Này các Tỳ kheo những ai ở trong tương lai sẽ bị thối đọa trong các thiện pháp tất cả đều là vì sáu pháp này.

Này các Tỳ kheo những ai ở trong hiện tại sẽ bị thối đọa trong các thiện pháp tất cả đều là vì sáu pháp này.

Bị thối đọa ở trong quá khứ, hiện tại và tương lai cho nên mình phải nhớ sáu pháp này để mình tránh. Mình rơi vào một trong sáu pháp này sẽ bị thối đọa. Ưa thích hội chúng, lời ác, bạn ác, ưa thích công việc, ưa thích nói chuyện, ưa thích ngủ nghỉ. Không phải mình nói người ta mới biết, chỉ cần nhìn vào cách đi đứng ngồi nằm của mình là người ta cũng biết chứ không cần mình phải nói. Những bài kệ này nói về sự viễn ly hay lắm.

Linh Quy Pháp Ấn thực hiện.