Tương Ưng Sáu Xứ - Khổ Lớn Nhất Là Không Biết Mình Khổ ! 4 Con Rắn Độc
Kinh Nikāya Giảng Giải
Tương Ưng Sáu Xứ
Khổ Lớn Nhất Là Không Biết Mình Khổ!
4 Con Rắn Độc
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Không biết mình khổ PAGEREF _Toc183018444 \h 1
II. Bốn con rắn độc PAGEREF _Toc183018445 \h 2
III. Năm tên giết người PAGEREF _Toc183018446 \h 4
IV. Ước muốn thoát ra PAGEREF _Toc183018447 \h 7
I. Không biết mình khổ
Kính bạch chư tôn hiền đức, kính thưa toàn thể các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử. Cái khổ lớn nhất trong tất cả cái khổ là khổ mà không biết mình khổ, cũng như những vị ca hát trong quán karaoke được nhân viên gõ cửa báo cháy nhưng những người đó lại lôi ngược nhân viên vào trong phòng hát chung hoặc là khóa cửa lại không mở ra để hát tiếp, đó là sự thật, không chỉ có những người đó bị chết cháy mà tất cả chúng ta đều bị như vậy.
Mình không ý thức được mình đang ở trong căn nhà bị bốc lửa, không thấy được mình đang ở trong biển lửa, không thấy mình đang ở trong đống lửa, không nhớ mình đang bị thiêu cháy trong ngọn lửa. Hôm qua sư cô Nguyên Tú về thì lên chào con với Ni sư, con nghe cô nói cô có một ung thư rồi mà bây giờ có triệu chứng ung thư thứ hai dù cô vẫn còn rất trẻ, đó là những ngọn lửa đang bốc cháy trong hình hài này. Tuyến giáp đang bốc cháy, phổi, thận, tim, gan đang bốc cháy, nội tạng đang bốc cháy, sư cô Liên Trụ lên chào con thì con cũng nhìn thấy trong người cô đang có nhiều bệnh, phải chịu đựng những cảm thọ đau khổ, thống khổ, tai họa khi có thân này.
Mình khổ mà mình không biết mình khổ, mình không nhớ mình khổ, mình không ý thức được mình đang thống khổ, đang chịu đựng tai họa cho nên khi con nghe Tương Ưng Sáu Xứ tới đâu là thấm thía tới đó. Trong bài thiền quán thương mình quá khổ rồi, ngày đêm mình bị cảm thọ thiêu đốt, bị dục hành hạ mình, cái sân làm cho chúng ta nóng bức, si mê phong tỏa thân tâm của chúng ta, bóng đêm bao trùm trong cảm giác, nhận thức, nghĩ tưởng giống như một người quờ quạng trong rừng sâu giữa bóng tối, đã lạc đường lại còn không có ánh sáng, không biết đường đi, không biết lối ra, đó là hình ảnh của chúng sanh, mắt thì mù, trời thì tối lại còn không biết đường và trong khu rừng đó là mãng xà, là cọp, là sói, là beo, là rắn rết, là mãnh hổ.
Khi không nhận diện năm uẩn là chúng ta để cho những cảm thọ suy nghĩ, nhận thức theo thường tình, thói quen, tập khí tham, sân, si, bản ngã, khổ như vậy mà không tìm đường ra, không thắp đèn lên, không chạy nhanh chạy lẹ, lấy khổ làm vui, sống nhởn nhơ qua ngày. Thật là đáng thương cho chúng ta! Ngày nào cũng tác ý thương mình, tội nghiệp mình, mình phải thấy xót xa cho chính mình, thấy đau lòng, thương cảm, bi mẫn, mình muốn chạy nhanh, chạy lẹ, chạy mau, thoát nhanh ra khỏi biển lửa đó. Mình không thấy một chút hạnh phúc thật sự nào trong đời sống đầy bất an, nguy hiểm và hiểm họa này.
II. Bốn con rắn độc
"-- Ví như, này các Tỳ-kheo, có bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt. Rồi có người đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ. Người ta nói với người ấy: Này Bạn, có bốn con rắn độc này, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt. Thỉnh thoảng hãy thức chúng dậy, thỉnh thoảng hãy tắm cho chúng, thỉnh thoảng hãy cho chúng ăn, thỉnh thoảng hãy cho chúng vào huyệt (để ngủ). Này Bạn, nếu một trong bốn con rắn độc này, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, tức giận, thời này Bạn, Bạn sẽ đi đến chết, hay đau khổ gần như chết. Vậy này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ cần phải làm". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Sức nóng tột độ tức là hỏa đại, là những ngọn lửa bên trong thân xác này, trong này nọc độc mãnh liệt, mạnh mẽ, hở tí là phun độc ra. Nói tới đâu là ngao ngán tới đó, nói tới đâu là ê chề tới đó, nói qua nói lại một hồi là cãi nhau, cự lộn, nói qua nói lại rồi cũng châm chích, hơn thua, móc mỉa nhau. Đó là không thành tựu tâm hiền thiện, tâm ngọt ngào, tứ đại này là bốn con rắn độc, hơi thở khó khăn cũng chết, tim này mà có chuyện cũng chết, bao tử này không ổn cũng chết, cái gì cũng có thể làm mình chết, tức lên một cái là đau khổ gần như chết. Hôm qua sư cô Đăng Phổ sụt sịt lỗ mũi phải cầm khăn, thân xác sau 60 chục năm phải mang vác gánh nặng như vậy.
Khi hỏi có thấy khổ sở, nặng nề không thì bảo rằng không nhưng khi hỏi thêm lần nữa thì lại gật đầu có, khi nói không chính là lúc mình bị vô minh, hằng ngày mình sống với vô minh rất nhiều. Trong cái suy nghĩ vội vàng, hấp tấp đó mình sẽ nói sai, làm sai, quyết định sai, có khi đang trong giờ pháp vô minh vẫn xâm chiếm thì giờ thiền vô minh còn xâm chiếm nhiều hơn, không phải mình ngồi thiền một tiếng là một tiếng đó tỉnh táo hết đâu cho nên nhìn thấy vô minh mới sợ vô minh, còn không thấy vô minh, không biết vô minh là không biết sợ.
Bốn con rắn này hành hạ mình rất nhiều, mỗi ngày mình phải đưa nó vô hang tức là đưa nó vô phòng để ngủ, phải trải drap gường, trải chiếu, trải nệm, đó là đưa nó vô hang. Đất, nước, gió, lửa này hành hạ mình rất nhiều, muốn tiểu tiện mà không đi được là khổ, đó chỉ mới là mượn nước vô rồi trả ra mà không được là khổ, đó là chưa nói đến bệnh vì thế mình phải khắc ghi những cảm thọ đó, đưa nó vào tim cất giữ rồi mình nhớ nhiều thật nhiều những phương diện, khía cạnh khổ của nó để ngấm vào thân tâm không bị mất đi. Thấy mâm đồ ăn nhiều là con nói "chết rồi, khổ tới nơi rồi", mình không nhiếp phục dục ái để ăn rồi một chút sau bụng phình ra, không tiêu hóa được, mình phải có sự chánh niệm tỉnh giác, thấy mâm cao cỗ đầy là phải biết khổ tới nơi rồi. Lúc xưa, lúc trẻ thấy vậy thì thích thú, khoan khoái, tới lúc già bệnh nhất là khi học được pháp này mà thấy dục ái sanh khởi là mình thấy khổ, mệt mỏi.
"Rồi này các Tỳ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, chạy trốn chỗ này, chỗ kia. Người ta nói với người ấy: 'Này Bạn, có năm kẻ sát nhân thù địch này, đang đi theo sau lưng Bạn. Chúng nói: 'Khi nào chúng ta thấy nó, chúng ta sẽ giết nó'. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Những khu nghỉ dưỡng thật chất là để chạy trốn khỏi bốn con rắn, cái gường bệnh là cái gường đắt tiền nhất, ở ngoài lạnh quá thì chạy tìm chỗ ấm, còn ở chỗ nóng quá lại phải tìm chỗ mát, đó là chạy trốn nội tứ đại với ngoại tứ đại, chạy trốn sự hành hạ của nó, chạy trốn nọc độc của nó, chạy trốn sự dữ tợn hung hăng của nó, sức nóng mãnh liệt của nó.
Suốt đời mình chỉ điều hòa bốn con rắn này, nếu một ngày nào đó không còn điều hòa được nữa là mình nằm dài, khi trúng gió thì đánh gió ra, trúng nước thì phải xông cho ra mồ hôi, bị cảm sốt thì uống thuốc, vitamin vào để hạ cái nóng xuống, bị béo phì thì phải giảm cân, đó là mình đang chạy trốn bốn con rắn, đang điều hòa bốn con rắn mà mình cứ nói "tôi bệnh", "tôi lạnh", "tôi nóng" chứ mình không thấy đất, nước, gió, lửa đang vận hành, đang hoạt động, đang áp đảo, xô ngã mình, đang hành hạ mình. Khi gió yếu rồi là cứ nằm thôi vì ngồi dậy phải có người đỡ mới ngồi nổi, giơ chân lên không nổi.
III. Năm tên giết người
Có năm kẻ thù giết người chạy theo sau lưng mình, đó là năm thủ uẩn.
"Bốn con rắn độc với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với bốn đại chủng: địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại.
Năm tên giết người thù địch, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với năm thủ uẩn: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Mảnh đất có giết người ta không? Đồng tiền có giết người ta không? Căn nhà có giết người ta không? Sổ đỏ, sổ hồng có giết người không? Những thứ đó là vô tri vô giác thì sao giết được người? Nếu nói dưới lớp đất này là kim cương thì quý vị có biết, có thấy được không? Tất nhiên là không vì nó nằm ngoài tầm nhận biết nên cái thức không thể biết được, ngồi trên núi mà có tiếng hát ở Sài Gòn thì làm sao mình nghe được vì nó nằm ngoài khả năng nghe của tai, phải nằm trong tầm nhận thức thì các thức mới sanh khởi ra mới biết được vì thế nếu chỉ có sắc uẩn không là vô tri nhưng vì đi chung với thọ; tưởng; hành; thức cho nên suy nghĩ miếng đất có giá trị, cái thức nhận thức theo đó nên tham rồi tranh giành vì vậy miếng đất đó gián tiếp thành kẻ giết người chứ miếng đất đó không thì không giết người nhưng nếu không có miếng đất thì không có sinh mạng, chỉ vì vài tấc đất mà anh em giết nhau, chính vì vậy Đức Phật nói năm thủ uẩn là năm tên sát nhân thù địch.
Nếu không tu tập cái thọ mà nghe tiếng ca hát ồn ào là mình bực bội, khó chịu "giờ tôi nghe pháp mà tại sao lại mở nhạc vậy", đó là thọ giết người, tưởng giết người, hành giết người, hành giết người, làm cho mình sân hận, tức giận. Những người không biết tu mà nghe tiếng nhạc mở lớn là cự qua cự lại, đánh qua đánh lại là đâm nhau chết, như vậy thọ là kẻ giết người, là kẻ thù địch nhưng làm sao mình có thể thấy được điều này nếu bậc Chánh Đẳng Chánh Giác không tuyên thuyết cho chúng ta biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức là kẻ giết người, những cảm giác, suy nghĩ, nhận thức đó giết người.
Đối với người nghiền thuốc lá, nghiền rượu, nghiền ma túy thì những cái tưởng đó giết người, hại người, những hình bóng cứ chập chờn ám ảnh nên phải đi trộm cắp để lấy tiền thậm chí là giết người để lấy tiền thỏa mãn cơn nghiện ngập cho nên những hình bóng đó giết người. Những suy nghĩ đi cướp ngân hàng, đi giật đồ của người, suy nghĩ đi hãm hại người khác… những suy nghĩ đó tạo thành ác nghiệp và đưa đến kết quả chung thân, tử hình, thậm chí là giết hại lẫn nhau. Trong kinh ghi lại chúng ta đánh nhau bằng gậy, bằng gươm giáo, bằng súng đều bắt nguồn từ tham dục của con người.
"Này các Tỳ-kheo, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, do chính dục làm nhân, vua tranh đoạt với vua, Sát-đế-lị tranh đoạt với Sát-đế-lị, Bà-la-môn tranh đoạt với Bà-la-môn, gia chủ tranh đoạt với gia chủ, mẹ tranh đoạt với con, con tranh đoạt với mẹ, cha tranh đoạt với con, con tranh đoạt với cha, anh em tranh đoạt với anh em, anh tranh đoạt với chị, chị tranh đoạt với anh, bạn bè tranh đoạt với bạn bè. Khi họ đã dấn mình vào tranh chấp, tranh luận, tranh đoạt; họ công phá nhau bằng tay; họ công phá nhau bằng đá; họ công phá nhau bằng gậy; họ công phá nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong". (Trung Bộ Kinh, 13. Ðại kinh Khổ uẩn)
Mình không cần bỏ cảnh bên ngoài mà mình chỉ cần nhiếp phục, chế ngự cảm thọ bên trong thôi, nếu không là mình bị nó giết nhưng không phải bên ngoài giết mà bên trong thân tâm mình giết mình. Khi chúng ta nhìn vào cảm thọ là các pháp đều hiển bày, khi quán chiếu về vô ngã thì mình sẽ thấy được các pháp và những nguyên nhân sanh ra các pháp cho nên một vị Tỳ-kheo đến hỏi Đức Phật thế nào là thiết thực, hiện tại thì Đức Phật hỏi nếu lúc đó trong tâm có tham thì ông có biết là đang có tham không thì vị Tỳ-kheo trả lời biết, trong tâm có sân thì ông biết có sân không thì vị Tỳ-kheo trả lời biết, Đức Phật hỏi tiếp trong tâm có si thì ông có biết không, vị Tỳ-kheo cũng trả lời biết thì Đức Phật nói đó chính là thiết thực hiện tại.
"Rồi du sĩ ngoại đạo Moliyasìvaka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, său khi nói lên những lời hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ ngoại đạo Moliyasìvaka bạch Thế Tôn:
-Pháp là thiết thực hiện tại, Pháp là thiết thực hiện tại, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu?
- Vậy này Sìvaka, ở đây Ta sẽ hỏi Ông; nêu Ông có thể kham nhẫn thời hãy trả lời. Ông nghĩ thế nào, này Sìvaka? Nội tâm có tham, Ông có biết: 'Nội tâm ta có tham'? Nội tâm không có tham, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có tham'?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Này Sìvaka, nội tâm có tham, Ông có biết: 'Nội tâm ta có tham'. Nội tâm không có tham, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có tham'. Như vậy này Sìvaka, pháp là thiết thực hiện tại... Ông nghĩ thế nào, này Sìvaka? Nội tâm có sân...( Như trên)...Ông nghĩ thế nào, này Sìvaka? Nội tâm có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta có si'? Hay nội tâm không si, Ông có biết: 'Nội tâm ta không si'?
-Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Này Sìvaka, nội tâm có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta có si', hay nội tâm không có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta không si'. như vậy, này Sìvaka, pháp là thiết thực hiện tại... Ông nghĩ thế nào, này Sìvaka? Nội tâm có tham pháp,... hay nội tâm có sân pháp..., hay nội tâm có si pháp..., Ông có biết: 'Nội tâm ta có si pháp'?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Hay nội tâm không có si pháp. Ông có biết: 'Nội tâm ta không có si pháp'?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Này Sìvaka, nội tâm có si pháp, Ông có biết: 'Nội tâm ta có si pháp', hay nội tâm không có si pháp, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có si pháp. 'Như vậy, này Sìvaka, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu.
- Thật vi diệu thay! ... Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng." (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (V). Cho Ðời Này (1))
Bên trong có tham thì biết lúc đó bên trong mình đang có tham rồi nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, nếu bên trong có sân, có sự bực bội, khó chịu thì mình biết trong mình đang có sân rồi nhiếp phục, chế ngự cái bực bội, khó chịu đó thì đó là thiết thực hiện tại, bên trong đang có si mê, tâm đang mờ tối chứ không tỏ rạng thì biết lúc đó tâm mình đang mờ rồi đánh đuổi cái si mê đó để tâm mình sáng ra thì đó là thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu, giác ngộ, giác tri, giác tỉnh.
Vô văn phàm phu chỉ hướng ra bên ngoài, hướng ngoại chạy theo bên ngoài chứ không thấy bên trong cho nên không thấy được thực tại của thân tâm mình, tức là sự thật ngay trong giây phút hiện tại đang có mặt cái gì, đang sanh khởi cái gì, đang vận hành cái gì và chúng ta phải xử lý ra sao thì đó chính là thiền của Nikāya chứ thiền không đơn giản như chúng ta nghĩ, đó là thiền thấy, thiền biết, thiền xử lý. Thế Tôn nói năm kẻ sát nhân này đi theo sau lưng chúng ta tức là nó ngủ ngầm trong mình, bất cứ lúc nào cũng có thể thức dậy, ở cuối mỗi đoạn kinh Đức Phật đều nói hãy làm những gì cần phải làm. Mình làm rất nhiều thứ nhưng mình có làm thứ mình cần phải làm không?
IV. Ước muốn thoát ra
"Rồi này các Tỳ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc ấy, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên sát nhân thù địch ấy, chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Người ta nói với người ấy: Này Bạn, có một tên thứ sáu cướp nhà, giết người, với ngọn kiếm dơ lên, đang đi theo sau lưng Bạn. Nó nói: 'Khi nào ta thấy nó, ta sẽ chém đầu nó'. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Sau năm tên sát nhân thì có một tên thứ sáu cướp nhà, nó cầm kiếm sẵn sau lưng mình nói rằng khi thấy mình là sẽ giết mình chết.
"Tên thứ sáu cướp nhà, giết người với cây kiếm giơ lên, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với dục tham". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Dục tham, thúc giục, ham muốn là một kẻ luôn đi sau lưng đưa dao lên, chỉ cần mình sơ sảy là giết mình chết. Quán chiếu về dục tham này là kẻ giết người, nó là đao phủ chặt đầu mình.
"Rồi, này các Tỳ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên sát nhân thù địch, quá sợ hãi tên thứ sáu cướp nhà, giết người với ngọn kiếm dơ lên, chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Rồi người ấy thấy một ngôi làng trống không. Nhà nào người ấy đi vào, người ấy vào chỗ trống không, vào chỗ rỗng không, vào chỗ tuyệt không. Người ấy sờ đến đồ dùng nào, người ấy sờ chỗ trống không, người ấy sờ chỗ rỗng không, người ấy sờ chỗ tuyệt không. Người ta nói với người ấy: Này Bạn, bọn cướp phá hoại làng, sẽ đánh cướp ngôi làng trống không này. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm".
"Ngôi làng trống không, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Này các Tỳ-kheo, nếu một người hiền, kinh nghiệm, có trí, tìm hiểu nó với con mắt; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không... Nếu tìm hiểu nó với ý; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Sáu nội xứ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý là trống không, chạm tới đâu là trống không tới đó, gửi đứa con bị bệnh vào chăm sóc vậy mà thời gian ngắn sau trả lại hủ cốt "con ông nè", cha mẹ bàng hoàng, kinh hãi, hoảng hốt. Như vậy sáu nội xứ có phải trống rỗng không? Bây giờ con mắt ở đâu? Bàn tay ở đâu? Mặt mũi ở đâu mà chỉ còn lại hủ cốt? Đây là hình ảnh để mình quán tưởng tu học, mình tập nhìn cái gì cũng thấy nó sẽ tan biến, tan nát, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt, ngôi làng trống không, ngôi chùa trống không, hình hài này cũng trống không, ai có mắng chửi, hơn thua cũng không có gì cả. Khi nó có mà mình nhìn vào còn thấy nó là đồ trống không, tan hoại, hủy hoại thì khi nó mất đi có gì lạ, phải tập nhìn bằng sanh diệt trí đối với sáu nội xứ này, đụng tới cái gì là mất cái đó, chạm tới cái gì là cái đó trở thành trống không.
Thế Tôn nói thế giới này là trống rỗng, thế giới này là rỗng không, là trống không, là trống trơn, là vô ngã. Thế giới này là sự rỗng không, rỗng không chính là thế giới này cho nên sau này có câu "sắc tức thị không, không tức thị sắc" là được lấy từ trong kinh Nikāya, sắc này là sự trống không, giao cho người ta là một đứa con mà nhận lại là một hủ tro. Chúng ta hãy đặt mình vào hoàn cảnh làm cha mẹ của đứa con, dẫn đứa con từ ngoài bắc vào với cả một trái tim, tấm lòng giao cho người chăm sóc, đưa trên 600 triệu, giao đứa con, giao tiền bạc và giao cả niềm tin vậy mà cuối cùng nhận lại một hủ tro cốt thì bàng hoàng, kinh hãi.
Đây là cái để mình quán chiếu nhưng không có lạ vì sự thật là như vậy, tất cả chúng ta đều sẽ như vậy, trong đại dịch vừa rồi chúng ta đứng từ xa đưa cha đưa mẹ vào viện, vào khu cách ly rồi sau đó nhận lại hủ cốt và đồ vật kỉ niệm, không phải một người như vậy mà hàng triệu người như thế, ra đi là một con người nhưng trở về là một nắm tro, như vậy sáu nội xứ này là trống không, là rỗng không, là tuyệt không.
Chúng ta phải nhìn ra chân tướng vì mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này rất phũ phàng và đau lòng, xót xa nhưng xót xa bây giờ để thoát ra chứ đừng để có chuyện rồi mới xót xa là khổ lắm. Mỗi ngày phải làm đám tang cho mình, mỗi khi lên gường ngủ là nằm xuống trong cái hòm, phải nhớ rằng đây là quan tài để tham, sân, si này lắng dịu, cái hơn thua này an tịnh, không còn tranh giành với đời nữa, mình khai tử giữa cõi trần gian này, không còn hơn thua với bất cứ ai nữa, không thấy có người có ta gì nữa mà tất cả chỉ là dục, ái, tham, sân, si, bản ngã đang vận hành thôi, tâm mình lắng dịu trở thành tro tàn nguội lạnh với sự thua hơn, không còn hăng hái tranh đua với ai, đúng sai với ai. Họ làm sai mà còn cự mình thì cứ chắp tay cúi đầu "dạ, mô Phật", đó là sự siêu việt của bậc hiền trí, bậc đại trí, con đã từng bị như vậy rất nhiều lần, phải tập như vậy để không còn hơn thua với cái gì trên cuộc đời này nữa, lòng mình nguội lạnh, tập cho nó tịch diệt, tất cả đều đi đến chỗ dập tắt không còn sanh khởi nữa.
Mình quán chiếu thấy họ không có sai vì dục ái là chuyện bình thường của mỗi người, chỉ có mình là khác biệt vì mình không đi theo con đường chung của mọi người thì mình phải chịu, mình lo diệt cái tham, sân, si của mình chứ đừng trách ai. Dục, ái, tham, sân, si, bản ngã là đương nhiên của cuộc đời này, là lẽ sống của người ta, mình chỉ trách mình không nhiếp phục, chế ngự cảm thọ của mình hết được, đây là cái lỗi của mình chứ không phải lỗi của người ta.
Ví dụ hàng xóm mở nhạc ầm ầm, mình chẳng những không phàn nàn người ta mà còn trách mình "tại sao mày tu dở vậy? Tại sao cảm thọ của mày chưa an tịnh, lắng dịu được? Tại sao không có tâm từ với mọi người?". Không nhìn lỗi người ta mà quay lại nhìn bản thân mình, họ lấn lướt mình, họ lợi dụng mình, họ chà đạp mình, họ chỉ trích mình nhưng mình vẫn chắp tay cúi đầu xin lỗi, họ còn cự mình thì mình cũng "dạ, con xin lỗi, con dại khờ, con không biết", an trú tâm vào cái nùi giẻ, an trú tâm như người thấp hèn nhất của cuộc đời, tất cả đều là người trên, là thượng nhân, là ông với bà, còn mình là ăn xin, là người dưới, an trú được tâm này thì sướng hơn tiên, siêu phàm thoát tục.
Tu tâm hiền này hay sao là hay, ngọt ngào, dễ chịu, tuyệt vời, khai tử giữa cuộc đời, làm cái nùi giẻ, làm thằng ngu, làm đứa dại khờ. Mình không ganh đua với ai cả vì mình ngu, còn người ta khôn nên người ta ganh đua, tranh giành, có người đến hơn thua với mình là mình cúi đầu nhận phần thua liền, cảm thọ mình an tịnh, lắng dịu. Nếu mình còn thua hơn theo kiểu người tám lạng kẻ nửa cân, mình còn giận cá chém thớt thì còn mệt mỏi, còn đau khổ lắm, mình còn ăn thua là còn khổ đau dài dài, còn chiến tranh, còn tranh giành, giành giật.
"Rồi này các Tỳ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên giết người thù địch, quá sợ hãi tên thứ sáu cướp nhà, giết người với ngọn kiếm dơ lên, quá sợ hãi các tên cướp làng, liền chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Rồi người ấy thấy một đầm nước lớn, bờ bên này đầy những sợ hãi nguy hiểm, bờ bên kia được an ổn, không có sợ hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua, không có cầu để đi qua đi lại.
Rồi này các Tỳ-kheo, người ấy suy nghĩ như sau: 'Ðây là vùng nước đọng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn, không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua, cũng không có cầu bắc qua từ bờ bên này đến bờ bên kia. Nay ta hãy thâu góp cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, ta có thể vượt qua bờ bên kia một cách an toàn'.
Rồi này các Tỳ-kheo, người ấy thâu góp cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, người ấy vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia, đứng trên đất liền". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Một đầm nước lớn, bờ bên này là đầy rẫy sự sợ hãi hiểm nguy, còn bờ bên kia là an ổn, bình an, hạnh phúc. Nhưng bây giờ không có cầu cũng chẳng có thuyền để qua được bờ bên kia, thế là người này dùng cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, dùng tay chân chèo qua bờ bên kia.
"Ngôi làng trống không, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Này các Tỳ-kheo, nếu một người hiền, kinh nghiệm, có trí, tìm hiểu nó với con mắt; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không... Nếu tìm hiểu nó với ý; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Với một người hiền trí, có kinh nghiệm, có trí tuệ, tìm hiểu bằng con mắt trí tuệ thì người này nhìn thấy sáu nội xứ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này là trống không, là rỗng không, là tuyệt không. Khi chiêm nghiệm trí tuệ của Đức Phật giống như chiếc xe được mở ra từng bộ phận cho mình thấy, còn Phật giáo phát triển sau này nói một cái một "như huyễn" là xong nhưng Đức Phật không nói như vậy, Đức Phật không nói "sắc là không" là xong vì nói như vậy không tu được.
Ngài cho mình thấy hết tất cả những tổ hợp lắp ráp, cấu trúc, bộ máy của nó, ngài mở ra từng cái cho mình thấy, sau đó ngài phân tích từng tánh chất, cái gì kết hợp thành nó rồi nó vận hành, hoạt động ra sao, cuối cùng ngài chỉ cho mình thấy sự vận hành của nó là sự vận hành của tham, sân, si, sầu bi, khổ, ưu, não. Ngài nói từng cái một, từ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý cho đến sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ, ngài gỡ ra từng cái cho mình thấy rồi cuối cùng không có gì cả, đó mới là trí tuệ tối tôn, tối thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, gọi là viên mãn giác.
Ngài không nói theo kiểu phán "cái đó là giả" mà ngài chỉ ra tại sao nó giả, từ đâu nó giả, nó giả như thế nào, nó giả mà nó làm mình khổ thế nào, ngài chỉ ra căn nguyên, nguồn cội, gốc rễ. Trước nay chúng ta học nó là giả, là vô thường nhưng tại sao nó giả, tại sao nó vô thường, nó vô thường như thế nào đều được Đức Phật nói rõ ràng, con mắt này được làm từ những thứ vô thường thì làm sao con mắt này thường còn được.
Con mắt này được làm từ tứ đại, trong con mắt này có thọ, thức như thế nào được ngài giải thích cặn kẽ, biết bao căn – trần – thức – xúc – thọ – ái đó và tham, sân, si vận hành như thế nào, toàn bộ quy trình vận hành của thân tâm tứ đại ngũ uẩn, căn – trần – thức – xứ – giới – uẩn, đó mới là trí tuệ đại viên mãn giác toàn diện, không thiếu một chỗ nào, cái khổ ở đây không đơn giản như mình học lúc trước.
"Bọn cướp phá làng, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ. Này các Tỳ-kheo, mắt bị tàn hại trong các sắc khả ái và không khả ái. Này các Tỳ-kheo, tai bị tàn hại trong các tiếng khả ái và không khả ái. Này các Tỳ-kheo, mũi bị tàn hại trong các hương khả ái và không khả ái. Này các Tỳ-kheo, lưỡi bị tàn hại trong các vị khả ái và không khả ái. Này các Tỳ-kheo, thân bị tàn hại trong các xúc khả ái và không khả ái. Này các Tỳ-kheo, ý bị tàn hại trong các pháp khả ái và không khả ái". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Những lời của bậc Chánh Đẳng Giác là chuẩn không cần chỉnh, ai chỉnh là người đó vô minh, ngu si, bản ngã cho nên pháp mới diệt, mới mạt pháp, lúc đầu là tượng rồi diệt luôn. Con mắt bị tàn hại trong những cái sắc hấp dẫn, đẹp đẽ và những cái sắc bực bội. Lỗ tai bị tàn hại bởi những âm thanh, nó làm hại mình tả tơi, thân tàn ma dại. Lỗ mũi bị tàn hại bởi các mùi. Lưỡi bị tàn hại bởi các vị, ăn vào là bệnh, bây giờ có những đứa con nít bị đột quỵ, ung thư, còn rất nhỏ tuổi nhưng lại bệnh những chứng bệnh của người lớn, tức là trật tự của trời đất cũng bị phá vỡ, trật tự xã hội cũng bị đảo lộn, trật tự của đạo đức luân lý cũng bị sụp đổ rất nhiều trong thời hiện đại. Từ trời đất, hoàn cảnh, nội tâm, những nền tảng đạo đức đều đang báo động khủng khiếp, mình bị sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp tàn hại thân tâm nhưng mình đã lên núi nên đỡ rất nhiều. Không phải cái đẹp mới tàn hại mình mà đến cái xấu cũng tàn hại, tham, sân, si đều tàn hại.
"Vùng nước lớn, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với bốn bộc lưu: dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu và vô minh bộc lưu". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Dòng thác của dục, dòng thác của hữu, dòng thác của kiến chấp và dòng thác của vô minh.
"Bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân kiến này" (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Cái suy nghĩ có thân này, cái kiến chấp về thân này là nơi nguy hiểm hãi hùng, tai họa, vì thấy có thân nên có tai họa.
"Bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với Niết-bàn.
Cái bè, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với Thánh đạo Tám ngành.
Tinh tấn dùng tay và dùng chân, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với tinh tấn, tinh cần.
Vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia và đứng trên đất liền, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với bậc A-la-hán" (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Chúng ta phải nhớ câu "Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm".
./.
Tương Ưng Sáu Xứ
Khổ Lớn Nhất Là Không Biết Mình Khổ!
4 Con Rắn Độc
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Không biết mình khổ PAGEREF _Toc183018444 \h 1
II. Bốn con rắn độc PAGEREF _Toc183018445 \h 2
III. Năm tên giết người PAGEREF _Toc183018446 \h 4
IV. Ước muốn thoát ra PAGEREF _Toc183018447 \h 7
I. Không biết mình khổ
Kính bạch chư tôn hiền đức, kính thưa toàn thể các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử. Cái khổ lớn nhất trong tất cả cái khổ là khổ mà không biết mình khổ, cũng như những vị ca hát trong quán karaoke được nhân viên gõ cửa báo cháy nhưng những người đó lại lôi ngược nhân viên vào trong phòng hát chung hoặc là khóa cửa lại không mở ra để hát tiếp, đó là sự thật, không chỉ có những người đó bị chết cháy mà tất cả chúng ta đều bị như vậy.
Mình không ý thức được mình đang ở trong căn nhà bị bốc lửa, không thấy được mình đang ở trong biển lửa, không thấy mình đang ở trong đống lửa, không nhớ mình đang bị thiêu cháy trong ngọn lửa. Hôm qua sư cô Nguyên Tú về thì lên chào con với Ni sư, con nghe cô nói cô có một ung thư rồi mà bây giờ có triệu chứng ung thư thứ hai dù cô vẫn còn rất trẻ, đó là những ngọn lửa đang bốc cháy trong hình hài này. Tuyến giáp đang bốc cháy, phổi, thận, tim, gan đang bốc cháy, nội tạng đang bốc cháy, sư cô Liên Trụ lên chào con thì con cũng nhìn thấy trong người cô đang có nhiều bệnh, phải chịu đựng những cảm thọ đau khổ, thống khổ, tai họa khi có thân này.
Mình khổ mà mình không biết mình khổ, mình không nhớ mình khổ, mình không ý thức được mình đang thống khổ, đang chịu đựng tai họa cho nên khi con nghe Tương Ưng Sáu Xứ tới đâu là thấm thía tới đó. Trong bài thiền quán thương mình quá khổ rồi, ngày đêm mình bị cảm thọ thiêu đốt, bị dục hành hạ mình, cái sân làm cho chúng ta nóng bức, si mê phong tỏa thân tâm của chúng ta, bóng đêm bao trùm trong cảm giác, nhận thức, nghĩ tưởng giống như một người quờ quạng trong rừng sâu giữa bóng tối, đã lạc đường lại còn không có ánh sáng, không biết đường đi, không biết lối ra, đó là hình ảnh của chúng sanh, mắt thì mù, trời thì tối lại còn không biết đường và trong khu rừng đó là mãng xà, là cọp, là sói, là beo, là rắn rết, là mãnh hổ.
Khi không nhận diện năm uẩn là chúng ta để cho những cảm thọ suy nghĩ, nhận thức theo thường tình, thói quen, tập khí tham, sân, si, bản ngã, khổ như vậy mà không tìm đường ra, không thắp đèn lên, không chạy nhanh chạy lẹ, lấy khổ làm vui, sống nhởn nhơ qua ngày. Thật là đáng thương cho chúng ta! Ngày nào cũng tác ý thương mình, tội nghiệp mình, mình phải thấy xót xa cho chính mình, thấy đau lòng, thương cảm, bi mẫn, mình muốn chạy nhanh, chạy lẹ, chạy mau, thoát nhanh ra khỏi biển lửa đó. Mình không thấy một chút hạnh phúc thật sự nào trong đời sống đầy bất an, nguy hiểm và hiểm họa này.
II. Bốn con rắn độc
"-- Ví như, này các Tỳ-kheo, có bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt. Rồi có người đến, muốn sống, không muốn chết, muốn lạc, ghét khổ. Người ta nói với người ấy: Này Bạn, có bốn con rắn độc này, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt. Thỉnh thoảng hãy thức chúng dậy, thỉnh thoảng hãy tắm cho chúng, thỉnh thoảng hãy cho chúng ăn, thỉnh thoảng hãy cho chúng vào huyệt (để ngủ). Này Bạn, nếu một trong bốn con rắn độc này, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, tức giận, thời này Bạn, Bạn sẽ đi đến chết, hay đau khổ gần như chết. Vậy này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ cần phải làm". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Sức nóng tột độ tức là hỏa đại, là những ngọn lửa bên trong thân xác này, trong này nọc độc mãnh liệt, mạnh mẽ, hở tí là phun độc ra. Nói tới đâu là ngao ngán tới đó, nói tới đâu là ê chề tới đó, nói qua nói lại một hồi là cãi nhau, cự lộn, nói qua nói lại rồi cũng châm chích, hơn thua, móc mỉa nhau. Đó là không thành tựu tâm hiền thiện, tâm ngọt ngào, tứ đại này là bốn con rắn độc, hơi thở khó khăn cũng chết, tim này mà có chuyện cũng chết, bao tử này không ổn cũng chết, cái gì cũng có thể làm mình chết, tức lên một cái là đau khổ gần như chết. Hôm qua sư cô Đăng Phổ sụt sịt lỗ mũi phải cầm khăn, thân xác sau 60 chục năm phải mang vác gánh nặng như vậy.
Khi hỏi có thấy khổ sở, nặng nề không thì bảo rằng không nhưng khi hỏi thêm lần nữa thì lại gật đầu có, khi nói không chính là lúc mình bị vô minh, hằng ngày mình sống với vô minh rất nhiều. Trong cái suy nghĩ vội vàng, hấp tấp đó mình sẽ nói sai, làm sai, quyết định sai, có khi đang trong giờ pháp vô minh vẫn xâm chiếm thì giờ thiền vô minh còn xâm chiếm nhiều hơn, không phải mình ngồi thiền một tiếng là một tiếng đó tỉnh táo hết đâu cho nên nhìn thấy vô minh mới sợ vô minh, còn không thấy vô minh, không biết vô minh là không biết sợ.
Bốn con rắn này hành hạ mình rất nhiều, mỗi ngày mình phải đưa nó vô hang tức là đưa nó vô phòng để ngủ, phải trải drap gường, trải chiếu, trải nệm, đó là đưa nó vô hang. Đất, nước, gió, lửa này hành hạ mình rất nhiều, muốn tiểu tiện mà không đi được là khổ, đó chỉ mới là mượn nước vô rồi trả ra mà không được là khổ, đó là chưa nói đến bệnh vì thế mình phải khắc ghi những cảm thọ đó, đưa nó vào tim cất giữ rồi mình nhớ nhiều thật nhiều những phương diện, khía cạnh khổ của nó để ngấm vào thân tâm không bị mất đi. Thấy mâm đồ ăn nhiều là con nói "chết rồi, khổ tới nơi rồi", mình không nhiếp phục dục ái để ăn rồi một chút sau bụng phình ra, không tiêu hóa được, mình phải có sự chánh niệm tỉnh giác, thấy mâm cao cỗ đầy là phải biết khổ tới nơi rồi. Lúc xưa, lúc trẻ thấy vậy thì thích thú, khoan khoái, tới lúc già bệnh nhất là khi học được pháp này mà thấy dục ái sanh khởi là mình thấy khổ, mệt mỏi.
"Rồi này các Tỳ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, chạy trốn chỗ này, chỗ kia. Người ta nói với người ấy: 'Này Bạn, có năm kẻ sát nhân thù địch này, đang đi theo sau lưng Bạn. Chúng nói: 'Khi nào chúng ta thấy nó, chúng ta sẽ giết nó'. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Những khu nghỉ dưỡng thật chất là để chạy trốn khỏi bốn con rắn, cái gường bệnh là cái gường đắt tiền nhất, ở ngoài lạnh quá thì chạy tìm chỗ ấm, còn ở chỗ nóng quá lại phải tìm chỗ mát, đó là chạy trốn nội tứ đại với ngoại tứ đại, chạy trốn sự hành hạ của nó, chạy trốn nọc độc của nó, chạy trốn sự dữ tợn hung hăng của nó, sức nóng mãnh liệt của nó.
Suốt đời mình chỉ điều hòa bốn con rắn này, nếu một ngày nào đó không còn điều hòa được nữa là mình nằm dài, khi trúng gió thì đánh gió ra, trúng nước thì phải xông cho ra mồ hôi, bị cảm sốt thì uống thuốc, vitamin vào để hạ cái nóng xuống, bị béo phì thì phải giảm cân, đó là mình đang chạy trốn bốn con rắn, đang điều hòa bốn con rắn mà mình cứ nói "tôi bệnh", "tôi lạnh", "tôi nóng" chứ mình không thấy đất, nước, gió, lửa đang vận hành, đang hoạt động, đang áp đảo, xô ngã mình, đang hành hạ mình. Khi gió yếu rồi là cứ nằm thôi vì ngồi dậy phải có người đỡ mới ngồi nổi, giơ chân lên không nổi.
III. Năm tên giết người
Có năm kẻ thù giết người chạy theo sau lưng mình, đó là năm thủ uẩn.
"Bốn con rắn độc với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với bốn đại chủng: địa đại, thủy đại, hỏa đại và phong đại.
Năm tên giết người thù địch, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với năm thủ uẩn: sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Mảnh đất có giết người ta không? Đồng tiền có giết người ta không? Căn nhà có giết người ta không? Sổ đỏ, sổ hồng có giết người không? Những thứ đó là vô tri vô giác thì sao giết được người? Nếu nói dưới lớp đất này là kim cương thì quý vị có biết, có thấy được không? Tất nhiên là không vì nó nằm ngoài tầm nhận biết nên cái thức không thể biết được, ngồi trên núi mà có tiếng hát ở Sài Gòn thì làm sao mình nghe được vì nó nằm ngoài khả năng nghe của tai, phải nằm trong tầm nhận thức thì các thức mới sanh khởi ra mới biết được vì thế nếu chỉ có sắc uẩn không là vô tri nhưng vì đi chung với thọ; tưởng; hành; thức cho nên suy nghĩ miếng đất có giá trị, cái thức nhận thức theo đó nên tham rồi tranh giành vì vậy miếng đất đó gián tiếp thành kẻ giết người chứ miếng đất đó không thì không giết người nhưng nếu không có miếng đất thì không có sinh mạng, chỉ vì vài tấc đất mà anh em giết nhau, chính vì vậy Đức Phật nói năm thủ uẩn là năm tên sát nhân thù địch.
Nếu không tu tập cái thọ mà nghe tiếng ca hát ồn ào là mình bực bội, khó chịu "giờ tôi nghe pháp mà tại sao lại mở nhạc vậy", đó là thọ giết người, tưởng giết người, hành giết người, hành giết người, làm cho mình sân hận, tức giận. Những người không biết tu mà nghe tiếng nhạc mở lớn là cự qua cự lại, đánh qua đánh lại là đâm nhau chết, như vậy thọ là kẻ giết người, là kẻ thù địch nhưng làm sao mình có thể thấy được điều này nếu bậc Chánh Đẳng Chánh Giác không tuyên thuyết cho chúng ta biết sắc; thọ; tưởng; hành; thức là kẻ giết người, những cảm giác, suy nghĩ, nhận thức đó giết người.
Đối với người nghiền thuốc lá, nghiền rượu, nghiền ma túy thì những cái tưởng đó giết người, hại người, những hình bóng cứ chập chờn ám ảnh nên phải đi trộm cắp để lấy tiền thậm chí là giết người để lấy tiền thỏa mãn cơn nghiện ngập cho nên những hình bóng đó giết người. Những suy nghĩ đi cướp ngân hàng, đi giật đồ của người, suy nghĩ đi hãm hại người khác… những suy nghĩ đó tạo thành ác nghiệp và đưa đến kết quả chung thân, tử hình, thậm chí là giết hại lẫn nhau. Trong kinh ghi lại chúng ta đánh nhau bằng gậy, bằng gươm giáo, bằng súng đều bắt nguồn từ tham dục của con người.
"Này các Tỳ-kheo, do dục làm nhân, do dục làm duyên, do dục làm nguyên nhân, do chính dục làm nhân, vua tranh đoạt với vua, Sát-đế-lị tranh đoạt với Sát-đế-lị, Bà-la-môn tranh đoạt với Bà-la-môn, gia chủ tranh đoạt với gia chủ, mẹ tranh đoạt với con, con tranh đoạt với mẹ, cha tranh đoạt với con, con tranh đoạt với cha, anh em tranh đoạt với anh em, anh tranh đoạt với chị, chị tranh đoạt với anh, bạn bè tranh đoạt với bạn bè. Khi họ đã dấn mình vào tranh chấp, tranh luận, tranh đoạt; họ công phá nhau bằng tay; họ công phá nhau bằng đá; họ công phá nhau bằng gậy; họ công phá nhau bằng kiếm. Ở đây họ đi đến tử vong, đi đến sự đau khổ gần như tử vong". (Trung Bộ Kinh, 13. Ðại kinh Khổ uẩn)
Mình không cần bỏ cảnh bên ngoài mà mình chỉ cần nhiếp phục, chế ngự cảm thọ bên trong thôi, nếu không là mình bị nó giết nhưng không phải bên ngoài giết mà bên trong thân tâm mình giết mình. Khi chúng ta nhìn vào cảm thọ là các pháp đều hiển bày, khi quán chiếu về vô ngã thì mình sẽ thấy được các pháp và những nguyên nhân sanh ra các pháp cho nên một vị Tỳ-kheo đến hỏi Đức Phật thế nào là thiết thực, hiện tại thì Đức Phật hỏi nếu lúc đó trong tâm có tham thì ông có biết là đang có tham không thì vị Tỳ-kheo trả lời biết, trong tâm có sân thì ông biết có sân không thì vị Tỳ-kheo trả lời biết, Đức Phật hỏi tiếp trong tâm có si thì ông có biết không, vị Tỳ-kheo cũng trả lời biết thì Đức Phật nói đó chính là thiết thực hiện tại.
"Rồi du sĩ ngoại đạo Moliyasìvaka đi đến Thế Tôn; sau khi đến, nói với Thế Tôn những lời chào đón hỏi thăm, său khi nói lên những lời hỏi thăm thân hữu, liền ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, du sĩ ngoại đạo Moliyasìvaka bạch Thế Tôn:
-Pháp là thiết thực hiện tại, Pháp là thiết thực hiện tại, bạch Thế Tôn, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu?
- Vậy này Sìvaka, ở đây Ta sẽ hỏi Ông; nêu Ông có thể kham nhẫn thời hãy trả lời. Ông nghĩ thế nào, này Sìvaka? Nội tâm có tham, Ông có biết: 'Nội tâm ta có tham'? Nội tâm không có tham, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có tham'?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Này Sìvaka, nội tâm có tham, Ông có biết: 'Nội tâm ta có tham'. Nội tâm không có tham, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có tham'. Như vậy này Sìvaka, pháp là thiết thực hiện tại... Ông nghĩ thế nào, này Sìvaka? Nội tâm có sân...( Như trên)...Ông nghĩ thế nào, này Sìvaka? Nội tâm có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta có si'? Hay nội tâm không si, Ông có biết: 'Nội tâm ta không si'?
-Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Này Sìvaka, nội tâm có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta có si', hay nội tâm không có si, Ông có biết: 'Nội tâm ta không si'. như vậy, này Sìvaka, pháp là thiết thực hiện tại... Ông nghĩ thế nào, này Sìvaka? Nội tâm có tham pháp,... hay nội tâm có sân pháp..., hay nội tâm có si pháp..., Ông có biết: 'Nội tâm ta có si pháp'?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Hay nội tâm không có si pháp. Ông có biết: 'Nội tâm ta không có si pháp'?
- Thưa có, bạch Thế Tôn.
- Này Sìvaka, nội tâm có si pháp, Ông có biết: 'Nội tâm ta có si pháp', hay nội tâm không có si pháp, Ông có biết: 'Nội tâm ta không có si pháp. 'Như vậy, này Sìvaka, pháp là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu.
- Thật vi diệu thay! ... Mong Thế Tôn nhận con làm đệ tử cư sĩ, từ nay cho đến mạng chung, con trọn đời quy ngưỡng." (Tăng Chi Bộ, Chương VI. Sáu Pháp, V. Phẩm Dhammika, (V). Cho Ðời Này (1))
Bên trong có tham thì biết lúc đó bên trong mình đang có tham rồi nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận, nếu bên trong có sân, có sự bực bội, khó chịu thì mình biết trong mình đang có sân rồi nhiếp phục, chế ngự cái bực bội, khó chịu đó thì đó là thiết thực hiện tại, bên trong đang có si mê, tâm đang mờ tối chứ không tỏ rạng thì biết lúc đó tâm mình đang mờ rồi đánh đuổi cái si mê đó để tâm mình sáng ra thì đó là thiết thực hiện tại, có hiệu quả tức thời, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người có trí tự mình giác hiểu, giác ngộ, giác tri, giác tỉnh.
Vô văn phàm phu chỉ hướng ra bên ngoài, hướng ngoại chạy theo bên ngoài chứ không thấy bên trong cho nên không thấy được thực tại của thân tâm mình, tức là sự thật ngay trong giây phút hiện tại đang có mặt cái gì, đang sanh khởi cái gì, đang vận hành cái gì và chúng ta phải xử lý ra sao thì đó chính là thiền của Nikāya chứ thiền không đơn giản như chúng ta nghĩ, đó là thiền thấy, thiền biết, thiền xử lý. Thế Tôn nói năm kẻ sát nhân này đi theo sau lưng chúng ta tức là nó ngủ ngầm trong mình, bất cứ lúc nào cũng có thể thức dậy, ở cuối mỗi đoạn kinh Đức Phật đều nói hãy làm những gì cần phải làm. Mình làm rất nhiều thứ nhưng mình có làm thứ mình cần phải làm không?
IV. Ước muốn thoát ra
"Rồi này các Tỳ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc ấy, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên sát nhân thù địch ấy, chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Người ta nói với người ấy: Này Bạn, có một tên thứ sáu cướp nhà, giết người, với ngọn kiếm dơ lên, đang đi theo sau lưng Bạn. Nó nói: 'Khi nào ta thấy nó, ta sẽ chém đầu nó'. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Sau năm tên sát nhân thì có một tên thứ sáu cướp nhà, nó cầm kiếm sẵn sau lưng mình nói rằng khi thấy mình là sẽ giết mình chết.
"Tên thứ sáu cướp nhà, giết người với cây kiếm giơ lên, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với dục tham". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Dục tham, thúc giục, ham muốn là một kẻ luôn đi sau lưng đưa dao lên, chỉ cần mình sơ sảy là giết mình chết. Quán chiếu về dục tham này là kẻ giết người, nó là đao phủ chặt đầu mình.
"Rồi, này các Tỳ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc, với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên sát nhân thù địch, quá sợ hãi tên thứ sáu cướp nhà, giết người với ngọn kiếm dơ lên, chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Rồi người ấy thấy một ngôi làng trống không. Nhà nào người ấy đi vào, người ấy vào chỗ trống không, vào chỗ rỗng không, vào chỗ tuyệt không. Người ấy sờ đến đồ dùng nào, người ấy sờ chỗ trống không, người ấy sờ chỗ rỗng không, người ấy sờ chỗ tuyệt không. Người ta nói với người ấy: Này Bạn, bọn cướp phá hoại làng, sẽ đánh cướp ngôi làng trống không này. Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm".
"Ngôi làng trống không, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Này các Tỳ-kheo, nếu một người hiền, kinh nghiệm, có trí, tìm hiểu nó với con mắt; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không... Nếu tìm hiểu nó với ý; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Sáu nội xứ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý là trống không, chạm tới đâu là trống không tới đó, gửi đứa con bị bệnh vào chăm sóc vậy mà thời gian ngắn sau trả lại hủ cốt "con ông nè", cha mẹ bàng hoàng, kinh hãi, hoảng hốt. Như vậy sáu nội xứ có phải trống rỗng không? Bây giờ con mắt ở đâu? Bàn tay ở đâu? Mặt mũi ở đâu mà chỉ còn lại hủ cốt? Đây là hình ảnh để mình quán tưởng tu học, mình tập nhìn cái gì cũng thấy nó sẽ tan biến, tan nát, tan hoại, hủy hoại, hoại diệt, ngôi làng trống không, ngôi chùa trống không, hình hài này cũng trống không, ai có mắng chửi, hơn thua cũng không có gì cả. Khi nó có mà mình nhìn vào còn thấy nó là đồ trống không, tan hoại, hủy hoại thì khi nó mất đi có gì lạ, phải tập nhìn bằng sanh diệt trí đối với sáu nội xứ này, đụng tới cái gì là mất cái đó, chạm tới cái gì là cái đó trở thành trống không.
Thế Tôn nói thế giới này là trống rỗng, thế giới này là rỗng không, là trống không, là trống trơn, là vô ngã. Thế giới này là sự rỗng không, rỗng không chính là thế giới này cho nên sau này có câu "sắc tức thị không, không tức thị sắc" là được lấy từ trong kinh Nikāya, sắc này là sự trống không, giao cho người ta là một đứa con mà nhận lại là một hủ tro. Chúng ta hãy đặt mình vào hoàn cảnh làm cha mẹ của đứa con, dẫn đứa con từ ngoài bắc vào với cả một trái tim, tấm lòng giao cho người chăm sóc, đưa trên 600 triệu, giao đứa con, giao tiền bạc và giao cả niềm tin vậy mà cuối cùng nhận lại một hủ tro cốt thì bàng hoàng, kinh hãi.
Đây là cái để mình quán chiếu nhưng không có lạ vì sự thật là như vậy, tất cả chúng ta đều sẽ như vậy, trong đại dịch vừa rồi chúng ta đứng từ xa đưa cha đưa mẹ vào viện, vào khu cách ly rồi sau đó nhận lại hủ cốt và đồ vật kỉ niệm, không phải một người như vậy mà hàng triệu người như thế, ra đi là một con người nhưng trở về là một nắm tro, như vậy sáu nội xứ này là trống không, là rỗng không, là tuyệt không.
Chúng ta phải nhìn ra chân tướng vì mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này rất phũ phàng và đau lòng, xót xa nhưng xót xa bây giờ để thoát ra chứ đừng để có chuyện rồi mới xót xa là khổ lắm. Mỗi ngày phải làm đám tang cho mình, mỗi khi lên gường ngủ là nằm xuống trong cái hòm, phải nhớ rằng đây là quan tài để tham, sân, si này lắng dịu, cái hơn thua này an tịnh, không còn tranh giành với đời nữa, mình khai tử giữa cõi trần gian này, không còn hơn thua với bất cứ ai nữa, không thấy có người có ta gì nữa mà tất cả chỉ là dục, ái, tham, sân, si, bản ngã đang vận hành thôi, tâm mình lắng dịu trở thành tro tàn nguội lạnh với sự thua hơn, không còn hăng hái tranh đua với ai, đúng sai với ai. Họ làm sai mà còn cự mình thì cứ chắp tay cúi đầu "dạ, mô Phật", đó là sự siêu việt của bậc hiền trí, bậc đại trí, con đã từng bị như vậy rất nhiều lần, phải tập như vậy để không còn hơn thua với cái gì trên cuộc đời này nữa, lòng mình nguội lạnh, tập cho nó tịch diệt, tất cả đều đi đến chỗ dập tắt không còn sanh khởi nữa.
Mình quán chiếu thấy họ không có sai vì dục ái là chuyện bình thường của mỗi người, chỉ có mình là khác biệt vì mình không đi theo con đường chung của mọi người thì mình phải chịu, mình lo diệt cái tham, sân, si của mình chứ đừng trách ai. Dục, ái, tham, sân, si, bản ngã là đương nhiên của cuộc đời này, là lẽ sống của người ta, mình chỉ trách mình không nhiếp phục, chế ngự cảm thọ của mình hết được, đây là cái lỗi của mình chứ không phải lỗi của người ta.
Ví dụ hàng xóm mở nhạc ầm ầm, mình chẳng những không phàn nàn người ta mà còn trách mình "tại sao mày tu dở vậy? Tại sao cảm thọ của mày chưa an tịnh, lắng dịu được? Tại sao không có tâm từ với mọi người?". Không nhìn lỗi người ta mà quay lại nhìn bản thân mình, họ lấn lướt mình, họ lợi dụng mình, họ chà đạp mình, họ chỉ trích mình nhưng mình vẫn chắp tay cúi đầu xin lỗi, họ còn cự mình thì mình cũng "dạ, con xin lỗi, con dại khờ, con không biết", an trú tâm vào cái nùi giẻ, an trú tâm như người thấp hèn nhất của cuộc đời, tất cả đều là người trên, là thượng nhân, là ông với bà, còn mình là ăn xin, là người dưới, an trú được tâm này thì sướng hơn tiên, siêu phàm thoát tục.
Tu tâm hiền này hay sao là hay, ngọt ngào, dễ chịu, tuyệt vời, khai tử giữa cuộc đời, làm cái nùi giẻ, làm thằng ngu, làm đứa dại khờ. Mình không ganh đua với ai cả vì mình ngu, còn người ta khôn nên người ta ganh đua, tranh giành, có người đến hơn thua với mình là mình cúi đầu nhận phần thua liền, cảm thọ mình an tịnh, lắng dịu. Nếu mình còn thua hơn theo kiểu người tám lạng kẻ nửa cân, mình còn giận cá chém thớt thì còn mệt mỏi, còn đau khổ lắm, mình còn ăn thua là còn khổ đau dài dài, còn chiến tranh, còn tranh giành, giành giật.
"Rồi này các Tỳ-kheo, người ấy quá sợ hãi bốn con rắn độc với sức nóng tột độ, với nọc độc mãnh liệt, quá sợ hãi năm tên giết người thù địch, quá sợ hãi tên thứ sáu cướp nhà, giết người với ngọn kiếm dơ lên, quá sợ hãi các tên cướp làng, liền chạy đi trốn chỗ này, chỗ kia. Rồi người ấy thấy một đầm nước lớn, bờ bên này đầy những sợ hãi nguy hiểm, bờ bên kia được an ổn, không có sợ hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua, không có cầu để đi qua đi lại.
Rồi này các Tỳ-kheo, người ấy suy nghĩ như sau: 'Ðây là vùng nước đọng, bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, bờ bên kia an ổn, không kinh hãi, nhưng không có thuyền để vượt qua, cũng không có cầu bắc qua từ bờ bên này đến bờ bên kia. Nay ta hãy thâu góp cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, ta có thể vượt qua bờ bên kia một cách an toàn'.
Rồi này các Tỳ-kheo, người ấy thâu góp cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, nhờ chiếc bè này, tinh tấn dùng tay chân, người ấy vượt qua bờ bên kia một cách an toàn. Vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia, đứng trên đất liền". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Một đầm nước lớn, bờ bên này là đầy rẫy sự sợ hãi hiểm nguy, còn bờ bên kia là an ổn, bình an, hạnh phúc. Nhưng bây giờ không có cầu cũng chẳng có thuyền để qua được bờ bên kia, thế là người này dùng cỏ cây, nhành lá, cột lại thành chiếc bè, dùng tay chân chèo qua bờ bên kia.
"Ngôi làng trống không, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với sáu nội xứ. Này các Tỳ-kheo, nếu một người hiền, kinh nghiệm, có trí, tìm hiểu nó với con mắt; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không... Nếu tìm hiểu nó với ý; vị ấy thấy nó là trống không, là rỗng không, là tuyệt không". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Với một người hiền trí, có kinh nghiệm, có trí tuệ, tìm hiểu bằng con mắt trí tuệ thì người này nhìn thấy sáu nội xứ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý này là trống không, là rỗng không, là tuyệt không. Khi chiêm nghiệm trí tuệ của Đức Phật giống như chiếc xe được mở ra từng bộ phận cho mình thấy, còn Phật giáo phát triển sau này nói một cái một "như huyễn" là xong nhưng Đức Phật không nói như vậy, Đức Phật không nói "sắc là không" là xong vì nói như vậy không tu được.
Ngài cho mình thấy hết tất cả những tổ hợp lắp ráp, cấu trúc, bộ máy của nó, ngài mở ra từng cái cho mình thấy, sau đó ngài phân tích từng tánh chất, cái gì kết hợp thành nó rồi nó vận hành, hoạt động ra sao, cuối cùng ngài chỉ cho mình thấy sự vận hành của nó là sự vận hành của tham, sân, si, sầu bi, khổ, ưu, não. Ngài nói từng cái một, từ mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý cho đến sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu ái, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ, ngài gỡ ra từng cái cho mình thấy rồi cuối cùng không có gì cả, đó mới là trí tuệ tối tôn, tối thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, gọi là viên mãn giác.
Ngài không nói theo kiểu phán "cái đó là giả" mà ngài chỉ ra tại sao nó giả, từ đâu nó giả, nó giả như thế nào, nó giả mà nó làm mình khổ thế nào, ngài chỉ ra căn nguyên, nguồn cội, gốc rễ. Trước nay chúng ta học nó là giả, là vô thường nhưng tại sao nó giả, tại sao nó vô thường, nó vô thường như thế nào đều được Đức Phật nói rõ ràng, con mắt này được làm từ những thứ vô thường thì làm sao con mắt này thường còn được.
Con mắt này được làm từ tứ đại, trong con mắt này có thọ, thức như thế nào được ngài giải thích cặn kẽ, biết bao căn – trần – thức – xúc – thọ – ái đó và tham, sân, si vận hành như thế nào, toàn bộ quy trình vận hành của thân tâm tứ đại ngũ uẩn, căn – trần – thức – xứ – giới – uẩn, đó mới là trí tuệ đại viên mãn giác toàn diện, không thiếu một chỗ nào, cái khổ ở đây không đơn giản như mình học lúc trước.
"Bọn cướp phá làng, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với sáu ngoại xứ. Này các Tỳ-kheo, mắt bị tàn hại trong các sắc khả ái và không khả ái. Này các Tỳ-kheo, tai bị tàn hại trong các tiếng khả ái và không khả ái. Này các Tỳ-kheo, mũi bị tàn hại trong các hương khả ái và không khả ái. Này các Tỳ-kheo, lưỡi bị tàn hại trong các vị khả ái và không khả ái. Này các Tỳ-kheo, thân bị tàn hại trong các xúc khả ái và không khả ái. Này các Tỳ-kheo, ý bị tàn hại trong các pháp khả ái và không khả ái". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Những lời của bậc Chánh Đẳng Giác là chuẩn không cần chỉnh, ai chỉnh là người đó vô minh, ngu si, bản ngã cho nên pháp mới diệt, mới mạt pháp, lúc đầu là tượng rồi diệt luôn. Con mắt bị tàn hại trong những cái sắc hấp dẫn, đẹp đẽ và những cái sắc bực bội. Lỗ tai bị tàn hại bởi những âm thanh, nó làm hại mình tả tơi, thân tàn ma dại. Lỗ mũi bị tàn hại bởi các mùi. Lưỡi bị tàn hại bởi các vị, ăn vào là bệnh, bây giờ có những đứa con nít bị đột quỵ, ung thư, còn rất nhỏ tuổi nhưng lại bệnh những chứng bệnh của người lớn, tức là trật tự của trời đất cũng bị phá vỡ, trật tự xã hội cũng bị đảo lộn, trật tự của đạo đức luân lý cũng bị sụp đổ rất nhiều trong thời hiện đại. Từ trời đất, hoàn cảnh, nội tâm, những nền tảng đạo đức đều đang báo động khủng khiếp, mình bị sắc; thanh; hương; vị; xúc; pháp tàn hại thân tâm nhưng mình đã lên núi nên đỡ rất nhiều. Không phải cái đẹp mới tàn hại mình mà đến cái xấu cũng tàn hại, tham, sân, si đều tàn hại.
"Vùng nước lớn, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với bốn bộc lưu: dục bộc lưu, hữu bộc lưu, kiến bộc lưu và vô minh bộc lưu". (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Dòng thác của dục, dòng thác của hữu, dòng thác của kiến chấp và dòng thác của vô minh.
"Bờ bên này nguy hiểm và hãi hùng, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với thân kiến này" (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Cái suy nghĩ có thân này, cái kiến chấp về thân này là nơi nguy hiểm hãi hùng, tai họa, vì thấy có thân nên có tai họa.
"Bờ bên kia an ổn và không kinh hãi, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với Niết-bàn.
Cái bè, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với Thánh đạo Tám ngành.
Tinh tấn dùng tay và dùng chân, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với tinh tấn, tinh cần.
Vị Bà-la-môn vượt qua bờ bên kia và đứng trên đất liền, này các Tỳ-kheo, là đồng nghĩa với bậc A-la-hán" (Tương Ưng Bộ, tập IV - Thiên Sáu Xứ, chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (g), IV. Phẩm Rắn Độc, I. Rắn Ðộc)
Chúng ta phải nhớ câu "Này Bạn, hãy làm những gì Bạn nghĩ là phải làm".
./.