Kinh Nikaya Giảng Giải - Soi Thấu Tham Sân Si và Bản Ngã
Kinh Nikāya Giảng Giải
Soi Thấu Tham Sân Si và Bản Ngã
- Thích Minh Thành -
Tất cả quý Phật tử mắt của mình nhìn xuống về phía trước, không trụ vào một điểm nào hết, mở rộng tầm nhìn hết mức ra hai bên. Cảm nhận sự động chuyển ở ba chỗ: lồng ngực, chóp mũi và bụng. Từ ba chỗ này mở rộng cảm giác ra, cảm nhận cảm giác trên đầu, mặt, vai, mình, mông, chân, tay, bàn tay, lòng bàn tay, lòng bàn chân, cảm nhận cảm giác toàn thân. Trong tâm tỉnh giác, rõ biết trước mặt, cảm nhận sự động chuyển của hơi thở, cảm giác toàn thân, nội tâm sáng tỏ, rõ ràng. Quý vị đọc theo:
Người tu tâm thật là hiền
Trong ngoài thanh tịnh, nụ cười bình yên.
Thở vào mình nói thầm với cảm giác của mình: “Hiền nè”, thở ra mình nói thầm: “Dịu nè”. Thở vào làm cho tâm mình hân hoan, thở ra làm tâm mình hoan hỉ. Cảm nhận niềm tịnh lạc, thanh tịnh, an lạc ngay giây phút này. Mỉm cười nhẹ, thanh tịnh, hoan hỉ.
Quý vị có thấy tâm mình lắng dịu xuống chút nào không? Nhẹ nhõm hơn không? Tâm mình có dễ thương hơn không? Đức Phật nói: “Này các đệ tử, Ta chưa thấy một pháp nào có lợi ích lớn, an lạc lớn, hiệu quả lớn như tâm được tu tập. Ta chưa thấy một pháp nào mang lại tai hại lớn, hiểm nguy lớn như tâm không được tu tập”. Tâm không được tu tập mang lại đau khổ lâu dài. Bây giờ Minh Thành thường thấy chung chung là kiểu vừa tu vừa chơi. Nói là tu nhưng đại đa số là đi du lịch, đi chỗ này chỗ nọ, nên sự tu của mình không có hiệu quả. Vậy nên khi gặp chuyện, ta gặp tham, sân, si, phiền não, bản ngã dâng lên. Và như thế, sự tu học sẽ không đi tới đâu. Thấy tu thì náo nhiệt, rầm rộ nhưng “bạo phát thì chóng tàn”. Sự tu tập muốn có hiệu quả thì mình phải có ý thức sâu sắc một ngày mình tu phải như thế nào? Minh Thành nhớ rằng mình từng giảng bài Ý nghĩa một ngày an lạc, nhưng giờ chắc quý vị đã quên rồi, mấy tấm hình thì giữ kĩ hơn. Cho nên, hôm nay với chủ đề Soi thấu tham, sân, si và bản ngã, có lẽ quý vị sẽ không thích vì nghe nó không hấp dẫn. Chủ đề nào giải thoát, hoan hỉ, vui thì mình nghĩ chủ đề đó nghe hấp dẫn hơn, nhưng mình đã lầm. Ví dụ, có một người mắc những chứng bệnh rất nặng, nhưng không chịu gặp bác sĩ, không chịu khám bệnh, uống thuốc mà chỉ lo mặc đồ đẹp, lo mỹ phẩm điểm trang bên ngoài thì quý vị thấy người đó như thế nào? Một thời gian ngắn sau có thể sẽ từ bệnh nặng cho đến chết. Cách tu không đúng cũng giống như vậy. Mình bây giờ chỉ thích đi từ thiện chỗ này, đi giúp chỗ kia, toàn làm những điều có ý nghĩa, cao siêu nhưng bệnh rất nặng ở trong tâm chính là tâm bệnh mà mình không hề hay biết.
Quý vị có bệnh không? Bệnh gì? Có chữa không? Có uống thuốc không? Có gặp thầy giỏi, có gặp thuốc tốt không? Thành ra hôm nay sẽ bắt mạch cho thuốc. Mình tu đúng theo tinh thần kinh Nikāya Phật dạy sẽ hay lắm. Trong kinh Nikāya Đức Phật không nói chuyện trời mây, cao siêu, màu nhiệm. Bây giờ “nói có sách, mách có chứng”, quý vị đi nghe giảng mà quý vị hay nghe tùm lum mà không biết đó là ai nói. Từ đây về sau, Minh Thành nói là sẽ có dẫn chứng là trong bộ kinh nào. Trong kinh Tăng Chi Bộ tập 1, bài kinh Niết-bàn:
Rồi Bà-la-môn Jànussoni đi đến Thế Tôn … Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:
- Thiết thực hiện tại là Niết bàn, thưa Tôn giả Gotama, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, Niết bàn là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu?
Ý ông ta nói Đức Phật định nghĩa pháp của Phật và Niết-bàn rất thực tế, thiết thực, hiện tại, không trải qua thời gian. Tức là không phải đợi ba năm, năm năm, bảy năm, mười năm hay lúc mình chết mới có kết quả. Niết-bàn Đức Phật nói là đến để mà thấy, nó không trải qua thời gian, tức là ngay trong giây phút hiện tại mình có thể thấy được. Đức Phật trả lời:
Bị tham ái, sân hận, si mê làm say đắm, này Bà-la-môn, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ điều hại mình, suy nghĩ điều hại người, suy nghĩ điều hại cả hai, cảm thọ tâm khổ, tâm ưu.
Tham ái, sân hận, si mê được đoạn trừ, thời không nghĩ đến tự hại mình, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai, không cảm thọ tâm khổ, tâm ưu. Như vậy, này Bà-la-môn, Niết bàn là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. (Tăng Chi Bộ Kinh –Tập 1, 3. Chương Ba Pháp, VI. Phẩm Các Bà-La-Môn, bài kinh Niết Bàn)
Câu này thấy đơn giản nhưng quý vị hiểu sẽ thấy rất sâu sắc. Quý vị thường nói tham, sân, si nhưng thực sự là mình không hề biết. Một người thành tựu trí huệ thấy rõ được tham, sân, si quý vị có biết là ai không? Chính là Thánh nhân quả thứ nhất của Tu-đà-hoàn. Trong bốn quả Thánh, quả thứ nhất là Tu-đà-hoàn. Quý vị sẽ thấy rất thắc mắc sao thầy nói lạ vậy, tưởng đâu điều gì cao siêu mới là Thánh nhân. Nhưng thật sự là như vậy, tại từ trước đến nay mình hiểu lầm. Bây giờ có một người chỉ lo đi chơi, đi làm ăn mà không để ý đến ngôi nhà của mình, bỗng dưng một hôm nghe thấy mùi khó chịu, rọi đèn soi ngõ ngách trong nhà, nếu ngay đường đi thì dễ thấy, nhưng nó lại ở trong hốc, trong kẹt, dưới sàn giường. Cho nên phải lấy đèn pin soi rọi kĩ thì phát hiện con mèo đã xé xác mấy con chuột, máu me nội tạng trong kẹt, hốc. Khi mình thấy được điều đó là Thánh quả thứ nhất. Mình xử lí xong xác chết xong chính là Thánh quả thứ hai. Mình dọn dẹp tàn dư, dấu vết còn lại chính là Thánh quả thứ ba. Mình dọn dẹp sạch sẽ không còn dấu vết, không còn mùi hôi chính là Thánh quả thứ tư – A-la-hán.
Mình không nhìn lại tự thân, tự tâm của mình ngay cả khi mình mang danh đi tu. Đây là chỗ rất sâu sắc. Hằng ngày quý vị để ý xem mình nhìn điều gì? Toàn là nhìn bên ngoài, nhìn những hình sắc khả ái, khả ý, hấp dẫn, lôi cuốn – đây là những từ ở trong kinh. Mình nghe những âm thanh thích thú, mình khoái chú, âm thanh nào khó chịu mình bực bội. Mình ngửi những mùi hương thơm, chọn những món ngon để nếm, trúng món dở sẽ sân si lên. Hằng ngày mỗi khi mình ngồi yên lại thì hình bóng người này người kia, những suy nghĩ liên tu bất tận. Hình bóng và lời nói giống như tivi có hình ảnh và âm thanh. Hình bóng đó là tưởng, âm thanh đó là hành, cảm giác của mình chính là thọ. Và khi mình biết được những điều đó, biết được hình ảnh, âm thanh, cảm giác, đó chính là thức. Năm uẩn hằng ngày vận hành theo sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, chỉ nhìn mà ở ngoài mà không phản chiếu lại tự thân. Vậy nên đạo Phật mới gọi là đạo tự giác.
Cũng chính vì thế mà Minh Thành không đồng lòng, hoan hỉ với quý vị mỗi lần tu mà phải chạy cả trăm cây số. Chạy như vậy sao mà tu. Suốt một tuần đã chạy rồi mà cuối tuần lại chạy nữa. Tìm một thầy, một đạo tràng, lâu lâu tổ chức đi một lần, một ngày như vậy mới trở nên quý báu. Nếu quý vị không thật sự tìm ra minh sư, đúng đạo tràng, đúng Chánh Pháp thì quý vị có tu một trăm năm nữa thì cũng chỉ quanh quẩn trong tham, sân, si và bản ngã mà thôi, không giải quyết được khổ đau. Minh Thành đã nói nhiều lần, phải suy nghĩ cho kĩ, tâm có thật sự muốn tu hay không, nếu không mình sẽ ngày càng phiền não. Bên ngoài đã gặp nhiều phiền não, vợ chồng, con cái, nội ngoại, anh chị em, công ty, đối tác, nhân viên,... Rồi bây giờ vô chùa tìm chỗ thanh tịnh, thanh lương mà còn phiền não thì biết đi đâu bây giờ? Đó là một sự đau đớn, cay đắng. Nếu mình không gặp được minh sư, không tìm đúng Chánh Pháp thì quý vị sẽ vĩnh viễn chạy lòng vòng, giống như kiến bò miệng chén, bò hoài không ra được.
Hôm nay Minh Thành tiết lộ một bí mật cho quý vị: bậc Thánh nhân luôn nhìn lại cảm giác của mình mọi lúc, mọi nơi. Vì sao? Vì cảm giác là chỗ trú ẩn của tham, sân, si. Minh Thành đã nói rất nhiều lần vì điều này cực kì quan trọng, phải nhìn cảm giác một cách thường trực. Đức Phật nói có ba loại cảm giác. Một cảm giác là khoan khoái, thích thú, dễ chịu, sung sướng. Loại cảm giác đó có gì bên trong? Ví dụ, trong mâm cơm có mười lăm món mà toàn là những món mình thích, thì lúc đó miệng chưa xong tay đã gắp lia lịa, có khi sột sột không chừng. Đó là tướng biểu hiện của tham. Nhưng đó chỉ là ngọn, sâu bên trong chính là cảm giác thôi thúc, thúc giục nhanh lên, lẹ lên, nhai chưa xong nhưng gắp tiếp tục. Đó chính là tham và dục trú ẩn bên trong cảm giác mà mình hoàn toàn không thấy, không biết. Hôm nay Minh Thành đã nói cho quý vị toàn bộ, nếu quý vị chú tâm lắng nghe, để ý, thực tập thì không bao lâu quý vị có thể hướng Dự lưu vào Thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn.
Bây giờ quý vị hãy chịu khó để ý. Những khi quý vị cảm thấy khoan khoái, thích thú thì hãy nhìn kĩ lại, tham, dục, ái trú ẩn trong đó. Nó muốn kéo dài thời gian, không muốn hết. Chẳng hạn như khi ta xem phim, ta thích một bộ phim hay và mong nó đừng kết thúc. Vậy cái đó là cái gì? Là ái, là quyến luyến, bịn rịn, buộc ràng, là hệ lụy, như sợi dây buộc lại không muốn rời. Nếu một ngày mình bước vào cổng “vu quy” là khi ấy sợi dây đã buộc lại rồi. Đó gọi là cam tâm tình nguyện để buộc, lỡ buộc rồi, đó là buộc ở bên ngoài, bây giờ mình tu thì mình có cách để nới lỏng trong tâm. Minh Thành chỉ nói nới lỏng, chứ không nói cắt đứt. Khi nới lỏng mình phải để ý tất cả cảm giác của mình. Ví dụ, trời đang nóng, quý vị bước vào phòng có điều hòa, mình thấy mát mẻ, thoải mái thì tham, ái trú ẩn trong đó. Đây là điều rất thâm sâu, bậc trí huệ mới thấy được. Mình không phải là cây, là đá mà không biết, mình biết nhưng phải nhìn ra được trong đó có tham, có ái hay không. Tập luyện mỗi điều này cũng đủ để quý vị trở thành một người siêu việt. Trí của phàm phu không thấy được điều đó. Trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác như Đức Phật mới chỉ ra cho mình được trí huệ đó. Bình thường quý vị nghĩ rằng tham, sân, si là điều gì đó rất lộ liễu ra ngoài. Nghĩ rằng ăn uống rột, rột, gắp thức ăn lia lịa, ăn uống phàm tục mới là tham. Điều đó người không tu cũng biết, nếu vậy mình đâu cần tu vì người không tu cũng biết đó là tham vậy. Cái tham mà đạo Phật nhắc đến là cái tham sâu xa, nguồn cội bên trong thúc đẩy. Chẳng hạn lúc mình nấu nước, tim bọt xuất hiện dưới đáy nồi rồi từ từ mới sôi sùng sục. Đối với những bậc phàm phu chưa nghe Chánh Pháp, chưa gặp bậc thiện trí thức chỉ dạy, họ sẽ đợi đến khi sôi sùng sục lúc đó họ mới biết. Còn với những Đa văn Thánh đệ tử, thường được nghe pháp, thường được chỉ dẫn tu tập thì khi mới xuất hiện tim bọt họ đã nhìn thấy rồi. Quý vị tu tập cũng vậy, sau này quý vị thường nhìn vào cảm giác thì trong này chỉ mới gợn lăn tăn, manh nha, nảy mầm là quý vị đã thấy được. Thấy được điều đó mới thấy được tâm mình. Quý vị thấy điều này sâu sắc không?
Đối với nóng giận thì sao? Ta có biết mặt mũi của nó, cách nó vận hành ra sao không? Đức Phật gọi là si mê, vô minh, bởi vì không biết, không thấy nó ở trong mình. Nó xâm nhập, khống chế, điều khiển, hoành hành ngự trị mình, nó làm cho mình khốn khổ mà mình không biết gì về nó. Như vậy là vô minh. Đầu tiên là người mình ấm lên, rồi từ từ rần rần, sau đó lan tỏa ra giống như ngọn lửa. Đôi mắt tỏ, đôi tai đỏ, lỗ tai lùng bùng, miệng giật giật. Mình phải nhìn thấy được cảm giác của mình đang chuyển biến, giọng nói biến đổi, không còn sự bình tĩnh, tức là bên trong mình có một sự thúc giục. Đức Phật gọi là bị chinh phục, bị xâm chiếm và lúc đó sẽ suy nghĩ toàn những điều tổn hại. Vậy nên, thầy sẽ diễn tả cho Phật tử thấy ngũ uẩn vận hành trong cơn sân. Khi đó, cảm giác của mình là một cảm giác rất khó chịu, nếu sân nhiều là cực kì khó chịu, bứt rứt, bực bội. Ngoài trời lạnh nhưng bên trong vẫn nóng như thường. Đó là cảm giác, là phần thọ. Còn trong tưởng của mình lúc đó là những hình bóng về đối tượng sân, những lời nói, âm thanh gọi là sắc tưởng, vị tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Hành là những suy nghĩ nói thầm, không ngừng, để cho hả dạ, uất ức, muốn vỡ tung ra. Mình phải nhìn thấy được năm uẩn đang vận hành trong đó. Đó chính là ác ma trong người mình. Nó sẽ đốt cháy tất cả, phá hủy mình. Những cảm giác, lời nói, hình bóng, nhận thức mình biết được thì mình phải làm sao? Phật dạy chúng ta có bốn, năm cách để trị được cái sân này.
Đức Phật dạy mình phải biết quán về sự nguy hại (nguy hiểm và tác hại) của cơn sân. Đây là điều rất quan trọng. Nếu mình không nhìn thấy sự nguy hại mình sẽ không từ bỏ, mình chấp nhận nó, một khi đã chấp nhận thì tức là chữ thọ, tức là mình nhận vào. Ai đó xin vào nhà mình ở mà mình không xét kĩ xem người đó có quen hay không, có họ hàng, có tốt hay không mà đã mình nhận vào. Trong khi họ là một tên cướp thì sau đó tai họa thế nào tự mình hiểu được. Cái thọ của mình chấp nhận cơn sân, cái tham, ghen tị, hơn thua, đấu đá với nhau tức là mình nhận giặc làm con. Mình thọ nó, tức là nhận nó vào rồi, sau đó nó sẽ xâm chiếm, chế ngự, an trú và chinh phục hoàn toàn tâm mình. Lúc đó những hình ảnh, lời nói, âm thanh, cảm giác bực tức cứ ở đó hoài, không thể thoát được.
Quý vị có thường đọc báo không? Nhiều khi Minh Thành còn không dám đọc. Chỉ vì một ánh đèn pha vào mắt thôi thì đã xảy ra án mạng. Tiếng hát karaoke lớn quá cũng sân lên rồi xảy ra chuyện nên vào tù. Nhậu nhẹt chê nhau hát dở cũng đâm chết. Tất cả những điều đó là sự nguy hại của tâm sân hận. Chỉ trong cảm giác thôi mà mình không thấy được. Bây giờ mình tu, cảm giác mình biến động mình thấy được liền. Mình dùng Như lý tác ý, mình dùng đạo lý mạnh để đánh đuổi, mình không chấp nhận mà phải từ bỏ nó. “Chính mi là hố than hừng, mi đốt cháy ta và tất cả, nếu ta đi theo mi là xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, khốn khổ, đen tối, sa đọa. Mi là ma đưa lối, quỷ dẫn đường, tìm những chỗ đoạn trường mà đi.” Mình phải thoát ra, không đi theo nó, không bị nó xâm chiếm, chế ngự, an trú. Phải đi ra khỏi nó, xuất ly và từ bỏ nó. Đó là mình quán về nguy hại của cơn sân. Mình nhìn trên báo chí, mình nhìn những sự việc xảy ra là những điều vô cùng nguy hại. Đức Phật đã nói rồi, đây là đưa đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đưa đến chỗ tăm tối, đấu tranh, đau khổ. Mình phải quán chiếu mạnh mẽ, chưởi cái tâm sân đó, phải đấu tranh rồi từ từ nó sẽ lép vế, dần lắng dịu xuống. Đó là bước đầu thành công. Mình không cho nó làm chủ mình mà mình phải làm chủ nó. Quý vị phải nhớ điều này rất quan trọng.
Minh Thành đã nhắc kĩ từng bước. Học xong bài này mình phải nhiếp phục được sân si 50-60%. Đức Phật dạy mình phải nhìn lại cảm thọ rồi dùng Như lý tác ý và tuyệt đối không bao giờ nghĩ đối tượng sân hận là chướng ngại tướng của mình. Nếu mình cho rằng họ là chướng tai gai mắt thì không bao giờ mình dẹp bỏ được cái sân. Mình vừa chớm nghĩ phải ngay lập tức dẹp bỏ, không được suy nghĩ theo chiều hướng đó. Vậy mình phải nghĩ như thế nào? Phải nghĩ rằng từ tâm giải thoát. Chỗ này chính là “bí kíp võ công”. Giải thoát đơn giản là mở tâm mình ra khỏi chỗ xiềng xích, trói cột, đón khung, phải mở ra. Từ tâm là một lòng thương và không muốn người khác khổ. Đem tình thương đến là lấy cái khổ ra vì tất cả mọi người trên đời này đều đáng thương.
Theo tinh thần Phật dạy, trong khắp tất cả chúng sanh này không có một chúng sanh nào là người đáng ghét. Một khi mình đã khởi tâm ghét, tâm sân với một người nào đó thì điều đó là sai. Vì sao? Quý vị nghĩ đi, mình có khổ không, có bệnh không? Quý vị có bị cái sân làm cho mình khổ không? Quý vị có bị cái tham ái, tham dục làm cho mình khổ không? Quý vị có bị cái si mê, tăm tối làm cho mình khổ không? Quý vị có bị bản ngã, cái tôi hành hạ làm mình khổ không? Mình khổ thì người kia cũng khổ như vậy, cũng đều là chúng sanh, cũng đều là ngũ uẩn, cũng tham, sân, si, bản ngã thôi. Tất cả chúng ta đều khổ nên mới vào chùa để tu, không lẽ vào tu rồi mình còn muốn làm khổ nhau nữa hay sao? Mình đã chán chê, ê chề hết những cái khổ bên ngoài rồi mình mới tìm đến nơi ly khổ đắc lạc mà còn muốn gây khổ cho nhau là không nên. Mình quán như vậy cho nên mình mới thương.
Mình biết Phật pháp, biết tu mà mình còn sân, còn những người chưa hiểu bằng mình hoặc hiểu ngang hoặc có khi hiểu hơn mình nhưng họ chỉ hiểu nhưng chưa tu được thành trí huệ. Nếu mình không thương, mình với người sẽ khổ. Mọi khi quý vị đi về đây tu rần rần, giảng đường không đủ chỗ, bữa nay giận ai đó không thèm đi tu, vậy ai lỗ? Mình không khéo thì mình sẽ làm cho người khác mất đi sự may mắn, tốt lành của Phật pháp. Thật sự, thưa quý vị, mình toàn là bị gạt, đừng tưởng mình thông minh. Mình bị sắc, cảm giác, tưởng, hành, nhận thức của mình gạt. Cuối cùng, mình lại là người bị gạt nhưng không phải do bên ngoài mà là do năm uẩn bên trong mình gạt. Cái đó mới đau. Thấy được điều này mình mới thấy tuyệt diệu lắm. Bởi vì mình không trách ai nữa mà sẽ trách mình. Trách mình không thấy được cảm giác này là vô thường. Có nhiều người giận, bảo rằng “sống để bụng, chết mang theo” nhưng đó chỉ là nhất thời, giận một chút là muốn chết rồi, ai mà giận một ngày thì chắc nổ tim ra chứ sống không nổi. Bởi vậy mới có câu “giận thì giận mà thương thì thương”. Vợ chồng, mẹ con, anh chị em giận được mấy bữa? Cảm giác vô thường, không có thật mà mình tưởng thật. Chính vì mình tưởng thật nên mình chấp trước, bám chặt vào suy nghĩ, hình bóng đó mà không biết tất cả đó là vô thường. Bám chặt vô cái vô thường thì đó là khổ đau.
Quý vị nên biết, sự tu của mình không phải nằm trên cái tưởng, nhưng đại đa số bây giờ mình tu là trên cái tưởng và hành. Tức là mình ngồi lại mình tưởng rằng mai mốt mình sẽ ra sao, về nhà nói con làm bông sen bằng xi măng, rồi may áo trắng, đội mão, để đèn phía sau, buổi tối lên ngồi cầm bình cầm nhành rồi bảo: “Ôi chao, hôm nay mình tu tẩu hỏa nhập ma”. Đó là cải lương, không có thật. Quý vị vào chánh điện thấy tượng Phật to thật to rồi tưởng đó là Phật, đó chỉ là biểu tượng, là sắc pháp vô thường, là đá gỗ vô tri, không có Phật trong đó. Mình phải lo nhiếp phục cái tham, sân, si của mình, đó mới là trái tim Đức Phật. Quý vị mải mê chạy theo những hình tướng, âm thanh bên ngoài thì có tu một ngàn kiếp tham, sân, si vẫn dẫy đầy. Phải hiểu rằng đó chỉ là biểu tượng để nhắc nhở mình, phải thành tựu trí huệ để thấy được tham, sân, si, phải tìm ra được phương pháp để nhiếp phục, chuyển hóa nó. Khi đó mình mới thấy được pháp thân của Phật. Pháp thân của Phật ở chỗ dập tắt tham, sân, si và bản ngã. Cho nên, phải từ tâm giải thoát, trải tình thương đến cho mọi người.
Có thể quý vị ngồi đây quý vị nghĩ rằng mình không khổ. Ngày trước mình chưa thấy, bây giờ mình mới thấy. Đây chính là chỗ mình học đạo mà học chưa đến. Mình nghĩ rằng Niết-bàn, cực lạc chính là đây chứ không đâu, cái đó thật sự là vô minh. Tại vì ở giây phút hiện tại chưa có đụng vào, chứ có ai chạm tới là quăng lựu đạn banh xác, chứ đừng nói là an lạc Bên trong chất chứa một kho lựu đạn. Đây là vô minh, sân hận, chấp ngã, tham dục, tật đố, cống cao, ngã mạn, mình không lo giải quyết nó, mà chỉ lo hướng ngoại nên không nhìn thấy. Khi mình thấy là mình Nhập lưu vào dòng Thánh.
Khi Minh Thành đóng cửa nhập thất ở trên núi một tháng trời để nhìn lại cái tâm, để thấy phiền não của mình. Phải xem mình thành lập một đạo tràng đi đến những đạo tràng khác đảnh lễ, cúng dường, tu học là nhằm mục đích gì? Mục đích là muốn tìm sự bình an, tịnh lạc của nội tâm thì tất cả lời nói, hành động của mình phải hướng về điều đó mới đúng. Đi đến nơi mà không thấy an lạc, tìm chuyện này, moi chuyện kia, chuyện không có thành có, ít thành nhiều, nhỏ thành to, to thành lớn, lớn thành nổ, nổ thành banh. Mình không tu mình phải để người khác tu, biết bao nhiêu người muốn tu. Quý vị nghĩ rằng những người đứng ra thành lập, gánh vác cho hàng trăm người sung sướng lắm hay sao? Phải hiểu được điều đó, nếu không mình sẽ phạm tội rất nặng. Ai thấy không đủ duyên, âm thầm rút lui, tuyệt đối không nói xấu. Đức Phật dạy địa vị của bậc Chân nhân, người thật sự là người thì có hai yếu tố quyết định: biết ơn và nhớ ơn. Nếu người nào không có hai đặc tính này Đức Phật nói đó không phải là người.
Trong tạng kinh Nikāya, Đức Phật nói có ba hạng người là ân nhân vĩ đại, dẫu cho mình có đem y phục, thức ăn, phòng ở, phụng sự suốt đời cũng không thể nào báo đáp được.
“Này các Tỳ-kheo, từ một người nào mà người kia được thọ tam quy ngũ giới thì phải biết rằng ân đức của người này đối với người kia là không bao giờ đền đáp được”. Người nào hướng dẫn hoặc truyền cho mình tam quy ngũ giới thì đó là ân nhân vĩ đại thứ nhất, không bao giờ mình đáp đền ơn đức nổi.
“Này các Tỳ-kheo, từ một người nào mà người người này thành tựu được sự thấy, biết chân chánh đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là con đường diệt khổ và chấm dứt khổ đau”. Tức là từ người giúp mình thấy biết chân chánh về Phật pháp thì ân đức của mình đối với người đó không bao giờ trả hết, đó là ân nhân vĩ đại thứ hai.
Ân nhân vĩ đại thứ ba chính là người giúp mình đoạn tận tất cả các lậu hoặc, tức là sạch hết tất cả phiền não, thành tựu thánh quả A-la-hán. Ân đức của người thứ ba này mình không có gì báo đáp được.
Như vậy, những người đứng ra thật sự với tâm vì Phật pháp để giúp đỡ cho tất cả mọi người tu hành thì người đó là ân nhân vĩ đại của mình. Điều quan trọng Đức Phật dạy mình là phải biết hổ thẹn, sai phải biết mình sai, khăng khăng cho mình là đúng càng sai. Phật dạy mình phải quán chiếu để chuyển hóa tâm sân.
Điều quan trọng cuối cùng mà tất cả phải nghe cho rõ. Mình đã tha thứ, từ tâm, không nghĩ đến nhưng cứ gặp mình là họ xỉa, họ kiếm chuyện. Đức Phật dạy: “Mình là chủ nhân của nghiệp, là người thừa kế nghiệp. Nghiệp là bào thai, là thai tạng, là bà con, quyến thuộc của mình”, nhất định trong tương lai mình sẽ lãnh lấy cái nghiệp mà mình đã tạo. Như vậy, điểm sau cùng mà Đức Phật muốn mình quán chiếu chính là nghiệp quả. Tới sau cùng, mình đã tha thứ, nhân từ mà họ còn chưa chịu thì mình phải biết đây là nghiệp quả trong quá khứ hoặc hiện tại.
Trong kinh nói có hai trường hợp. Thứ nhất là tự xét lại bản thân xem mình có làm điều gì sai hay không, mình có vô tình hay cố ý trong lời nói hay hành động để xúc phạm đến người khác không. Nếu có, mình phải xin lỗi bằng tấm lòng chân thành, thật sự xin lỗi, lúc đó mình mới thật sự là người tu. Người chỉ ra lỗi sai phải chấp nhận lời xin lỗi của người kia, nếu không là tự mình làm mình khổ, tự bỏ lửa trong tim để đốt mình. Thứ hai là nếu mình không nói, không làm gì cả, trường hợp này rất hay xảy ra, mình tưởng rằng mình không làm gì cả. Người chân tu khi có chuyện xảy ra phải nhớ rằng tuyệt đối không được trách hay đổi lỗi cho đối phương. Đó là t ại chính mình, vì mình không khéo tu, chưa đủ phước đức, từ bi, chưa đủ bao dung, độ lượng cho nên họ không phục, không kính nể mình. Mình còn thấp, mình phải tu thêm. Sâu xa là quán chiếu nghiệp quả trong quá khứ. Đời trước nếu thực sự mình có làm gì, mình thiếu nợ, thì mình phải trả, để lâu lời lãi tăng lên. Dù mình bặm trợn hay bình thường hay tươi vui thì mình đều phải trả. Thôi vậy mỉm cười mà trả đi. Nếu mình quán được điều này thì rất tuyệt vời, trả như không trả. Bởi vì trả là đương nhiên, không trả mới là chuyện la. Người mình không thiếu đến đòi mình thì mình không chịu trả. Còn người mình thiếu nợ, họ đến đòi thì trốn hoặc trả thì là bình thường. Vậy tại sao thiếu mà người ta đến đòi mà mình không trả? Đây không phải trả bằng tiền, mà trả bằng nhận thức mình là người thiếu. Có người xưng mình tu phát bồ đề tâm tát đạo, nhẫn nhục, trì giới, tinh tấn, thiền định này kia bây giờ có cơ hội nhẫn rồi đó, nhẫn đi. Quán về nghiệp quả hay lắm.
Quý vị đừng nghĩ lên tới cỡ thầy giảng sư chắc khỏe lắm, nói ai cũng nghe răm rắp là lầm. Có lúc trong chùa, Phật tử đến, mình nói họ không nghe, thậm chí họ còn nói lại. Lúc đó mình nói lại hay sao? Không, mình tập tâm nhẫn, tu tập đức từ. Làm sao để khi nhớ đến họ tâm mình hoàn toàn lặng lẽ, bình an thì lúc đó mình tu mới thành công. Nếu mỗi lần mình thấy họ hoặc hình bóng sắc tưởng trong nội tâm mà mình thấy khó chịu là mình vẫn chưa tu tập được tâm từ. Cái sân mình hóa giải chưa hết. Chứ không phải đợi gặp họ, miệng cười nhưng trong bụng nói thầm, cắn răng. Tu không phải đợi người khác nhìn, hay đưa bảng hiệu, hoặc đợi đọc tên vỗ tay. Tu là tự mình ngồi một mình, mà hình ảnh người đó hiện lên mình trải tâm từ đến họ, hình ảnh họ hiện lên mà tâm mình vẫn bình an, bao dung, tha thứ, tội nghiệp vì họ vô minh. Mà mình càng vô minh hơn. Cùng vô minh với nhau nên mới khổ, minh với minh gặp nhau thì đâu có khổ. Cho nên sự tu này nếu tu đúng sẽ rất hay. Đó là lí do tại sao Minh Thành chạy từ Sài Gòn lên núi tu. Am tranh ở một mình, trời mưa mùng nhiễu nước xuống, vậy mà mình hạnh phúc, vì mình nhìn lại mình để mà chuyển hóa.
Nếu không có Chánh Pháp này, không bao giờ quý vị giải quyết được đau khổ. Dẫu quý vị có tụng có tụng ngàn bộ từ sáng đến chiều thì khổ vẫn khổ. Vì mình vẫn còn vô minh. Mình không thấy tham, sân, si và bản ngã, mình nghĩ rằng tại người khác làm mình sân chứ không phải tại cái sân của mình. Mình không biết cái sân của mình còn to hơn của người khác. Khi mình tu được như vậy mình sẽ rất bình an, kì diệu lắm. Thậm chí có người đến trước mắt mình chưởi: “Bà ngu lắm.” – “Đúng rồi, nhưng em chưa thấy hết cái ngu của chị đó, chị còn ngu hơn em nói nữa.” Tại vì khi nhìn lại mình thấy mình vô minh, mình lầm chấp tứ đại là mình, là tôi, là của tôi nên mình mới khổ.
Mình phải “phẫu thuật” chính mình. Lây dao thật bén rọc từ trán xuống, toàn là máu, thịt, mỡ, gân, lọt hai tròng mắt xuống bàn, lõn vô hai lỗ. Rạch một đường lột da đầu ra, lòi ra sọ, cưa sọ đầu, lấy nguyên bộ não ra. Cắt hết xương sườn, lấy ra, lòi ra tim, gan, phổi, ruột, bao tử cắt ra là đồ ăn sắp thành phân. Máu, mủ, bọng đái, ruột, một đống bầy nhầy. Đây là bộ xương đang ngồi, xương sọ, xương tay, xương chân, xương ống chân, xương bàn chân. Tìm coi cái nào là mình? Có phải tim là mình; gan là mình; phổi là mình; ruột già, ruột non là mình; phân, nước tiểu là mình; máu mủ là mình không? Không phải. Bứt ba mươi mấy cái răng để ra, một đống máu, đống răng ở đó. Tóc bứt xuống từng nắm. Ghê quá, gớm ghiếc, khủng khiếp quá! Chẳng có gì là ta, là của ta trong thân này. Vậy mà vô minh, tham ái, chấp thủ, si mê, điên đảo. Tới chừng đem vô lò thiêu là đốt hết, còn cái đầu sọ, lấy cây đập ra cho nát, bỏ vô máy xay thành bột, cuối cùng ra một cái hộp. Đây là “Nguyễn Thị Xoài”, “Trần Văn A”. Đúng là vô minh, si mê, điên loạn, là mù. Đức Phật nói chúng sanh vô minh, tham ái, điên loạn, không thấy được sự thật. Từ chỗ chấp ngã, nhìn nhận sai lầm về sắc uẩn, cho đây là thật nên từ đó mới cho đây là tôi, là của tôi, nghĩ tôi hơn người, tôi bằng người hay tôi thấp hơn người. Tất cả đều xuất phát từ vô minh, si mê, ảo tưởng.
Khi mình nghĩ rằng lát chiều mình đi đâu đó thì mình sẽ lờ mờ thấy bóng mình dắt chiếc xe ra, đó là ảo tưởng của cái tôi. Có lúc Minh Thành ngồi thiền khuya, bốn giờ sáng, trên núi rất lạnh, Minh Thành mặc ba, bốn lớp áo, nhìn bóng mình rọi trên vách mùng, trong tâm nói nói rằng “Bữa nay mình nhìn cũng được quá ha”. Minh Thành thấy sự vô minh trong nội tâm, nó chấp ngã đến như vậy, đây chỉ là cái bóng thôi mà nó cũng chấp ngã. Thân xác thịt này, mình nghĩ về mình là có hình bóng mờ mờ, nhìn thấy bóng ngoài vách mùng nữa là ba lớp ảo tưởng chồng lên. Đó chính là thân kiến. Ai phá được là người đó Nhập lưu Thánh quả thứ nhất của Tu-đà-hoàn. Người nào xác quyết 100% thân này là tứ đại, là sự kết hợp của đất, nước, gió ,lửa, không có gì là tôi, không có gì là của tôi thì người đó là Thánh nhân quả thứ nhất, nhập dòng trí huệ.
Mấy bữa Minh Thành đi thấy xe đụng, một đống bầy nhầy trước mặt, lúc đó tôi ở đâu? Mình là người tu, phải trang bị cho mình hình ảnh những con giòi ăn hết gương mặt này, trang bị hình ảnh những bộ xương đang sình lên, rỉ ra những thứ hôi thối, để khi nổi sân lên, mình đưa những hình ảnh đó ra mình bảo: “Hỡi kẻ ngu si, vô minh, chấp ngã, hãy sân với bộ xương, với những con giòi, với đống thịt bầy nhầy này đi, tham dục với chúng đi. Ngươi hãy tan biến đi, ta không chấp nhận, ta sẽ từ bỏ ngươi mà sống với trí huệ của Đức Phật”. Lúc đó tâm mình mới mãnh lực, mạnh mẽ, trí huệ của mình mới rực sáng. Tu như vậy chắc chắn quý vị sẽ giảm bớt được tham, sân, si , nhiếp phục được bản ngã. Lúc nào cũng vậy, nhớ móc bửu bối là bộ xương ra. Quý vị sẽ thấy an lạc, diệu kì trong mỗi bước chân, mỗi hơi thở.
Lúc Minh Thành đi qua thiền viện Pa-Auk rất nổi tiếng ở Miến Điện. Vừa tới cổng thiền viện, ở rừng thiền, có nguyên một bộ xương cao khoảng một mét chín. Hỏi ra mới biết đó là bộ xương của một hoa hậu rất đẹp của Myanmar. Lúc còn sống cô phát nguyện khi chết cô cúng dường bộ xương của cô để ở trước thiền viện. Cô muốn nhắc nhở mọi người dẫu cho có đẹp đến thế nào đi chăng nữa thì cuối cùng thân xác này cũng chỉ là một bộ xương mà thôi. Hãy nhìn cho kĩ bộ xương đang ngồi đây. Tất cả chúng ta bị một sự lừa dối kinh khiếp đằng sau lớp da này. Một lớp da phủ lên thôi là tất cả chúng sanh trên thế giới đều bị lừa dối. Lột lớp da này ra là mình bỏ chạy, kinh hoàng hết. Người mình ôm ấp, yêu thương, phải chết vì người đó, khi lột lớp da người đó ra, hoặc mới tắt thở thôi là sợ, không dám lại gần, chôn lẹ đi. Đó là một sự thật phũ phàng. Nhìn sâu sắc đi mới sinh ra trí huệ. Còn nếu tu lơ mơ, chơi chơi, nghe thầy khen, vỗ tay, thì tu đó chỉ là gieo duyên. Mình phải biết sự thật tận cùng về bản chất của thân này thì mới đánh tan được chấp ngã, mê lầm đã ăn sâu vào xương tủy. Thật là một sự mê lầm lớn lao, một sự lừa dối kinh khiếp. Tất cả chúng ta đây đều không biết là mình đang bị hại. Trong kinh Pháp Cú có viết:
Và người ấy không biết
Chúng ta đây bị hại,
Chỗ ấy, ai hiểu được,
Tranh luận được lắng yên.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Song yếu)
Mình đang bị hại. Mình bị sân hận, tham ái, tham dục của mình hại. Mình tham tới già, bạc đầu rồi vẫn chưa hết tham. Mình bị si mê, không hiểu biết, không thành tựu trí huệ hại, bị tứ đại, bị cảm giác hại. Tối ngày mình đi tìm cảm giác. Có cảm giác khó chịu là sân hận, có cảm giác thích thú là đam mê. Cho nên, mới có đua xe, ma túy, xì ke, cỏ mỹ... chỉ là một chút cảm giác thôi là chết và làm cho bao nhiêu người phải khổ đau. Cái tưởng, những suy nghĩ nó hại mình. Suy nghĩ sai, không đúng Chánh Pháp mà mình cứ nuôi dưỡng những suy nghĩ đó. Cho nên, thế nào là Chánh tư duy trong Bát Chánh Đạo? Li dục tư duy, li sân tư duy, li hại tư duy đó là Chánh tư duy. Không suy nghĩ về dục, về sân, về hại. Tức quá rồi nghĩ làm sao hại người ta, gọi là “hạnh tai lạc họa”, người khác, người mình ghét gặp tai họa trong lòng mình thích thú. Đó là tà tư duy. Vì vậy, tâm mình khủng khiếp lắm nên đừng lo những cái ở ngoài mà phải lo cái tâm. Tâm mình mới đáng lo, ở ngoài không nhằm nhò gì cả.
Mới đây, có người tỉ phú 5 tỉ USD vừa rồi sang Thái Lan xem đá banh rồi rớt trực thăng mà chết. Thực sự, không ngày nào mà Minh Thành không quán về cái chết. Mỗi lần lên xe không bao giờ Minh Thành nghĩ 100% làvề tới trên núi. Mỗi ngày đều là ngày di chúc. Thời khóa của Linh Quy Pháp Ấn là tu và học một ngày mười hai tiếng và trong đó có một chương trình rất đặc biệt là quán chiến hiện thực. Ở đó Minh Thành cho chiếu sóng thần, động đất ở Indonesia, điện giật mùa nước nổi ở miền Tây. Đang đi mà nước sâu, chú này sinh viên đại học, vịn vào cột điện, bị giật nên chết, chú kia thấy vậy chạy lại nắm nên cũng giật chết, bà kia chạy lại nắm giật nên cũng chết chùm bốn, năm người. Mình nhìn lại thấy cái chết của mình mong manh vô cùng. Bây giờ già, bệnh, chết không lo, ở đó lo tham, sân, si. Đau khổ, đáng thương chưa? Đức Phật nói nếu mình chết mà ác pháp trong người mình chưa hết, bất thiện pháp vẫn còn thì cái chết đó là không tốt lành. Nó sẽ đưa mình vào chỗ tăm tối, xấu ác. Cho nên, người thông minh, khôn ngoan là người luôn quay trở lại mình, nhìn cho kĩ trong trong cảm giác, thấy tham, sân, si để nhiếp phục, chuyển hóa, tu tập, đó là bên trong. Còn bên ngoài làm các hạnh lành, nói lời lành, làm việc lành, suy nghĩ những điều lành. Đó là phước huệ song tu.
Hôm nay Minh Thành mới nói với quý vị trí huệ đó, lúc trước quý vị nghe phớt phớt, chút chút thôi. Hôm nay mới thật sự là trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác trong tạng kinh Nikāya. Để nhiếp phục quý vị phải nhớ những bộ xương, những con giòi ăn trên mặt mình, nhớ đống thịt bầy nhầy, nhớ hũ tro cốt. Khi tham, sân, si nổi lên thì những hình ảnh đó hiện lên trước mặt mình liền. Quán sâu sắc điều đó thì chúng ta sẽ được an lạc và lợi ích lâu dài. Chúc cho quý vị có một ngày tu thật thanh tịnh.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
./.
Soi Thấu Tham Sân Si và Bản Ngã
- Thích Minh Thành -
Tất cả quý Phật tử mắt của mình nhìn xuống về phía trước, không trụ vào một điểm nào hết, mở rộng tầm nhìn hết mức ra hai bên. Cảm nhận sự động chuyển ở ba chỗ: lồng ngực, chóp mũi và bụng. Từ ba chỗ này mở rộng cảm giác ra, cảm nhận cảm giác trên đầu, mặt, vai, mình, mông, chân, tay, bàn tay, lòng bàn tay, lòng bàn chân, cảm nhận cảm giác toàn thân. Trong tâm tỉnh giác, rõ biết trước mặt, cảm nhận sự động chuyển của hơi thở, cảm giác toàn thân, nội tâm sáng tỏ, rõ ràng. Quý vị đọc theo:
Người tu tâm thật là hiền
Trong ngoài thanh tịnh, nụ cười bình yên.
Thở vào mình nói thầm với cảm giác của mình: “Hiền nè”, thở ra mình nói thầm: “Dịu nè”. Thở vào làm cho tâm mình hân hoan, thở ra làm tâm mình hoan hỉ. Cảm nhận niềm tịnh lạc, thanh tịnh, an lạc ngay giây phút này. Mỉm cười nhẹ, thanh tịnh, hoan hỉ.
Quý vị có thấy tâm mình lắng dịu xuống chút nào không? Nhẹ nhõm hơn không? Tâm mình có dễ thương hơn không? Đức Phật nói: “Này các đệ tử, Ta chưa thấy một pháp nào có lợi ích lớn, an lạc lớn, hiệu quả lớn như tâm được tu tập. Ta chưa thấy một pháp nào mang lại tai hại lớn, hiểm nguy lớn như tâm không được tu tập”. Tâm không được tu tập mang lại đau khổ lâu dài. Bây giờ Minh Thành thường thấy chung chung là kiểu vừa tu vừa chơi. Nói là tu nhưng đại đa số là đi du lịch, đi chỗ này chỗ nọ, nên sự tu của mình không có hiệu quả. Vậy nên khi gặp chuyện, ta gặp tham, sân, si, phiền não, bản ngã dâng lên. Và như thế, sự tu học sẽ không đi tới đâu. Thấy tu thì náo nhiệt, rầm rộ nhưng “bạo phát thì chóng tàn”. Sự tu tập muốn có hiệu quả thì mình phải có ý thức sâu sắc một ngày mình tu phải như thế nào? Minh Thành nhớ rằng mình từng giảng bài Ý nghĩa một ngày an lạc, nhưng giờ chắc quý vị đã quên rồi, mấy tấm hình thì giữ kĩ hơn. Cho nên, hôm nay với chủ đề Soi thấu tham, sân, si và bản ngã, có lẽ quý vị sẽ không thích vì nghe nó không hấp dẫn. Chủ đề nào giải thoát, hoan hỉ, vui thì mình nghĩ chủ đề đó nghe hấp dẫn hơn, nhưng mình đã lầm. Ví dụ, có một người mắc những chứng bệnh rất nặng, nhưng không chịu gặp bác sĩ, không chịu khám bệnh, uống thuốc mà chỉ lo mặc đồ đẹp, lo mỹ phẩm điểm trang bên ngoài thì quý vị thấy người đó như thế nào? Một thời gian ngắn sau có thể sẽ từ bệnh nặng cho đến chết. Cách tu không đúng cũng giống như vậy. Mình bây giờ chỉ thích đi từ thiện chỗ này, đi giúp chỗ kia, toàn làm những điều có ý nghĩa, cao siêu nhưng bệnh rất nặng ở trong tâm chính là tâm bệnh mà mình không hề hay biết.
Quý vị có bệnh không? Bệnh gì? Có chữa không? Có uống thuốc không? Có gặp thầy giỏi, có gặp thuốc tốt không? Thành ra hôm nay sẽ bắt mạch cho thuốc. Mình tu đúng theo tinh thần kinh Nikāya Phật dạy sẽ hay lắm. Trong kinh Nikāya Đức Phật không nói chuyện trời mây, cao siêu, màu nhiệm. Bây giờ “nói có sách, mách có chứng”, quý vị đi nghe giảng mà quý vị hay nghe tùm lum mà không biết đó là ai nói. Từ đây về sau, Minh Thành nói là sẽ có dẫn chứng là trong bộ kinh nào. Trong kinh Tăng Chi Bộ tập 1, bài kinh Niết-bàn:
Rồi Bà-la-môn Jànussoni đi đến Thế Tôn … Ngồi xuống một bên, Bà-la-môn Jànussoni bạch Thế Tôn:
- Thiết thực hiện tại là Niết bàn, thưa Tôn giả Gotama, được nói đến như vậy. Cho đến như thế nào, thưa Tôn giả Gotama, Niết bàn là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu?
Ý ông ta nói Đức Phật định nghĩa pháp của Phật và Niết-bàn rất thực tế, thiết thực, hiện tại, không trải qua thời gian. Tức là không phải đợi ba năm, năm năm, bảy năm, mười năm hay lúc mình chết mới có kết quả. Niết-bàn Đức Phật nói là đến để mà thấy, nó không trải qua thời gian, tức là ngay trong giây phút hiện tại mình có thể thấy được. Đức Phật trả lời:
Bị tham ái, sân hận, si mê làm say đắm, này Bà-la-môn, bị chinh phục, tâm bị xâm chiếm, nên suy nghĩ điều hại mình, suy nghĩ điều hại người, suy nghĩ điều hại cả hai, cảm thọ tâm khổ, tâm ưu.
Tham ái, sân hận, si mê được đoạn trừ, thời không nghĩ đến tự hại mình, không nghĩ đến hại người, không nghĩ đến hại cả hai, không cảm thọ tâm khổ, tâm ưu. Như vậy, này Bà-la-môn, Niết bàn là thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu. (Tăng Chi Bộ Kinh –Tập 1, 3. Chương Ba Pháp, VI. Phẩm Các Bà-La-Môn, bài kinh Niết Bàn)
Câu này thấy đơn giản nhưng quý vị hiểu sẽ thấy rất sâu sắc. Quý vị thường nói tham, sân, si nhưng thực sự là mình không hề biết. Một người thành tựu trí huệ thấy rõ được tham, sân, si quý vị có biết là ai không? Chính là Thánh nhân quả thứ nhất của Tu-đà-hoàn. Trong bốn quả Thánh, quả thứ nhất là Tu-đà-hoàn. Quý vị sẽ thấy rất thắc mắc sao thầy nói lạ vậy, tưởng đâu điều gì cao siêu mới là Thánh nhân. Nhưng thật sự là như vậy, tại từ trước đến nay mình hiểu lầm. Bây giờ có một người chỉ lo đi chơi, đi làm ăn mà không để ý đến ngôi nhà của mình, bỗng dưng một hôm nghe thấy mùi khó chịu, rọi đèn soi ngõ ngách trong nhà, nếu ngay đường đi thì dễ thấy, nhưng nó lại ở trong hốc, trong kẹt, dưới sàn giường. Cho nên phải lấy đèn pin soi rọi kĩ thì phát hiện con mèo đã xé xác mấy con chuột, máu me nội tạng trong kẹt, hốc. Khi mình thấy được điều đó là Thánh quả thứ nhất. Mình xử lí xong xác chết xong chính là Thánh quả thứ hai. Mình dọn dẹp tàn dư, dấu vết còn lại chính là Thánh quả thứ ba. Mình dọn dẹp sạch sẽ không còn dấu vết, không còn mùi hôi chính là Thánh quả thứ tư – A-la-hán.
Mình không nhìn lại tự thân, tự tâm của mình ngay cả khi mình mang danh đi tu. Đây là chỗ rất sâu sắc. Hằng ngày quý vị để ý xem mình nhìn điều gì? Toàn là nhìn bên ngoài, nhìn những hình sắc khả ái, khả ý, hấp dẫn, lôi cuốn – đây là những từ ở trong kinh. Mình nghe những âm thanh thích thú, mình khoái chú, âm thanh nào khó chịu mình bực bội. Mình ngửi những mùi hương thơm, chọn những món ngon để nếm, trúng món dở sẽ sân si lên. Hằng ngày mỗi khi mình ngồi yên lại thì hình bóng người này người kia, những suy nghĩ liên tu bất tận. Hình bóng và lời nói giống như tivi có hình ảnh và âm thanh. Hình bóng đó là tưởng, âm thanh đó là hành, cảm giác của mình chính là thọ. Và khi mình biết được những điều đó, biết được hình ảnh, âm thanh, cảm giác, đó chính là thức. Năm uẩn hằng ngày vận hành theo sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp, chỉ nhìn mà ở ngoài mà không phản chiếu lại tự thân. Vậy nên đạo Phật mới gọi là đạo tự giác.
Cũng chính vì thế mà Minh Thành không đồng lòng, hoan hỉ với quý vị mỗi lần tu mà phải chạy cả trăm cây số. Chạy như vậy sao mà tu. Suốt một tuần đã chạy rồi mà cuối tuần lại chạy nữa. Tìm một thầy, một đạo tràng, lâu lâu tổ chức đi một lần, một ngày như vậy mới trở nên quý báu. Nếu quý vị không thật sự tìm ra minh sư, đúng đạo tràng, đúng Chánh Pháp thì quý vị có tu một trăm năm nữa thì cũng chỉ quanh quẩn trong tham, sân, si và bản ngã mà thôi, không giải quyết được khổ đau. Minh Thành đã nói nhiều lần, phải suy nghĩ cho kĩ, tâm có thật sự muốn tu hay không, nếu không mình sẽ ngày càng phiền não. Bên ngoài đã gặp nhiều phiền não, vợ chồng, con cái, nội ngoại, anh chị em, công ty, đối tác, nhân viên,... Rồi bây giờ vô chùa tìm chỗ thanh tịnh, thanh lương mà còn phiền não thì biết đi đâu bây giờ? Đó là một sự đau đớn, cay đắng. Nếu mình không gặp được minh sư, không tìm đúng Chánh Pháp thì quý vị sẽ vĩnh viễn chạy lòng vòng, giống như kiến bò miệng chén, bò hoài không ra được.
Hôm nay Minh Thành tiết lộ một bí mật cho quý vị: bậc Thánh nhân luôn nhìn lại cảm giác của mình mọi lúc, mọi nơi. Vì sao? Vì cảm giác là chỗ trú ẩn của tham, sân, si. Minh Thành đã nói rất nhiều lần vì điều này cực kì quan trọng, phải nhìn cảm giác một cách thường trực. Đức Phật nói có ba loại cảm giác. Một cảm giác là khoan khoái, thích thú, dễ chịu, sung sướng. Loại cảm giác đó có gì bên trong? Ví dụ, trong mâm cơm có mười lăm món mà toàn là những món mình thích, thì lúc đó miệng chưa xong tay đã gắp lia lịa, có khi sột sột không chừng. Đó là tướng biểu hiện của tham. Nhưng đó chỉ là ngọn, sâu bên trong chính là cảm giác thôi thúc, thúc giục nhanh lên, lẹ lên, nhai chưa xong nhưng gắp tiếp tục. Đó chính là tham và dục trú ẩn bên trong cảm giác mà mình hoàn toàn không thấy, không biết. Hôm nay Minh Thành đã nói cho quý vị toàn bộ, nếu quý vị chú tâm lắng nghe, để ý, thực tập thì không bao lâu quý vị có thể hướng Dự lưu vào Thánh quả thứ nhất Tu-đà-hoàn.
Bây giờ quý vị hãy chịu khó để ý. Những khi quý vị cảm thấy khoan khoái, thích thú thì hãy nhìn kĩ lại, tham, dục, ái trú ẩn trong đó. Nó muốn kéo dài thời gian, không muốn hết. Chẳng hạn như khi ta xem phim, ta thích một bộ phim hay và mong nó đừng kết thúc. Vậy cái đó là cái gì? Là ái, là quyến luyến, bịn rịn, buộc ràng, là hệ lụy, như sợi dây buộc lại không muốn rời. Nếu một ngày mình bước vào cổng “vu quy” là khi ấy sợi dây đã buộc lại rồi. Đó gọi là cam tâm tình nguyện để buộc, lỡ buộc rồi, đó là buộc ở bên ngoài, bây giờ mình tu thì mình có cách để nới lỏng trong tâm. Minh Thành chỉ nói nới lỏng, chứ không nói cắt đứt. Khi nới lỏng mình phải để ý tất cả cảm giác của mình. Ví dụ, trời đang nóng, quý vị bước vào phòng có điều hòa, mình thấy mát mẻ, thoải mái thì tham, ái trú ẩn trong đó. Đây là điều rất thâm sâu, bậc trí huệ mới thấy được. Mình không phải là cây, là đá mà không biết, mình biết nhưng phải nhìn ra được trong đó có tham, có ái hay không. Tập luyện mỗi điều này cũng đủ để quý vị trở thành một người siêu việt. Trí của phàm phu không thấy được điều đó. Trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác như Đức Phật mới chỉ ra cho mình được trí huệ đó. Bình thường quý vị nghĩ rằng tham, sân, si là điều gì đó rất lộ liễu ra ngoài. Nghĩ rằng ăn uống rột, rột, gắp thức ăn lia lịa, ăn uống phàm tục mới là tham. Điều đó người không tu cũng biết, nếu vậy mình đâu cần tu vì người không tu cũng biết đó là tham vậy. Cái tham mà đạo Phật nhắc đến là cái tham sâu xa, nguồn cội bên trong thúc đẩy. Chẳng hạn lúc mình nấu nước, tim bọt xuất hiện dưới đáy nồi rồi từ từ mới sôi sùng sục. Đối với những bậc phàm phu chưa nghe Chánh Pháp, chưa gặp bậc thiện trí thức chỉ dạy, họ sẽ đợi đến khi sôi sùng sục lúc đó họ mới biết. Còn với những Đa văn Thánh đệ tử, thường được nghe pháp, thường được chỉ dẫn tu tập thì khi mới xuất hiện tim bọt họ đã nhìn thấy rồi. Quý vị tu tập cũng vậy, sau này quý vị thường nhìn vào cảm giác thì trong này chỉ mới gợn lăn tăn, manh nha, nảy mầm là quý vị đã thấy được. Thấy được điều đó mới thấy được tâm mình. Quý vị thấy điều này sâu sắc không?
Đối với nóng giận thì sao? Ta có biết mặt mũi của nó, cách nó vận hành ra sao không? Đức Phật gọi là si mê, vô minh, bởi vì không biết, không thấy nó ở trong mình. Nó xâm nhập, khống chế, điều khiển, hoành hành ngự trị mình, nó làm cho mình khốn khổ mà mình không biết gì về nó. Như vậy là vô minh. Đầu tiên là người mình ấm lên, rồi từ từ rần rần, sau đó lan tỏa ra giống như ngọn lửa. Đôi mắt tỏ, đôi tai đỏ, lỗ tai lùng bùng, miệng giật giật. Mình phải nhìn thấy được cảm giác của mình đang chuyển biến, giọng nói biến đổi, không còn sự bình tĩnh, tức là bên trong mình có một sự thúc giục. Đức Phật gọi là bị chinh phục, bị xâm chiếm và lúc đó sẽ suy nghĩ toàn những điều tổn hại. Vậy nên, thầy sẽ diễn tả cho Phật tử thấy ngũ uẩn vận hành trong cơn sân. Khi đó, cảm giác của mình là một cảm giác rất khó chịu, nếu sân nhiều là cực kì khó chịu, bứt rứt, bực bội. Ngoài trời lạnh nhưng bên trong vẫn nóng như thường. Đó là cảm giác, là phần thọ. Còn trong tưởng của mình lúc đó là những hình bóng về đối tượng sân, những lời nói, âm thanh gọi là sắc tưởng, vị tưởng, thanh tưởng, hương tưởng, xúc tưởng, pháp tưởng. Hành là những suy nghĩ nói thầm, không ngừng, để cho hả dạ, uất ức, muốn vỡ tung ra. Mình phải nhìn thấy được năm uẩn đang vận hành trong đó. Đó chính là ác ma trong người mình. Nó sẽ đốt cháy tất cả, phá hủy mình. Những cảm giác, lời nói, hình bóng, nhận thức mình biết được thì mình phải làm sao? Phật dạy chúng ta có bốn, năm cách để trị được cái sân này.
Đức Phật dạy mình phải biết quán về sự nguy hại (nguy hiểm và tác hại) của cơn sân. Đây là điều rất quan trọng. Nếu mình không nhìn thấy sự nguy hại mình sẽ không từ bỏ, mình chấp nhận nó, một khi đã chấp nhận thì tức là chữ thọ, tức là mình nhận vào. Ai đó xin vào nhà mình ở mà mình không xét kĩ xem người đó có quen hay không, có họ hàng, có tốt hay không mà đã mình nhận vào. Trong khi họ là một tên cướp thì sau đó tai họa thế nào tự mình hiểu được. Cái thọ của mình chấp nhận cơn sân, cái tham, ghen tị, hơn thua, đấu đá với nhau tức là mình nhận giặc làm con. Mình thọ nó, tức là nhận nó vào rồi, sau đó nó sẽ xâm chiếm, chế ngự, an trú và chinh phục hoàn toàn tâm mình. Lúc đó những hình ảnh, lời nói, âm thanh, cảm giác bực tức cứ ở đó hoài, không thể thoát được.
Quý vị có thường đọc báo không? Nhiều khi Minh Thành còn không dám đọc. Chỉ vì một ánh đèn pha vào mắt thôi thì đã xảy ra án mạng. Tiếng hát karaoke lớn quá cũng sân lên rồi xảy ra chuyện nên vào tù. Nhậu nhẹt chê nhau hát dở cũng đâm chết. Tất cả những điều đó là sự nguy hại của tâm sân hận. Chỉ trong cảm giác thôi mà mình không thấy được. Bây giờ mình tu, cảm giác mình biến động mình thấy được liền. Mình dùng Như lý tác ý, mình dùng đạo lý mạnh để đánh đuổi, mình không chấp nhận mà phải từ bỏ nó. “Chính mi là hố than hừng, mi đốt cháy ta và tất cả, nếu ta đi theo mi là xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, khốn khổ, đen tối, sa đọa. Mi là ma đưa lối, quỷ dẫn đường, tìm những chỗ đoạn trường mà đi.” Mình phải thoát ra, không đi theo nó, không bị nó xâm chiếm, chế ngự, an trú. Phải đi ra khỏi nó, xuất ly và từ bỏ nó. Đó là mình quán về nguy hại của cơn sân. Mình nhìn trên báo chí, mình nhìn những sự việc xảy ra là những điều vô cùng nguy hại. Đức Phật đã nói rồi, đây là đưa đến địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh, đưa đến chỗ tăm tối, đấu tranh, đau khổ. Mình phải quán chiếu mạnh mẽ, chưởi cái tâm sân đó, phải đấu tranh rồi từ từ nó sẽ lép vế, dần lắng dịu xuống. Đó là bước đầu thành công. Mình không cho nó làm chủ mình mà mình phải làm chủ nó. Quý vị phải nhớ điều này rất quan trọng.
Minh Thành đã nhắc kĩ từng bước. Học xong bài này mình phải nhiếp phục được sân si 50-60%. Đức Phật dạy mình phải nhìn lại cảm thọ rồi dùng Như lý tác ý và tuyệt đối không bao giờ nghĩ đối tượng sân hận là chướng ngại tướng của mình. Nếu mình cho rằng họ là chướng tai gai mắt thì không bao giờ mình dẹp bỏ được cái sân. Mình vừa chớm nghĩ phải ngay lập tức dẹp bỏ, không được suy nghĩ theo chiều hướng đó. Vậy mình phải nghĩ như thế nào? Phải nghĩ rằng từ tâm giải thoát. Chỗ này chính là “bí kíp võ công”. Giải thoát đơn giản là mở tâm mình ra khỏi chỗ xiềng xích, trói cột, đón khung, phải mở ra. Từ tâm là một lòng thương và không muốn người khác khổ. Đem tình thương đến là lấy cái khổ ra vì tất cả mọi người trên đời này đều đáng thương.
Theo tinh thần Phật dạy, trong khắp tất cả chúng sanh này không có một chúng sanh nào là người đáng ghét. Một khi mình đã khởi tâm ghét, tâm sân với một người nào đó thì điều đó là sai. Vì sao? Quý vị nghĩ đi, mình có khổ không, có bệnh không? Quý vị có bị cái sân làm cho mình khổ không? Quý vị có bị cái tham ái, tham dục làm cho mình khổ không? Quý vị có bị cái si mê, tăm tối làm cho mình khổ không? Quý vị có bị bản ngã, cái tôi hành hạ làm mình khổ không? Mình khổ thì người kia cũng khổ như vậy, cũng đều là chúng sanh, cũng đều là ngũ uẩn, cũng tham, sân, si, bản ngã thôi. Tất cả chúng ta đều khổ nên mới vào chùa để tu, không lẽ vào tu rồi mình còn muốn làm khổ nhau nữa hay sao? Mình đã chán chê, ê chề hết những cái khổ bên ngoài rồi mình mới tìm đến nơi ly khổ đắc lạc mà còn muốn gây khổ cho nhau là không nên. Mình quán như vậy cho nên mình mới thương.
Mình biết Phật pháp, biết tu mà mình còn sân, còn những người chưa hiểu bằng mình hoặc hiểu ngang hoặc có khi hiểu hơn mình nhưng họ chỉ hiểu nhưng chưa tu được thành trí huệ. Nếu mình không thương, mình với người sẽ khổ. Mọi khi quý vị đi về đây tu rần rần, giảng đường không đủ chỗ, bữa nay giận ai đó không thèm đi tu, vậy ai lỗ? Mình không khéo thì mình sẽ làm cho người khác mất đi sự may mắn, tốt lành của Phật pháp. Thật sự, thưa quý vị, mình toàn là bị gạt, đừng tưởng mình thông minh. Mình bị sắc, cảm giác, tưởng, hành, nhận thức của mình gạt. Cuối cùng, mình lại là người bị gạt nhưng không phải do bên ngoài mà là do năm uẩn bên trong mình gạt. Cái đó mới đau. Thấy được điều này mình mới thấy tuyệt diệu lắm. Bởi vì mình không trách ai nữa mà sẽ trách mình. Trách mình không thấy được cảm giác này là vô thường. Có nhiều người giận, bảo rằng “sống để bụng, chết mang theo” nhưng đó chỉ là nhất thời, giận một chút là muốn chết rồi, ai mà giận một ngày thì chắc nổ tim ra chứ sống không nổi. Bởi vậy mới có câu “giận thì giận mà thương thì thương”. Vợ chồng, mẹ con, anh chị em giận được mấy bữa? Cảm giác vô thường, không có thật mà mình tưởng thật. Chính vì mình tưởng thật nên mình chấp trước, bám chặt vào suy nghĩ, hình bóng đó mà không biết tất cả đó là vô thường. Bám chặt vô cái vô thường thì đó là khổ đau.
Quý vị nên biết, sự tu của mình không phải nằm trên cái tưởng, nhưng đại đa số bây giờ mình tu là trên cái tưởng và hành. Tức là mình ngồi lại mình tưởng rằng mai mốt mình sẽ ra sao, về nhà nói con làm bông sen bằng xi măng, rồi may áo trắng, đội mão, để đèn phía sau, buổi tối lên ngồi cầm bình cầm nhành rồi bảo: “Ôi chao, hôm nay mình tu tẩu hỏa nhập ma”. Đó là cải lương, không có thật. Quý vị vào chánh điện thấy tượng Phật to thật to rồi tưởng đó là Phật, đó chỉ là biểu tượng, là sắc pháp vô thường, là đá gỗ vô tri, không có Phật trong đó. Mình phải lo nhiếp phục cái tham, sân, si của mình, đó mới là trái tim Đức Phật. Quý vị mải mê chạy theo những hình tướng, âm thanh bên ngoài thì có tu một ngàn kiếp tham, sân, si vẫn dẫy đầy. Phải hiểu rằng đó chỉ là biểu tượng để nhắc nhở mình, phải thành tựu trí huệ để thấy được tham, sân, si, phải tìm ra được phương pháp để nhiếp phục, chuyển hóa nó. Khi đó mình mới thấy được pháp thân của Phật. Pháp thân của Phật ở chỗ dập tắt tham, sân, si và bản ngã. Cho nên, phải từ tâm giải thoát, trải tình thương đến cho mọi người.
Có thể quý vị ngồi đây quý vị nghĩ rằng mình không khổ. Ngày trước mình chưa thấy, bây giờ mình mới thấy. Đây chính là chỗ mình học đạo mà học chưa đến. Mình nghĩ rằng Niết-bàn, cực lạc chính là đây chứ không đâu, cái đó thật sự là vô minh. Tại vì ở giây phút hiện tại chưa có đụng vào, chứ có ai chạm tới là quăng lựu đạn banh xác, chứ đừng nói là an lạc Bên trong chất chứa một kho lựu đạn. Đây là vô minh, sân hận, chấp ngã, tham dục, tật đố, cống cao, ngã mạn, mình không lo giải quyết nó, mà chỉ lo hướng ngoại nên không nhìn thấy. Khi mình thấy là mình Nhập lưu vào dòng Thánh.
Khi Minh Thành đóng cửa nhập thất ở trên núi một tháng trời để nhìn lại cái tâm, để thấy phiền não của mình. Phải xem mình thành lập một đạo tràng đi đến những đạo tràng khác đảnh lễ, cúng dường, tu học là nhằm mục đích gì? Mục đích là muốn tìm sự bình an, tịnh lạc của nội tâm thì tất cả lời nói, hành động của mình phải hướng về điều đó mới đúng. Đi đến nơi mà không thấy an lạc, tìm chuyện này, moi chuyện kia, chuyện không có thành có, ít thành nhiều, nhỏ thành to, to thành lớn, lớn thành nổ, nổ thành banh. Mình không tu mình phải để người khác tu, biết bao nhiêu người muốn tu. Quý vị nghĩ rằng những người đứng ra thành lập, gánh vác cho hàng trăm người sung sướng lắm hay sao? Phải hiểu được điều đó, nếu không mình sẽ phạm tội rất nặng. Ai thấy không đủ duyên, âm thầm rút lui, tuyệt đối không nói xấu. Đức Phật dạy địa vị của bậc Chân nhân, người thật sự là người thì có hai yếu tố quyết định: biết ơn và nhớ ơn. Nếu người nào không có hai đặc tính này Đức Phật nói đó không phải là người.
Trong tạng kinh Nikāya, Đức Phật nói có ba hạng người là ân nhân vĩ đại, dẫu cho mình có đem y phục, thức ăn, phòng ở, phụng sự suốt đời cũng không thể nào báo đáp được.
“Này các Tỳ-kheo, từ một người nào mà người kia được thọ tam quy ngũ giới thì phải biết rằng ân đức của người này đối với người kia là không bao giờ đền đáp được”. Người nào hướng dẫn hoặc truyền cho mình tam quy ngũ giới thì đó là ân nhân vĩ đại thứ nhất, không bao giờ mình đáp đền ơn đức nổi.
“Này các Tỳ-kheo, từ một người nào mà người người này thành tựu được sự thấy, biết chân chánh đây là khổ, đây là nguyên nhân của khổ, đây là con đường diệt khổ và chấm dứt khổ đau”. Tức là từ người giúp mình thấy biết chân chánh về Phật pháp thì ân đức của mình đối với người đó không bao giờ trả hết, đó là ân nhân vĩ đại thứ hai.
Ân nhân vĩ đại thứ ba chính là người giúp mình đoạn tận tất cả các lậu hoặc, tức là sạch hết tất cả phiền não, thành tựu thánh quả A-la-hán. Ân đức của người thứ ba này mình không có gì báo đáp được.
Như vậy, những người đứng ra thật sự với tâm vì Phật pháp để giúp đỡ cho tất cả mọi người tu hành thì người đó là ân nhân vĩ đại của mình. Điều quan trọng Đức Phật dạy mình là phải biết hổ thẹn, sai phải biết mình sai, khăng khăng cho mình là đúng càng sai. Phật dạy mình phải quán chiếu để chuyển hóa tâm sân.
Điều quan trọng cuối cùng mà tất cả phải nghe cho rõ. Mình đã tha thứ, từ tâm, không nghĩ đến nhưng cứ gặp mình là họ xỉa, họ kiếm chuyện. Đức Phật dạy: “Mình là chủ nhân của nghiệp, là người thừa kế nghiệp. Nghiệp là bào thai, là thai tạng, là bà con, quyến thuộc của mình”, nhất định trong tương lai mình sẽ lãnh lấy cái nghiệp mà mình đã tạo. Như vậy, điểm sau cùng mà Đức Phật muốn mình quán chiếu chính là nghiệp quả. Tới sau cùng, mình đã tha thứ, nhân từ mà họ còn chưa chịu thì mình phải biết đây là nghiệp quả trong quá khứ hoặc hiện tại.
Trong kinh nói có hai trường hợp. Thứ nhất là tự xét lại bản thân xem mình có làm điều gì sai hay không, mình có vô tình hay cố ý trong lời nói hay hành động để xúc phạm đến người khác không. Nếu có, mình phải xin lỗi bằng tấm lòng chân thành, thật sự xin lỗi, lúc đó mình mới thật sự là người tu. Người chỉ ra lỗi sai phải chấp nhận lời xin lỗi của người kia, nếu không là tự mình làm mình khổ, tự bỏ lửa trong tim để đốt mình. Thứ hai là nếu mình không nói, không làm gì cả, trường hợp này rất hay xảy ra, mình tưởng rằng mình không làm gì cả. Người chân tu khi có chuyện xảy ra phải nhớ rằng tuyệt đối không được trách hay đổi lỗi cho đối phương. Đó là t ại chính mình, vì mình không khéo tu, chưa đủ phước đức, từ bi, chưa đủ bao dung, độ lượng cho nên họ không phục, không kính nể mình. Mình còn thấp, mình phải tu thêm. Sâu xa là quán chiếu nghiệp quả trong quá khứ. Đời trước nếu thực sự mình có làm gì, mình thiếu nợ, thì mình phải trả, để lâu lời lãi tăng lên. Dù mình bặm trợn hay bình thường hay tươi vui thì mình đều phải trả. Thôi vậy mỉm cười mà trả đi. Nếu mình quán được điều này thì rất tuyệt vời, trả như không trả. Bởi vì trả là đương nhiên, không trả mới là chuyện la. Người mình không thiếu đến đòi mình thì mình không chịu trả. Còn người mình thiếu nợ, họ đến đòi thì trốn hoặc trả thì là bình thường. Vậy tại sao thiếu mà người ta đến đòi mà mình không trả? Đây không phải trả bằng tiền, mà trả bằng nhận thức mình là người thiếu. Có người xưng mình tu phát bồ đề tâm tát đạo, nhẫn nhục, trì giới, tinh tấn, thiền định này kia bây giờ có cơ hội nhẫn rồi đó, nhẫn đi. Quán về nghiệp quả hay lắm.
Quý vị đừng nghĩ lên tới cỡ thầy giảng sư chắc khỏe lắm, nói ai cũng nghe răm rắp là lầm. Có lúc trong chùa, Phật tử đến, mình nói họ không nghe, thậm chí họ còn nói lại. Lúc đó mình nói lại hay sao? Không, mình tập tâm nhẫn, tu tập đức từ. Làm sao để khi nhớ đến họ tâm mình hoàn toàn lặng lẽ, bình an thì lúc đó mình tu mới thành công. Nếu mỗi lần mình thấy họ hoặc hình bóng sắc tưởng trong nội tâm mà mình thấy khó chịu là mình vẫn chưa tu tập được tâm từ. Cái sân mình hóa giải chưa hết. Chứ không phải đợi gặp họ, miệng cười nhưng trong bụng nói thầm, cắn răng. Tu không phải đợi người khác nhìn, hay đưa bảng hiệu, hoặc đợi đọc tên vỗ tay. Tu là tự mình ngồi một mình, mà hình ảnh người đó hiện lên mình trải tâm từ đến họ, hình ảnh họ hiện lên mà tâm mình vẫn bình an, bao dung, tha thứ, tội nghiệp vì họ vô minh. Mà mình càng vô minh hơn. Cùng vô minh với nhau nên mới khổ, minh với minh gặp nhau thì đâu có khổ. Cho nên sự tu này nếu tu đúng sẽ rất hay. Đó là lí do tại sao Minh Thành chạy từ Sài Gòn lên núi tu. Am tranh ở một mình, trời mưa mùng nhiễu nước xuống, vậy mà mình hạnh phúc, vì mình nhìn lại mình để mà chuyển hóa.
Nếu không có Chánh Pháp này, không bao giờ quý vị giải quyết được đau khổ. Dẫu quý vị có tụng có tụng ngàn bộ từ sáng đến chiều thì khổ vẫn khổ. Vì mình vẫn còn vô minh. Mình không thấy tham, sân, si và bản ngã, mình nghĩ rằng tại người khác làm mình sân chứ không phải tại cái sân của mình. Mình không biết cái sân của mình còn to hơn của người khác. Khi mình tu được như vậy mình sẽ rất bình an, kì diệu lắm. Thậm chí có người đến trước mắt mình chưởi: “Bà ngu lắm.” – “Đúng rồi, nhưng em chưa thấy hết cái ngu của chị đó, chị còn ngu hơn em nói nữa.” Tại vì khi nhìn lại mình thấy mình vô minh, mình lầm chấp tứ đại là mình, là tôi, là của tôi nên mình mới khổ.
Mình phải “phẫu thuật” chính mình. Lây dao thật bén rọc từ trán xuống, toàn là máu, thịt, mỡ, gân, lọt hai tròng mắt xuống bàn, lõn vô hai lỗ. Rạch một đường lột da đầu ra, lòi ra sọ, cưa sọ đầu, lấy nguyên bộ não ra. Cắt hết xương sườn, lấy ra, lòi ra tim, gan, phổi, ruột, bao tử cắt ra là đồ ăn sắp thành phân. Máu, mủ, bọng đái, ruột, một đống bầy nhầy. Đây là bộ xương đang ngồi, xương sọ, xương tay, xương chân, xương ống chân, xương bàn chân. Tìm coi cái nào là mình? Có phải tim là mình; gan là mình; phổi là mình; ruột già, ruột non là mình; phân, nước tiểu là mình; máu mủ là mình không? Không phải. Bứt ba mươi mấy cái răng để ra, một đống máu, đống răng ở đó. Tóc bứt xuống từng nắm. Ghê quá, gớm ghiếc, khủng khiếp quá! Chẳng có gì là ta, là của ta trong thân này. Vậy mà vô minh, tham ái, chấp thủ, si mê, điên đảo. Tới chừng đem vô lò thiêu là đốt hết, còn cái đầu sọ, lấy cây đập ra cho nát, bỏ vô máy xay thành bột, cuối cùng ra một cái hộp. Đây là “Nguyễn Thị Xoài”, “Trần Văn A”. Đúng là vô minh, si mê, điên loạn, là mù. Đức Phật nói chúng sanh vô minh, tham ái, điên loạn, không thấy được sự thật. Từ chỗ chấp ngã, nhìn nhận sai lầm về sắc uẩn, cho đây là thật nên từ đó mới cho đây là tôi, là của tôi, nghĩ tôi hơn người, tôi bằng người hay tôi thấp hơn người. Tất cả đều xuất phát từ vô minh, si mê, ảo tưởng.
Khi mình nghĩ rằng lát chiều mình đi đâu đó thì mình sẽ lờ mờ thấy bóng mình dắt chiếc xe ra, đó là ảo tưởng của cái tôi. Có lúc Minh Thành ngồi thiền khuya, bốn giờ sáng, trên núi rất lạnh, Minh Thành mặc ba, bốn lớp áo, nhìn bóng mình rọi trên vách mùng, trong tâm nói nói rằng “Bữa nay mình nhìn cũng được quá ha”. Minh Thành thấy sự vô minh trong nội tâm, nó chấp ngã đến như vậy, đây chỉ là cái bóng thôi mà nó cũng chấp ngã. Thân xác thịt này, mình nghĩ về mình là có hình bóng mờ mờ, nhìn thấy bóng ngoài vách mùng nữa là ba lớp ảo tưởng chồng lên. Đó chính là thân kiến. Ai phá được là người đó Nhập lưu Thánh quả thứ nhất của Tu-đà-hoàn. Người nào xác quyết 100% thân này là tứ đại, là sự kết hợp của đất, nước, gió ,lửa, không có gì là tôi, không có gì là của tôi thì người đó là Thánh nhân quả thứ nhất, nhập dòng trí huệ.
Mấy bữa Minh Thành đi thấy xe đụng, một đống bầy nhầy trước mặt, lúc đó tôi ở đâu? Mình là người tu, phải trang bị cho mình hình ảnh những con giòi ăn hết gương mặt này, trang bị hình ảnh những bộ xương đang sình lên, rỉ ra những thứ hôi thối, để khi nổi sân lên, mình đưa những hình ảnh đó ra mình bảo: “Hỡi kẻ ngu si, vô minh, chấp ngã, hãy sân với bộ xương, với những con giòi, với đống thịt bầy nhầy này đi, tham dục với chúng đi. Ngươi hãy tan biến đi, ta không chấp nhận, ta sẽ từ bỏ ngươi mà sống với trí huệ của Đức Phật”. Lúc đó tâm mình mới mãnh lực, mạnh mẽ, trí huệ của mình mới rực sáng. Tu như vậy chắc chắn quý vị sẽ giảm bớt được tham, sân, si , nhiếp phục được bản ngã. Lúc nào cũng vậy, nhớ móc bửu bối là bộ xương ra. Quý vị sẽ thấy an lạc, diệu kì trong mỗi bước chân, mỗi hơi thở.
Lúc Minh Thành đi qua thiền viện Pa-Auk rất nổi tiếng ở Miến Điện. Vừa tới cổng thiền viện, ở rừng thiền, có nguyên một bộ xương cao khoảng một mét chín. Hỏi ra mới biết đó là bộ xương của một hoa hậu rất đẹp của Myanmar. Lúc còn sống cô phát nguyện khi chết cô cúng dường bộ xương của cô để ở trước thiền viện. Cô muốn nhắc nhở mọi người dẫu cho có đẹp đến thế nào đi chăng nữa thì cuối cùng thân xác này cũng chỉ là một bộ xương mà thôi. Hãy nhìn cho kĩ bộ xương đang ngồi đây. Tất cả chúng ta bị một sự lừa dối kinh khiếp đằng sau lớp da này. Một lớp da phủ lên thôi là tất cả chúng sanh trên thế giới đều bị lừa dối. Lột lớp da này ra là mình bỏ chạy, kinh hoàng hết. Người mình ôm ấp, yêu thương, phải chết vì người đó, khi lột lớp da người đó ra, hoặc mới tắt thở thôi là sợ, không dám lại gần, chôn lẹ đi. Đó là một sự thật phũ phàng. Nhìn sâu sắc đi mới sinh ra trí huệ. Còn nếu tu lơ mơ, chơi chơi, nghe thầy khen, vỗ tay, thì tu đó chỉ là gieo duyên. Mình phải biết sự thật tận cùng về bản chất của thân này thì mới đánh tan được chấp ngã, mê lầm đã ăn sâu vào xương tủy. Thật là một sự mê lầm lớn lao, một sự lừa dối kinh khiếp. Tất cả chúng ta đây đều không biết là mình đang bị hại. Trong kinh Pháp Cú có viết:
Và người ấy không biết
Chúng ta đây bị hại,
Chỗ ấy, ai hiểu được,
Tranh luận được lắng yên.
(Kinh Pháp Cú – Phẩm Song yếu)
Mình đang bị hại. Mình bị sân hận, tham ái, tham dục của mình hại. Mình tham tới già, bạc đầu rồi vẫn chưa hết tham. Mình bị si mê, không hiểu biết, không thành tựu trí huệ hại, bị tứ đại, bị cảm giác hại. Tối ngày mình đi tìm cảm giác. Có cảm giác khó chịu là sân hận, có cảm giác thích thú là đam mê. Cho nên, mới có đua xe, ma túy, xì ke, cỏ mỹ... chỉ là một chút cảm giác thôi là chết và làm cho bao nhiêu người phải khổ đau. Cái tưởng, những suy nghĩ nó hại mình. Suy nghĩ sai, không đúng Chánh Pháp mà mình cứ nuôi dưỡng những suy nghĩ đó. Cho nên, thế nào là Chánh tư duy trong Bát Chánh Đạo? Li dục tư duy, li sân tư duy, li hại tư duy đó là Chánh tư duy. Không suy nghĩ về dục, về sân, về hại. Tức quá rồi nghĩ làm sao hại người ta, gọi là “hạnh tai lạc họa”, người khác, người mình ghét gặp tai họa trong lòng mình thích thú. Đó là tà tư duy. Vì vậy, tâm mình khủng khiếp lắm nên đừng lo những cái ở ngoài mà phải lo cái tâm. Tâm mình mới đáng lo, ở ngoài không nhằm nhò gì cả.
Mới đây, có người tỉ phú 5 tỉ USD vừa rồi sang Thái Lan xem đá banh rồi rớt trực thăng mà chết. Thực sự, không ngày nào mà Minh Thành không quán về cái chết. Mỗi lần lên xe không bao giờ Minh Thành nghĩ 100% làvề tới trên núi. Mỗi ngày đều là ngày di chúc. Thời khóa của Linh Quy Pháp Ấn là tu và học một ngày mười hai tiếng và trong đó có một chương trình rất đặc biệt là quán chiến hiện thực. Ở đó Minh Thành cho chiếu sóng thần, động đất ở Indonesia, điện giật mùa nước nổi ở miền Tây. Đang đi mà nước sâu, chú này sinh viên đại học, vịn vào cột điện, bị giật nên chết, chú kia thấy vậy chạy lại nắm nên cũng giật chết, bà kia chạy lại nắm giật nên cũng chết chùm bốn, năm người. Mình nhìn lại thấy cái chết của mình mong manh vô cùng. Bây giờ già, bệnh, chết không lo, ở đó lo tham, sân, si. Đau khổ, đáng thương chưa? Đức Phật nói nếu mình chết mà ác pháp trong người mình chưa hết, bất thiện pháp vẫn còn thì cái chết đó là không tốt lành. Nó sẽ đưa mình vào chỗ tăm tối, xấu ác. Cho nên, người thông minh, khôn ngoan là người luôn quay trở lại mình, nhìn cho kĩ trong trong cảm giác, thấy tham, sân, si để nhiếp phục, chuyển hóa, tu tập, đó là bên trong. Còn bên ngoài làm các hạnh lành, nói lời lành, làm việc lành, suy nghĩ những điều lành. Đó là phước huệ song tu.
Hôm nay Minh Thành mới nói với quý vị trí huệ đó, lúc trước quý vị nghe phớt phớt, chút chút thôi. Hôm nay mới thật sự là trí huệ của bậc Chánh Đẳng Giác trong tạng kinh Nikāya. Để nhiếp phục quý vị phải nhớ những bộ xương, những con giòi ăn trên mặt mình, nhớ đống thịt bầy nhầy, nhớ hũ tro cốt. Khi tham, sân, si nổi lên thì những hình ảnh đó hiện lên trước mặt mình liền. Quán sâu sắc điều đó thì chúng ta sẽ được an lạc và lợi ích lâu dài. Chúc cho quý vị có một ngày tu thật thanh tịnh.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo.
./.