Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thế Nào Là Chân Tu

2026-03-03 00:56:11
THẾ NÀO LÀ CHÂN TU

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tri ân gia đình thầy Pháp Minh PAGEREF _Toc69369258 \h 1

II.Câu hỏi thứ nhất: PAGEREF _Toc69369259 \h 3

1.Mục đích của đạo Phật PAGEREF _Toc69369260 \h 3

2.Nhận diện tham, sân, si PAGEREF _Toc69369261 \h 5

3.Phương pháp nhiếp phục sân PAGEREF _Toc69369262 \h 11

III.Câu hỏi thứ hai PAGEREF _Toc69369263 \h 15

1.Tầm quan trọng của việc nghe pháp PAGEREF _Toc69369264 \h 16

2.Tinh hoa trí tuệ Phật PAGEREF _Toc69369265 \h 19

IV.Lời tri ân của đạo tràng PAGEREF _Toc69369266 \h 23

Tri ân gia đình thầy Pháp Minh

Lời đầu tiên Minh Thành kính thưa hai vị gia chủ cũng như trong gia đình của sư chú Pháp Minh. Ngày hôm nay có dịp về thăm lại gia đình, lời đầu tiên Minh Thành cám ơn hai vị đã sanh ra một người con và bây giờ người con này đã từ bỏ những tiền tài, sắc đẹp, danh vọng, vật chất của thế gian để bước vào đạo, xuất gia ở trên núi rừng xa vắng, đang tu tập trên con đường của Chánh Pháp. Hơn nữa, Pháp Minh không chỉ tự mình tu tập mà còn biết phụng sự để làm cho Chánh Pháp được lan tỏa rộng khắp đến mọi nhà, mọi miền, thậm chí là vượt ra thế giới.

Đó là lời cám ơn chân thành của Minh Thành đến nhị vị gia chủ, cũng như là gia đình của sư chú Pháp Minh – người đã xuất gia tu hành, học tập rất là tinh tấn, ngoài ra, còn có phụng sự cho Tam Bảo, gánh vác những việc khó nhọc ở trong đại chúng, đặc biệt là trong công tác phụ trợ để Minh Thành hoằng pháp, đem những pháp âm của Đức Phật truyền trao đến rất nhiều nơi. Sở dĩ chúng ta có những bài giảng pháp ở trên mạng hơn một ngàn bài, cũng như là những quyển kinh sách mà quý vị sắp sửa có được ở trong tay đều nhờ sư chú Pháp Minh rất là vất vả. Thêm một người rất là đặc biệt, đó là người em của Pháp Minh đã hi sinh để ở nhà gánh vác lo cho cha mẹ, như vậy Pháp Minh mới yên tâm xuất gia. Cho nên người em này cũng rất là đặc biệt.

Quý vị thấy tuổi trẻ có năng lực, có học vấn, có tri thức mà chịu bỏ hết để đi tu thì dễ hay khó? Khó mà làm được chuyện khó nên mới gọi là Tam Bảo. Tam Bảo là những vị đã từ bỏ thế gian để mà tu tập theo Chánh Pháp, không những tự mình tu mà còn giúp cho những người khác, cái tâm đó là tâm cao thượng, tâm rộng lớn, tâm vĩ đại.

Lúc Minh Thành xuất gia được sáu tháng, khi đó là lần đầu tiên trở về nhà do phải làm giấy tờ chứng minh mình là người xuất gia. Khi trở về, mẹ Minh Thành rất là xúc động nhưng mà kiềm lại dữ lắm, lúc Minh Thành mới vừa quay lưng đi thì bà tựa vô cây cột bà khóc nức nở. Vì vậy, Minh Thành biết rằng tình mẫu tử rất là thiêng liêng và cao quý. Không có cha mẹ nào mà không thương con. Không cha mẹ nào dễ dàng mà cho con mình đi nhưng đây là một sự ra đi vĩ đại, một sự ra đi lớn lao. Lúc đó ba Minh Thành mới khuyên mẹ Minh Thành một câu mà Minh Thành vẫn nhớ: “Thôi bà ơi bà đừng có khóc nữa. Tình thương của bà với tôi mà đối với ông thầy giống như là sông, giống như là kênh rạch vậy, nhỏ lắm. Tình thương của người xuất gia giống như là biển cả. Thương hết tất cả nhân loại chúng sanh, cho nên bà hãy để cho ông thầy đi. Để ông thực hiện tình thương bao la của đại dương”.

Hôm nay Minh Thành kể lại câu chuyện đó, để nhắc nhở hai vị gia chủ hoan hỷ lên, cũng như Phúc Hùng vui vẻ lên, hân hoan lên và tự hào khi mình có một người con, một người anh có chí nguyện xuất trần, phát tâm bồ đề rộng lớn. Đó là thực hiện tình thương vĩ đại của Đức Phật, cao thượng rất là cao thượng, hiếm có rất là hiếm có, quý báu rất là quý báu.

Tam Bảo là ba báu vật ở trên cuộc đời này.

Báu vật thứ nhất là: Phật bảo, là bậc đại giác ngộ.

Báu vật thứ hai là: Pháp bảo, là pháp mà các bậc giác ngộ thực hiện được con đường đưa đến hạnh phúc tuyệt đối.

Báu vật thứ ba là: Tăng bảo, là những vị dám từ bỏ, dám xa lìa để thực hiện theo lời dạy của Phật bảo và đi trên con đường của Pháp bảo.

Như vậy, quý vị phải thấy vui khi trong nhà có báu vật. Minh Thành nói với Pháp Minh cố gắng tu học, tu rèn, rèn luyện để sau này trở về nơi đây, hoằng dương Phật pháp cho nơi này, đem ánh sáng trí huệ, đem dòng nước mát của từ bi, của tình thương để làm cho Phật pháp nơi đây được sáng lạn, lợi ích cho trăm ngàn vạn người chứ không phải một hai. Lúc ở nhà nếu mình giỏi lắm thì cũng lo cho được vài người thôi, mà lo chưa xong nữa. Mình xuất gia mà làm cho đúng thì mình lo cho trăm ngàn vạn, ức, triệu, cho đến vô lượng vô biên. Cho nên trong nhà có đứa con đứa cháu mà đòi đi tu thì nhớ khuyến khích, động viên, khích lệ chứ không có ngăn cản. Tại vì đâu phải dễ, rất là khó. Đó là chuyện đặc biệt hiếm có, quý vị phải thấy được giá trị quý báu đó. Đó là lời đầu của buổi chia sẻ hôm nay.

Hôm nay, Minh Thành muốn dành cho tất cả quý vị một buổi pháp đàm, không phải giảng pháp. Quý vị có gì thắc mắc gì; hay có gì chưa hiểu rõ; hay có khó khăn trong học Phật Pháp, học tập giáo lý; hay là quý vị có vấn đề khó giải tỏa ở trong nội tâm, gọi là nội kết, tức là những cái thắt rút ở bên trong thì quý vị có thể nêu ra để quý thầy chia sẻ, soi sáng giúp cho quý vị. Mọi người cứ nói thoải mái, nói thân thiện, nói vui tươi vì đây một cuộc nói chuyện trao đổi chứ không phải là giảng pháp.

Câu hỏi thứ nhất:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Con kính bạch trên thầy, hàng Phật tử khu vực chúng con nơi đây nói chung mới là hàng sơ cơ học Phật, thay mặt các Phật tử kính bạch sư phụ, con xin có một có một câu hỏi. Hàng sơ cơ học Phật chúng con, đa số tu theo pháp môn tịnh độ, niệm Phật cầu vãng sanh. Ngay như bản thân con con đã nghe pháp và học Phật, tu hành, nói là học Phật nhưng mà chúng con chưa hiểu rõ về lời Phật dạy, con xin hỏi thầy: Pháp môn tịnh độ và pháp môn thiền môn thì pháp môn nào là tu thiện và pháp môn nào là cứu cánh sự giác ngộ và giải thoát? Con xin kính bạch sư phụ chỉ dạy cho chúng con, để chúng con có hành trang học Phật ngay trong cuộc đời này. Chúng con sẽ nhận rõ để được con đường đi đúng và chúng con lấy đó làm kim chỉ nam trên con đường tu học và hiện đời chúng con được thân tâm an lạc.

Nam mô Bổn sư Thích ca Mâu ni Phật.

***

Mục đích của đạo Phật

Kính thưa các Phật tử, Đức Phật ra đời cách đây đã được hơn hai ngàn sáu trăm năm, những lời dạy của Đức Phật được ghi lại trong tạng kinh Nikāya, kinh tạng Pāli hay tạng kinh nguyên thủy, hiện tại đứng về phương diện lịch sử thì các nhà nghiên cứu về Phật giáo ở trên thế giới chỉ căn cứ theo tạng kinh Nikāya. Chúng ta ở quê, đã lớn tuổi nên thường thường thì người ta kêu làm sao mình làm vậy, thấy người ta lạy, mình lạy; thấy người ta niệm mình niệm; thấy người ta vái thì mình cũng vái, cho nên, mình cũng ít có điều kiện để nghiên cứu sâu sắc. Quý thầy thì có nhiều thời gian, nhiều điều kiện nhân duyên để mà đi cầu học đạo nên quý thầy tìm ra được đâu là cội nguồn của Phật pháp.

Trong tạng kinh Nikāya, còn gọi là tạng kinh Pāli do Hòa thượng Minh Châu dịch, tạng kinh này có năm bộ kinh: Trường Bộ Kinh, Trung Bộ Kinh, Trung Ương Bộ Kinh, Tăng Chi Bộ Kinh và Tiểu Bộ Kinh. Năm bộ này gọi là kinh điển quyền uy của Phật giáo trên thế giới. Các nhà nghiên cứu Phật học nghiên cứu về Phật giáo là nghiên cứu năm bộ kinh này. Trong năm bộ kinh này không có phân ra cái nào là tịnh độ tông cái nào là thiền tông. Sự phân ra như vậy là do sau này, nhất là sau khi sang Trung Hoa, còn khi Đức Phật tại thế không có phân công. Cho nên nếu học mà chưa có đi tới cái gốc thì mình chỉ học cái cành, cái lá, cái ngọn. Nếu học cái cành, cái lá, cái ngọn nhiều quá thì mình không biết được cái gốc thì không có được hiệu quả lớn. Vì vậy, Minh Thành khuyên tất cả các quý vị Phật tử khi học Phật không nên chú trọng hỏi cái tông nào.

Bây giờ chúng ta bắt đầu “phơi bày những cái gì mà đã bị che kín, soi ánh sáng vào chỗ tăm tối để cho người mù được thấy sắc” – đây là câu nói trong kinh thường dùng khen ngợi Đức Phật. Khi quý vị đến học Phật, quý vị có biết mục đích của đạo Phật là gì không? Cúng lạy, cầu xin hoài nhưng hỏi về mục đích của đạo Phật là gì thì không ai biết cả. Quý vị bước ra khỏi cửa, người ta hỏi quý vị đi đâu thì quý vị phải biết mình sắp đi đâu. Cũng vậy, quý vị học tu mười năm, hỏi chỗ đến của quý vị là đâu thì quý vị cũng cần phải biết. Bây giờ mình bước lên xe mình phải biết mình đi đâu, làm cái gì thì phải biết mình làm nghề gì, lời bao nhiêu chứ. Vậy mà chuyện tu tập quan trọng như vậy mà mình không biết đích đến thì phải làm sao? Vì vậy, điều quan trọng nhất ở trong đạo Phật là cái thấy biết chính xác, gọi là Chánh tri kiến, nó quyết định hết của tất cả giáo lý đạo Phật. Nếu mà không thấy rõ cái vấn đề, hoặc thấy không đúng thì mình sẽ nghĩ không đúng, nói không đúng, làm không đúng, như vậy đương nhiên là không có kết quả đúng. Cho nên trong Bát Chánh Đạo, “thấy đúng” luôn đứng trước, tức là phải biết được mình đi tới chỗ nào, mình đang đứng ở đâu, mình đi tới chỗ nào, mình đi bằng cái gì để tới.

Một hôm Đức Phật cùng với các thầy Tỳ kheo đi ở trong khu rừng, gọi là rừng cây Simsaba. Khi đi tới chỗ có bóng mát Đức Phật mới ngồi xuống, các thầy Tỳ-kheo ngồi xung quanh Đức Phật. Đức Phật mới hốt một nắm lá rụng đưa lên hỏi các thầy Tỳ-kheo lá trong tay của Ngài là nhiều hay lá ở trong khu rừng này là nhiều. Các thầy Tỳ-kheo mới nói lá ở trong bàn tay của Đức Thế Tôn rất là ít so với lá trong khu rừng. Đức Phật nói, cũng vậy, cái mà Ngài chứng, Ngài đắc, Ngài ngộ, Ngài thấu, Ngài hiểu nhiều như lá trong rừng đó. Còn cái Ngài nói cho các thầy như lá trong lòng bàn tay, tại vì Đức Phật chỉ nói cái bản chất cuộc đời là khổ và phương pháp tiêu diệt khổ đau.

Như vậy, quý vị biết mục đích của đạo Phật là gì chưa? Đó là diệt khổ, thoát khổ, dứt khổ, hết khổ, chấm dứt khổ, không còn khổ nữa. Trước giờ quý vị đi theo Phật pháp năm năm, bảy năm, mười năm, hai chục năm rồi cái khổ nó còn bao nhiêu? Còn nhiều thì nhiều cỡ bao nhiêu? Nhiều không biết được, như vậy là còn khổ nhiều lắm. Chỗ này là chỗ quan trọng các vị phải nhớ kỹ. Vậy là bây giờ không cần hỏi là bà đi theo tông nào? Chị đi theo phái nào? Mà hỏi cái khổ chị bớt chưa? Phiền não của ông giảm chưa? Cái đó mới là mục đích của sự tu tập, chứ mục đích của đạo Phật không phải lạy lục, cầu cúng, van xin, đó là bước đầu tín ngưỡng thôi. Các vị cầu hoài, cúng hoài rồi các vị cũng khổ hoài, nếu cầu hoài mà hết khổ thì Phật đâu có cần tu, các vị Thánh Tăng, A-la-hán đâu có cần tu, La-hầu-la – con thái tử đâu có cần tu, bà Ma-ha-ba-xà-ba-đề – dì mẫu của Đức Phật đâu có cần tu, Da-du-đà-la – vợ của Đức Phật trước khi xuất gia cũng đâu cần tu.

Nhận diện tham, sân, si

Vậy làm sao để hết khổ? Mục đích là chấm dứt khổ mà giờ làm sao để chấm dứt đây? Hôm nay chúng ta trở về cái gốc của Đức Phật, trở về cội gốc của giáo pháp mà lâu nay quý vị chỉ lo tu cành, lá, ngọn nên mất thời gian, công sức rất nhiều mà hiệu quả không có bao nhiêu hết. Bây giờ quý vị muốn diệt cái khổ, muốn chấm dứt cái khổ, quý vị phải biết nguyên nhân từ đâu mà sanh ra khổ. Có người nói khổ là do tham, sân, si, câu trả lời này đúng nhưng mà cũng không đúng. Đúng là tại vì mình nói theo Đức Phật, nói theo kinh, còn không đúng vì tại mình chưa biết thật sự tham, sân, si nó ở chỗ nào. Bữa nay Minh Thành chỉ cho quý vị chỗ trú ẩn của tham, sân, si, chỗ này quan trọng lắm.

Bây giờ Minh Thành hỏi, quý vị nói nguyên nhân của đau khổ là tham sân si. Vậy bây giờ hỏi quý vị tham, sân, si ở chỗ nào? Một người nói ở trong tâm; một người nói ở trong ái; một người nói thân, khẩu, ý; một người nói do duyên sanh, ái dục; một người nói sáu căn tiếp xúc với sáu trần, thích thì tham mà ghét thì sân, từ đó mới khổ; một người nói ở sắc thọ tưởng hành thức. Ai nói gì cũng trúng một phần, bây giờ Minh Thành chỉ thẳng cho thấy liền. Điều này là phải thấy, chứ còn mình nghe rồi nói lại là mình đoán, không thôi mình tự suy nghĩ, như vậy là không đúng. Chúng ta phải thấy, pháp của Đức Phật là đến để mà thấy, thấy bằng trí tuệ.

Đức Phật dạy chúng ta phải luôn luôn nhìn lại cảm giác. Danh từ chuyên môn gọi là quán thọ, quán xét cảm giác. Có ba loại cảm giác: cảm giác dễ chịu, cảm giác khó chịu, cảm giác không dễ chịu, không khó chịu. Thường thường cảm giác của mình nó đều rơi trong ba loại này hết. Hiện tại giờ quý vị đang có cảm giác dễ chịu; nhiều khi những người lớn tuổi cái chân nó bị tê tê thì cái đó là cảm giác khó chịu; có người không bị tê, cứ đều đều vậy thôi là cảm giác không dễ chịu, không khó chịu.

Bây giờ quý vị khai thật cho Minh Thành, đừng có giấu, ví dụ, quý vị đi tiệc đám cưới hay là lễ giỗ gì đó, dọn cái mâm mười món mà trúng toàn món độc, món ngon, món mình thích, như vậy lúc gắp ăn quý vị cảm giác gì. Chắc chắn sẽ có cảm giác dễ chịu mà khoan khoái, thích thú, sung sướng, đam mê. Bình thường mình ăn 70% thôi, bữa đó mình làm 90%, no rồi nhưng ráng thêm chút nữa. Như vậy, ở trong cảm giác dễ chịu nó có cái tham ở trong đó.

Có một cô ở bên nước ngoài đi ăn buffet, vô chỗ nhà hàng tự chọn, đóng 12 đô la thì được vào ăn. Buffet ở bên nước ngoài, bên Mỹ có nhiều món lắm, cả hàng bốn năm trăm món. Cô này nói là đóng tiền rồi thì ăn nhiều ăn ít gì cũng phải ăn. Rồi cô ăn rất là no mà vẫn ráng ăn thêm nữa, ăn một hồi cuối cùng xe cấp cứu lại chở cô đi. Đó chính là cái tham nằm trong cảm giác dễ chịu khoan khoái, thích thú, đam mê.

Tuần trước ở đây nóng gần 40 ºC, lúc 12 giờ trưa, quý vị đi ở ngoài đường nắng, lại không có xe, phải đi bộ cây số cả hai cây số, lúc đó có cảm giác khó chịu, trong đó nó có cái bực, bực rồi xong nó có nực, nực xong rồi nó nóng. Cái bực đó nghĩa là trong cảm giác khó chịu có sân, có sự nóng giận trong đó.

Quý vị thấy ra được tham, sân, si là có trí huệ rồi đó, vì không phải dễ thấy tham, sân, si đâu. Phải chứng quả Tu-đà-hoàn, bậc Thánh thứ nhất mới thấy rõ được tham, sân, si. Tham, sân, si làm cho mình khổ mà mình không biết nó, mình chỉ nắm được cái đuôi thôi chứ không thấy được cái thân, không thấy được cái đầu, không thấy được sự máy động, khởi động, vận hành, hoạt động của nó.

Quý vị phải thấy được sự nóng giận, bực tức nằm trong cái cảm giác khó chịu. Ví dụ đối với người thương nhất, chẳng hạn vợ chồng lâu năm, mười mấy hai chục năm thì có thương “ổng” không, thương bằng lúc mới về không, thương hơn luôn phải không, nhưng lâu lâu có cự không và tại sao cự? Ví dụ ông nói câu gì đó lúc đó làm mình bực, chỉ một câu nói, hay hành động gì đó làm mình thấy chướng tai gai mắt thì lúc đó cái sân phực lên. Nếu như cái sân nó phực lên thì nó cháy, sau đó những đứa con trong nhà cũng bị lây, hoặc ai vô tới nhà là cũng bị lửa táp vô, mà có khi nó còn lan qua cả hàng xóm. Mới đây bên Campuchia, chập điện một cái thôi là cháy năm chục căn nhà của người Việt bên đó, không kịp lấy đồ gì ra hết đó. Chỉ vì một cái chập điện chút xíu thôi nhưng mà nó lan luôn hết cháy năm mươi cái nhà. Lâu lâu quý vị có bị chập điện không, có bị chạm dây rồi cháy không?

Thấy được tham, sân, si là chỗ rất quan trọng, có hết khổ hay không là chỗ này, chứ không phải chỗ quý vị cúng lạy, cầu nguyện đâu, những cái đó chỉ là bước ban đầu, sơ cơ thôi. Ai làm cho mình tham, ai làm cho mình sân, ông Phật đâu có làm mà mình cầu xin. Cho nên quý vị hướng ra ngoài cầu nguyện hoài thì đó là mê tín. Khổ là do chính mình làm mình khổ, cho nên, muốn bớt khổ thì cũng chính mình làm cho mình bớt khổ, muốn hết khổ thì cũng chính mình làm cho mình hết khổ, chứ không có bất kỳ ai giúp cho mình được hết. Quan trọng là chúng ta phải biết phương pháp và làm đúng phương pháp, đúng cách thì mới có kết quả. Làm không đúng cách thì cũng không có kết quả. Ví dụ quý vị đang sân, bực chịu hết nổi, khi đó cố gắng niệm “Nam mô A Di Đà Phật” nhưng người ta vẫn cự cãi, cuối cùng chịu hết nổi rồi là bung ra lựu đạn nổ. Đó là mình tu không đúng cách, chỉ là đá đè cỏ thôi, không có đúng phương pháp.

Như vậy, bước thứ nhất, Minh Thành chỉ cho quý vị cái căn cứ địa của tham, sân, si, chỗ cư trú của phiền não, nếu mình biết được cái này thì gia đình hạnh phúc. Đức Phật dạy thường thường phải nhìn lại cảm giác, lúc cảm giác nóng lên nó có biểu hiện gì không, nó có cảm giác thay đổi không? Đầu tiên nó nóng ở đâu trước? Tu này hay lắm này, sự tu này gọi là trực chỉ, đi về cái gốc của Đức Phật. Đầu tiên nóng ở chỗ lồng ngực, nó ấm ấm lên. Từ đó bắt đầu nóng lên lên mặt, hai gò má đỏ lên, hai con mắt đỏ nữa, hai lỗ tai cũng đỏ lên. Khi đó, mắt thì mờ, lỗ tai thì lùng bùng, miệng thì giựt giựt, bắt đầu nó phun ra, bắn ra toàn là mũi tên, mũi dao.

Cho nên, nếu thường nhìn lại cảm giác thì khi nó biến động mình biết được liền. Đây là cái chỗ thâm sâu của Phật Pháp, đây gọi là trí huệ. Tại vì khi nó vừa thay đổi một cái là mình biết nó tới rồi, nó thay đổi rồi, nó xuất hiện rồi. Đức Phật dạy khi có một cảm giác khó chịu thì biết rằng mình đang có cảm giác khó chịu. Nên nhớ là “cảm giác khó chịu” chứ không phải mình khó chịu. Nhớ kỹ chỗ này quan trọng lắm, cảm giác chỉ là cảm giác thôi, không được đồng hóa mình với cảm giác. Cảm giác là vô thường, bực chút xíu là hết bực chứ nó đâu có bực hoài. Đâu có ai mà bực từ sáng tới trưa tới chiều, tới tối, tới khuya, thế nên cảm giác là vô thường, biến đổi, không phải vậy hoài. Cảm giác có biến đổi thì quý vị để ý, Đức Phật dạy thường trực nhìn lại cảm giác. Bây giờ nhìn lại cảm giác đi, có tiếng động thì mặc có tiếng động, tiếng động đó không có gì ảnh hưởng tới mình hết. An an trú trong cảm giác, đó là mình tu bất động, tu sự trầm tĩnh.

Còn bình thường chó sủa quay ra dòm dòm, nghe tiếng xe chạy quay qua dòm, ngồi trước cả ngàn người mà nghe tiếng điện thoại cũng quay ra sau dòm coi của bà nào vậy, cái điện thoại từ đâu nó phát ra. Không cần như vậy, nghe tiếng thì biết có tiếng, an trú lại cảm giác của mình, không chạy theo tiếng đó. Rồi mai mốt có người chọc giận, mình cũng bình thường, an trú trong cảm giác, lúc đó là ngon rồi đó, lúc đó là vỗ tay được rồi. Bây giờ mình tập từ cái tiếng điện thoại đi, mình tập từ cái tiếng cho sủa đi, mình tập từ tiếng xe đi. Rồi mai mốt trước tiếng cự cãi mình mới được bình tĩnh.

Ngày xưa, khi Đức Phật đang đi ung dung ở trên đường khất thực thì có mấy vị đạo Bà-la-môn giảng đạo, mà Đức Phật đi tới đâu là người ta bỏ đạo Bà-la-môn đi theo Đức Phật hết. Ông này mất hết đệ tử, bực quá nên ông đi theo đằng sau lưng chửi Đức Phật. Ông thầy bên đạo Bà-la-môn thì chửi, còn đệ từ đi kế bên khen Phật. Như vậy mà Đức Phật vẫn đi ung dung, không có dừng lại, vẫn đi khất thực, vẫn bình thản ôm bình bát đi thong thả. Ông chửi như vậy mà thấy Đức Phật bình thường lời ông càng tức lên nữa. Một hồi ông nhảy ra đằng trước mặt nói: “Nãy giờ ông có nghe không vậy?”, Đức Phật nói: “Có, tôi có nghe”. Vị Bà-la-môn hỏi: “Nghe sao không nói gì hết vậy?”. Lúc đó Đức Phật mới nói: “Bây giờ ông đi đến gia đình tổ chức tiệc lễ, người ta tặng bánh quà cho ông nhưng ông không nhận thì cái bánh đó về ai?”. Đức Phật nói vậy và không nói gì thêm nữa. Ông này xấu hổ vì ông sân si, làm đủ thứ hết mà Đức Phật bình thản, vì nãy giờ ông chửi người ta mà người ta không có nhận, tự nhiên lúc đó ông lắng dịu xuống. Sau đó, bắt đầu Đức Phật mới giảng pháp cho ông nghe, ông quỳ sụp xuống quy y làm đệ tử của Phật luôn.

Qua đó, chúng ta thấy rằng Đức Phật làm chủ được cảm giác. Còn mình luôn luôn bị cảm giác tác động chi phối, lôi cuốn, thậm chí nó nhấn chìm mình. Tại vì mình đã nhập mình với cảm giác, cho cảm giác là mình, đó là một sự sai lầm rất là lớn. Cảm giác chỉ là cảm giác thôi, chứ cảm giác không phải là mình. Cảm giác vô thường, biến đổi, cảm giác không như vậy hoài mà biến đổi liên tục. Ví dụ như quý vị mới ngồi thì quý vị thấy ngồi thoải mái, Minh Thành cho quý vị ngồi 1,5 tiếng – 2 tiếng mà Minh Thành không chịu đứng dậy, cứ ngồi nói hoài. Lúc đó, quý vị trở qua, trở lại, trở tới, trở lui, tê hết người, đau nhức mà ráng miệng mỉm cười, trong khi dưới chân cứng hết, tê hết, đau hết. Cho nên quý vị thấy rằng việc nhìn lại cảm giác trong sự tu tập của mình là rất quan trọng. Nhìn lại cảm giác để phát hiện ra được tham và sân, mà do tham và sân làm cho mình khổ và chỗ trú ẩn của tham, sân chính là ở trong cảm giác.

Nãy giờ mới nói có tham với sân chưa nói tới si, mà mình chết cũng ở chỗ cái si này. Quý vị nói tham, sân, si hoài mà quý vị có biết tham, sân, si ra làm sao không? Hàng ngày quý vị có thấy mình trong trạng thái của si mê không? Trạng thái mà cảm giác không khó chịu, không dễ chịu, không khoan khoái, thích thú mà cũng không ghét bỏ gì hết, cứ trơ trơ, thường thường, cảm giác đó là si. Cái này nó hơi sâu sắc, bữa nay quý vị lên lớp rồi đó. Nói như vậy là một ngày mình ở trong si mê nhiều lắm. Không có tham, không có sân thì lúc đó là si. Nói kỹ hơn, đó là trạng thái lờ đờ, lơ tơ mơ, trì trệ, rũ rượi, lười biếng, không năng động, không hoạt động gì hết. Trạng thái si nếu mình không chấn chỉnh, không làm cho mình mạnh mẽ lên, phấn đấu lên, phấn chấn tinh thần lên thì mình đi ra đi vô trong trạng thái của si. Trong trạng thái của si đó, có khi người ta ngồi nói chuyện với mình nhưng một hồi mình nghe không có rõ, thí dụ nói mười câu mình nghe được sáu câu, hay năm câu thôi. Chính chỗ trì trệ này khiến mình làm ăn hay làm công việc này kia không có hiệu quả lớn. Tại vì người si nhiều thì người đó không thông minh, cứ lờ lờ, đờ đờ, khờ khờ, đặt đâu ngồi ở đó giống như cục bột vậy, không năng động, không hoạt động, không có linh động, không có sáng suốt. Quý vị lên ngồi tụng kinh niệm Phật rồi lâu lâu có bị trạng thái si không? Trạng thái đó ra làm sao? Buồn ngủ cũng là trạng thái của si, có người lạy Phật một hồi là nằm luôn xuống ngủ, không biết được mấy lạy rồi. Có người niệm một hồi rớt sâu chuỗi luôn. Đó là si nặng, đó là hôn trầm, ngủ gục luôn. Như vậy, Minh Thành đã chỉ cho quý vị tham, sân, si nằm ở trong cảm giác. Chúng ta phải nhìn lại cảm giác thường thường chứ đừng phóng ra.

Tất cả con người khổ đau vì cảm giác này, ai ai cũng chạy đi tìm cảm giác. Từ nhỏ tới lớn mình đi tìm cảm giác, nếu mình không làm chủ, không có sự chánh niệm tỉnh thức ở trong thì sẽ nguy hiểm vô cùng. Mấy đứa nhỏ nó mê game có phải do cảm giác không? Gia đình tan vỡ có phải do cảm giác không? Ngoại tình có phải do cảm giác không? Rồi khi đang làm ăn tự nhiên có chuyện gì xấu, mất hết tài sản lúc đó không muốn sống nữa có phải do cảm giác không? Nhậu say xỉn có phải do cảm giác không?

Như vậy, tất cả đều là ở trong cảm giác hết, cho nên, Phật dạy phải nhìn lại cảm giác bằng trí huệ. Điều này rất quan trọng trong việc tu tập. Khi nhìn lại như vậy mình sẽ kiểm soát được những cái gì là thiện, những cái gì là bất thiện. Cái thiện mình phát huy, cái bất thiện mình phải biết chừng mực, biết diệt trừ nó, thậm chí là mình giảm lại hay mình chấm dứt nó, như vậy là quý vị làm chủ cảm giác được phần nào rồi đó. Cũng giống như lái xe có cái thắng vậy đó. Nếu lái xe 100 phân khối trên đường cao tốc thắng không ăn thì làm sao, chiếc xe tu học của mình cũng như vậy đó.

Phương pháp nhiếp phục sân

Chúng ta chỉ ra chỗ trú ẩn của tham, sân, si rồi, vậy bây giờ làm thế nào để chuyển hóa, nhiếp phục, trị bệnh tham, sân, si. Quý vị có kinh nghiệm chiến trường tu hành lâu năm rồi, quý vị chia sẻ xem tham lấy gì trị, si lấy gì trị, nổi nóng lên lấy gì trị. Quý vị có biết tại sao mình sanh khởi ra sân hận không? Chỗ này sâu sắc lắm quý vị, Phật Pháp nói có nhân duyên hết, chứ không phải Đức Phật nói không khoa học đâu. Nguyên nhân tham, sân, si sanh khởi, rồi nó sanh khởi như thế nào, làm sao cho nó chấm dứt đều có một trình tự rất rõ ràng, làm đúng quy trình là mình thành công. Sự tu có định lý rất là rõ ràng chứ không phải nói chung chung.

Minh Thành ví dụ, quý vị dùng dùi chuông đánh mạnh vào bông hoa, đánh vào ca sứ, đánh vào cái đế chuông thì nó không phát ra tiếng chuông và khi mình đánh vào cái chuông thì mới có tiếng chuông. Chúng ta tu cũng giống vậy đó, tu không đúng cách thì không có kết quả. Phải là cái chuông thì cái dùi này đánh nó mới ra tiếng. Nếu lấy cuốn sách đánh vào cái chuông thì làm sao nó ra tiếng chuông. Quý vị không biết từ đâu mà tham, sân, si sanh khởi; quý vị không biết tham, sân, si vận hành làm sao; quý vị không biết chấm dứt tham, sân, si thế nào. Như vậy, quý vị có tu một ngàn kiếp cũng không thành tựu.

Cho nên phải tu theo phương pháp mà Đức Phật gọi là phương pháp của bậc Chánh Đẳng Giác. Bốn đại a tăng kỳ và một trăm ngàn đại kiếp mới có một bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở trên trái đất này. A tăng kỳ dịch là vô số trường thời, tức là số kiếp dài mà mình không có tính nổi, có khoảng một trăm mấy chục con số không phía sau. Cái số kiếp dài vậy mà bốn lần số kiếp dài đó, rồi một trăm ngàn đạ kiếp mới có một bậc Chánh Đẳng Chánh Giác ra đời. Chúng ta có đỉnh Fansipang là cao nhất, cứ một trăm năm quý vị cầm khăn mùi xoa ra phủi ngọn núi này một lần, cho đến khi nó nát thành bụi hết thì lúc đó mới tính là một kiếp nhỏ. Một trăm năm mới cầm cái khăn mùi xoa phủi một lần, mà phủi cho nó nát ngọn núi ra thành bụi thì mới là một kiếp nhỏ, chứ chưa phải là khiếp lớn, vậy mà một trăm ngàn đại kiếp mới có một bậc Chánh Đẳng Giác xuất hiện ở trên thế gian. Cho nên không phải dễ gặp được Đức Phật, Giáo Pháp và Hiền Thánh Tăng. Một bậc tu theo đúng Chánh Pháp khó gặp lắm, còn tà sư ngoại đạo hướng dẫn những con đường ma lầm thì đầy rẫy.

Cho nên lạy Phật không phải chuyện đơn giản. Quý vị phải hiểu được Phật là ai, quý vị lạy Phật khác lạy trời với đất, những người không hiểu thì vướng vào mê tín. Trong một bài kinh Đức Phật có nói xa rất là xa giống như trời với đất; xa rất là xa giống như bờ biển bên đây với bờ biển bên kia; xa rất là xa giống như hướng của mặt trời mọc và hướng của mặt trời lặn. Cộng tất cả những cái xa đó cũng chưa bằng cái xa của chánh và tà, thiện và ác. Cho nên tuy thấy lạy lạy giống nhau nhưng mê tín và chánh tín khác nhau lắm, khác như trời với đất vậy, tại vì mình lạy mà không hiểu Phật là ai hết. Đức Phật có lấy ví dụ cho dễ hiểu là một vị bác sỹ biết được quý vị bệnh gì, biết được căn nguyên của bệnh đó, thấy rõ được bệnh lý, thấy nó vận hành như thế nào và có phương thuốc hợp với bệnh lý đó. Quý vị nghe theo, uống thuốc theo đúng liều lượng, đúng thời hạn như vậy thì quý vị mới hết bệnh, chứ không phải là quý vị mở cái toa đó ra quý vị đọc. Dù đọc biết bao nhiêu loại thuốc, đọc từ sáng tới trưa, tới chiều, tới tối, đọc hoài mà không muốn uống thuốc thì không thể nào hết bệnh. Cũng vậy, cứ tụng chú, niệm Phật hoài mà không chịu nhìn lại tâm mình chuyển hóa ra sao thì cũng giống như đọc toa thuốc vậy, sẽ không có hết bệnh. Chưa kể đó là toa thuốc đúng mà còn không hết, chứ đừng nói chi đến việc lấy cái dùi chuông này gõ vô gối mà tạo thành tiếng chuông, nghĩa là nó không đúng nhân quả hệ.

Minh Thành trở lại vấn đề cho quý vị thấy tại sao sân sanh khởi, đây là Phật dạy chứ Minh Thành không có biết gì hết, Minh Thành chỉ học từ bậc Chánh Đẳng Giác trong kinh tạng Nikāya mà thôi. Tại sao có sân quý vị phải nhớ cho kỹ, nếu quên là sau này sân nữa thì quý vị không biết đường tu tập.

Thứ nhất, sân là do mình nghĩ đối tượng đó là chướng ngại đối với mình thì mình sẽ sinh khởi ra sân. Lúc nãy Minh Thành dùng từ “chướng tai gai mắt”, tức là mình cho cái người đó, cái sự việc đó là chướng ngại. Khi cái ý cho là như vậy thì sân sẽ sanh khởi và tăng trưởng, phát triển lên. Vì vậy, mình dẹp ý niệm đó, đừng cho cái người đó là vật chướng ngại, dẹp cái ý tưởng đó, dẹp cái cách nhìn đó thì csân nó mới từ từ nó giảm xuống. Đó là nguyên nhân thứ nhất mà sân sanh khởi và tăng trưởng.

Thứ hai, làm sao quý vị trị được sân? Quý vị nói niệm Phật để trị sân, khi giận quý vị đem ra niệm, nếu giận nhỏ nhỏ, ít ít thì nó đỡ đỡ, nhưng mà giận dữ lúc đó niệm đâu có hết. Quý vị nói phải nhẫn, khi giận nhỏ nhỏ thì ráng nhẫn, nhưng giận lớn quá thì nhẫn cũng đâu có nổi. Chính vì vậy, Đức Phật dạy phương pháp hóa giải tâm sân là dùng Từ Tâm Giải Thoát, tức là dùng tình thương, những pháp này là định lý để tiêu diệt phiền não. Nó là định luật, định lý, không có người nào bằng trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác. Cho nên lời của Phật là kim ngôn rồi, là ấn, không có gì thay đổi được, vì người nào thay đổi thì người đó hơn Phật. Mà ai hơn Đức Phật? Cho nên đó là định lý. Như vậy, muốn trị cái sân mình phải dùng từ tâm giải thoát, tức là phải dùng tình thương mới trị được cái sân. Nếu không dùng cái này mà dùng cái khác thì coi như là tạm thời chữa cháy, cắt cơn, né tránh vậy thôi, một thời gian sau nó cũng sanh khởi lên. Còn nếu dùng từ tâm giải thoát nó trị từ gốc luôn.

Thế nào là từ tâm giải thoát? Nhiều khi nói đó là từ, bi, hỷ, xả, không chấp trước nhưng trong bụng nó còn chấp thì sao? Cho nên từ tâm giải thoát này quan trọng lắm. Giải thoát là cởi mở cái tâm ra, đừng có xiết chặt vô, đừng có buộc vô. Thứ nhất, phải dẹp cho được ý nghĩ đó là chướng tai gai mắt, phải tháo ra, mở ra, đừng có xiết vô. Thứ hai, mình quán chiếu, suy xét để hóa giải sân. Khi bực lên thì lúc đó khổ hay vui, lúc đó khỏe hay mệt, lúc đó nhẹ hay nặng, úc đó thoải mái hay là căng thẳng? Khi nổi giận lên, lúc đó mình cảm thấy mình trong trạng thái rất bực bội. Khi mình trong trạng thái bực bội mình giận người ta, người bị mình giận có khỏe không, người đó có vui không? Không ai vui hết, người đó mệt mà mình cũng mệt, người đó không khỏe mình cũng không khỏe, mình cũng khổ mà người đó cũng khổ. Quý vị có muốn mình khổ không, quý vị nhận thức nhiêu đó là đủ rồi.

Lúc đầu có thể quý vị thực tập tâm từ chưa quen nhưng cứ làm từ từ rồi sẽ quen, khi mà nó quen rồi thì tu mau lắm. Giống như mình mới tập chạy xe honda, tập chạy xe đạp, tập chạy xe hơi vậy, lúc mới tập thì kh nhưng mà chạy quen rồi thì đâu có gì khó. Cứ lên là chạy thôi, vừa chạy vừa nói chuyện nữa, thậm chí nói chuyện còn diễn tả bằng tay, Minh Thành nói vậy thôi, mọi người đừng nên diễn tả bằng tay, nói miệng là được rồi. Cho nên, khi quen rồi tự nhiên mọi việc sẽ dễ hơn, sự tu tập của mình cũng vậy. Nếu quý vị thấy khó thì làm từ từ nó cũng hết khó.

Quý vị thấy cất cái nhà dễ hay khó? Quý vị sanh con dễ hay khó? Người ta xây lên cái nhà mười mấy, hai, ba chục tầng dễ hay khó? Quý vị nấu ăn dễ hay khó? Như vậy, không có cái gì dễ hết, quan trọng là chịu làm hay không chịu làm thôi. Sự tu cũng giống vậy đó, quý vị có chịu tu hay không thôi. Chịu tu thì mình bớt khổ, hết khổ, không chịu tu thì mình lỗ. Một là mình tu, hai là không khéo tu thì mình ở tù. Ở tù trong tham, sân, si, phiền não, ở trong ngục tù của tâm mình. Cho nên, chỗ quan trọng là mình thực tập, hóa giải được tâm sân này quan trọng lắm. Quý vị học được điều này thì gia đình quý vị hạnh phúc nhiều lắm! Công ăn việc làm của quý vị thuận lợi lắm! Trong đạo tràng, trong bạn bè của mình được an ổn, phát triển lắm!

Câu hỏi thứ hai

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Thay mặt các Phật tử sơ cơ chùa con kính bạch thầy, thời gian thì rất là ngắn mà những lời thầy chia sẻ chúng con rất là muốn nghe. Bạch với thầy, chúng con kém duyên, kém phước phần, chùa của chúng con đã bốn mươi, năm mươi năm nay không có một vị sư nào về để giảng cho chúng con hiểu về Phật tử quy y là phải thế nào? Chùa chúng con có một bà cụ già khoảng hơn tám mươi tuổi, ai muốn quy y thì ghi danh sách xong là cụ đem sang chùa Vạn Phúc, hay chùa khác thì thầy làm lễ quy y cho. Có những người thậm chí chưa được thầy truyền thọ để hiểu đệ tử quy y là thế nào.

Thứ hai, các Phật tử chúng con là Phật tử tại gia. Có cụ suốt ngày ở nhà bế cháu, nhặt rau rồi thổi cơm, nên cũng chẳng thể nghe các sư giảng. Nhà có tivi thì các cháu còn xem thời sự xem các chương trình, vậy là cũng chưa nghe giảng được. Hôm nay con cũng đại diện cho các gia đình, có việc này chúng con rất xấu hổ nhưng chúng con cũng phải bạch mới thầy, mong thầy thương xót, chia sẻ chúng con. Bây giờ Phật tử chúng con đã là đệ tử quy y của Đức Phật thì chúng con phải làm thế nào? Có những Phật tử chúng con chỉ nghĩ đi chùa cho nó vui thôi. Thỉnh thoảng hôm rằm mùng một ra thắp hương rồi lại về. Bây giờ cũng có những người đi theo thầy cúng, thầy đồng. Cũng có những ngày mà chúng con phải nấu cơm cho gia đình chồng con ăn, chúng con phải đi chợ mua cá, những ngày rằm mùng một thì mua gà về sát sanh, mà chúng con không làm thì ai làm cho chúng con. Có những người biết là tội lỗi, có những người thì không biết gì ạ. Bây giờ ngày rằm tháng bảy sắp đến rồi, có những người vẫn chưa hiểu là Vu Lan là như thế nào ạ. Có nên đi ra chùa đốt mã, đốt quần áo gửi cho ông bà cha mẹ để báo hiếu không? Chúng con rất mê mờ, nhờ có chút nhân duyên, căn lành ngày hôm nay chúng con được tụ tập tại tư gia của gia đình cô Chương và thầy cũng về đây. Mong thầy thương xót dạy bảo cho chúng con làm sao để chúng con quy y Phật, quy y Phật được lợi lạc gì? Hàng ngày chúng con là Phật tử tại gia thì chúng con phải làm như thế nào để đem lại lợi ích cho chúng con, cho gia đình cũng như nghĩa vụ của người Phật tử. Con xin thầy thương xót, chia sẻ cho chúng con.

***

Tầm quan trọng của việc nghe pháp

Trong đạo tràng mình ở bên chùa có phương tiện gì để mở ra nghe pháp không? Không có thời gian nghe pháp thì khỏi tu luôn. Bởi vì thời pháp là quan trọng nhất mà không có thời gian nghe pháp thì lên chùa làm gì. Bây giờ nếu mà tu thì Minh Thành giới thiệu phương pháp, còn làm hay không là tùy.

Muốn tu tập cho có tiến bộ, có lợi ích có hiệu quả thì mỗi lần đến chùa phải mở một bài pháp. Bài pháp đó như thế nào thì thầy Pháp Minh hướng dẫn. Ngoài việc mình đi chùa, cúng kiến, cầu nguyện ra thì một thời pháp mất có một tiếng đồng hồ thôi. Tất cả mọi người đều ngồi lại, người chịu trách nhiêm chính thì ổn định trang nghiêm, cùng nhau niệm ba câu “Nam mô Bổn Chư Thích Ca Mâu Ni Phật” rồi mở pháp lên nghe. Ngoài thời tụng kinh, cúng kiến xong rồi giải lao tầm mười phút cho giãn cái chân, rồi về mở bài pháp ra nghe thì đâu có mất thời gian. Phải nghe pháp chứ không nghe pháp thì không có biết tu tập gì hết.

Minh Thành xuất gia ba chục năm rồi nhưng ngày nào cũng nghe Đại Tạng Kinh hết, nghe ba chục năm rồi mà còn chưa đủ. Thành ra là phần nghe pháp là không thể thiếu được, lâu lâu có thầy đến thăm, nói pháp chút, thầy trở về là quên mất. Nghe giảng thì cười, vỗ tay rần rần, chút xíu đi về rồi y nguyên vậy, bệnh nào tật ấy, y chang vậy, không có khác. Muốn pháp thâm nhập, thấm vào người, có được cái thấy biết chính xác để mà mình thực tập thì phải nghe pháp mỗi ngày, ít nhất mỗi khi tu tập ở chùa là phải nghe. Nghe mới mở trí huệ mình ra, nghe mới hiểu biết, hiểu biết rồi mình mới làm được. Chứ bây giờ mình cứ mù mù mờ mờ, rồi cứ tới cầu nguyền, cúng kiến, mình không hiểu biết mà hướng dẫn mấy người kia cũng không hiểu biết thì cuối cùng đi về đâu. Đức Phật gọi là người mù dẫn người mù. Người mù này ôm lưng người mù kia, người mù kia ôm lưng người mù lọ, người mù đầu tiên sẽ dẫn đi đâu?

Cho nên việc nghe pháp cực kỳ quan trọng. Nghe như thế nào thì thầy Pháp Minh sẽ hướng dẫn cho mấy vị, có thể mà đủ duyên thì gia chủ đây sẽ tạo điều kiện hướng dẫn sắp xếp. Nếu mà chịu tu học thì mọi người qua chùa, một tuần nghe pháp một lần, nghe pháp rồi tụng một thời kinh. Đâu có gì khó đâu, quan trọng mình muốn hay không thôi, mình muốn làm hay là không muốn làm. Nếu không là mình vậy hoài thôi. Già cũng vậy mà mai mốt đi bán muối cũng vậy thôi. Biết đi bán muối không? Đi tắm suối biết không? Suối vàng biết không? Là chết đó! Minh Thành đến thăm thì nhắc nhở vậy thôi nhưng quan trọng là mỗi ngày phải nghe pháp hoặc ít nhất là mỗi tuần, như vậy là ít lắm rồi đó. Một điều quan trọng là người đứng đầu để tổ chức tu học ở trong chùa. Người đó rất là quan trọng, người đó phải nắm được pháp, phải biết được cách thức, phải chịu lắng nghe quý thầy hướng dẫn rồi học hỏi thì mới được. Còn nếu không như vậy hoài, chỉ có lợi ích một chút xíu khi đến chùa thôi. Tụng niệm, cúng kiến rồi về nhà cũng y như vậy, không có gì thay đổi, không có tiến bộ, không có phát triển.

Đạo Phật là đạo trí tuệ. Trí tuệ tức là hiểu biết. Hiểu biết là từ chỗ nghe, cho nên các bậc Thánh gọi là Thánh Thinh Văn. Thinh là âm thinh, văn là nghe, nghe âm thanh đó mà đắc đạo thì gọi là Thinh Văn Thánh Giả. Tất cả những Thánh đệ tử của Phật từ chỗ nghe pháp, thiền quán, tu tập, nghiền ngẫm những lời đó làm theo mà được đắc đạo. Giờ mình không nghe thì sao mình biết, không biết thì sao mình làm, không làm thì sao đạt được. Cho nên căn bản không có là không có thành tựu. Phải văn – tư – tu, tức là nghe rồi chiêm nghiệm và thực hành thì mới có kết quả.

Cũng như trước giờ quý vị chưa biết tham, sân, si ở đâu, nhưng hôm nay nhờ nghe pháp mà biết nó ở trong cảm giác, để trị cái sân thì dùng tâm từ, dùng tình thương. Ví dụ, người đó chọc giận mình, làm mình giận, bây giờ mình nghĩ nếu giận lên thì mình khổ, người đó cũng khổ, không lẽ mình tu mà còn gây khổ cho nhau làm chi nên thôi đừng gây khổ cho nhau. Vợ chồng muốn hạnh phúc thì mới về ở chung, không có ai muốn khổ mà rước về ở chung không. Vì vậy, giờ mình gây ra cái khổ cho nhau là không đúng mục đích, lạc mục tiêu rồi, cho nên dẹp cái giận đó. Thay vào đó, hãy nói lời làm sao cho hạnh phúc, nghĩ làm sao cho hạnh phúc, làm sao cho cùng hạnh phúc với nhau, như vậy mới đúng mục đích. Về chung nhà để mình ăn đời ở kiếp với nhau trong gia đình, như vậy thì mình phải biết cái cách để mình sống cho hạnh phúc, sống cho an lạc. Chúng ta phải hiểu cách nào để sanh ra hạnh phúc, cách nào để chấm dứt khổ đau, không hiểu là mình không có làm được.

Giống như Minh Thành đã ví dụ, dùng cái dùi này đánh vào cái chuông mới nghe tiếng chuông, chứ đem dùi đánh vô cái gối thì nghe tiếng gối chứ sao nghe tiếng chuông. Đức Phật nói rất là rõ trong kinh, con bò mà mình nắm cái sừng để vắt thì làm sao có sữa, cũng vậy, tu phải đúng pháp, phải biết cách, không biết cách là không biết kết quả. Chẳng hạn, nấu chè một hồi thành nồi cháo là không đúng rồi, chè phải ra chè, cháo phải ra cháo, đi tu cũng giống vậy, phải biết cách mới được. Cho nên, cái biết quan trọng lắm, phải học hỏi, chứ đi vào chùa tụng tụng, cúng cúng, sau đó xuống ăn xong rồi về thì đi chùa năm chục năm cũng không có gì thay đổi.

Phật Pháp rất là khó gặp, bây giờ chỉ khuyên quý vị mấy điều quan trọng. Thứ nhất quý vị phát khởi niềm tin đối với Phật, phát khởi niềm tin đối với Pháp, phát khởi niềm tin đối với Tăng. Mà Tăng phải là những bậc chân tu, nếu quý vị không có học thì làm sao biết ai là chân tu. Cho nên khó gặp được chân Tăng lắm, người chân tu khó gặp, khó kiếm lắm. Chân tu mà Đức Phật quy định là người phải thấy được pháp, thấy được các nguyên nhân của khổ và phương pháp diệt khổ, như vậy người đó mới liệt vào bốn đôi tám vị, tức là tám bậc của Hiền Thánh Tăng ở trong Phật giáo, đó mới được gọi là Tăng bảo. Chứ không phải cạo tóc rồi mặc cái áo vô rồi thành Tăng đâu, sâu sắc lắm. Một buổi có tiếng mấy đồng hồ làm sao nói hết được, cho nên, quý vị phải nghe pháp.

Minh Thành đi qua nước ngoài Hoằng Pháp, bên Mỹ, bên Úc,… những người là bạn bè với nhau hay lắm, họ tập trung lại trong một gia đình mà không cần đi lên chùa, mở pháp ra nghe rồi huynh đệ tu tập với nhau. Giờ nếu không có thầy thì tự mình hướng dẫn, mình cùng nhau tu chứ. Cô đây đã đi vô trong Linh Quy Pháp Ấn tu tập cả hàng tháng trời, cô cũng thấy được đường lối, thấy được cách thức rồi, có sư huynh Pháp Minh nữa, mình kết hợp với chị em, một tuần, hai tuần thì tổ chức tu nửa ngày hay là một ngày. Vào trong chùa đó tu hoặc là ở nhà, dễ lắm không có khó, ban đầu thì khó làm riết rồi quen, quen rồi thành dễ chứ có gì đâu.

Giờ muốn tụng kinh gì thì Minh Thành soạn ra cho, dễ lắm chứ không có khó. Tụng những kinh nào thì mình phải biết, chứ không phải tụng một hồi xong không biết gì hết, về cũng y như cũ, như vậy là không có nghĩa gì hết, lợi ích là ngay lúc đọc mình không có suy nghĩ lung tung, chứ trở ra thì không có tiến bộ, phát triển gì hết. Tu học là phải mở trí huệ, trí huệ không phải hiểu bên ngoài, mà là hiểu chính mình.

Tinh hoa trí tuệ Phật

Minh Thành hỏi quý vị, quý vị đang ngồi đây làm một cái việc rất quan trọng, nếu không làm là chết liền, quý vị có biết không? Việc quan trọng nhất nếu không làm là mình chết liền mà mình không biết. Đó là mình đang thở mà mình còn không nhớ. Ngồi lại là lo nhớ chuyện bữa nay không có biết tiền lời, nhớ xem mình lỗ bao nhiêu, không biết bà kia trả nợ chưa hay là không biết ông này đi đâu rồi, không biết cháu nội cháu ngoại giờ này đi học về chưa. Tối ngày mình cứ phóng ra ngoài, cứ chạy ra ngoài, hướng ngoại, không nhìn lại thân tâm. Trong suốt cuộc đời của mình, khi cái chết ập tới, cái già ập tới là mình hoảng loạn lên hết. Vì đâu có hiểu biết tự thân tự tâm của mình nên khi chuyện gì đến thì lúc đó mình hoảng loạn. Cho nên, chúng ta tu trí huệ là thấy biết được tự thân, tự tâm của mình, biết nó cấu tạo, vận hành, sanh khởi, chấm dứt làm sao. Đó là thành tựu trí huệ ở trong Phật Pháp. Quý vị có nhớ mình đang thở không, có thấy mình đang thở không, có ai không thở không? Giờ nhớ hai chữ thôi, cho đơn giản: thở vô là mượn, thở ra là trả. Thở vô là mượn mượn không khí, đất, nước, gió, lửa, đó tứ đại. Thở vô là mượn gió, thở ra là trả gió lại, nếu mà mượn vô rồi không trả thì sao? Mỗi lần giận ai mà hít sâu vô rồi đứt hơi chết, cho nên giận chi cho mệt. Tham tham muốn khởi lên thì hít sâu vô, thở ra: “Tham làm chi, khổ lắm, đứt hơi cái chết, sắp chết rồi, sáu mấy rồi, mấy năm nữa thôi, tham làm chi cho khổ”. Quán chiếu như vậy để diệt những phiền não trong nội tâm của mình. Nhớ hai chữ thôi: “mượn” và “trả”, rất là dễ nhớ.

Minh Thành kể câu chuyện này cho quý vị nhớ thêm bốn chữ nữa. Hồi xưa có một ông vua ông ham học, hiếu học và thích học lắm. Ông thích nghiên cứu hết những tinh hoa, trí huệ của nhân loại ở trên thế giới. Ông mới phái các quan văn, các sứ giả đi cùng khắp mang hết tinh hoa trí huệ đem về cho ông học. Đoàn này đi đâu là hai chục năm mới trở về, chở về hàng núi những bộ kho sách lớn trên lưng những con lạc đà. Lúc đó ông vua này năm mươi tuổi rồi. giờ đọc cái này chắc tới trăm tuổi hết không nữa. Vua kêu các quan gom mấy cuốn sách này lại, rút càng gọn càng tốt. Thế là cả chục ông đi vào phòng đóng cửa để rút gọn, rút ra những tinh túy, những điều quan trọng, những triết lý xong mười năm sau quay lại. Lúc đó ông vua này sáu mấy rồi mà cầm cả chồng sách sách cao dày cả chục cuốn, thời giờ đâu đọc mà già mắt không còn tỏ nữa. Sau đó rút vua cho người tiếp tục về rút gọn hơn nữa. Bảy, tám năm các vị quan quay trở lại, rút còn một cuốn, lúc này ông vua ông nằm trên giường bệnh, không biết còn sống được bao nhiêu mà đưa cuốn dày như vậy. Sau đó, ngay tại cái đầu giường này mấy, vua cho các vị quan gom góp lại nói cho vua một câu thôi. Cuối cùng, ông quan đứng lên bẩm bệ hạ một câu: “Sanh, già, bệnh chết”. Ông vua nghe xong đứt hơi luôn.

Tinh hoa trí tuệ của nhân loại gồm bốn chữ “Sanh, già, bệnh chết”. Kiếp người chỉ gồm bốn chữ này thôi, sanh ra, lớn lên, già đi, rồi bệnh và chết. Quý vị có nhớ bốn chữ này không? Quý vị tới nay đến chữ nào rồi? Sanh bỏ qua rồi, chữ già, chữ bệnh cũng hơi hơi rồi. Coi như ba chữ rồi, còn chữ cuối là chữ chết. Vì vậy bây giờ phải buông bớt tham, sân, si, chúng ta thấy mình sắp sửa tới đâu rồi, còn tham, sân, si, buồn người này, giận người kia, ghét người nọ rồi kiếm chuyện chi cho mệt. Hơn nữa, tuy nói đầy đủ gồm bốn chữ nhưng bây giờ quý vị thấy có phải ai cũng đủ bốn chữ này hết không. Có người chỉ mới sanh chưa kịp già là đã bệnh, bệnh xong rồi chết. Có người bỏ luôn chữ bệnh, sanh rồi tử ngay. Vì vậy phải luôn nhớ cuộc đời này luôn biến đổi, không có gì bền chắc, không có gì kiên định mãi mãi. Đời sống này luôn trong trạng thái biến dịch, thay đổi, chuyển biến, vô thường. Luôn luôn phải nhìn thấy điều đó.

Có một bài kinh ngắn gọn nhưng Đức Phật tóm thâu nhiều nghĩa: “Này các Tỳ kheo, hãy nhớ cho rõ, con mắt này là vô thường. Con mắt này sẽ biến đổi, tan hoại”. Bây giờ mới đẻ ra có bảy, tám tuổi mà đã mang cặp kính cận dày bằng ngón tay, trẻ mà còn hơn già nữa. Giờ có vị năm chục tuổi còn chưa mang mắt kính nữa, mà đứa bé mới có bảy, tám tuổi thôi mà nó mang ba, bốn độ rồi. Nhiều khi do sanh ra có bệnh sẵn, hoặc có mấy đứa trẻ tối ngày chơi game, lướt web riết rồi mắt hư. Cho nên phải nhớ Đức Phật dạy con mắt là vô thường. Lỗ tai là vô thường biến đổi. Mũi, lưỡi, thân, ý cũng phải nhớ là vô thường, không có bền chắc, đừng có bám chấp vô đó. Phải thấy rõ cái bản chất của nó, thấy rõ không phải là mình bi quan, mà thấy rõ để mình có trí huệ.

Khi đã thấy rõ bản chất như vậy, một khi nó biến đổi thì lúc đó mình điềm nhiên lắm. Có mấy vị cao tăng, mấy vị tu đắc đạo, thậm chí mấy vị cư sĩ tu giỏi thì tới lúc bệnh, tới lúc già thậm chí tới lúc ra đi là họ ngồi xếp bằng, nhẹ nhàng “chào mọi người tôi đi nhé”. Tại sao? Đó là vì hàng ngày người ta luôn luôn quán chiếu thấy cuộc đời này là như vậy. Cho nên tới lúc nó hiện bày chân tướng sự thật, cái bản chất nó ra thì hiểu ngay nó là vậy, không có gì bất ngờ cả. Còn mình mình tưởng đâu thân này là thường, tưởng đâu nó tốt đẹp hoài, đến khi bản chất nó có gì biến động thì lúc đó mình hụt hẫng, bàng hoàng, khủng hoảng, hoảng loạn và khổ đau.

Như Minh Thành đã nói, có ba cái loại cảm giác, Đức Phật, các vị A-la-hán, các vị tu đắc đạo cũng có ba loại cảm giác nhưng các Ngài không có tham, sân, si trong đó. Đức Phật được vua Ba Tư Nặc thỉnh vô hoàng cung, khi ấy vua Ba Tư Nặc 70 tuổi, Đức Phật và Ba Tư Nặc bằng tuổi với nhau, nhưng vưa Ba Tư Nặc vẫn lạy dưới chân Đức Phật, ôm chân Phật hôn và để trán lên. Đức Phật mới nói: “Này Đại vương, tại sao đại vương lại tỏ ra tôn kính Như Lai đến tột bậc như vậy?”. Lúc đó vua Ba tư lặc mới nói: “Những điều mà Đức Thế Tôn làm, con tôn kính, không còn một cái gì trên thế gian này có thể so sánh được”. Đó là đế vương lạy dưới chân Phật. Lúc được người ta thỉnh vào hoàng cung, Đức Phật ngồi trên ghế bằng vàng, nạm ngọc, ăn những thượng vị, sơn hào hải vị nhưng Đức Phật không có tham. Đức Phật biết tất cả những cái này là vô thường, Phật đã từng bỏ làm thái tử rồi, cho nên có cảm giác dễ chịu, ngon miệng nhưng Đức Phật không có bị cái tham chấp thủ, bám chấp vào đó.

Có lúc Đức Phật đi khất thực nhưng không có ai cho gì hết nên phải nhịn đói, lúc đó Đức Phật phải ăn lúa của ngựa suốt ba tháng trời. Phật vẫn có cảm giác khó chịu nhưng mà Phật không có bị sân, Ngài biết cảm giác chỉ là cảm giác, Ngài thấy rõ được trí huệ trong cảm giác. Còn mình có cảm giác vui là khoái liền, dính vô liền. Cảm giác mà bực là mình sân si liền, cho nên là mình khổ.

Cuối cùng, Minh Thành nhắc lại cho quý vị nhớ, điều quan trọng trong sự tu tập là luôn luôn tỉnh thức chánh niệm để nhìn lại cảm giác của mình, điều này rất là hay. Quý vị cũng phải nhớ “thở vô là mượn, thở ra là trả”. Nếu mượn vô mà trả ra không được thì một là đi “bán muối”, hai là đi “tắm suối”. Tinh hoa trí huệ của nhân loại gồm bốn chữ: Sanh – Già – Bệnh – Chết. Quý vị đi hết ba chữ rồi, còn một chữ cuối cùng nữa thôi. Vì vậy, lúc nào cũng nhớ là chết tới nơi rồi, cho nên giận làm chi, buồn làm chi, hãy lo tu tập, nghe pháp, phát triển trí tuệ. Thương đi! Tha thứ đi! Cảm thông đi!

Trăm năm trước thì ta không có,

Trăm năm sau có thì lại hoàn không.

Cuộc đời sắc sắc, không không,

Trăm năm còn một tấm lòng từ bi.

Nhớ đem tình thương mà đối đãi với cha mẹ, với ông bà. Đem tình thương mà đối đãi với vợ chồng. Đem tình thương mà đối đãi với con cháu. Đem tình thương mà đối đãi với bạn bè, người thân. Đem tình thương mà đối đãi với người dưng. Đem tình thương mà đối đãi với người không ưa mình, người ghét mình. Ngày xưa là mình ghét lại nhưng giờ biết quán tâm từ, thấy rằng mình ghét thì mình đâu có lợi ích gì, nên thôi thương đi, thương khỏe hơn ghét, ghét khó chịu lắm. Hai vợ chồng mà ghét nhau, đi ra đi vào phải gặp mặt thì lúc đó ăn không ngon, ngủ không yên, bực bội, tức tối lắm, cho nên thương khỏe hơn ghét.

Quý vị hãy mở rộng tình thương ra, tình thương càng rộng chừng nào thì mình càng an vui, hạnh phúc chừng đó và phước đức càng lớn chừng đó, đó gọi là tu tập từ bi vô lượng. Tu tập từ vô lượng tâm, bi vô lượng tâm có phước đức lớn lắm, tu cái này là lên trời ở chứ không ở dưới đất nữa. Minh Thành nhờ tu tâm từ nên giờ lên trên “Cổng Trời” ở rồi, không ở dưới đất nữa. Tưc là thường thường tu tập tâm từ, cho nên chỗ mình ở trở thành cõi trời, tuy chưa phải là thiên đường nhưng mà cửa bước vô thiên đường rồi đó. Mai mốt vô chùa gọi là chùa “cổng trời”, tại vì mình tu từ cho nên được thiện, thiện cho nên tới thiên, mà “thiên” là “trời” đó!

Lời tri ân của đạo tràng

Sư cô:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.

Nhân dịp được gặp thầy ở miền Bắc, tại nhà của thân phụ và thân mẫu thầy Pháp Minh và con cũng được nghe thầy thuyết giảng ở đây. Con xin có một bài thơ gửi tặng thầy với tất cả quý vị ở đây.

Bài thứ nhất nói về am Pháp Ấn:

Nếu bạn hỏi am Pháp Ấn có gì ghi nhớ?

Xin trả lời:

Có gia tài là Pháp bảo Như Lai

Và sự nghiệp chính là nguồn tuệ giác.

Bài thứ hai gửi tặng cúng dường thầy là bài “Thăng hoa”:

Minh chở cả thuyền trăng

Thành đạo vượt ái hà

Tay trí huệ vươn xa

Phật pháp đến mọi nhà

Thương yêu và giải thoát

Đời sống được thăng hoa!

Thân mẫu thầy Pháp Minh:

Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mầu Ni Phật.

Hôm nay chúng con được đầy đủ duyên lành, đạo tràng chùa Phong Xá vân tập về tại tư gia chúng con để được thầy đã ban bố cho chúng con những lời pháp nhủ. Chúng con xin phát nguyện y giáo phụng hành, vâng lời chỉ dạy của thầy học theo lời Phật dạy. Chúng con thấy đây là hành trang, tư nương để chúng con tu tập. Thay mặt cho gia đình con, các cụ và tất cả Phật tử đạo tràng đã vân tập về đây để được thầy ban bố cho lời pháp. Con không biết nói gì hơn, xin chúc quý thầy trí tuệ luôn sáng suốt, tứ đại được an hòa, pháp thể khinh an, chúng sinh dị độ, tuệ đăng thường chiếu. Thầy luôn luôn là cây đại thọ che chở cho hàng hậu học của chúng con. Chúng con xin thành kính tri ân đến Ngài. Chúng con xin đảnh lễ tam bái./.