Bản ngã nguy hại như thế nào
BẢN NGÃ NGUY HẠI NHƯ THẾ NÀO?
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Nhận diện bản ngã PAGEREF _Toc107760162 \h 1
II.Sự nguy hại của bản ngã PAGEREF _Toc107760163 \h 2
III.Soi thấu bản ngã PAGEREF _Toc107760164 \h 7
Nhận diện bản ngã
Sáng nay có câu hỏi của một huynh là tại sao nghi thức tu học ở đây có bài Sám hối diệt ngã, anh ấy hỏi “Bản ngã là gì”? Câu hỏi này hết sức quan trọng đối với người xuất gia cũng như đối với người tu sĩ tu học theo Phật pháp, vì nếu không nhận diện được bản ngã thì sự tu tập của mình không đi đến đâu. Nên nhớ ở đây là Minh Thành dùng từ “nhận diện bản ngã” chứ không phải là “hiểu bản ngã”. Có thể mình đã nghe ở đâu đó trong sách vở hay là trong giảng thuyết về bản ngã, nhưng đó là nghe người ta nói và mình nói lại hoặc là mình hiểu trên kiến thức, chữ nghĩa, sách vở, suy tưởng; còn nhận diện được bản ngã là khác.
Như Minh Thành đã nói, tất cả sự tu hành đều phải bước vào từ chỗ nhìn thấy được ngũ uẩn, nếu mình không nhìn được năm uẩn từ thân và tâm của mình thì tất cả những gì mình hành trì đều là ở trên suy tưởng và tưởng tượng. Cho nên nhận diện năm uẩn là sự quyết định tất cả mọi vấn đề về tu tập của mình, tại vì sao? Tại vì tất cả những dục, tham, ái, sai phạm, si mê, ganh tỵ, tật đố, bản ngã đều ẩn giấu trong năm uẩn, cho nên mình không nhìn thấy năm uẩn thì mình không thể nhìn thấy được bộ mặt thật sự của các thứ cấu nhiễm. Như vậy bản ngã là gì?
Tạm chia bản ngã ra thành ba cấp độ: cấp độ thô, cấp độ vừa và cấp độ lớn. Cấp độ bản ngã thô là trải nghiệm qua lời nói và hành động. Nếu có chánh niệm và tỉnh giác thì khi có những lời nói thô hay hành động không có kiểm soát đúng mực thì mình sẽ nhận biết được là lúc đó mình đang có một cảm giác ngôn ngữ hoặc hành vi tỏ lộ cái tâm ta đây. Trong đời sống hàng ngày, điều này thường xuyên xảy ra. Không những người cư sĩ, không những người xuất gia mà thậm chí là người xuất gia thật là lâu, nếu không có sự nhận diện năm uẩn và sự tu tập Tứ Niệm Xứ thì không biết được bản ngã là gì, chứ đừng nói là nhiếp phục. Người ta không biết, mà người ta càng phình, trương cái tôi, cái bản ngã. Người ta hoàn toàn không biết, không nhận diện được bản ngã, không được học trên đạo lộ mà Đức Phật dạy thì người đó đồng hóa mình và những thể hiện của bản ngã là một.
Ở các nước phát triển, người ta phát huy tinh thần chủ nghĩa cá nhân, việc này cũng có những điều hay, và cũng có những điều có hại rất nhiều. Có những người trẻ muốn thể hiện mình, họ leo lên những căn nhà mấy chục tầng bằng tay không, họ livestream thì rất nhiều người vô coi và người này rất nổi tiếng. Một thời gian sau, có một hôm người này trượt tay và chết. Đó là một trong những cái khiến chúng ta phải giật mình. Cũng có một dạng người nước ngoài về bên mình để du lịch đi chơi rồi đi dã ngoại. Tay không leo núi, thác, đèo rồi trợt té chết không ai hay biết, người ta phải tìm mấy ngày mới ra. Khi leo họ phát trực tiếp lên cho mọi người biết là tôi leo, tôi không phải dạng vừa đâu, một mình tôi tay không để tôi thể hiện cho mọi người biết.
Sâu sắc hơn, trên thực tế, có khi những hình thức, hành động cung kính nhưng nó là trá hình của bản ngã. Có khi những hành vi lịch sự, văn minh nhưng trong đó là cách thể hiện của bản ngã. Đây là mức độ sâu sắc hơn, còn bản ngã ở trên ngôn ngữ, hành vi và hành động, là quá thô rồi. Ví dụ về bản ngã của một chú tiểu, một người Phật tử mới đến chùa, ban đầu họ rất dễ thương, họ rụt rè e dè, cung kính quý thầy, làm gì cũng cẩn thận. Nhưng ở chùa làm công quả một thời gian, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm và khi đó có người nào khác mới đến chùa thì chú này bắt đầu thể hiện bản ngã của mình là “tôi ở đây”, “tôi rành đường đi nước bước hết”, khi nói chuyện hay là trong cử chỉ sẽ toát ra uy của một người ở lâu, rành rẽ việc chùa. Nếu người đó khôngb tu tập nhận diện bản ngã, nhận diện năm uẩn thì người này không biết là mình đang thể hiện bản ngã. Có khi biết nhưng thấy nó là bình thường. Người tiếp xúc với họ nhanh trí một chút là người ta biết trong lời nói, ngôn ngữ, hành động của họ tỏ lộ ra một cái ta đây là người hiểu biết, người ở đây đã lâu và người đó không còn dễ thương nữa. Chúng ta đi chùa thường xuyên gặp trường hợp như vậy.
Điều này người xuất gia phải hết sức cẩn thận vì đây là sự xấu hổ của người xuất gia. Người xuất gia mà không nhìn thấy được cái này là một sự ô nhục, nếu để cho bản ngã tuôn ra ngoài thì rất xấu xa. Một cái đầu trọc, một cái áo nâu mà khi ăn nói thì chỉ trỏ, thể hiện mình là thổ địa. Đừng bao giờ cho phép mình có những lời nói và hành động xấu xí như vậy trong thân, tâm của người xuất gia hoặc là tập sự xuất gia, phải luôn luôn kiểm soát nó. Đó là nói về phần thô.
Sự nguy hại của bản ngã
Sâu sắc hơn, chúng ta phải thấy bản ngã này vô cùng u mê, dối trá, hơn thua, ta đây, ngã mạn.
Không ai ngụy biện bằng bản ngã,
Không ai xảo trá bằng cái ta,
Không ai xấu xa bằng cái ngã,
Không ai tố mình bằng tự ta.
Không ai độc ác bằng bản ngã,
Không ai tị hiềm bằng cái tôi,
Không ai dối lừa bằng cái ngã,
Không ai hại mình bằng tự ta”.
(trích Sám Hối Diệt Ngã)
Và chính bản ngã này, làm cho huynh đệ tương tàn, cha con ly tán, chồng vợ chia lìa, thậm chí người thân thương nhất mà còn sát hại lẫn nhau. Minh Thành nhớ có một vụ án hết sức đau lòng, con rễ nói qua nói lại với cha vợ, sân hận lên thế là động tay động chân rồi cuối cùng ông cha vợ này đâm chết con rễ, sau đó ông ấy để lên xe và đẩy lại công an đầu thú. Rất là nhiều những sự việc hết sức đau lòng đều từ bản ngã.
Có huynh đệ nói khi được khen thì thích; bị chê thì mình khó chịu, đó là bắt đầu qua tham, sân. Bắt đầu từ bản ngã, sâu thêm một lớp nữa tức là mình khoái, thích là qua tham; khó chịu là qua sân. Thành ra bản ngã gắn liền với tham, sân, si, chúng cấu kết và hợp tác với nhau tạo thành mắt xích bủa vây đời sống của chúng sanh trong si mê, hôn ám và vô minh.
Trước khi nói về bản ngã vừa, Minh Thành khai triển một số từ để thấy sự khủng khiếp của bản ngã, không thôi mình nghĩ rằng bản ngã không có gì nguy hiểm. Cần phải quán chiếu thật sự để thấy được bản ngã là một thứ hết sức u mê, cứ chấp thủ vào sắc, thọ, tưởng, hành, thức; bám chặt vào đống thịt, bị thịt, đãi thịt, bao thịt mấy chục kí lô này. Bản ngã này bám rất chắc, rất chặt, rất sát cho nên gọi là chấp ngã, chấp thủ. Thủ là sự nắm chặt, bám chặt, ghị chặt, không mở ra, “trời gầm không nhả”, đó chính là sự chấp thủ. Ai mà đụng tới cái thân này một cái thì bản ngã sẽ nổi lên ngay.
Minh Thành lấy những sự việc xảy ra trong đời sống hiện tại của thế kỉ 21 để chứng minh Thánh giáo của 2600 năm trước vẫn nhất quán, nhất trí, không có sự khác biệt. Có vụ việc rất đau lòng xảy ra, trên đường đi gặp đèn đỏ nhưng có xe vượt qua, người trên xe kế bên la lên thì người vượt đèn đỏ quay lại lấy dao đâm chết người đó tại chỗ, đó là từ bản ngã mà đi tới sân hận. Bản ngã u mê, chán chê như vậy.
Chán chê cho cái ngã u mê,
Dối trá, hơn thua, thật não nề.
Chẳng biết vô thường và ảo mộng,
Chẳng biết cuộc đời vốn rỗng không.
(trích Sám Hối Diệt Ngã)
Khi đọc những câu này phải quán chiếu liên tục làm cho cảm giác sanh khởi lên sự chán chê cái ngã này, chán ngán cảm giác ta đây, chán chường cho cảm xúc dương dương tự đắc, cống cao ngã mạn, khen mình chê người. Lúc nào cũng hất hất mặt lên, lúc nào cũng cho ta là hay, là tài, là giỏi, là hơn, là đẹp, là cao, là đúng. Vì vậy, phải chán ngán cảm giác này, phải chán chê cảm giác đó.
Khi lạy sám hối diệt ngã phải làm phát sanh lên cảm giác chán chê, ghê sợ, khủng khiếp, khủng bố đối với bản ngã này, chính nó là kẻ sát nhân. Tại sao không ai thích mình? Tại mình cao ngạo quá nên không ai thích, không ai ưa, nếu mình hiền, mình thấp lại thì ai cũng sẽ thương. Tại sao có người ai cũng dễ gần, mà cũng có người ai cũng khó gần, chỉ cần nhìn sâu vào thì biết thủ phạm là bản ngã này hết.
“Dối trá hơn thua, thật não nề”, từ cái dối trá đó mà xuất hiện bản ngã, tại vì không muốn người ta chê, muốn được khen, nên nó nói dối, làm dối, giả bộ thành tướng hiền nhưng thật sự không phải như vậy. Cho nên trong luật gọi là “giả trang hiền tướng”, để cho người ta cung kính. Tất cả những thứ đó đều là bộ mặt của bản ngã, nó đội lên không biết bao nhiêu lớp mặt nạ để lừa gạt người ta, lừa gạt chính nó. Chỗ này là chỗ thâm sâu của Thánh trí năm uẩn, tập cho mình nhìn ra được sự sống giả, sống ảo, đội lốt, đội mặt nạ chứ bên trong là bản ngã ngút trời xanh, chỉ có Thánh trí mới nhìn thấu được. Khủng khiếp cái bản ngã này lắm, không giỡn chơi với nó được.
Tất cả chúng ta là nạn nhân của bản ngã từ vô lượng vô biên kiếp, chín chục ngàn tỷ năm. Chúng ta không biết bản mặt thật sự của nó là gì, không biết từ đâu nó sanh khởi lên và hoạt động như thế nào. Bản ngã này mánh khóe, dối trá, gian xảo, lọc lừa, tinh ma, ranh mãnh như thế nào mình không thấy hết được. Phải qua sự nhận diện năm uẩn hết sức sâu sắc, bằng Thánh trí của Đức Phật nhìn sâu vào cám xúc, cảm thọ thì mới thấy được phần nào, từ đó bắt đầu nhiếp phục.
Nhiều người khi được chỉ cho thấy bản ngã nhưng họ không chịu, họ toàn “con đâu có, con không có”, nhưng với một kẻ vô minh phàm phu thì sao họ thấy được. Đừng nói chi kẻ vô minh phàm phu, mà ngay đến cả người xuất gia học giáo lý Nikāya này rồi mà vẫn chết dài dài nếu không nhìn thấy được cái vi tế thâm sâu. Tại vì bản ngã đã chín chục ngàn chín trăm tỷ tuổi rồi, còn mình chỉ mới ba mươi mấy, bốn mươi tuổi thôi, sao qua mặt nó nổi. Trong vòng luân hồi này, tuổi thọ của bản ngã là cổ thụ hàng tỷ năm, tất cả chúng sanh trong tam giới đều bị nó thống trị, đều nằm trong bóng của nó. Cho nên ngũ uẩn của mình là một con rối để cho bản ngã bên trong giật dây, điều khiển mà mình không biết. Khi nhận đủ trí huệ Thánh tri kiến của năm uẩn, thì từ từ mình mới phát hiện ở trong sắc uẩn như thế nào, cảm giác như thế nào, các hình bóng, nghĩ tưởng, nhận thức như thế nào. Dần dần chúng ta nhận diện ra từng thứ, từng thứ, bằng không là ôi thôi:
Bản ngã chính là con rắn độc
Giết ta vô lượng kiếp vừa qua
Bản ngã chính là tên ngu dại
Hại mình qua thân, khẩu, ý hành.
Bản ngã chính là tên gian xảo.
Quanh co xảo quyệt lắm kế mưu
Bản ngã chính là tên thâm độc,
Âm thầm đâm thọc, não hại người.”
(trích Sám Hối Diệt Ngã)
Nếu mà không có Thánh tri kiến thì không nhìn ra nổi bản chất của bản ngã này. Tất cả chúng ta ngồi đây, là con đời thứ 9999, cháu tổ của bản ngã, nó là ông cồ, ông cố, ông cổ của mình. Tất cả những suy nghĩ, cảm giác, tưởng tượng, nhận thức của mình là nó điều khiển, điều hành, sai khiến và mình nghe răm rắp theo nó. Cảm giác tôi luôn thống trị bên trong và những suy nghĩ lòng vòng là đều về tôi.
Bản ngã rất vi tế, ví dụ, đến một cái chùa, suýt xoa “chùa của sư huynh đẹp quá, tốt quá, tượng Phật này đẹp quá, tốt đó, chùa của em biết chừng nào được như vậy”. Đó là bản ngã bên trong sắc uẩn, nếu không vào Thánh trí, Thánh đạo này thì không nhìn ra được dù có nhiều chuyện mình thấy rất là bình thường. Cho nên sự hơn, bằng và thua đều là bản ngã hết, bởi vì cho rằng “có mình” thì mới có hơn, “có mình” mới có bằng, “có mình” mới có thua, còn chỉ thấy tất cả đều là năm uẩn hết thì làm sao có bằng, hơn, thua. Năm uẩn là vô thường, là duyên sanh pháp, là trống rỗng, là bại hoại, là biến hoại, là ung nhọt, là mũi tên, là hố than hừng, là rắn độc, nếu có chánh như lý tác ý, chánh tư duy, Thánh tư duy như vậy thì làm sao có việc ngang bằng, hơn, thua. Cho nên mới có câu:
Chán chê cho cái ngã u mê,
Dối trá, hơn thua, thật não nề.
Chẳng biết vô thường và ảo mộng,
Chẳng biết cuộc đời vốn rỗng không.
Những câu chữ trong đây là tinh hoa của Thánh đạo, chứ không phải đơn giản là chỉ đọc phớt qua.
Sau khi đã nói về bản ngã của chú tiểu, tiếp theo nói đến bản ngã của trụ trì. Bình thường ai gặp mình cũng xá, nhưng có người gặp không xá là trong lòng mình khó chịu thì lập tức phải xem cảm giác khó chịu đó là gì? Tuy không nói ra miệng, không thể hiện ra hành động, nhưng mình phải thấy, phải biết cảm giác đó là gì dù là rất nhẹ, điều này rất thâm sâu.
Soi thấu bản ngã
Khi thực tập quán thọ trên thọ chúng ta sẽ thấy sự tu này rất tuyệt diệu, khi đó tất cả pháp sẽ hiện rõ hết trước ánh sáng của tuệ nhãn. Vì vậy câu “tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ”, tối nào đọc kinh cũng phải đọc và lạy câu đó. Một khi mở đôi mắt trí huệ ra để nhìn cảm thọ liên tục thì các pháp hiện rõ ra, những cấu nhiễm pháp, những ô nhiễm pháp, những phiền não pháp, những lậu hoặc pháp, những bản ngã, vô minh, tham, sân, si sẽ hiện ra, sẽ biểu lộ ra.
Giống như đôi mắt tròng vàng, đôi mắt lửa luyện bảy bảy bốn chín ngày trong lò bát quái của Tôn Ngộ Không nó chớp chớp chớp, xẹt xẹt xẹt ra, thì đó là ví dụ cho pháp nhãn ở trong chánh tri kiến của Bát Chánh đạo. Khi đó con mắt nhìn xuyên qua lớp ảo của sắc tướng để nó thấy được ở trong thân xác đó chứa đựng cái gì, còn người ta nhìn thì đâu có thấy đâu có biết đó là yêu tinh đâu, pháp nhãn mới nhìn thấy. Đây là sự tu học thâm sâu của Đức Phật cho nên mới cần phải phanh phui, giải phẫu, mở ra những gì bị che kín hơn 2000 năm nay, bây giờ phải được phơi bày.
Trước khi Đức Phật thành tựu đạo quả là đã tỷ tỷ tỷ năm bị che kín bởi vô minh, bản ngã, nên Đức Thế Tôn chứng ngộ dưới cội bồ đề mới được phanh phui, sau 500 năm Đức Phật nhập diệt là Chánh pháp bị mờ, bây giờ chúng ta cố gắng phơi bày trở lại được một phần nào đó. Minh Thành học mấy chục năm trong trường Phật học, không được nghe nói điều này, chỉ nói phớt phớt về bản ngã, phải cố gắng dẹp bản ngã, phải vô ngã nhưng không ai chỉ ra cho mình thấy được bản ngã ở trong các cảm giác, nghĩ tưởng, suy nghĩ. Mình phải loại bỏ những cảm giác ta tôi, dương dương tự đắc, là người trên, người trước, người ở lâu, là Phật tử lâu năm, là này nọ kia, là Tỳ-kheo, là Sa-di, là Thượng tọa, là Hòa thượng, những cái đó là giả danh hết, không có ý nghĩa gì cả; chùa chiền, bổn đạo, xe cộ, đất đai, ruộng vườn, giấy tờ cũng không là cái gì hết, đó là pháp thoái đọa của Tỳ-kheo. Nếu người tu còn quan trọng những thứ là sắc uẩn như vậy, tức là sắc uẩn còn chưa vượt qua được thì làm sao vượt qua được thọ, tưởng, hành, thức. Những dục lậu thô thiển của thế gian còn chưa qua nỗi thì làm sao đột phá được những cái hết sức vi tế, thâm sâu ở bên trong những cảm giác.
Ví dụ mình suy nghĩ sau này sẽ trở thành gì đó, thì suy nghĩ đó có phải bản ngã không? Khi đang suy nghĩ mai mốt mình sẽ trở thành gì đó thì mình nói sắc là trống không, cảm giác này là trống không, những nghĩ tưởng này là vô ngã, thức này là vô thường. Khi nghĩ rằng có mình trong này và suy nghĩ mình làm cái này, cái kia, thì phải Như lý tác ý, tuệ lực, sự quán chiếu thâm sâu, chánh tư duy, ly tham tư duy, ly dục tư duy, ly sân tư duy,vô ngã tư duy đó là Thánh trí. Cứ như vậy mà tác ý, đánh đuổi lần lần, học hạnh khiêm cung, cung kính cho đến già. Cho nên hạnh cung kính và hạnh khiêm cung không bao giờ là dư thừa. Vì thế, đạo tràng Nikāya luôn phải học tinh thần năm khiêm bao gồm khiêm cung, khiêm nhã, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm hạ.
Khi nhiếp phục được bản ngã, nhiếp phục được cái tôi, nhiếp phục được cái ta, nhiếp phục được cảm giác dương dương tự đắc là mình sẽ thấy được điều kỳ diệu. Chúng ta lan tỏa ra cảm giác ấm áp, thân thiện đối với tất cả mọi loài, ai đến mình cũng có cảm giác giống như cây cổ thụ cho chim muôn về làm tổ. Tất cả chúng sanh ái kính, khát ngưỡng, tôn trọng, đảnh lễ, đó là bậc đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được cúng dường là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Đó là bậc luôn luôn nhiếp phục, đoạn giảm và đi đến chỗ diệt tận bản ngã.
Cho nên, chúng ta phải luôn luôn tác ý, quán chiếu và hết sức sợ những từ mình đọc trong Sám hối diệt ngã:
Không ai ngụy biện bằng bản ngã,
Không ai xảo trá bằng cái ta,
Không ai xấu xa bằng cái ngã.
Không ai tố mình bằng tự ta.
Không ai độc ác bằng bản ngã,
Không ai tỵ hiềm bằng cái tôi,
Không ai dối lừa bằng cái ngã,
Không ai hại mình bằng cái ta.
Sau đó phải bắt:
Cái ngã, cái ta mau cúi xuống,
Cúi xuống cho mau cái ngã này,
Chính ngươi là kẻ làm ta khổ,
Ngươi nhận chìm ta trong tử sanh.
(trích Sám Hối Diệt Ngã)
Phải để cho những cảm giác của trí tuệ diệt ngã này ngấm sâu vào trong những cung bậc cảm thọ sâu sắc nhất của tâm cảm. Hãy tưới tẩm, nuôi dưỡng những cảm giác vô ngã để thanh lọc, tẩy rửa, tẩy não những cảm giác vô minh, si mê, chấp thủ, dương dương tự đắc, cống cao ngã mạn, khen mình chê người, ta đây, hơn thiên hạ. Đó chính là bậc chân tu, là con cưng của Đức Như Lai, mới thật sự là người kế thừa Chánh pháp của Thế Tôn.
Đồng thời, phải phát hiện ra được ngụy biện của bản ngã. Ví dụ, khi làm gì sai trật, mình bị rầy, bị góp ý thì bên trong hành uẩn, suy nghĩ sẽ nói “tại cái này, tại người kia, đúng ra mình không bị sai, mà lại bị rầy, tại mấy người kia mà tự nhiên đổ thừa cho mình”. Hoặc nó nói “mấy lúc mình tinh tấn thì không thấy sư phụ, mà đang lúc làm biếng thì sư phụ lên thiền đường”. Đó là lời ngụy biện của bản ngã, không được chấp nhận nó, mà phải diệt tận. Chính cái này đưa mình vào biển lửa, vào hầm than, vào địa ngục. Đừng để bản ngã thỏ thẻ, thì thầm, thủ thỉ, thở than ở đây nữa: “Ngươi tan biến đi, chấm dứt đi, đừng rù quến, dụ dỗ ta nữa”. Hoặc bản ngã làm biếng nói: “Thôi hôm nay mệt, đừng có lên tu” cùng với bản ngã của dục, ái, tham ngụy biện trong tâm đủ thứ.
Chính vì vậy, chúng ta phải cố gắng làm cho bản ngã của tham, sân, si, cống cao, tự đắc, đố kị, tị hiềm, ganh ghét, dối trá, lọc lừa, hại người, ác độc... được phơi bày hết trong ánh sáng của Thánh trí, trên con đường của Thánh đạo. Nếu thường trực nhận diện năm uẩn và thực tập Tứ Niệm Xứ thì mới phanh phui hết được, còn bằng không thì bản ngã sẽ giết mình chết. Bao phủ thân này là lớp da êm ái, đẹp đẽ, nhưng chỉ cần rọc ra một cái là máu đổ xuống, mỡ lòi ra, tim, phèo, phổi, một đống ruột đổ ra, toàn nước tiểu, mủ, máu... Lúc đổ ra như vậy có còn ai còn dám lại ôm đống đờm đó không? Vậy đó mà chỉ có một lớp da phủ mỏng, nhẹ thôi là mê hết trong tam giới và bản ngã cũng giống vậy. Chỉ có Thánh trí là giải phẫu học, phanh phui, mổ xẻ nó ra, đây mới là pháp tu thật sự của Đức Phật. Chỉ có Chánh Pháp của Ngài mới đủ sức mạnh xuyên thủng qua lớp da, xuyên thủng qua khối vô minh, xuyên thủng qua tường đài vách sắt của bản ngã ta đây, cống cao, ngã mạn, dương dương tự đắc, khen mình chê người. Đập cho nó vỡ tan tành, diệt tận, bắt nó cúi đầu, bắt nó lạy, bắt nó cúi xuống.
Một tình thương bao la cũng sẽ xuất hiện khi mình tu tập và thể nhập được trí tuệ diệt ngã này. Một cảm giác xót thương sẽ tràn ngập trong thân tâm và lan tỏa đến mọi người, vì tất cả chúng ta là nạn nhân của bản ngã. Khi gặp một người đang dương dương tự đắc, thể hiện bản ngã thì mình thấy thương chứ không giận, điều này mình đã từng bị biết bao nhiêu lần, nhưng bây giờ mình may mắn là bắt đầu nhận diện được và đi ra, còn người này vẫn đang khoái chí trong này, thật tội nghiệp. Lúc ấy, mình không có sân hận đối với họ, như thế này diệt được gốc rễ của tham sân. Còn ngược lại cứ kiềm kiềm là sớm muộn cũng bung ra, kiềm không được, la hoài, cãi hoài, đánh hoài thì làm sao mà kiềm. Hơn nữa, khi sân giận như vậy không phải là do người đó gây ra, mà chính là bản ngã, nó độc ác như vậy, nó nói rằng ai xúc phạm nó, khinh thường nó thì sẽ làm cho họ biết mặt, thậm chí là giết người. Có nhiều người giết người xong là họ tự vẫn luôn, qua đó, chúng ta thấy rằng, bản ngã thật sự rất khủng khiếp. Cần phải quán chiếu những điều đó để làm mình phát sanh cảm giác ghê sợ, hoảng sợ, khiếp sợ đối với những sự ác độc, tai hại, nguy hiểm của bản ngã, nó đang giết hết người trong thiên hạ này. Bên cạnh đó, cũng sẽ có một lòng bi mẫn trào dâng dào dạt. Giờ này ta không để cho bản ngã hại mình hại người nữa, mà ta phải đánh tan bản ngã. Và khi đó:
Bản ngã chết rồi, thân kiến chết,
Tứ quả Thánh hiền hiển lộ ra,
Cửa vào Bất tử dần rộng mở,
Gương Ngài Xá-Lợi sáng muôn nơi.
Bản ngã chết rồi tâm thảnh thơi,
Khổ đau, phiền não được dừng rồi,
Trầm luân, sanh tử được chấm dứt,
Tịch lặng, Niết-bàn, thật bình an.
(trích Sám Hối Diệt Ngã)
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Nhận diện bản ngã PAGEREF _Toc107760162 \h 1
II.Sự nguy hại của bản ngã PAGEREF _Toc107760163 \h 2
III.Soi thấu bản ngã PAGEREF _Toc107760164 \h 7
Nhận diện bản ngã
Sáng nay có câu hỏi của một huynh là tại sao nghi thức tu học ở đây có bài Sám hối diệt ngã, anh ấy hỏi “Bản ngã là gì”? Câu hỏi này hết sức quan trọng đối với người xuất gia cũng như đối với người tu sĩ tu học theo Phật pháp, vì nếu không nhận diện được bản ngã thì sự tu tập của mình không đi đến đâu. Nên nhớ ở đây là Minh Thành dùng từ “nhận diện bản ngã” chứ không phải là “hiểu bản ngã”. Có thể mình đã nghe ở đâu đó trong sách vở hay là trong giảng thuyết về bản ngã, nhưng đó là nghe người ta nói và mình nói lại hoặc là mình hiểu trên kiến thức, chữ nghĩa, sách vở, suy tưởng; còn nhận diện được bản ngã là khác.
Như Minh Thành đã nói, tất cả sự tu hành đều phải bước vào từ chỗ nhìn thấy được ngũ uẩn, nếu mình không nhìn được năm uẩn từ thân và tâm của mình thì tất cả những gì mình hành trì đều là ở trên suy tưởng và tưởng tượng. Cho nên nhận diện năm uẩn là sự quyết định tất cả mọi vấn đề về tu tập của mình, tại vì sao? Tại vì tất cả những dục, tham, ái, sai phạm, si mê, ganh tỵ, tật đố, bản ngã đều ẩn giấu trong năm uẩn, cho nên mình không nhìn thấy năm uẩn thì mình không thể nhìn thấy được bộ mặt thật sự của các thứ cấu nhiễm. Như vậy bản ngã là gì?
Tạm chia bản ngã ra thành ba cấp độ: cấp độ thô, cấp độ vừa và cấp độ lớn. Cấp độ bản ngã thô là trải nghiệm qua lời nói và hành động. Nếu có chánh niệm và tỉnh giác thì khi có những lời nói thô hay hành động không có kiểm soát đúng mực thì mình sẽ nhận biết được là lúc đó mình đang có một cảm giác ngôn ngữ hoặc hành vi tỏ lộ cái tâm ta đây. Trong đời sống hàng ngày, điều này thường xuyên xảy ra. Không những người cư sĩ, không những người xuất gia mà thậm chí là người xuất gia thật là lâu, nếu không có sự nhận diện năm uẩn và sự tu tập Tứ Niệm Xứ thì không biết được bản ngã là gì, chứ đừng nói là nhiếp phục. Người ta không biết, mà người ta càng phình, trương cái tôi, cái bản ngã. Người ta hoàn toàn không biết, không nhận diện được bản ngã, không được học trên đạo lộ mà Đức Phật dạy thì người đó đồng hóa mình và những thể hiện của bản ngã là một.
Ở các nước phát triển, người ta phát huy tinh thần chủ nghĩa cá nhân, việc này cũng có những điều hay, và cũng có những điều có hại rất nhiều. Có những người trẻ muốn thể hiện mình, họ leo lên những căn nhà mấy chục tầng bằng tay không, họ livestream thì rất nhiều người vô coi và người này rất nổi tiếng. Một thời gian sau, có một hôm người này trượt tay và chết. Đó là một trong những cái khiến chúng ta phải giật mình. Cũng có một dạng người nước ngoài về bên mình để du lịch đi chơi rồi đi dã ngoại. Tay không leo núi, thác, đèo rồi trợt té chết không ai hay biết, người ta phải tìm mấy ngày mới ra. Khi leo họ phát trực tiếp lên cho mọi người biết là tôi leo, tôi không phải dạng vừa đâu, một mình tôi tay không để tôi thể hiện cho mọi người biết.
Sâu sắc hơn, trên thực tế, có khi những hình thức, hành động cung kính nhưng nó là trá hình của bản ngã. Có khi những hành vi lịch sự, văn minh nhưng trong đó là cách thể hiện của bản ngã. Đây là mức độ sâu sắc hơn, còn bản ngã ở trên ngôn ngữ, hành vi và hành động, là quá thô rồi. Ví dụ về bản ngã của một chú tiểu, một người Phật tử mới đến chùa, ban đầu họ rất dễ thương, họ rụt rè e dè, cung kính quý thầy, làm gì cũng cẩn thận. Nhưng ở chùa làm công quả một thời gian, 3 tháng, 6 tháng, 1 năm, 2 năm và khi đó có người nào khác mới đến chùa thì chú này bắt đầu thể hiện bản ngã của mình là “tôi ở đây”, “tôi rành đường đi nước bước hết”, khi nói chuyện hay là trong cử chỉ sẽ toát ra uy của một người ở lâu, rành rẽ việc chùa. Nếu người đó khôngb tu tập nhận diện bản ngã, nhận diện năm uẩn thì người này không biết là mình đang thể hiện bản ngã. Có khi biết nhưng thấy nó là bình thường. Người tiếp xúc với họ nhanh trí một chút là người ta biết trong lời nói, ngôn ngữ, hành động của họ tỏ lộ ra một cái ta đây là người hiểu biết, người ở đây đã lâu và người đó không còn dễ thương nữa. Chúng ta đi chùa thường xuyên gặp trường hợp như vậy.
Điều này người xuất gia phải hết sức cẩn thận vì đây là sự xấu hổ của người xuất gia. Người xuất gia mà không nhìn thấy được cái này là một sự ô nhục, nếu để cho bản ngã tuôn ra ngoài thì rất xấu xa. Một cái đầu trọc, một cái áo nâu mà khi ăn nói thì chỉ trỏ, thể hiện mình là thổ địa. Đừng bao giờ cho phép mình có những lời nói và hành động xấu xí như vậy trong thân, tâm của người xuất gia hoặc là tập sự xuất gia, phải luôn luôn kiểm soát nó. Đó là nói về phần thô.
Sự nguy hại của bản ngã
Sâu sắc hơn, chúng ta phải thấy bản ngã này vô cùng u mê, dối trá, hơn thua, ta đây, ngã mạn.
Không ai ngụy biện bằng bản ngã,
Không ai xảo trá bằng cái ta,
Không ai xấu xa bằng cái ngã,
Không ai tố mình bằng tự ta.
Không ai độc ác bằng bản ngã,
Không ai tị hiềm bằng cái tôi,
Không ai dối lừa bằng cái ngã,
Không ai hại mình bằng tự ta”.
(trích Sám Hối Diệt Ngã)
Và chính bản ngã này, làm cho huynh đệ tương tàn, cha con ly tán, chồng vợ chia lìa, thậm chí người thân thương nhất mà còn sát hại lẫn nhau. Minh Thành nhớ có một vụ án hết sức đau lòng, con rễ nói qua nói lại với cha vợ, sân hận lên thế là động tay động chân rồi cuối cùng ông cha vợ này đâm chết con rễ, sau đó ông ấy để lên xe và đẩy lại công an đầu thú. Rất là nhiều những sự việc hết sức đau lòng đều từ bản ngã.
Có huynh đệ nói khi được khen thì thích; bị chê thì mình khó chịu, đó là bắt đầu qua tham, sân. Bắt đầu từ bản ngã, sâu thêm một lớp nữa tức là mình khoái, thích là qua tham; khó chịu là qua sân. Thành ra bản ngã gắn liền với tham, sân, si, chúng cấu kết và hợp tác với nhau tạo thành mắt xích bủa vây đời sống của chúng sanh trong si mê, hôn ám và vô minh.
Trước khi nói về bản ngã vừa, Minh Thành khai triển một số từ để thấy sự khủng khiếp của bản ngã, không thôi mình nghĩ rằng bản ngã không có gì nguy hiểm. Cần phải quán chiếu thật sự để thấy được bản ngã là một thứ hết sức u mê, cứ chấp thủ vào sắc, thọ, tưởng, hành, thức; bám chặt vào đống thịt, bị thịt, đãi thịt, bao thịt mấy chục kí lô này. Bản ngã này bám rất chắc, rất chặt, rất sát cho nên gọi là chấp ngã, chấp thủ. Thủ là sự nắm chặt, bám chặt, ghị chặt, không mở ra, “trời gầm không nhả”, đó chính là sự chấp thủ. Ai mà đụng tới cái thân này một cái thì bản ngã sẽ nổi lên ngay.
Minh Thành lấy những sự việc xảy ra trong đời sống hiện tại của thế kỉ 21 để chứng minh Thánh giáo của 2600 năm trước vẫn nhất quán, nhất trí, không có sự khác biệt. Có vụ việc rất đau lòng xảy ra, trên đường đi gặp đèn đỏ nhưng có xe vượt qua, người trên xe kế bên la lên thì người vượt đèn đỏ quay lại lấy dao đâm chết người đó tại chỗ, đó là từ bản ngã mà đi tới sân hận. Bản ngã u mê, chán chê như vậy.
Chán chê cho cái ngã u mê,
Dối trá, hơn thua, thật não nề.
Chẳng biết vô thường và ảo mộng,
Chẳng biết cuộc đời vốn rỗng không.
(trích Sám Hối Diệt Ngã)
Khi đọc những câu này phải quán chiếu liên tục làm cho cảm giác sanh khởi lên sự chán chê cái ngã này, chán ngán cảm giác ta đây, chán chường cho cảm xúc dương dương tự đắc, cống cao ngã mạn, khen mình chê người. Lúc nào cũng hất hất mặt lên, lúc nào cũng cho ta là hay, là tài, là giỏi, là hơn, là đẹp, là cao, là đúng. Vì vậy, phải chán ngán cảm giác này, phải chán chê cảm giác đó.
Khi lạy sám hối diệt ngã phải làm phát sanh lên cảm giác chán chê, ghê sợ, khủng khiếp, khủng bố đối với bản ngã này, chính nó là kẻ sát nhân. Tại sao không ai thích mình? Tại mình cao ngạo quá nên không ai thích, không ai ưa, nếu mình hiền, mình thấp lại thì ai cũng sẽ thương. Tại sao có người ai cũng dễ gần, mà cũng có người ai cũng khó gần, chỉ cần nhìn sâu vào thì biết thủ phạm là bản ngã này hết.
“Dối trá hơn thua, thật não nề”, từ cái dối trá đó mà xuất hiện bản ngã, tại vì không muốn người ta chê, muốn được khen, nên nó nói dối, làm dối, giả bộ thành tướng hiền nhưng thật sự không phải như vậy. Cho nên trong luật gọi là “giả trang hiền tướng”, để cho người ta cung kính. Tất cả những thứ đó đều là bộ mặt của bản ngã, nó đội lên không biết bao nhiêu lớp mặt nạ để lừa gạt người ta, lừa gạt chính nó. Chỗ này là chỗ thâm sâu của Thánh trí năm uẩn, tập cho mình nhìn ra được sự sống giả, sống ảo, đội lốt, đội mặt nạ chứ bên trong là bản ngã ngút trời xanh, chỉ có Thánh trí mới nhìn thấu được. Khủng khiếp cái bản ngã này lắm, không giỡn chơi với nó được.
Tất cả chúng ta là nạn nhân của bản ngã từ vô lượng vô biên kiếp, chín chục ngàn tỷ năm. Chúng ta không biết bản mặt thật sự của nó là gì, không biết từ đâu nó sanh khởi lên và hoạt động như thế nào. Bản ngã này mánh khóe, dối trá, gian xảo, lọc lừa, tinh ma, ranh mãnh như thế nào mình không thấy hết được. Phải qua sự nhận diện năm uẩn hết sức sâu sắc, bằng Thánh trí của Đức Phật nhìn sâu vào cám xúc, cảm thọ thì mới thấy được phần nào, từ đó bắt đầu nhiếp phục.
Nhiều người khi được chỉ cho thấy bản ngã nhưng họ không chịu, họ toàn “con đâu có, con không có”, nhưng với một kẻ vô minh phàm phu thì sao họ thấy được. Đừng nói chi kẻ vô minh phàm phu, mà ngay đến cả người xuất gia học giáo lý Nikāya này rồi mà vẫn chết dài dài nếu không nhìn thấy được cái vi tế thâm sâu. Tại vì bản ngã đã chín chục ngàn chín trăm tỷ tuổi rồi, còn mình chỉ mới ba mươi mấy, bốn mươi tuổi thôi, sao qua mặt nó nổi. Trong vòng luân hồi này, tuổi thọ của bản ngã là cổ thụ hàng tỷ năm, tất cả chúng sanh trong tam giới đều bị nó thống trị, đều nằm trong bóng của nó. Cho nên ngũ uẩn của mình là một con rối để cho bản ngã bên trong giật dây, điều khiển mà mình không biết. Khi nhận đủ trí huệ Thánh tri kiến của năm uẩn, thì từ từ mình mới phát hiện ở trong sắc uẩn như thế nào, cảm giác như thế nào, các hình bóng, nghĩ tưởng, nhận thức như thế nào. Dần dần chúng ta nhận diện ra từng thứ, từng thứ, bằng không là ôi thôi:
Bản ngã chính là con rắn độc
Giết ta vô lượng kiếp vừa qua
Bản ngã chính là tên ngu dại
Hại mình qua thân, khẩu, ý hành.
Bản ngã chính là tên gian xảo.
Quanh co xảo quyệt lắm kế mưu
Bản ngã chính là tên thâm độc,
Âm thầm đâm thọc, não hại người.”
(trích Sám Hối Diệt Ngã)
Nếu mà không có Thánh tri kiến thì không nhìn ra nổi bản chất của bản ngã này. Tất cả chúng ta ngồi đây, là con đời thứ 9999, cháu tổ của bản ngã, nó là ông cồ, ông cố, ông cổ của mình. Tất cả những suy nghĩ, cảm giác, tưởng tượng, nhận thức của mình là nó điều khiển, điều hành, sai khiến và mình nghe răm rắp theo nó. Cảm giác tôi luôn thống trị bên trong và những suy nghĩ lòng vòng là đều về tôi.
Bản ngã rất vi tế, ví dụ, đến một cái chùa, suýt xoa “chùa của sư huynh đẹp quá, tốt quá, tượng Phật này đẹp quá, tốt đó, chùa của em biết chừng nào được như vậy”. Đó là bản ngã bên trong sắc uẩn, nếu không vào Thánh trí, Thánh đạo này thì không nhìn ra được dù có nhiều chuyện mình thấy rất là bình thường. Cho nên sự hơn, bằng và thua đều là bản ngã hết, bởi vì cho rằng “có mình” thì mới có hơn, “có mình” mới có bằng, “có mình” mới có thua, còn chỉ thấy tất cả đều là năm uẩn hết thì làm sao có bằng, hơn, thua. Năm uẩn là vô thường, là duyên sanh pháp, là trống rỗng, là bại hoại, là biến hoại, là ung nhọt, là mũi tên, là hố than hừng, là rắn độc, nếu có chánh như lý tác ý, chánh tư duy, Thánh tư duy như vậy thì làm sao có việc ngang bằng, hơn, thua. Cho nên mới có câu:
Chán chê cho cái ngã u mê,
Dối trá, hơn thua, thật não nề.
Chẳng biết vô thường và ảo mộng,
Chẳng biết cuộc đời vốn rỗng không.
Những câu chữ trong đây là tinh hoa của Thánh đạo, chứ không phải đơn giản là chỉ đọc phớt qua.
Sau khi đã nói về bản ngã của chú tiểu, tiếp theo nói đến bản ngã của trụ trì. Bình thường ai gặp mình cũng xá, nhưng có người gặp không xá là trong lòng mình khó chịu thì lập tức phải xem cảm giác khó chịu đó là gì? Tuy không nói ra miệng, không thể hiện ra hành động, nhưng mình phải thấy, phải biết cảm giác đó là gì dù là rất nhẹ, điều này rất thâm sâu.
Soi thấu bản ngã
Khi thực tập quán thọ trên thọ chúng ta sẽ thấy sự tu này rất tuyệt diệu, khi đó tất cả pháp sẽ hiện rõ hết trước ánh sáng của tuệ nhãn. Vì vậy câu “tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ”, tối nào đọc kinh cũng phải đọc và lạy câu đó. Một khi mở đôi mắt trí huệ ra để nhìn cảm thọ liên tục thì các pháp hiện rõ ra, những cấu nhiễm pháp, những ô nhiễm pháp, những phiền não pháp, những lậu hoặc pháp, những bản ngã, vô minh, tham, sân, si sẽ hiện ra, sẽ biểu lộ ra.
Giống như đôi mắt tròng vàng, đôi mắt lửa luyện bảy bảy bốn chín ngày trong lò bát quái của Tôn Ngộ Không nó chớp chớp chớp, xẹt xẹt xẹt ra, thì đó là ví dụ cho pháp nhãn ở trong chánh tri kiến của Bát Chánh đạo. Khi đó con mắt nhìn xuyên qua lớp ảo của sắc tướng để nó thấy được ở trong thân xác đó chứa đựng cái gì, còn người ta nhìn thì đâu có thấy đâu có biết đó là yêu tinh đâu, pháp nhãn mới nhìn thấy. Đây là sự tu học thâm sâu của Đức Phật cho nên mới cần phải phanh phui, giải phẫu, mở ra những gì bị che kín hơn 2000 năm nay, bây giờ phải được phơi bày.
Trước khi Đức Phật thành tựu đạo quả là đã tỷ tỷ tỷ năm bị che kín bởi vô minh, bản ngã, nên Đức Thế Tôn chứng ngộ dưới cội bồ đề mới được phanh phui, sau 500 năm Đức Phật nhập diệt là Chánh pháp bị mờ, bây giờ chúng ta cố gắng phơi bày trở lại được một phần nào đó. Minh Thành học mấy chục năm trong trường Phật học, không được nghe nói điều này, chỉ nói phớt phớt về bản ngã, phải cố gắng dẹp bản ngã, phải vô ngã nhưng không ai chỉ ra cho mình thấy được bản ngã ở trong các cảm giác, nghĩ tưởng, suy nghĩ. Mình phải loại bỏ những cảm giác ta tôi, dương dương tự đắc, là người trên, người trước, người ở lâu, là Phật tử lâu năm, là này nọ kia, là Tỳ-kheo, là Sa-di, là Thượng tọa, là Hòa thượng, những cái đó là giả danh hết, không có ý nghĩa gì cả; chùa chiền, bổn đạo, xe cộ, đất đai, ruộng vườn, giấy tờ cũng không là cái gì hết, đó là pháp thoái đọa của Tỳ-kheo. Nếu người tu còn quan trọng những thứ là sắc uẩn như vậy, tức là sắc uẩn còn chưa vượt qua được thì làm sao vượt qua được thọ, tưởng, hành, thức. Những dục lậu thô thiển của thế gian còn chưa qua nỗi thì làm sao đột phá được những cái hết sức vi tế, thâm sâu ở bên trong những cảm giác.
Ví dụ mình suy nghĩ sau này sẽ trở thành gì đó, thì suy nghĩ đó có phải bản ngã không? Khi đang suy nghĩ mai mốt mình sẽ trở thành gì đó thì mình nói sắc là trống không, cảm giác này là trống không, những nghĩ tưởng này là vô ngã, thức này là vô thường. Khi nghĩ rằng có mình trong này và suy nghĩ mình làm cái này, cái kia, thì phải Như lý tác ý, tuệ lực, sự quán chiếu thâm sâu, chánh tư duy, ly tham tư duy, ly dục tư duy, ly sân tư duy,vô ngã tư duy đó là Thánh trí. Cứ như vậy mà tác ý, đánh đuổi lần lần, học hạnh khiêm cung, cung kính cho đến già. Cho nên hạnh cung kính và hạnh khiêm cung không bao giờ là dư thừa. Vì thế, đạo tràng Nikāya luôn phải học tinh thần năm khiêm bao gồm khiêm cung, khiêm nhã, khiêm nhường, khiêm tốn, khiêm hạ.
Khi nhiếp phục được bản ngã, nhiếp phục được cái tôi, nhiếp phục được cái ta, nhiếp phục được cảm giác dương dương tự đắc là mình sẽ thấy được điều kỳ diệu. Chúng ta lan tỏa ra cảm giác ấm áp, thân thiện đối với tất cả mọi loài, ai đến mình cũng có cảm giác giống như cây cổ thụ cho chim muôn về làm tổ. Tất cả chúng sanh ái kính, khát ngưỡng, tôn trọng, đảnh lễ, đó là bậc đáng được chắp tay, đáng được cung kính, đáng được cúng dường là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Đó là bậc luôn luôn nhiếp phục, đoạn giảm và đi đến chỗ diệt tận bản ngã.
Cho nên, chúng ta phải luôn luôn tác ý, quán chiếu và hết sức sợ những từ mình đọc trong Sám hối diệt ngã:
Không ai ngụy biện bằng bản ngã,
Không ai xảo trá bằng cái ta,
Không ai xấu xa bằng cái ngã.
Không ai tố mình bằng tự ta.
Không ai độc ác bằng bản ngã,
Không ai tỵ hiềm bằng cái tôi,
Không ai dối lừa bằng cái ngã,
Không ai hại mình bằng cái ta.
Sau đó phải bắt:
Cái ngã, cái ta mau cúi xuống,
Cúi xuống cho mau cái ngã này,
Chính ngươi là kẻ làm ta khổ,
Ngươi nhận chìm ta trong tử sanh.
(trích Sám Hối Diệt Ngã)
Phải để cho những cảm giác của trí tuệ diệt ngã này ngấm sâu vào trong những cung bậc cảm thọ sâu sắc nhất của tâm cảm. Hãy tưới tẩm, nuôi dưỡng những cảm giác vô ngã để thanh lọc, tẩy rửa, tẩy não những cảm giác vô minh, si mê, chấp thủ, dương dương tự đắc, cống cao ngã mạn, khen mình chê người, ta đây, hơn thiên hạ. Đó chính là bậc chân tu, là con cưng của Đức Như Lai, mới thật sự là người kế thừa Chánh pháp của Thế Tôn.
Đồng thời, phải phát hiện ra được ngụy biện của bản ngã. Ví dụ, khi làm gì sai trật, mình bị rầy, bị góp ý thì bên trong hành uẩn, suy nghĩ sẽ nói “tại cái này, tại người kia, đúng ra mình không bị sai, mà lại bị rầy, tại mấy người kia mà tự nhiên đổ thừa cho mình”. Hoặc nó nói “mấy lúc mình tinh tấn thì không thấy sư phụ, mà đang lúc làm biếng thì sư phụ lên thiền đường”. Đó là lời ngụy biện của bản ngã, không được chấp nhận nó, mà phải diệt tận. Chính cái này đưa mình vào biển lửa, vào hầm than, vào địa ngục. Đừng để bản ngã thỏ thẻ, thì thầm, thủ thỉ, thở than ở đây nữa: “Ngươi tan biến đi, chấm dứt đi, đừng rù quến, dụ dỗ ta nữa”. Hoặc bản ngã làm biếng nói: “Thôi hôm nay mệt, đừng có lên tu” cùng với bản ngã của dục, ái, tham ngụy biện trong tâm đủ thứ.
Chính vì vậy, chúng ta phải cố gắng làm cho bản ngã của tham, sân, si, cống cao, tự đắc, đố kị, tị hiềm, ganh ghét, dối trá, lọc lừa, hại người, ác độc... được phơi bày hết trong ánh sáng của Thánh trí, trên con đường của Thánh đạo. Nếu thường trực nhận diện năm uẩn và thực tập Tứ Niệm Xứ thì mới phanh phui hết được, còn bằng không thì bản ngã sẽ giết mình chết. Bao phủ thân này là lớp da êm ái, đẹp đẽ, nhưng chỉ cần rọc ra một cái là máu đổ xuống, mỡ lòi ra, tim, phèo, phổi, một đống ruột đổ ra, toàn nước tiểu, mủ, máu... Lúc đổ ra như vậy có còn ai còn dám lại ôm đống đờm đó không? Vậy đó mà chỉ có một lớp da phủ mỏng, nhẹ thôi là mê hết trong tam giới và bản ngã cũng giống vậy. Chỉ có Thánh trí là giải phẫu học, phanh phui, mổ xẻ nó ra, đây mới là pháp tu thật sự của Đức Phật. Chỉ có Chánh Pháp của Ngài mới đủ sức mạnh xuyên thủng qua lớp da, xuyên thủng qua khối vô minh, xuyên thủng qua tường đài vách sắt của bản ngã ta đây, cống cao, ngã mạn, dương dương tự đắc, khen mình chê người. Đập cho nó vỡ tan tành, diệt tận, bắt nó cúi đầu, bắt nó lạy, bắt nó cúi xuống.
Một tình thương bao la cũng sẽ xuất hiện khi mình tu tập và thể nhập được trí tuệ diệt ngã này. Một cảm giác xót thương sẽ tràn ngập trong thân tâm và lan tỏa đến mọi người, vì tất cả chúng ta là nạn nhân của bản ngã. Khi gặp một người đang dương dương tự đắc, thể hiện bản ngã thì mình thấy thương chứ không giận, điều này mình đã từng bị biết bao nhiêu lần, nhưng bây giờ mình may mắn là bắt đầu nhận diện được và đi ra, còn người này vẫn đang khoái chí trong này, thật tội nghiệp. Lúc ấy, mình không có sân hận đối với họ, như thế này diệt được gốc rễ của tham sân. Còn ngược lại cứ kiềm kiềm là sớm muộn cũng bung ra, kiềm không được, la hoài, cãi hoài, đánh hoài thì làm sao mà kiềm. Hơn nữa, khi sân giận như vậy không phải là do người đó gây ra, mà chính là bản ngã, nó độc ác như vậy, nó nói rằng ai xúc phạm nó, khinh thường nó thì sẽ làm cho họ biết mặt, thậm chí là giết người. Có nhiều người giết người xong là họ tự vẫn luôn, qua đó, chúng ta thấy rằng, bản ngã thật sự rất khủng khiếp. Cần phải quán chiếu những điều đó để làm mình phát sanh cảm giác ghê sợ, hoảng sợ, khiếp sợ đối với những sự ác độc, tai hại, nguy hiểm của bản ngã, nó đang giết hết người trong thiên hạ này. Bên cạnh đó, cũng sẽ có một lòng bi mẫn trào dâng dào dạt. Giờ này ta không để cho bản ngã hại mình hại người nữa, mà ta phải đánh tan bản ngã. Và khi đó:
Bản ngã chết rồi, thân kiến chết,
Tứ quả Thánh hiền hiển lộ ra,
Cửa vào Bất tử dần rộng mở,
Gương Ngài Xá-Lợi sáng muôn nơi.
Bản ngã chết rồi tâm thảnh thơi,
Khổ đau, phiền não được dừng rồi,
Trầm luân, sanh tử được chấm dứt,
Tịch lặng, Niết-bàn, thật bình an.
(trích Sám Hối Diệt Ngã)
./.