Tương Ưng Thọ - Quán Chiếu Thâm Sâu Về Cảm Thọ 4
Kinh Nikāya Giảng Giải - Tương Ưng Thọ
QUÁN CHIẾU THÂM SÂU VỀ CẢM THỌ 4
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bất khổ bất lạc thọ - vô minh tùy miên PAGEREF _Toc112851014 \h 1
II. Khuyến tấn nhận diện cảm thọ PAGEREF _Toc112851015 \h 7
I. Bất khổ bất lạc thọ - vô minh tùy miên
Nhãn thức là do duyên sanh, chỉ cần ra khỏi tầm nhìn là không thấy được nên sự thấy của con là do các thầy, các chú quyết định, nếu cho thấy bốn người thì chỉ thấy bốn người, do hôm nay con cầu xin được thấy đông đủ đại chúng thì chú Trí Hòa cho con mở rộng tầm nhìn. Nhãn thức, con mắt và các sắc, ba pháp này do duyên sanh, chỉ cần thiếu một duyên thì cái thấy rất nhỏ, đủ duyên thì cái thấy được mở rộng, chỉ cần mạng Internet có vấn đề thì không nhìn thấy nhau, nói không nghe được.
Như vậy cái thấy, cái nghe, cảm xúc toàn là duyên sanh Pháp, toàn là Pháp kết hợp, lắp ráp, cấu tạo, hữu vi, vô thường, tan hoại, không có Pháp nào có thật. Chúng ta học Pháp phải nhìn thấy trong mọi hoàn cảnh, con muốn đại chúng thấy được duyên sanh Pháp, cái nghe của mình lệ thuộc, cái thấy bị lệ thuộc, cảm xúc có điều kiện cho nên đừng tin vào thấy, nghe và cảm xúc. Phải biết rằng ba Pháp này là duyên sanh, là vô thường, là trống rỗng, từ cái thấy, nghe, cảm xúc này mới sanh ra cái thọ, từ cảm thọ đó mới có thích và không thích, tham và sân, muốn và không muốn.
Đừng tin vào những gì mình đang nghe, đừng an trú vào những gì mình đang nghe, đừng xác quyết những gì mình đang nghe. Có năm pháp xuất ly giới: Xuất ly dục, xuất ly sân, xuất ly hại, xuất ly khỏi sắc và xuất ly thân kiến nhưng trong đó Đức Phật dạy khi tác ý đến sự viễn ly, tâm liền phấn chấn trong sự viễn ly, tâm được tịnh tính, có niềm tin xác quyết trong sáng đối với Pháp mà mình đang muốn thoát ra, mình được an trú trong Pháp đó. Ngược lại đối với những cảm giác của dục khi sanh khởi lên mình không phấn chấn, không đặt niềm tin, không an trú trong đó.
Con muốn nhắc lại đừng tin tưởng vào cái thấy, cái nghe, cảm xúc, đừng để tâm vào đó, không an trú, không đặt niềm tin, không xác quyết vào cái thấy, nghe, cảm xúc đó mà hãy đặt niềm tin vào Pháp, vào trí, minh, quang, chân lý nơi Đức Phật. Hãy đặt niềm tin vào tính chất vô thường, tính chất khổ đau, vô ngã, trống rỗng của các Pháp, hãy an trú, tịnh tính, quyết định nơi đó. Đại chúng đã tin vào vô thường, khổ đau chưa? Mọi người đã xác quyết tính vô ngã của căn – trần – thức, của các thọ; tưởng; hành chưa?
Hãy tịnh tính nơi trí tuệ đó, hãy an trú nơi trí tuệ đó, hãy quyết định nơi trí tuệ đó. Thường xuyên tác ý nơi trí tuệ đó và tâm phấn chấn trong trí tuệ đó. Chúng ta có thực tập quán chiếu cảm thọ trong sinh hoạt thường ngày không? Trong khi ăn uống, nói chuyện, làm việc, đi đứng, đại tiểu tiện, thức, nói, im lặng thì có chánh niệm tỉnh giác, có nhìn thấy các cảm thọ không? Có thấy tham tùy miên trong cảm thọ vui thích không? Có thấy cái sân miên man trong khổ thọ, trong những cảm giác khó chịu không? Không những phải thấy mà cần thấy rõ, hiểu biết sâu sắc về những thứ làm cho mình sầu, bi, khổ, ưu, não, tập nhìn thấy, tập nhận thức Khổ - Tập, sự tập hợp và sanh khởi của khổ đau. Hôm nay chúng ta đi đến bất khổ bất lạc thọ.
“Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, bất khổ bất lạc thọ khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: "Bất khổ bất lạc thọ này khởi lên nơi ta. Bất khổ bất lạc thọ ấy có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên chính thân này. Nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên thân khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, thời bất khổ bất lạc thọ được khởi lên làm sao sẽ thường trú được?" Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong. Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và bất khổ bất lạc thọ của vị ấy, nên vô minh tùy miên đối với thân và bất khổ bất lạc thọ được đoạn diệt.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Trong khi vị ấy sống chánh niệm tỉnh giác, nhiệt tâm tinh cần mà có cảm giác không khổ không vui sanh khởi lên, cảm giác không dễ chịu không khó chịu sanh khởi lên thì vị ấy biết bằng trí tuệ như sau: Cảm giác không dễ chịu không khó chịu này, cảm giác đều đều này khởi lên do có nhân duyên, do có điều kiện, không phải là không có nhân duyên, không có điều kiện, phải có lý do, những sự tương tác, kết hợp thì mới khởi lên cảm giác không dễ chịu không khó chịu này.
Do duyên có thân này là cơ sở của sáu xúc, bên ngoài là sắc; thanh; hương; vị; ý cộng với những cảm giác, nghĩ tưởng Pháp trần bên trong sanh khởi lên sáu thức, mười tám giới kết hợp với nhau tạo thành sáu xúc: Nhãn xúc; nhĩ xúc; tỉ xúc; thân xúc; thiệt xúc; ý xúc. Nói thì đơn giản nhưng không nhận diện sẽ không biết xúc sanh khởi như thế nào, thọ sanh khởi và vận hành ra sao. Tập nhận diện trong lúc ngồi thiền, thậm chí ra cả giờ thiền cũng tập nhận diện xúc, thọ vì nó rất vi tế, nhỏ nhiệm, siêu tốc. Cho nên một cái tâm không nhu nhuyến, định tĩnh, sắc bén sẽ không bắt kịp tốc độ của căn – trần – thức – xúc – ái – thủ hữu. Đức Phật ví dụ tốc độ của nó nhanh hơn rất nhiều một người nhảy lên chụp đồng thời bốn mũi tên được bắn ra bốn hướng.
“Ví như, này các Tỳ-kheo, bốn người bắn cung dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật, đứng tại bốn phương.
Rồi một người đến và nói rằng: "Ta sẽ nắm bắt và đem lại những mũi tên được bắn đi bốn phương, trước khi chúng rơi xuống đất, do bốn người bắn cung này bắn đi, những người dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật".
Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Như vậy có vừa đủ chăng để gọi người nhanh nhẹn ấy đầy đủ với sự nhanh nhẹn tối thượng?
Bạch Thế Tôn, nếu chỉ từ một người bắn cung dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật, có thể nắm bắt và đem lại một mũi tên được bắn đi, như vậy là vừa đủ để gọi người nhanh nhẹn ấy, đầy đủ với sự nhanh nhẹn tối thượng. Còn nói gì từ bốn người bắn tên, dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật!
Và như vậy, này các Tỳ-kheo, là sự nhanh nhẹn của người ấy. Và như vậy là sự nhanh nhẹn của mặt trăng, mặt trời, còn nhanh hơn sự nhanh nhẹn trước. Và như vậy, này các Tỳ-kheo là sự nhanh nhẹn của người ấy, và như vậy là sự nhanh nhẹn của mặt trăng, mặt trời, và như vậy là sự nhanh nhẹn của các chư Thiên chạy trước mặt trăng, mặt trời. Còn nhanh nhẹn hơn là sự biến diệt của thọ hành (thọ mạng của các sự vật).
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: "Chúng tôi sẽ sống không phóng dật".
Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương XI. Tương Ưng Thí Dụ, VI. Người Bắn Cung)
Cho nên nếu một cái tâm không có định tĩnh, không để ý dò xét, quán sát thì các Pháp sanh lên mình hoàn toàn mù lòa. Rất khó khăn trong cảm thọ không khổ không vui này vì cảm thọ sân mình thấy được, người ta có thể thấy được, cảm thọ dục tham mình thấy được, người ta thấy được nhưng cảm thọ si, vô minh tùy miên này là mình không thấy và người ta cũng không thấy, tất cả mọi người đều có cảm thọ bình thường và cái bình thường này cực kì nguy hiểm, chúng ta chết trong cảm giác bình thường này.
Ví dụ người này đi lạc vào chỗ mà nơi đó có cài mìn, lựu đạn, nơi đó được đặt bẫy kín, có những tên giặc ẩn núp trong tảng đá, lùm cây và người này không hay biết gì, vẫn cười nói, giỡn chơi trong khi xung quanh là địch, hiểm họa tiềm ẩn, chỗ nào cũng có thể mắc bẫy, sụp hố, gặp những tên giặc bắn tỉa. Chúng ta giống như người đó trong cảm giác bất khổ bất lạc thọ này. Có phải hằng ngày chúng ta ở trong cảm giác không khổ không vui này rất nhiều không? Chính cảm giác không khổ không vui này giết mình vì nó làm cho mình không phấn đấu, không nỗ lực, không sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, kẻ sát nhân là cảm giác bất khổ bất lạc này. Cực kì tai họa là cảm giác đều đều này! Chúng ta không thể tinh tấn, nỗ lực được, không nhiệt tâm, tinh cần bởi vì cảm giác này.
Mùa mưa ta ở đây
Đông, hạ cũng ở đây,
Người ngu tâm tưởng vậy,
Không tự giác hiểm nguy.
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 286)
Đó là nói cho cảm giác không khổ không vui, mình nghĩ rằng mình sẽ như vầy hoài, ngày mai, tháng sau cũng vậy thì Người ngu tâm tưởng vậy, Không tự giác hiểm nguy. Chính suy nghĩ này làm cho mình không thể tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Chính suy nghĩ này không đưa đến xuất ly, nhàm chán, đoạn diệt, từ bỏ. Chính suy nghĩ này không thấy vô thường, không thấy tiêu vong, ly tham. Suy nghĩ này đưa đến dục ái, sắc ái và vô sắc ái, nó đưa đến hữu ái, là sự ưa thích hiện hữu. Tại sao lại có ra cảm giác không khổ không vui?
Do duyên chính thân này nhưng thân này là vô thường, là do duyên sanh, cảm thọ này là do duyên thân khởi lên trong khi thân này vô thường, hữu vi, duyên sanh thì cảm thọ không khổ không vui này làm sao thường trú, làm sao còn hoài được? Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và bất khổ bất lạc thọ, vị ấy luôn an trú cái tâm mình quán sự vô thường với thân này, với cảm giác không khổ không vui này, cảm giác này không như vậy hoài mà nó biến đổi, bất ổn, bất thường.
Chính vì cảm giác không khổ không vui này mà mình bị trói buộc, không có tâm thoát ly, xả ly. Vị ấy quán cảm giác này sẽ đưa đến đoạn diệt, tan rã, hoại diệt nên từ bỏ, không an trú, làm tổ trong đó. Vị ấy trú, quán tiêu vong, tiêu tan và tử vong đối với thân xác này, đối với cảm giác không khổ không vui này. Vị ấy trú, quán ly tham, rời cái tham đối với thân này, rời cảm giác ham thích đối với cảm xúc không dễ chịu, không khó chịu này. Vị ấy trú, quán đoạn diệt, nó sẽ chấm dứt.
Do vị ấy an trú như vậy, quán từ bỏ đối với thân, đối với bất khổ bất lạc thọ này nên vô minh tùy miên đối với thân và bất khổ bất lạc thọ được đoạn diệt. Con rất sợ cảm giác không khổ không vui này, con không cho phép mình ở trong đó mà con luôn đặt tâm mình vào chỗ hiểm nguy, mình đang gặp nguy hiểm nên phải lo lắng, sợ hãi, tìm mọi cách thoát ra.
Lúc đó mẹ của Hòa Thượng còn sống ở chùa Bửu Liên, bà hỏi con đi chừng nào về thì con nói có thể con không về, bà rầy con bảo là nói như vậy là không nên, sau đó con mới giải thích do đời sống này vô thường lắm, chưa chắc bước ra đường có thể trở về an toàn. Khi con lên lớp Tăng Ni sinh, mỗi lần hết giờ con đều thưa "không biết mình còn gặp lại nhau lần sau hay không vì đang trong mùa dịch", thế là Tăng Ni sinh cười "Thầy nói chuyện xa vời quá" nhưng lần sau dịch bùng lên mà mấy lần như vậy, mỗi lần con lên máy bay đều dặn dò trước hết, con không thấy thật sự có cảm giác an toàn trong đời sống này, chưa bao giờ con thấy an toàn cho nên hôm nay ngồi nói chuyện với các thầy, các cô, các chú thì con đều đem hết tấm lòng chia sẻ, có thể sau buổi nói chuyện này có thể là đời khác của con, con luôn suy nghĩ như vậy, con không cho phép mình nghĩ rằng có hôm sau, tuần sau, tháng sau, năm sau, con mong muốn nỗ lực trong đời này là kiếp cuối cùng, không còn trở lui lại trạng thái tham sân si, vô minh, bản ngã, sầu, bi, khổ, ưu, não này nữa. Đừng nuôi dưỡng những ý hành cho rằng có được sự an ổn, Đức Phật đã nói các hành là vô thường, khi học thì mình đọc như vậy nhưng mình không áp dụng trong thực tế đời sống, không có một hành nào trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là vững chắc, là kiên cố, vô thường.
Vô thường như vậy là các hành.
Bất an ổn như vậy là các hành.
Tan hoại, hủy hoại, biến hoại, hoại diệt, tiêu vong như vậy là bản chất của các hành.
Thường niệm và đừng bao giờ quên, như vậy cho nên vô minh tùy miên đối với thân và bất khổ bất lạc thọ được đoạn diệt, nghĩa là vô minh đi theo miên man trong tâm để nhìn sai lầm về thân được phá trừ, cái vô minh miên man trong tâm để nhìn sai lầm về bất khổ bất lạc thọ bị chấm dứt, tức là cái vô minh đó được chấm dứt chứ không phải bất khổ bất lạc được đoạn diệt.
II. Khuyến tấn nhận diện cảm thọ
Không phải bất khổ bất lạc thọ được đoạn diệt mà là vô minh miên man của mình đối với cảm giác đó được chấm dứt, cái nhìn sai lầm với ba cảm giác này được đoạn diệt. Trạng thái của bất khổ bất lạc ăn cực sâu trong xương tủy chúng ta, trạng thái không tinh tấn cũng không giải đãi, không phấn khởi cũng không trì trệ là có vô minh tùy miên. Lúc nào không thấy vô thường, lúc nào không thấy khổ đau, lúc nào không thấy thân tâm này là phiền não, không thấy vô ngã, trống rỗng là lúc đó bị vô minh tùy miên. Lúc nào không thấy ngũ uẩn, không nhìn thấy sự nguy hiểm, vô thường, tiêu vong, đoạn diệt của các hành thì lúc đó bị vô minh tùy miên. Một ngày mình thấy được vô thường, tiêu vong, ly tham, hướng đến từ bỏ được bao nhiêu lần? Những lúc nào không thấy được điều này thì lúc đó là vô minh tùy miên, sau đây Đức Phật dạy cách để công phu:
“Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, vị ấy tuệ tri: "Thọ ấy là vô thường". Vị ấy tuệ tri: "Ta không chấp trước thọ ấy". Vị ấy tuệ tri: "Ta không hoan hỉ thọ ấy". Nếu vị ấy cảm thọ khổ thọ... Nếu vị ấy cảm thọ bất khổ bất lạc thọ, vị ấy tuệ tri: "Thọ ấy là vô thường". Vị ấy tuệ tri: "Ta không chấp trước thọ ấy". Vị ấy tuệ tri: "Ta không hoan hỉ thọ ấy".”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Khi có cảm giác vui, vị ấy biết bằng trí tuệ cảm giác này là vô thường, vị ấy biết bằng trí tuệ "Ta không chấp trước thọ ấy", vị ấy biết bằng trí tuệ "Ta không hoan hỉ thọ ấy", nó là vô thường nên không dính mắc, chấp trước, không hoan hỉ, ưa thích đối với cảm thọ vui đó. Khi có người khen ngợi, tán thán, khi gặp cảnh đẹp, những điều vừa lòng, hấp dẫn thì nhớ rằng những cảm thọ này, những cảm giác này là vô thường, không dính mắc, ưa thích cảm giác này. Đức Phật dạy khi có được cảm giác vui sướng, khoan khoái, vừa ý thì lúc đó phải quán cảm giác này vô thường, không hoan hỉ đối với cảm giác này.
Nếu có cảm giác khổ sanh khởi cũng giống vậy "cảm giác khổ này vô thường, đừng dính mắc vào nó, không chấp trước vào nó". Tại sao lại hoan hỉ cảm giác khổ? Tại sao khổ thọ lại phải quán ta không hoan hỉ với cảm thọ ấy? Tại sao Đức Phật lại dạy mình phải quán bằng trí tuệ không hoan hỉ cảm giác này? Mình có ưa thích cảm thọ khổ đó không? Tại sao? Chỗ này rất sâu sắc, mình nghĩ rằng mình không thích cảm giác bực bội nhưng mình rất thích nó, nếu không ưa khổ thọ thì nó không thể ở trong thân tâm mình được. Tại sao có người giận 3 ngày, cả tuần, một năm, thậm chí sống để dạ chết mang theo?
Nghĩa là họ hoan hỉ với thọ ấy dù cho đó là khổ thọ, đó là sự vô minh và tham ái của chúng sanh, đó là đang chất lửa than vào nội tâm để gặm nhấm, hao mòn theo năm tháng để rồi thân tàn ma dại, sầu bi được nuôi lớn để tiếp tế cho khổ, để lửa than của sân hận được âm ỉ, nhìn bên ngoài nghĩ không có giận nhưng phía dưới lớp tro tàn vẫn còn hơi ấm, sâu vào trong vẫn còn lửa than.
Cho nên tuy rằng là khổ thọ nhưng vẫn có sự hoan hỉ, thích thú, ôm ấp, tăng trưởng. Chúng ta có thấy đau khổ, tội nghiệp cho chính chúng ta không? Mỗi lần chú Sĩ nhớ lại vợ con thì lúc đó khổ hay vui? Là khổ nhưng chú lại hoan hỉ, ái, thích để tiếp tục nghĩ cho nên câu kinh quan trọng ở đây là "tuệ tri", phải biết bằng trí tuệ mới được, đó là sự biết của chánh kiến vì thế những gì chúng ta đang học, đang nghe, đang tu tập để thực tập chánh tri kiến, để tuệ tri, biết bằng trí tuệ.
Nếu không biết bằng trí tuệ thì dù có niệm, có tụng đọc thì ái vẫn là ái, vẫn hoan hỉ với lạc thọ, khổ thọ. Mỗi lần nhớ về kỉ niệm cũ là đau khổ, tan nát, tiếc nuối, xót xa, hối hận nhưng bỏ không được, khổ chưa? Nó day dứt, gặm nhấm, hành hạ mình, những hình bóng, cảm xúc, suy tưởng về đau khổ và vui sướng đó, của những nụ cười và những giọt nước mắt đó là Pháp tưởng, Pháp tư, có lúc mình muốn từ bỏ nhưng có lúc lại tiếc, sau đó mình lại cho nó chỗ ở trong căn nhà nội tâm. Lúc đầu người đó chỉ là khách qua đường, sau đó xin vào uống nước, ăn cơm, nói chuyện, tối lại muốn ngủ lại, tiếp theo lại muốn ở lại vài ngày, rồi lại lâu dài nhưng nó là kẻ trộm, nó lấy hết đồ trong nhà.
Cảm thọ này cũng giống như vậy, đầu tiên là mình chấp nhận nó để nó có chỗ đứng trong thân tâm, sau đó nó mới tác oai tác quái, tiếp theo nó xâm chiếm, lật đổ mình, những Pháp tưởng, Pháp tư, những sắc tưởng của quá khứ, những suy nghĩ, hình bóng của quá khứ cứ chập chờn ẩn hiện, thỏ thẻ thủ thỉ lôi kéo mình. Nếu không có sức thì nó quật ngã làm mình trở thành kẻ chiến bại, hèn hạ thấp kém. Đức Phật dạy cả ba cảm thọ đều quán vô thường, không chấp trước cảm thọ ấy vì:
“Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, vị ấy cảm giác thọ ấy như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác thọ ấy như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác thọ ấy như người không bị trói buộc.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Đức Phật đang dạy mình thực tập khi các thọ sanh khởi, an trú và chấm dứt, bất cứ cảm thọ khổ hay vui, không khổ không vui đều thấy nó là vô thường, không hoan hỉ, ưa thích, đều quán thâm sâu để viễn ly, nhàm chán, ly tham, chấm dứt và hướng đến sự từ bỏ các cảm thọ này. Mỗi lần con nghe và quán Tương Ưng Thọ đều thấy thấm thía thâm sâu, thực tập liên tục cho đến ngày chết vì vô minh tùy miên trong bất khổ bất lạc thọ này rất sâu sắc, cái sân miên man trong cảm giác khó chịu rất sâu sắc, cái tham miên man trong cảm thọ dễ chịu, thích thú rất sâu sắc, cái tổ hợp của các cảm thọ và tổ hợp của tham sân si, vô minh phải được nhìn thấy.
Bậc Đa văn Thánh đệ tử phải biết bằng trí tuệ cảm thọ cảm giác thọ ấy như người không bị trói buộc, ngược lại kẻ vô văn phàm phu không biết tu thì cảm thọ nào cũng bị trói buộc, cảm thọ vui là người đó cảm thọ như người bị trói buộc tham, dục, ái, cảm thọ khổ là sân, bực, tức, cau có, gắt gỏng, cảm thọ không khổ không vui cũng giống như bị trói buộc, vô minh miên man là có cảm giác bình an, đều đều, bậc Đa văn Thánh đệ tử là không bị trói buộc trong ba loại cảm thọ ấy. Do công phu quán chiếu thường xuyên liên tục hết ngày này qua ngày khác, hết tháng này qua tháng khác, hết năm nay qua năm khác cho đến lúc tận cùng của cuộc đời thì đây là kết quả:
“Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận sức chịu đựng của thân, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân". Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận chịu đựng của sinh mạng, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng". Vị ấy tuệ tri rằng: "Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây, một cảm thọ cảm giác không có gì đáng hoan hỉ, sẽ đi đến lắng dịu".”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Do sự tu tập các cảm thọ thường xuyên cho nên khi có chuyện bất trắc xảy ra hoặc gặp tai nạn giao thông thì vị ấy biết bằng trí tuệ "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân", đây là phần rất quan trọng mà con muốn gửi đến thầy Pháp An cũng như những vị lớn tuổi và những vị mang bệnh nan y cần chú ý và thọ nhận Pháp này. Bây giờ vị ấy biết bằng trí tuệ "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng", nghĩa là chuẩn bị kết thúc mạng sống.
Chúng ta cần phân biệt hai câu nói, một là khi xảy ra chuyện bất thình lình bất trắc, bất ngờ mà mình phải chịu đau đớn kinh khủng nhưng do có sự quán chiếu tu tập thường xuyên nên vị đó biết bằng trí tuệ "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân".
Thứ hai là khi sắp ra đi, lâm chung thì vị ấy biết bằng trí tuệ "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng", cảm thọ không xâm chiếm, áp đảo được người này nữa, khi thọ sanh khởi ra sao thì biết nó là thọ vậy thôi, vị ấy biết bằng trí tuệ "Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây, một cảm thọ cảm giác không có gì đáng hoan hỉ, sẽ đi đến lắng dịu". Vị ấy biết bằng trí tuệ sau khi ta chết ở đây mọi cảm giác sẽ không có gì đáng để hoan hỉ vì vị này đã tu hành lâu ngày trở nên thuần thục trong sự nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, tu tập quán vô thường cho nên khi sắp ra đi thì mọi cảm giác đều không đáng hoan hỉ mà sẽ đi đến lắng dịu, lúc đó vị này xả bỏ cảm thọ, không tiếc nuối và ái luyến vào thân này nữa, thọ; tưởng; hành đều lắng dịu cho nên chữ "lắng dịu" trong kinh Nikāya là Niết-bàn.
“Ví như, này các Tỳ-kheo, do duyên dầu và do duyên tim bấc, một ngọn đèn dầu được cháy đỏ. Khi dầu và tim bấc khô cạn, cháy hết, không được tiếp nhiên liệu thêm, ngọn đèn ấy bị tắt. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, khi Tỳ-kheo cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân". Khi vị ấy đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng". Vị ấy tuệ tri rằng: "Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây, mọi cảm thọ không có gì đáng hoan hỉ, sẽ đi đến lắng dịu".”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Có những vị Tỳ-kheo khi thân hoại mạng chung có Thế Tôn bên cạnh, Thế Tôn hỏi các vị Tỳ-kheo khác có thấy đám khói đen bay qua phương Đông, phương Tây, Phương Nam, phương Bắc, bay từ trên xuống dưới không thì các vị Tỳ-kheo nói có, Thế Tôn mới nói đó là ác ma đi tìm thức của vị Tỳ-kheo đó. Nhưng đi tìm hoài ác ma cũng không thấy vì vị Tỳ-kheo đó là A-la-hán đã lậu tận, lắng dịu hoàn toàn tịch tịnh cho nên thức tái sanh của vị ấy không thấy được nữa, vị ấy đã hoàn toàn xuất ly và thoát khỏi ngũ uẩn.
“Rồi Thế Tôn cùng với một số đông Tỳ-kheo đi đến sườn núi Isigili, Kàlasilà, và Thế Tôn thấy từ đằng xa, Tôn giả Godhika đang nằm trên giường, với hai vai mở rộng (bị thương hay co quắp lại).
Lúc bấy giờ một làn khói đen tối đi về phía Ðông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía Trên, đi về phía Dưới.
Rồi Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:
-- Này các Tỳ-kheo, các Ông có thấy làn khói đen tối ấy đi về phía Ðông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía Trên, đi về phía Dưới không?
-- Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy như vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, đó là Ác ma đang đi theo dõi thức của thiện nam tử Godhika: "Thức của thiện nam tử Godhika được an trú ở đâu?". Và này các Tỳ-kheo, thiện nam tử Godhika đã nhập diệt, với thức không an trú ở đâu cả.
Rồi Ác ma tay cầm đờn thất huyền cầm màu vàng, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên bài kệ:
Trên, dưới và bề ngang,
Bốn phương, các phương giữa,
Ta tìm, nhưng không gặp,
Godhika đi đâu.
(Thế Tôn):
Vị Anh hùng kiên chí,
Thường Thiền lạc, Thiền tư,
Ngày đêm đầy nhiệt tình,
Nhưng sự sống, không tham,
Chiến thắng quân thần chết,
Tái sanh không đi đến,
Chinh phục ái, ái căn,
Godhika nhập diệt.
Còn kẻ bị sầu muộn,
Từ nách rơi huyền cầm,
Dạ-xoa bị thất vọng,
Liền biến mất tại chỗ.”
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương IV. Tương Ưng Ác Ma, III. Phẩm Thứ Ba (Thêm năm kinh), III. Godhika)
“Cần phải làm, nên làm
Làm cùng tận khả năng
Xuất gia sống phóng đãng,
Chỉ tăng loạn bụi đời.”
(Kinh Pháp Cú 22 – Phẩm Địa Ngục, kệ 313)
Hãy dồn hết tất cả tâm trí của mình vào sự hành trì, quán chiếu thân xác và các cảm giác trong bất cứ thời gian, địa điểm nào. Nắm chắt, giữ chặt, thọ trì tuệ quán này, Thánh trí tuệ này, hãy làm liều một phen sẽ đem lại lợi lạc lớn, lợi ích lớn, hạnh phúc dài lâu trong hiện tại và tương lai. Đừng để sau này phải ăn năn hối hận khi một suy nghĩ sai lầm dẫn dắt chúng ta, phải bám chặt vào Pháp, giữ chặt Thánh trí huệ này, nhiệt tình và nhiệt tâm làm, tha thiết trong sự tu học Thánh Pháp này.
Những vị tuổi còn trẻ hãy dùng hết tất cả sự sung mãn của thân tâm, sự minh mẫn, ý chí, nghị lực, sự hùng tráng để triển khai Pháp học và Pháp hành để đi đến thành tựu. Không uổng đâu, không phí thời gian đâu, không mất tuổi thanh xuân đâu. Hãy tận dụng tuổi thanh xuân này để làm nên vẻ vang trong Thánh Pháp, Thánh trí huệ này. Đừng chết trong cảm giác không khổ không vui, đừng để bị giết hại trong cảm giác đều đều đó, phải quán chiếu rằng hiểm họa đang tiềm ẩn khắp mọi chỗ mọi nơi.
Chúng ta cũng đừng nghĩ rằng đây chỉ là sự quán chiếu mà nó có thật, chỗ mình ở cũng có khả năng sót lại bom mìn thời chiến tranh, vẫn có khả năng bất thình lình đạp trúng mìn là tan vỡ tất cả. Đây không phải là sự quán chiếu, quán tưởng viễn vong, hãy hăng hái mạnh mẽ, hùng dũng lên. Chúng ta phải nhớ rằng Đức Phật dạy quán chiếu với ba loại trí tuệ để không bị dính mắc, chấp trước, ràng buộc trong đó, chúng ta nhìn nhận bằng trí tuệ để không bị ba cảm thọ đó ràng buộc, nhớ tác ý mạnh mẽ tinh tấn lực, dũng mãnh lực để thoát ra sự hài lòng với cảm thọ không khổ không vui.
./.
QUÁN CHIẾU THÂM SÂU VỀ CẢM THỌ 4
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bất khổ bất lạc thọ - vô minh tùy miên PAGEREF _Toc112851014 \h 1
II. Khuyến tấn nhận diện cảm thọ PAGEREF _Toc112851015 \h 7
I. Bất khổ bất lạc thọ - vô minh tùy miên
Nhãn thức là do duyên sanh, chỉ cần ra khỏi tầm nhìn là không thấy được nên sự thấy của con là do các thầy, các chú quyết định, nếu cho thấy bốn người thì chỉ thấy bốn người, do hôm nay con cầu xin được thấy đông đủ đại chúng thì chú Trí Hòa cho con mở rộng tầm nhìn. Nhãn thức, con mắt và các sắc, ba pháp này do duyên sanh, chỉ cần thiếu một duyên thì cái thấy rất nhỏ, đủ duyên thì cái thấy được mở rộng, chỉ cần mạng Internet có vấn đề thì không nhìn thấy nhau, nói không nghe được.
Như vậy cái thấy, cái nghe, cảm xúc toàn là duyên sanh Pháp, toàn là Pháp kết hợp, lắp ráp, cấu tạo, hữu vi, vô thường, tan hoại, không có Pháp nào có thật. Chúng ta học Pháp phải nhìn thấy trong mọi hoàn cảnh, con muốn đại chúng thấy được duyên sanh Pháp, cái nghe của mình lệ thuộc, cái thấy bị lệ thuộc, cảm xúc có điều kiện cho nên đừng tin vào thấy, nghe và cảm xúc. Phải biết rằng ba Pháp này là duyên sanh, là vô thường, là trống rỗng, từ cái thấy, nghe, cảm xúc này mới sanh ra cái thọ, từ cảm thọ đó mới có thích và không thích, tham và sân, muốn và không muốn.
Đừng tin vào những gì mình đang nghe, đừng an trú vào những gì mình đang nghe, đừng xác quyết những gì mình đang nghe. Có năm pháp xuất ly giới: Xuất ly dục, xuất ly sân, xuất ly hại, xuất ly khỏi sắc và xuất ly thân kiến nhưng trong đó Đức Phật dạy khi tác ý đến sự viễn ly, tâm liền phấn chấn trong sự viễn ly, tâm được tịnh tính, có niềm tin xác quyết trong sáng đối với Pháp mà mình đang muốn thoát ra, mình được an trú trong Pháp đó. Ngược lại đối với những cảm giác của dục khi sanh khởi lên mình không phấn chấn, không đặt niềm tin, không an trú trong đó.
Con muốn nhắc lại đừng tin tưởng vào cái thấy, cái nghe, cảm xúc, đừng để tâm vào đó, không an trú, không đặt niềm tin, không xác quyết vào cái thấy, nghe, cảm xúc đó mà hãy đặt niềm tin vào Pháp, vào trí, minh, quang, chân lý nơi Đức Phật. Hãy đặt niềm tin vào tính chất vô thường, tính chất khổ đau, vô ngã, trống rỗng của các Pháp, hãy an trú, tịnh tính, quyết định nơi đó. Đại chúng đã tin vào vô thường, khổ đau chưa? Mọi người đã xác quyết tính vô ngã của căn – trần – thức, của các thọ; tưởng; hành chưa?
Hãy tịnh tính nơi trí tuệ đó, hãy an trú nơi trí tuệ đó, hãy quyết định nơi trí tuệ đó. Thường xuyên tác ý nơi trí tuệ đó và tâm phấn chấn trong trí tuệ đó. Chúng ta có thực tập quán chiếu cảm thọ trong sinh hoạt thường ngày không? Trong khi ăn uống, nói chuyện, làm việc, đi đứng, đại tiểu tiện, thức, nói, im lặng thì có chánh niệm tỉnh giác, có nhìn thấy các cảm thọ không? Có thấy tham tùy miên trong cảm thọ vui thích không? Có thấy cái sân miên man trong khổ thọ, trong những cảm giác khó chịu không? Không những phải thấy mà cần thấy rõ, hiểu biết sâu sắc về những thứ làm cho mình sầu, bi, khổ, ưu, não, tập nhìn thấy, tập nhận thức Khổ - Tập, sự tập hợp và sanh khởi của khổ đau. Hôm nay chúng ta đi đến bất khổ bất lạc thọ.
“Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, bất khổ bất lạc thọ khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: "Bất khổ bất lạc thọ này khởi lên nơi ta. Bất khổ bất lạc thọ ấy có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên chính thân này. Nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên thân khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh, thời bất khổ bất lạc thọ được khởi lên làm sao sẽ thường trú được?" Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong. Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và bất khổ bất lạc thọ của vị ấy, nên vô minh tùy miên đối với thân và bất khổ bất lạc thọ được đoạn diệt.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Trong khi vị ấy sống chánh niệm tỉnh giác, nhiệt tâm tinh cần mà có cảm giác không khổ không vui sanh khởi lên, cảm giác không dễ chịu không khó chịu sanh khởi lên thì vị ấy biết bằng trí tuệ như sau: Cảm giác không dễ chịu không khó chịu này, cảm giác đều đều này khởi lên do có nhân duyên, do có điều kiện, không phải là không có nhân duyên, không có điều kiện, phải có lý do, những sự tương tác, kết hợp thì mới khởi lên cảm giác không dễ chịu không khó chịu này.
Do duyên có thân này là cơ sở của sáu xúc, bên ngoài là sắc; thanh; hương; vị; ý cộng với những cảm giác, nghĩ tưởng Pháp trần bên trong sanh khởi lên sáu thức, mười tám giới kết hợp với nhau tạo thành sáu xúc: Nhãn xúc; nhĩ xúc; tỉ xúc; thân xúc; thiệt xúc; ý xúc. Nói thì đơn giản nhưng không nhận diện sẽ không biết xúc sanh khởi như thế nào, thọ sanh khởi và vận hành ra sao. Tập nhận diện trong lúc ngồi thiền, thậm chí ra cả giờ thiền cũng tập nhận diện xúc, thọ vì nó rất vi tế, nhỏ nhiệm, siêu tốc. Cho nên một cái tâm không nhu nhuyến, định tĩnh, sắc bén sẽ không bắt kịp tốc độ của căn – trần – thức – xúc – ái – thủ hữu. Đức Phật ví dụ tốc độ của nó nhanh hơn rất nhiều một người nhảy lên chụp đồng thời bốn mũi tên được bắn ra bốn hướng.
“Ví như, này các Tỳ-kheo, bốn người bắn cung dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật, đứng tại bốn phương.
Rồi một người đến và nói rằng: "Ta sẽ nắm bắt và đem lại những mũi tên được bắn đi bốn phương, trước khi chúng rơi xuống đất, do bốn người bắn cung này bắn đi, những người dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật".
Này các Tỳ-kheo, các Ông nghĩ thế nào? Như vậy có vừa đủ chăng để gọi người nhanh nhẹn ấy đầy đủ với sự nhanh nhẹn tối thượng?
Bạch Thế Tôn, nếu chỉ từ một người bắn cung dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật, có thể nắm bắt và đem lại một mũi tên được bắn đi, như vậy là vừa đủ để gọi người nhanh nhẹn ấy, đầy đủ với sự nhanh nhẹn tối thượng. Còn nói gì từ bốn người bắn tên, dõng mãnh, lão luyện, thuần tay, thiện xảo về cung thuật!
Và như vậy, này các Tỳ-kheo, là sự nhanh nhẹn của người ấy. Và như vậy là sự nhanh nhẹn của mặt trăng, mặt trời, còn nhanh hơn sự nhanh nhẹn trước. Và như vậy, này các Tỳ-kheo là sự nhanh nhẹn của người ấy, và như vậy là sự nhanh nhẹn của mặt trăng, mặt trời, và như vậy là sự nhanh nhẹn của các chư Thiên chạy trước mặt trăng, mặt trời. Còn nhanh nhẹn hơn là sự biến diệt của thọ hành (thọ mạng của các sự vật).
Do vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập như sau: "Chúng tôi sẽ sống không phóng dật".
Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải học tập.”
(Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương XI. Tương Ưng Thí Dụ, VI. Người Bắn Cung)
Cho nên nếu một cái tâm không có định tĩnh, không để ý dò xét, quán sát thì các Pháp sanh lên mình hoàn toàn mù lòa. Rất khó khăn trong cảm thọ không khổ không vui này vì cảm thọ sân mình thấy được, người ta có thể thấy được, cảm thọ dục tham mình thấy được, người ta thấy được nhưng cảm thọ si, vô minh tùy miên này là mình không thấy và người ta cũng không thấy, tất cả mọi người đều có cảm thọ bình thường và cái bình thường này cực kì nguy hiểm, chúng ta chết trong cảm giác bình thường này.
Ví dụ người này đi lạc vào chỗ mà nơi đó có cài mìn, lựu đạn, nơi đó được đặt bẫy kín, có những tên giặc ẩn núp trong tảng đá, lùm cây và người này không hay biết gì, vẫn cười nói, giỡn chơi trong khi xung quanh là địch, hiểm họa tiềm ẩn, chỗ nào cũng có thể mắc bẫy, sụp hố, gặp những tên giặc bắn tỉa. Chúng ta giống như người đó trong cảm giác bất khổ bất lạc thọ này. Có phải hằng ngày chúng ta ở trong cảm giác không khổ không vui này rất nhiều không? Chính cảm giác không khổ không vui này giết mình vì nó làm cho mình không phấn đấu, không nỗ lực, không sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, kẻ sát nhân là cảm giác bất khổ bất lạc này. Cực kì tai họa là cảm giác đều đều này! Chúng ta không thể tinh tấn, nỗ lực được, không nhiệt tâm, tinh cần bởi vì cảm giác này.
Mùa mưa ta ở đây
Đông, hạ cũng ở đây,
Người ngu tâm tưởng vậy,
Không tự giác hiểm nguy.
(Kinh Pháp Cú 20 – Phẩm Đạo, kệ 286)
Đó là nói cho cảm giác không khổ không vui, mình nghĩ rằng mình sẽ như vầy hoài, ngày mai, tháng sau cũng vậy thì Người ngu tâm tưởng vậy, Không tự giác hiểm nguy. Chính suy nghĩ này làm cho mình không thể tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Chính suy nghĩ này không đưa đến xuất ly, nhàm chán, đoạn diệt, từ bỏ. Chính suy nghĩ này không thấy vô thường, không thấy tiêu vong, ly tham. Suy nghĩ này đưa đến dục ái, sắc ái và vô sắc ái, nó đưa đến hữu ái, là sự ưa thích hiện hữu. Tại sao lại có ra cảm giác không khổ không vui?
Do duyên chính thân này nhưng thân này là vô thường, là do duyên sanh, cảm thọ này là do duyên thân khởi lên trong khi thân này vô thường, hữu vi, duyên sanh thì cảm thọ không khổ không vui này làm sao thường trú, làm sao còn hoài được? Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và bất khổ bất lạc thọ, vị ấy luôn an trú cái tâm mình quán sự vô thường với thân này, với cảm giác không khổ không vui này, cảm giác này không như vậy hoài mà nó biến đổi, bất ổn, bất thường.
Chính vì cảm giác không khổ không vui này mà mình bị trói buộc, không có tâm thoát ly, xả ly. Vị ấy quán cảm giác này sẽ đưa đến đoạn diệt, tan rã, hoại diệt nên từ bỏ, không an trú, làm tổ trong đó. Vị ấy trú, quán tiêu vong, tiêu tan và tử vong đối với thân xác này, đối với cảm giác không khổ không vui này. Vị ấy trú, quán ly tham, rời cái tham đối với thân này, rời cảm giác ham thích đối với cảm xúc không dễ chịu, không khó chịu này. Vị ấy trú, quán đoạn diệt, nó sẽ chấm dứt.
Do vị ấy an trú như vậy, quán từ bỏ đối với thân, đối với bất khổ bất lạc thọ này nên vô minh tùy miên đối với thân và bất khổ bất lạc thọ được đoạn diệt. Con rất sợ cảm giác không khổ không vui này, con không cho phép mình ở trong đó mà con luôn đặt tâm mình vào chỗ hiểm nguy, mình đang gặp nguy hiểm nên phải lo lắng, sợ hãi, tìm mọi cách thoát ra.
Lúc đó mẹ của Hòa Thượng còn sống ở chùa Bửu Liên, bà hỏi con đi chừng nào về thì con nói có thể con không về, bà rầy con bảo là nói như vậy là không nên, sau đó con mới giải thích do đời sống này vô thường lắm, chưa chắc bước ra đường có thể trở về an toàn. Khi con lên lớp Tăng Ni sinh, mỗi lần hết giờ con đều thưa "không biết mình còn gặp lại nhau lần sau hay không vì đang trong mùa dịch", thế là Tăng Ni sinh cười "Thầy nói chuyện xa vời quá" nhưng lần sau dịch bùng lên mà mấy lần như vậy, mỗi lần con lên máy bay đều dặn dò trước hết, con không thấy thật sự có cảm giác an toàn trong đời sống này, chưa bao giờ con thấy an toàn cho nên hôm nay ngồi nói chuyện với các thầy, các cô, các chú thì con đều đem hết tấm lòng chia sẻ, có thể sau buổi nói chuyện này có thể là đời khác của con, con luôn suy nghĩ như vậy, con không cho phép mình nghĩ rằng có hôm sau, tuần sau, tháng sau, năm sau, con mong muốn nỗ lực trong đời này là kiếp cuối cùng, không còn trở lui lại trạng thái tham sân si, vô minh, bản ngã, sầu, bi, khổ, ưu, não này nữa. Đừng nuôi dưỡng những ý hành cho rằng có được sự an ổn, Đức Phật đã nói các hành là vô thường, khi học thì mình đọc như vậy nhưng mình không áp dụng trong thực tế đời sống, không có một hành nào trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là vững chắc, là kiên cố, vô thường.
Vô thường như vậy là các hành.
Bất an ổn như vậy là các hành.
Tan hoại, hủy hoại, biến hoại, hoại diệt, tiêu vong như vậy là bản chất của các hành.
Thường niệm và đừng bao giờ quên, như vậy cho nên vô minh tùy miên đối với thân và bất khổ bất lạc thọ được đoạn diệt, nghĩa là vô minh đi theo miên man trong tâm để nhìn sai lầm về thân được phá trừ, cái vô minh miên man trong tâm để nhìn sai lầm về bất khổ bất lạc thọ bị chấm dứt, tức là cái vô minh đó được chấm dứt chứ không phải bất khổ bất lạc được đoạn diệt.
II. Khuyến tấn nhận diện cảm thọ
Không phải bất khổ bất lạc thọ được đoạn diệt mà là vô minh miên man của mình đối với cảm giác đó được chấm dứt, cái nhìn sai lầm với ba cảm giác này được đoạn diệt. Trạng thái của bất khổ bất lạc ăn cực sâu trong xương tủy chúng ta, trạng thái không tinh tấn cũng không giải đãi, không phấn khởi cũng không trì trệ là có vô minh tùy miên. Lúc nào không thấy vô thường, lúc nào không thấy khổ đau, lúc nào không thấy thân tâm này là phiền não, không thấy vô ngã, trống rỗng là lúc đó bị vô minh tùy miên. Lúc nào không thấy ngũ uẩn, không nhìn thấy sự nguy hiểm, vô thường, tiêu vong, đoạn diệt của các hành thì lúc đó bị vô minh tùy miên. Một ngày mình thấy được vô thường, tiêu vong, ly tham, hướng đến từ bỏ được bao nhiêu lần? Những lúc nào không thấy được điều này thì lúc đó là vô minh tùy miên, sau đây Đức Phật dạy cách để công phu:
“Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, vị ấy tuệ tri: "Thọ ấy là vô thường". Vị ấy tuệ tri: "Ta không chấp trước thọ ấy". Vị ấy tuệ tri: "Ta không hoan hỉ thọ ấy". Nếu vị ấy cảm thọ khổ thọ... Nếu vị ấy cảm thọ bất khổ bất lạc thọ, vị ấy tuệ tri: "Thọ ấy là vô thường". Vị ấy tuệ tri: "Ta không chấp trước thọ ấy". Vị ấy tuệ tri: "Ta không hoan hỉ thọ ấy".”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Khi có cảm giác vui, vị ấy biết bằng trí tuệ cảm giác này là vô thường, vị ấy biết bằng trí tuệ "Ta không chấp trước thọ ấy", vị ấy biết bằng trí tuệ "Ta không hoan hỉ thọ ấy", nó là vô thường nên không dính mắc, chấp trước, không hoan hỉ, ưa thích đối với cảm thọ vui đó. Khi có người khen ngợi, tán thán, khi gặp cảnh đẹp, những điều vừa lòng, hấp dẫn thì nhớ rằng những cảm thọ này, những cảm giác này là vô thường, không dính mắc, ưa thích cảm giác này. Đức Phật dạy khi có được cảm giác vui sướng, khoan khoái, vừa ý thì lúc đó phải quán cảm giác này vô thường, không hoan hỉ đối với cảm giác này.
Nếu có cảm giác khổ sanh khởi cũng giống vậy "cảm giác khổ này vô thường, đừng dính mắc vào nó, không chấp trước vào nó". Tại sao lại hoan hỉ cảm giác khổ? Tại sao khổ thọ lại phải quán ta không hoan hỉ với cảm thọ ấy? Tại sao Đức Phật lại dạy mình phải quán bằng trí tuệ không hoan hỉ cảm giác này? Mình có ưa thích cảm thọ khổ đó không? Tại sao? Chỗ này rất sâu sắc, mình nghĩ rằng mình không thích cảm giác bực bội nhưng mình rất thích nó, nếu không ưa khổ thọ thì nó không thể ở trong thân tâm mình được. Tại sao có người giận 3 ngày, cả tuần, một năm, thậm chí sống để dạ chết mang theo?
Nghĩa là họ hoan hỉ với thọ ấy dù cho đó là khổ thọ, đó là sự vô minh và tham ái của chúng sanh, đó là đang chất lửa than vào nội tâm để gặm nhấm, hao mòn theo năm tháng để rồi thân tàn ma dại, sầu bi được nuôi lớn để tiếp tế cho khổ, để lửa than của sân hận được âm ỉ, nhìn bên ngoài nghĩ không có giận nhưng phía dưới lớp tro tàn vẫn còn hơi ấm, sâu vào trong vẫn còn lửa than.
Cho nên tuy rằng là khổ thọ nhưng vẫn có sự hoan hỉ, thích thú, ôm ấp, tăng trưởng. Chúng ta có thấy đau khổ, tội nghiệp cho chính chúng ta không? Mỗi lần chú Sĩ nhớ lại vợ con thì lúc đó khổ hay vui? Là khổ nhưng chú lại hoan hỉ, ái, thích để tiếp tục nghĩ cho nên câu kinh quan trọng ở đây là "tuệ tri", phải biết bằng trí tuệ mới được, đó là sự biết của chánh kiến vì thế những gì chúng ta đang học, đang nghe, đang tu tập để thực tập chánh tri kiến, để tuệ tri, biết bằng trí tuệ.
Nếu không biết bằng trí tuệ thì dù có niệm, có tụng đọc thì ái vẫn là ái, vẫn hoan hỉ với lạc thọ, khổ thọ. Mỗi lần nhớ về kỉ niệm cũ là đau khổ, tan nát, tiếc nuối, xót xa, hối hận nhưng bỏ không được, khổ chưa? Nó day dứt, gặm nhấm, hành hạ mình, những hình bóng, cảm xúc, suy tưởng về đau khổ và vui sướng đó, của những nụ cười và những giọt nước mắt đó là Pháp tưởng, Pháp tư, có lúc mình muốn từ bỏ nhưng có lúc lại tiếc, sau đó mình lại cho nó chỗ ở trong căn nhà nội tâm. Lúc đầu người đó chỉ là khách qua đường, sau đó xin vào uống nước, ăn cơm, nói chuyện, tối lại muốn ngủ lại, tiếp theo lại muốn ở lại vài ngày, rồi lại lâu dài nhưng nó là kẻ trộm, nó lấy hết đồ trong nhà.
Cảm thọ này cũng giống như vậy, đầu tiên là mình chấp nhận nó để nó có chỗ đứng trong thân tâm, sau đó nó mới tác oai tác quái, tiếp theo nó xâm chiếm, lật đổ mình, những Pháp tưởng, Pháp tư, những sắc tưởng của quá khứ, những suy nghĩ, hình bóng của quá khứ cứ chập chờn ẩn hiện, thỏ thẻ thủ thỉ lôi kéo mình. Nếu không có sức thì nó quật ngã làm mình trở thành kẻ chiến bại, hèn hạ thấp kém. Đức Phật dạy cả ba cảm thọ đều quán vô thường, không chấp trước cảm thọ ấy vì:
“Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác lạc thọ, vị ấy cảm giác thọ ấy như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác khổ thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác thọ ấy như người không bị trói buộc. Nếu vị ấy cảm thọ cảm giác bất khổ bất lạc thọ, vị ấy cảm thọ cảm giác thọ ấy như người không bị trói buộc.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Đức Phật đang dạy mình thực tập khi các thọ sanh khởi, an trú và chấm dứt, bất cứ cảm thọ khổ hay vui, không khổ không vui đều thấy nó là vô thường, không hoan hỉ, ưa thích, đều quán thâm sâu để viễn ly, nhàm chán, ly tham, chấm dứt và hướng đến sự từ bỏ các cảm thọ này. Mỗi lần con nghe và quán Tương Ưng Thọ đều thấy thấm thía thâm sâu, thực tập liên tục cho đến ngày chết vì vô minh tùy miên trong bất khổ bất lạc thọ này rất sâu sắc, cái sân miên man trong cảm giác khó chịu rất sâu sắc, cái tham miên man trong cảm thọ dễ chịu, thích thú rất sâu sắc, cái tổ hợp của các cảm thọ và tổ hợp của tham sân si, vô minh phải được nhìn thấy.
Bậc Đa văn Thánh đệ tử phải biết bằng trí tuệ cảm thọ cảm giác thọ ấy như người không bị trói buộc, ngược lại kẻ vô văn phàm phu không biết tu thì cảm thọ nào cũng bị trói buộc, cảm thọ vui là người đó cảm thọ như người bị trói buộc tham, dục, ái, cảm thọ khổ là sân, bực, tức, cau có, gắt gỏng, cảm thọ không khổ không vui cũng giống như bị trói buộc, vô minh miên man là có cảm giác bình an, đều đều, bậc Đa văn Thánh đệ tử là không bị trói buộc trong ba loại cảm thọ ấy. Do công phu quán chiếu thường xuyên liên tục hết ngày này qua ngày khác, hết tháng này qua tháng khác, hết năm nay qua năm khác cho đến lúc tận cùng của cuộc đời thì đây là kết quả:
“Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận sức chịu đựng của thân, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân". Khi vị ấy cảm thọ một cảm thọ cùng tận chịu đựng của sinh mạng, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng". Vị ấy tuệ tri rằng: "Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây, một cảm thọ cảm giác không có gì đáng hoan hỉ, sẽ đi đến lắng dịu".”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Do sự tu tập các cảm thọ thường xuyên cho nên khi có chuyện bất trắc xảy ra hoặc gặp tai nạn giao thông thì vị ấy biết bằng trí tuệ "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân", đây là phần rất quan trọng mà con muốn gửi đến thầy Pháp An cũng như những vị lớn tuổi và những vị mang bệnh nan y cần chú ý và thọ nhận Pháp này. Bây giờ vị ấy biết bằng trí tuệ "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng", nghĩa là chuẩn bị kết thúc mạng sống.
Chúng ta cần phân biệt hai câu nói, một là khi xảy ra chuyện bất thình lình bất trắc, bất ngờ mà mình phải chịu đau đớn kinh khủng nhưng do có sự quán chiếu tu tập thường xuyên nên vị đó biết bằng trí tuệ "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân".
Thứ hai là khi sắp ra đi, lâm chung thì vị ấy biết bằng trí tuệ "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng", cảm thọ không xâm chiếm, áp đảo được người này nữa, khi thọ sanh khởi ra sao thì biết nó là thọ vậy thôi, vị ấy biết bằng trí tuệ "Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây, một cảm thọ cảm giác không có gì đáng hoan hỉ, sẽ đi đến lắng dịu". Vị ấy biết bằng trí tuệ sau khi ta chết ở đây mọi cảm giác sẽ không có gì đáng để hoan hỉ vì vị này đã tu hành lâu ngày trở nên thuần thục trong sự nhất hướng nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, tu tập quán vô thường cho nên khi sắp ra đi thì mọi cảm giác đều không đáng hoan hỉ mà sẽ đi đến lắng dịu, lúc đó vị này xả bỏ cảm thọ, không tiếc nuối và ái luyến vào thân này nữa, thọ; tưởng; hành đều lắng dịu cho nên chữ "lắng dịu" trong kinh Nikāya là Niết-bàn.
“Ví như, này các Tỳ-kheo, do duyên dầu và do duyên tim bấc, một ngọn đèn dầu được cháy đỏ. Khi dầu và tim bấc khô cạn, cháy hết, không được tiếp nhiên liệu thêm, ngọn đèn ấy bị tắt. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, khi Tỳ-kheo cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của thân". Khi vị ấy đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng, vị ấy tuệ tri: "Ta đang cảm thọ một cảm thọ cùng tận đến sức chịu đựng của sinh mạng". Vị ấy tuệ tri rằng: "Sau khi thân hoại mạng chung, ở đây, mọi cảm thọ không có gì đáng hoan hỉ, sẽ đi đến lắng dịu".”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Có những vị Tỳ-kheo khi thân hoại mạng chung có Thế Tôn bên cạnh, Thế Tôn hỏi các vị Tỳ-kheo khác có thấy đám khói đen bay qua phương Đông, phương Tây, Phương Nam, phương Bắc, bay từ trên xuống dưới không thì các vị Tỳ-kheo nói có, Thế Tôn mới nói đó là ác ma đi tìm thức của vị Tỳ-kheo đó. Nhưng đi tìm hoài ác ma cũng không thấy vì vị Tỳ-kheo đó là A-la-hán đã lậu tận, lắng dịu hoàn toàn tịch tịnh cho nên thức tái sanh của vị ấy không thấy được nữa, vị ấy đã hoàn toàn xuất ly và thoát khỏi ngũ uẩn.
“Rồi Thế Tôn cùng với một số đông Tỳ-kheo đi đến sườn núi Isigili, Kàlasilà, và Thế Tôn thấy từ đằng xa, Tôn giả Godhika đang nằm trên giường, với hai vai mở rộng (bị thương hay co quắp lại).
Lúc bấy giờ một làn khói đen tối đi về phía Ðông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía Trên, đi về phía Dưới.
Rồi Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:
-- Này các Tỳ-kheo, các Ông có thấy làn khói đen tối ấy đi về phía Ðông, đi về phía Tây, đi về phía Bắc, đi về phía Nam, đi về phía Trên, đi về phía Dưới không?
-- Bạch Thế Tôn, chúng con có thấy như vậy.
-- Này các Tỳ-kheo, đó là Ác ma đang đi theo dõi thức của thiện nam tử Godhika: "Thức của thiện nam tử Godhika được an trú ở đâu?". Và này các Tỳ-kheo, thiện nam tử Godhika đã nhập diệt, với thức không an trú ở đâu cả.
Rồi Ác ma tay cầm đờn thất huyền cầm màu vàng, đi đến Thế Tôn, sau khi đến nói lên bài kệ:
Trên, dưới và bề ngang,
Bốn phương, các phương giữa,
Ta tìm, nhưng không gặp,
Godhika đi đâu.
(Thế Tôn):
Vị Anh hùng kiên chí,
Thường Thiền lạc, Thiền tư,
Ngày đêm đầy nhiệt tình,
Nhưng sự sống, không tham,
Chiến thắng quân thần chết,
Tái sanh không đi đến,
Chinh phục ái, ái căn,
Godhika nhập diệt.
Còn kẻ bị sầu muộn,
Từ nách rơi huyền cầm,
Dạ-xoa bị thất vọng,
Liền biến mất tại chỗ.”
(Tương Ưng Bộ, Tập I - Thiên Có Kệ, Chương IV. Tương Ưng Ác Ma, III. Phẩm Thứ Ba (Thêm năm kinh), III. Godhika)
“Cần phải làm, nên làm
Làm cùng tận khả năng
Xuất gia sống phóng đãng,
Chỉ tăng loạn bụi đời.”
(Kinh Pháp Cú 22 – Phẩm Địa Ngục, kệ 313)
Hãy dồn hết tất cả tâm trí của mình vào sự hành trì, quán chiếu thân xác và các cảm giác trong bất cứ thời gian, địa điểm nào. Nắm chắt, giữ chặt, thọ trì tuệ quán này, Thánh trí tuệ này, hãy làm liều một phen sẽ đem lại lợi lạc lớn, lợi ích lớn, hạnh phúc dài lâu trong hiện tại và tương lai. Đừng để sau này phải ăn năn hối hận khi một suy nghĩ sai lầm dẫn dắt chúng ta, phải bám chặt vào Pháp, giữ chặt Thánh trí huệ này, nhiệt tình và nhiệt tâm làm, tha thiết trong sự tu học Thánh Pháp này.
Những vị tuổi còn trẻ hãy dùng hết tất cả sự sung mãn của thân tâm, sự minh mẫn, ý chí, nghị lực, sự hùng tráng để triển khai Pháp học và Pháp hành để đi đến thành tựu. Không uổng đâu, không phí thời gian đâu, không mất tuổi thanh xuân đâu. Hãy tận dụng tuổi thanh xuân này để làm nên vẻ vang trong Thánh Pháp, Thánh trí huệ này. Đừng chết trong cảm giác không khổ không vui, đừng để bị giết hại trong cảm giác đều đều đó, phải quán chiếu rằng hiểm họa đang tiềm ẩn khắp mọi chỗ mọi nơi.
Chúng ta cũng đừng nghĩ rằng đây chỉ là sự quán chiếu mà nó có thật, chỗ mình ở cũng có khả năng sót lại bom mìn thời chiến tranh, vẫn có khả năng bất thình lình đạp trúng mìn là tan vỡ tất cả. Đây không phải là sự quán chiếu, quán tưởng viễn vong, hãy hăng hái mạnh mẽ, hùng dũng lên. Chúng ta phải nhớ rằng Đức Phật dạy quán chiếu với ba loại trí tuệ để không bị dính mắc, chấp trước, ràng buộc trong đó, chúng ta nhìn nhận bằng trí tuệ để không bị ba cảm thọ đó ràng buộc, nhớ tác ý mạnh mẽ tinh tấn lực, dũng mãnh lực để thoát ra sự hài lòng với cảm thọ không khổ không vui.
./.