Tinh Hoa Nikaya Giảng Giải 10 - Những Lợi Ích - Thù Thắng - Khi Tu Học Pháp Phật Nguyên Chất 4
Tinh Hoa Nikāya Giảng Giải 10
Những Lợi Ích – Thù Thắng
Khi Tu Học Pháp Phật Nguyên Chất 4
Thích Minh Thành
Ngày 11 tháng 04 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lợi ích thứ 4 PAGEREF _Toc140657025 \h 1
II. Lợi ích thứ 5 PAGEREF _Toc140657026 \h 3
III. Duyên sanh pháp – nhiếp phục cảm thọ PAGEREF _Toc140657027 \h 4
IV. Lợi ích số 6, 7, 8 PAGEREF _Toc140657028 \h 9
I. Lợi ích thứ 4
Tiếp theo lợi ích thứ 4: “Đã được Đức Phật trình bày đa dạng với nhiều hình thức, nhiều góc độ, nhiều khía cạnh. Hành giả học hỏi được nhiều cách tu tập, nhiều phương tiện tu tập, không bị hạn chế, bó buộc trong một phương tiện tu tập, theo một cá nhân, 1 tông phái nào”, cái này rất quan trọng. Có 1 cái nhìn toàn diện về giáo pháp, ở đây mình nói ví dụ thôi. Chúng ta được học suốt 2 năm nay, mà cái chìa khóa để mở cánh cửa nội tâm chúng ta là nhận diện ngũ uẩn. Nếu không thấy cái đó thì tất cả pháp tu không có nền tảng, không có cơ sở. Mình không thấy được cái tâm mình là cái gì, thì làm sao mình tu. Mà từ ngày chúng ta biết nhận diện ngũ uẩn, chúng ta thấy có khác không?
Mình đọc cái tâm mình nó chính xác hơn, mình nhìn nhận cái tâm mình nó rõ ràng hơn. Thì từ cái đó thấy được ngũ uẩn ở đây là mình nói đơn giản, cốt lõi thôi, rồi sau này mình thấy được tham, sân, si. Thấy được những dục, tham, ái, vô minh, bản ngã, chấp thủ ở trong 5 uẩn. Sau đó mình có những phương pháp tác chiến, những chiến lược thích ứng phù hợp, thích nghi với từng cái tên giặt trong tâm của mình. Thí dụ như dục lấy gì trị? Quán bất tịnh. Sân hận lấy gì trị? Dục, tham, ái lấy gì trị? Si mê lấy gì trị? Ái luyến lấy gì trị? Vô thường. Bản ngã lấy gì trị? Khiêm cung, khiêm hạ, diệt ngã. Chúng ta thấy không? Từng cái, từng cái nó đối trị.
Mà đó là nói tổng cương lĩnh, tổng quát những cái lớn. Còn khi mà đi sâu vào những khía cạnh, từng cái nhỏ nó có những cái đối trị tương thích, tương ứng, cách như lý tác ý từng khía cạnh một. Thì chúng ta thấy đó là sự tu học nhiều khía cạnh, phương diện, không có bị hạn chế, bó buộc. Rồi thí dụ như bây bờ mình chỉ biết niệm 1 câu thôi, rồi bây giờ dục ái, mà niệm nó không hết rồi sao? Rồi cái thôi à. Rồi bây giờ sân mình cứ niệm Phật, niệm thì niệm mà không hết sân thì lúc đó làm sao? Thôi à? “Tại vì tôi là người tu pháp môn này, tôi chỉ niệm cái này không có làm gì khác. Thì cái đó là chỗ hạn chế mình rất nhiều, chúng ta thấy không?
Rồi bây giờ cái bản ngã nó sanh khởi, nó hơn thua thì dù mình niệm mà nó không hết thì làm sao? La, rầy, quở, trách, mắng nó: “Đồ ngu, tối ngày mày cứ hơn thua quài. Mày ngu si vừa vừa thôi cái tâm mê này”. Mình quở trách, mình làm đủ kiểu hết trơn, để cho cái tâm nó thấy xấu hổ, nó nhục, nó lắng dịu xuống, nó tan biến khỏi thân tâm mình. Mình làm đủ mọi cách hết, cái đó gọi là thiền quán. Đó là sự tu tập tuyệt diệu, đầy đủ, tối thượng, nhiều phương diện, khía canh, góc độ của Nikāya. Ở đây mình không có nêu cái tông phái nào hết trơn, mà cái tâm của mình chính là những lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Không có đi theo bất cứ người thứ 2 nào, chỗ đó là chỗ đặc biệt.
Mà ngày đầu tiên chúng ta đã trực chỉ Phật môn, thẳng vô lời dạy của Đức Phật. Chúng ta đọc thì chúng ta sẽ thấy Đức Phật quở trách dục khủng khiếp, Đức Phật chỉ toàn là cái cách cho mình tác ý để mình ly dục. Đức Phật quở trách rất là nhiều trong việc lợi đắc cung kính, “Tương ưng lợi đắc cung kính”. Quở cho bằng tan nát hết trơn, đọc trong đó là mình thấy xấu hổ, tàm quý, sợ hãi, lo lắng lắm. Mà những cái đó là cách Đức Phật dạy cho mình cách như lý tác ý, chúng ta có nghe qua rồi phải không? Còn nhớ không? Ai đứng lên nói coi. Trong chương “Lợi đắc cung kính”, Đức Phật dạy phải quán như thế nào? Ai nhớ giơ tay lên, không nhớ làm sao biết cách tác ý.
Hãy xem những lợi dưỡng cung kính, cúng dường đó giống như cái gì? Đống phân. Rồi giống như gì nữa? Quên rồi thì làm sao biết cách tác ý? Đó là chỉ dạy cách tu đó, cho nên mình đi tìm cách tu ở đâu đó. Giống như lưỡi câu với miếng mồi, giống như sấm sét, giống như cái dao cắt vô da, vô thịt, vô xương, vô tới trong tủy. Về mở ra đọc lại, từ cách Đức Phật dạy mình tác ý, suy được cách cung kính, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng, phải quán như vậy. Nhiều cái pháp tu, trong đó tất cả những lời dạy trong Nikāya là pháp tu, pháp hành hết. Chẳng những mình đọc, mình hiểu, mà mình còn phải nhớ thực hành.
II. Lợi ích thứ 5
Lợi ích thứ 5: “Tâm nguyện tu học chân chánh có khả năng được thành tựu, khi nghiên cứu và học hỏi Nikāya, hành giả có được 1 cái nhìn trực tiếp, trực diện đối với Chánh pháp. Giúp cho hành giả không có đi lệch ra ngoài con đường chân chánh, đưa đến sự thoát ly khổ, thoát ly sanh tử. Không có làm uổng phí thời gian và công sức mà hành giả đã bỏ ra để nghiên cứu, học hỏi, tìm hiểu và thực hành theo giáo pháp của Đức Phật. Giúp cho việc tình và ước nguyện chân chánh của người tu được đạt thành kết quả tốt đẹp và lợi ích thiết thực ngay trong đời sống hiện tại.”
Chúng ta thấy không, bây giờ mình tu mình nói: “Liễu sanh thoát tử, thoát ly sanh tử, giải thoát sanh tử”. Mình nói: “Cuộc đời mình không có khổ”, rồi làm sao thoát ly, sao xuất ly. Chúng ta thấy cái tầm quan trọng của nó chưa? Cái sự nhất quán trong trí tuệ Nikāya, không phải ba hồi nói vậy, bốn hồi nói khác được. Bây giờ mình nhìn cái chuông trên bàn mình còn nói cái này đẹp, còn thích, còn khoái cái này làm sao mình bỏ được. Nói: “Cái chuông này của tôi, cái chuông này đem bên Ấn Độ về, cái chuông này mắt lắm, cái chuông này quý lắm, cái chuông này êm lắm, cái tiếng nghe đã lắm, hay lắm”, thì làm sao mình bỏ nó được.
Rủi có ai lại bưng cái chuông đi, rồi về ngủ không được, khổ, thấy chưa? Tuy là mình sử dụng nó, nhưng mà mình biết được thực chất của nó, nó chỉ là sắc pháp, tứ đại thôi. Nó không bị người ta ăn trộm, thì có ngày đánh nó cũng bể à, rồi nó cũng hư hoại. Chính vì vậy mà khi nó bị ăn cắp, nó bị hư, bị hoại, bị bể thì mình vẫn điềm nhiên thôi, tại vì mình biết nó là như vậy. Vì nó còn duyên, nên cái duyên sanh với cái xúc nó vang ra tiếng như vậy. Nó hết duyên đánh vô nó kêu cạch cạch, kẹt kẹt, nó kêu cái tiếng khác, mình đổi đánh chỗ khác thì nó kêu tiếng khác. Hay mình lấy cái tay áo mình chùi vô nó thì nó có kêu đâu, cũng là xúc nhưng mà nó đâu nó kêu. Nó chỉ là duyên sanh thôi, nhưng mà mình chấp thủ vô trong đó.
Thì mình phải có cái thấy biết như vậy đối với tất cả mọi cái, chứ không phải chỉ có cái chuông này. Tấm thân này cũng vậy, cảm giác trong con người mình cũng vậy, những suy nghĩ, những hình bóng trong tâm, nhận thức này cũng như vậy. Tất cả nó sanh khởi lên, đều do cái duyên nó sanh ra. Chúng ta đã học duyên sanh pháp rồi, ai lên trả bài coi. Ai xung phong lên duyên sanh pháp coi, không có lật tập gì hết. Tại vì không thuộc là không có biết cách tu, như bây giờ mình quán duyên sanh pháp mà mình không có thuộc, “chờ tôi về tôi vở bài tôi tìm”, thì quán sao được. Ai nhớ duyên sanh pháp giơ tay, cộng điểm thi. Rồi mời sư cô, đóng sách lại, không có cho dòm nha.
III. Duyên sanh pháp – nhiếp phục cảm thọ
Sư cô:
“Dạ mô Phật, kính bạch trên chư tôn đức, con xin nói về duyên sanh pháp của con mắt. Đó là do duyên có con mắt và các sắc, các sắc sanh ra nhãn thức, sự hội tụ 3 pháp này gọi là nhãn xúc. Rõ biết các sắc, thọ do nhãn xúc sanh và sắc tưởng, sắc tư.”
Đúng rồi, cho tràng pháp tay lớn. Tại vì chúng ta không có thời gian nhiều, mai mốt nếu có ngày pháp hành, chúng ta sẽ thực tập ngay tại chỗ hết. Thí dụ mình nhìn 1 cái như vậy, mình phải trình bày ra được cái duyên sanh pháp của nó. Khi chúng ta chưa có học Nikāya, là chúng ta nói duyên sanh 1 cách chung chung không à. Cái tâm mình nó mờ lắm, không có tỏ, trí huệ không có sắc bén, chính xác, chân xác về các pháp. Khi chúng ta học được cái Thánh trí này rồi, chúng ta thấy chính xác, chân xác, nó rất là rõ, cái nào nó ra cái nấy hết trơn. Còn có ai thuộc duyên sanh pháp nào nữa không ạ? Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
Lâu lâu phải trả bài lại, phải học, phải dò lại, phải có thực hành thì mới nhớ, còn người không thực hành thì sẽ quên. Về học đi, mấy bữa sau sẽ trả bài, ngay lúc trả bài là cộng vô điểm thị luôn. Thi không có quan trọng, bằng cái bình thường mình sử dụng được. Khi mình nghe tiếng chê bai, chỉ trích, thâm chí là mắng chửi. Mình có thấy “tôi đang chị mắng chửi không?” Nếu thấy như vậy là vô văn phàm phu rồi, mình không có thấy bằng trí tuệ. Trí tuệ thì thấy sao? Sư cô bác sĩ bên đây nè, trí tuệ phải thấy làm sao. Đọc duyên sanh pháp lỗ tai coi, xếp sách lại không cho nhìn, không có mót gì hết.
Sư cô 2:
“Dạ kính bạch trên thầy giáo thọ, quý thầy, quý sư cô, con sxin được nhắc lại duyên sanh pháp của tai. Do duyên có lỗ tai và các tiếng sanh ra nhĩ thức, sự hội tụ, giao thoa của 3 pháp này sanh ra nhĩ xúc. Do duyên có nhĩ xúc, nên sanh ra thọ do nhĩ xúc sanh. Từ đó sanh ra thanh tưởng, thanh tư.”
Cho 1 tràng pháo tay lớn đi, đó là lớp khác cứu bồ lớp này đó, trợ giúp đấy. Chúng ta không thuộc cái này, chúng ta không có thành tựu Thánh trí tuệ về duyên sanh. Phải thuộc lòng, vì đây là cái định lý chứng ngộ của Đức Phật mà. Những cái cần thuộc thì không thuộc, những cái không cần thuộc thì cứ thuộc, thuộc thơ, thơ thẩn gì không à. Những cái này phải thuộc nằm lòng, như chú “Giảng sanh”, chú “Đại bi” vậy đó. Tại vì đây là định lý chứng ngộ của Đức Phật, nếu mình không thuộc cái này làm sao mình thấy được cái duyên sanh. Nếu mình không thấy được cái duyên sanh, thì làm sao mình thấy được cái vô ngã. Chúng ta thấy cái này rất quan trọng, hồi xưa khi mà con chưa học Nikāya là con không biết cái này.
Mình nghĩ đâu kinh là nói 1 lẽ mình học thôi, còn khi ra tu là tu cái khác. Mình nghĩ như vậy không phải, chính là những cái đó đó. Cho nên Nikāya đặt biệt hơn với tất cả những cái mà trước nay mình tu, pháp học chính là cái pháp hành, hai cái nó không tách rời nhau. Bây giờ mình bị ai đó nhục mạ mình nè, lúc đó mình tu làm sao? Làm sao mà tu được, không có thể nào mà cái tâm mình bình an hết trơn đó. Tại vì mình thấy rằng mình đang bị người kia nhục mạ, mắng chửi. Mà nếu thấy như vậy thì chướng ngại tướng rồi, là thức ăn của sân rồi, học chưa? Từ cái ngày đầu mình đã học rồi, thành ra phải thuộc, phải nhớ.
Rồi bây giờ mình lo quay trở lại nhiếp phục cảm thọ, cảm thọ nhiếp phục không còn chưa được nữa. Tại vì mình thấy mình còn giận, mình kêu nó lắng nó không chịu lắng, bây giờ mình phải quán duyên sanh pháp. Quán không có ai ở đât hết, cái lỗ tai nó làm bằng cái gì? Ngồi im ru hết trơn. Bằng tứ đại, đất, nước, gió, lửa, bằng da, thịt, máu, mủ, gân. Nó đâu có tôi trong này, tại sao mình nói là: “Tôi bị chửi, tôi bị chê”. Mình dùng cái tư tưởng đúng, dập cái tư tưởng sai. Dùng suy nghĩ đúng đánh vô cái suy nghĩ sai. Dùng cái nhìn nhận đúng đập cái nhìn nhận sai. Thì cái đó là mình lấy Chánh kiến dẹp tà kiến đó. Chúng ta thấy rõ không?
Thì mình nói cái lỗi tai này không có mình trong này, nó là tứ đại thôi. Do duyên có cái tứ đại này, miếng thịt, máu, đầy đủ các thành phần trong đây. Cho nên nó nghe cái tiếng ở ngoài, sanh ra sự rõ biết. Nó là nó, đừng có gắn mình trong đó, không có tôi, của tôi, tự ngã của tôi trong đó. Lỗ tai, âm thanh và sự rõ biết âm thanh nó có mặt. Và 3 cái pháp này nó là sự giao thoa, tiếp xúc, gọi là nhĩ xúc. Khi tiếp xúc nó sanh ra cảm thọ, mà cảm thọ này là đang có cảm thọ bực bội, tức giận, sân hận. Mà cảm thọ này không phải là mình, không phải của mình. Do duyên nó sanh? Duyên cái lỗ tai mà ở trong tầm nghe của nó, chứ mà đứng ở ngoài đường chửi có nghe đâu mà sân. Phải chưa?
Nó thiếu cái duyên thì nó không có giận, bây giờ ở nửa vòng trái đất mà có cái điện thoại nghe cái giận. Mà chỉ cần cách vách tường thôi mà bên kia có chửi, mình nghe không được thì đâu có giận. Đem bánh qua cho ăn, mà mới chửi tất thì, không có biết thì đâu có giận. Thành ra Đức Thế Tôn nói: “Cái thức này là trò ảo thuật thôi”, đâu có thật đâu. Thọ do nhĩ xúc sanh, sau đó đi về rồi mình tơ tưởng lại cái âm thanh đó, cái âm thanh chửi. Hồi tưởng lại những cái âm thanh đó, thanh tưởng, thanh tư. Rồi xong tiếp tục khổ nữa, sân nữa, bực bội nữa. Phân tích đủ kiểu theo minh, chấp thủ, tham ái nó dính chum, dính nùi nùi trong đó, gỡ quài gỡ không ra.
Còn cái kia dập thẳng vô bên trong có mình nó à, “đâu phải của mình, đây chỉ là duyên sanh thôi”. Thì mình lúc đầu sẽ khó, nhưng mà làm riết nó sẽ quen, từ từ mình dập luôn cái suy nghĩ mình, của mình. Bên kia cũng ngũ uẩn, bên đây cũng ngũ uẩn. Tất cả ngũ uẩn đều tham, sân, si, vô minh, bản ngã, đau khổ, tại họa, tai nạn, khốn nạn, khổ nạn, hoạn nạn, ách nạn, hiểm nạn, nguy nan không à. Giận làm chi cho nó mệt, thương đi, tội nghiệp cái cơn giận này đi. Tội nghiệp cái cảm thọ, cái tâm ngu, tâm mê, tâm si, tâm chấp ngã này. Mình trải cái tâm thương mình, rồi mình trải tâm thương cho người kia. Rồi mình diệt tận luôn cái cảm thọ bực bội, sân hận.
Sau này mình nhớ lại lá mình không có nhớ giận nữa, thương thôi. Mình đã nhổ luôn cái gốc của tâm sân hận, bản ngã. Cái đó gọi là “được cái nhìn trực tiếp, trực diện đối với Chánh pháp. Giúp cho hành giả không có đi lệch ra ngoài con đường chân chánh, đưa đến sự thoát ly khổ, thoát ly sanh tử”. Chúng ta thấy tu học những cách tối thượng, thần diệu, vi diệu, thiết thực, hiện tại, không có thời gian đến để mà thấy, có hiệu quả tức thời như vậy đó. Như vậy mà không chịu tu mà tu cái gì, dùng toàn trí tuệ, pháp quán, thiền quán để thấy sự thật không à. Chứ không có sự mê tín, tưởng tượng gì ở đây hết trơn, nó rõ ràng như vậy.
Cảm thọ sân khởi sân lên mình biết không? Rồi cảm thọ tham lên, dục ái lên biết không? Bản ngã sanh khởi lên biết không? Rồi có cách diệt tận nó không? Mà chịu làm hay không, thì chỗ đó mới là chỗ cốt lõi của vấn đề. Ở kế bên dòng sông mà chết khát, ở trong kho báu mà nghèo khổ, là tại vì sao? Tại vì không có nghe theo lời dạy, không có chịu làm theo bậc đại đạo sư Đức Thế Tôn. Bất hiếu, nghịch tử, không có hiếu thảo với cha, với từ phụ. Thích làm vô côn, đi lang thang, không chịu quay về căn nhà an ổn của mình. Đức Thế Tôn nói ở trong “Tương Ưng Niệm Xứ”: “Tứ niệm xứ chính là chỗ của ông bà, tổ tiên, cha mẹ của mình”. Mình không chịu ở chỗ đó, mình đi ra ngoài.
Mình nhớ trong Tây Du Ký mà Tôn Ngộ Không vẽ cái vòng tròn, kêu xứ phụ ở trong này nhớ không? Rồi ông sư phụ thấy cái gì đó rồi ổng bước ra ngoài, xong rồi bị bắt. Thành ra Ngộ Không vẽ cái vòng đó, là 1 trí tuệ an trú ở trong Chánh pháp. Còn ông Đường Tăng thấy cái này, cái kia đi ra giúp đỡ là chuyện thường tình của phàm phu. Nó đi ra khỏi trí huệ, đi ra khỏi phạm trù của Chánh pháp thì gặp tai họa liền, bị sớt liền, yêu tinh bắt liền. Coi chừng yêu tinh ở kế bên mình đó, nhiều khi nó ngồi xát bên đó, không có xa. Mắt mình thấy, tai mình nghe, mũi mình ngửi, lưỡi mình nếm, thân mình xúc chạm, ý mình nghiêng với pháp, suy nghĩ những hình ảnh ở trong đó, hở ra 1 chút là nó bắt mình à.
Đức Phật dùng hình ảnh là con chim nhỏ với lại con đại bàng, con chim nhỏ này trốn vô tảng đá, mỏm đất rất là cứng chắc. Con đại bàng ở trên xỉa thẳng cái mỏ nó xuống, dọng vô 1 cái thì cái mỏ nó đau. Con chim nhỏ này trốn trong đó, ẩn trú trong cái mỏm đá. Là Đức Phật ví dụ người tu xuất gia của mình ở trong tứ niệm xứ, không có ra khỏi tứ niệm xứ, luôn luôn nhìn lại thân, thọ, tâm, pháp của mình. Mình không có quán thân trên thân, không nhìn lại cảm thọ của mình. Mình không có soi rọi vào nội tâm, không có biết rằng trong tâm có pháp thiện, bất thiện sanh khởi, vận hành, quậy phá mình như thế nào. Mình không biết gì hết trơn, mình cứ hướng ngoại nhìn bên ngoài: “Ôi cái này đẹp quá ha!”
Tối ngày cứ hướng ngoại như vậy không, rồi tham, sân, si. Đụng vô tới là sân liền, nhìn vô cái thấy tham liền, chạm vô 1 cái bản ngã, hơn thua liền. Rồi xong sầu, bi, khổ, ưu não, sanh tử dài dài, đau khổ quài quài, khóc quài. Vậy thôi chứ có gì đâu, pháp Phật đâu có nhiều đâu. Nhận diện ngũ uẩn, nhiếp phục tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã. Tẩy sạch, diệt tận, Thánh quả tối thượng, cứu cánh phạm hạnh, vô thượng nhân thiên phước điền. Muốn hay là không muốn, làm hay là không làm, quyết hay là không quyết là ở chỗ mình. Cái đó là dục như ý túc, tinh tấn như ý túc, tâm như ý túc, tư duy như ý túc, tinh cần tinh tấn.
Cho nên chúng ta học những cái này, chúng ta học trực tiếp phương pháp diệt khổ. “Giúp cho việc tình và ước nguyện chân chánh của người tu được đạt thành kết quả tốt đẹp và lợi ích thiết thực ngay trong đời sống hiện tại”. Cho nên là chúng ta phải thuộc lòng, Nikāya là phải thuộc lòng. Nhớ ba mớ nói tùm lum, lộn xộn xà ngầu, lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia, tự nhiên 1 hồi bà có râu. “Kinh có câu, tổ đức có câu”, cái này là ghê gớm. Con mà lên chấm bài, làm giám khảo là đánh rớt hết trơn, thấy chữ “có câu” là cho rớt hết. Kinh nào? Tăng Chi Bộ, Trường Bộ, Tương Ưng Bộ… Phẩm nào…Phải rõ ràng như vậy, chứ không có nói chung chung, giảng sư mà nói chung chung. Phải cố gắng dẫn chứng ở trong tạng kinh Nikāya, phải dẫn chứng nó ra.
IV. Lợi ích số 6, 7, 8
Nói cái này là trời người rúng động, thiên thần cũng phải cúi đầu nghe chứ đừng nói chi loài người. Tất cả chư Thiên đau khổ vì dục, ái, vô minh, chấp thủ. Lợi ích số 6: “Biết rõ điều cần tu tập khi nghiên cứu học hỏi kinh Nikāya, hành giả có đầy đủ những phương tiện để thực hiện pháp học và pháp hành cho tự thân. Hành giả biết rõ những gì mình cần phải làm, trên con đường đi đến sự chấm dứt sanh tử”. Lợi ích số 7: “Tâm được an trú trong trí tuệ của bậc Chánh đẳng giác, trong khi đọc, học, nghe, nghiên cứu, học hỏi các bài kinh trong Nikāya. Thì tâm của hành giả được an trú vào trong Chánh tri kiến, trong lúc ấy thì tham, sân, si vắng mặt, tâm được an trú vào trong Chánh pháp.”
Lợi ích số 8: “Được gieo duyên với Chánh pháp, Chánh đạo, khi nghiên cứu học kinh Nikāya. Ngay trong hiện tại, hành giả gieo kết được những thiện duyên tốt lành, đối với Chánh pháp của Đức Phật. Có thể thẳng tiến đến việc tu tập sự giải thoát sanh tử, ngay trong kiếp hiện tại chứng đạt quả A-la-hán. Nhưng nếu ngay trong hiện tại, không đạt được sự chấm dứt sanh tử. Thì những thiện duyên này sẽ giúp cho các đời sau, khi được sanh ra tâm của hành giả luôn hướng về sự tìm cầu Chánh pháp. Thao thức tìm kiếm những lời dạy nguyên gốc của Đức Phật, đồng thời tâm cũng luôn hướng về sự không ưa thích đối với các tà pháp, tà nhân, tránh xa các tà kiến không chơn chánh, không có cảm xúc, cảm tình đối với các tà đạo.
Tránh được các cơn đường tu tập sai lệch làm uổng phí công sức, và tâm nguyện của người tu, mà vẫn không đạt được sự giải thoát khổ đau.”
Lợi ích thứ 6: “Đầy đủ những phương tiện để thực hiện pháp học và pháp hành”. Thì chúng ta thấy từng 1 cái phiền não có 1 pháp khí để mà đối trị, tập khí có pháp khí để đối trị. Phiền não thì có 1 trí tuệ để mà đối trị tương thích, tương ứng, phong phú và đa dạng nhiều góc độ, khía cạnh. Và cái quan trọng ở đây là “biết rõ những gì mình cần phải làm, trên con đường đi đến sự chấm dứt sanh tử”. Cái này rất quan trọng, biết rõ những gì mình phải làm, mình cần làm cái gì, mình biết cái gì cần làm và không cần làm. Giống như hồi nãy con nói cho các thầy các cô, không có quan trọng vấn đề ai nói thị phi này nọ kia. Không có quan trọng người kia tu làm sao, mình lo cho mình.
Mình phải biết là mình đang làm cái gì, đang cần cái gì, đang cần phải tu cái gì mình phải biết. Thí dụ hiện tại mình đang bị dục xâm chiếm, chi phối, áp đảo rất là dữ tợn. Cho nên cần phải tập trung toàn bộ tâm ý vào sự quán tứ đại, quán bất tịnh, quán 32 thể trượt và chín giai đoạn tử thi. Mình biết rằng bây giờ mình cần uống cái thuốc này, thì mình tập trung tất cả những đề mục, những bài pháp mình nghe, những thời mình thiền quán, mọi sự thực tập, mình tập trung vào cái này. Một cái này suy nhất thôi, xuyên suốt 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 1 pháp 1 thôi, để mình trị cái bệnh dục. Mình biết nó đang trong người mình nó đang mạnh, nó đang xâm chiếm, áp đảo mình, tập trung vào 1 cái đó mình trị.
Mình lạy sám hối, cũng lạy sám hối về cái dục, rồi mình viết bài nhật ký tu học mình cũng khai báo nó ra luôn. Mình viết cho mình đọc thôi, rồi mình quán từ tứ đại, quán 32 thể trượt, quán bộ xương, quán tử thi. Tập trung tất cả thời gian vào đề mục đó mình quán. Rồi mình khai triển hết tất cả năng lực, tâm lực, trí lực, sức lực, pháp lực, đạo lực mà mình có, mình dập nó. Đưa ra những phương pháp tác chiến, quyết chiến, quyết tử. Thậm chí cần thiết thì đóng cửa nhập thất, không sao hết. Tất cả chuyện khác để qua 1 bên, bây giờ có chuyện nào quan trọng bằng đời tu của mình, sự nghiệp tu hành của mình. Dừng lại hết tất cả mọi công việc, đóng của nhập thất, lên núi tu.
“Thầy ơi cho con lên núi tu, con sắp sửa gặp guy hiểm rồi. Yêu tinh nó sắp tới bắt con rồi”. Lên đây tu cho vô thất liền, vẽ vòng tròn liền, trở về mảnh đất của tổ tiên, an trú vào căn nhà của đức Chánh đẳng giác, của chư Phật. “Lập tức vô thất liền con”. Rồi bây giờ mình thấy cái tâm mình nó tham nhiều quá, tham cái này, cái nọ, cái kia. Bắt đầu mình dập nó, mình quán vô thường, quán khổ liên tục. Mình an trú vào vô thường tưởng, vô ngã tưởng, khổ tưởng. Cái này tất cả bài con có hướng dẫn hết trơn, có pháp hành hết, vừa có lý thuyết, có thực hành luôn. Nghe nguyên loạt bài về khổ Thánh trí, gần 20 bài. Dập vô cái tâm tham, tâm muốn, tâm ham chơi, ham ăn, ham ngủ, ham vui. Cái tâm mà ưa thích buông thả, buông trôi, buông lơi, buông lung, buông rơi.
Dập vô nó, đập nó, phạt nó, trị nó. Tất cả thời lạy sám hối, thiền quán, viết nhật ký về tu học. Làm liên tục hết tất cả quán về khổ, vô thường, quán về tai họa của dục, tai họa của buông lung phông dật. Mình quán, suy tư tất cả những cái mình viết ra, trình pháp mỗi ngày. Chứ không phải lại kêu mà ngồi im ru, lắc đầu. Cái tâm đó là chưa có nhu nhuyến, chưa có nhiệt tâm, tinh cần, chưa có tha thiết tu học. Đưa cái micro cho mình, mình trình liền, dạ liền: “Con thấy con xấu hổ, hổm rày con tu không có tiến bộ, con nhìn con thất cái bản ngã của con hổm rày nó mạnh”. Chân thành, chân thật, thành thật khai báo hết tất cả, đó là đệ tử của Đức Thế Tôn đó. Trực hạnh là đệ tử của Thế Tôn, chân chánh hạnh là để tử của Thế Tôn, ứng lý hạnh là đệ tử của Thế Tôn, diệu hạnh là đệ tử của Thế Tôn.
Đó là định nghĩa về tăng do chính Đức Phật định nghĩa à, chứ không phải người nào định nghĩa đâu à, bốn đức tánh đó là bốn đức tánh vi diệu của Thánh đệ tử. Rồi hổm rày mình thấy cái bản ngã mình nó quá xá quà xa, xấu hổ, nhục nhã. Đọc bài “Sám hối diệt ngã”, đọc bài đức hạnh của ngài Xá-lợi-phất, 9 cái pháp an trú tâm. An trú tâm thành cái nùi giẻ rách, nhớ kẻ ăn xin, nhớ cái u nhọt 9 lỗ rỉ chảy. Dập nó, đánh nó, đưa ra những phương pháp tác chiến, chiến lược, viết ra những kế hoạch tu hành trong 1, 3 tháng này. Viết ra mình tu cái gì, học cái gì, mình phải ngồi thiền chủ đề gì. Mình phải chuẩn bị, sửa soạn hết, mình dập nó liên tục, mình có 1 kế hoạch khủng, quyết liệt, quyết tâm. Tu như vậy đó mà không thành tựu mới lạ.
Chứ không phải tu là người ta sao mình vậy, tới giờ lên tụng mới tụng còn không thôi khỏi. Đưa ra nhiều phương pháp tác chiến, chiến lược, chiến thuật. Phải suy nghĩ: “Mày ha mạy, hổm rày tao thấy mày rồi nha không. Cái bản ngã mày dục nè, mày chết mày với tao nghe không, tao giết mày chết nghe không. Đồ ác độc, khốn nạn, tao giết cho mày chết”. Mình nói với cái tâm mình như vậy đó, đó mới là “dầu tại bãi xa trường, chiến thắng ngàn quân địch. Cũng không bằng tự thắng được chính mình. Chiến thắng được chính mình, mới là chiến công oanh liệt nhất”. Đọc cái câu đó mà mình không có chiến đấu gì hết trơn, thì đâu có cảm thọ gì đâu.
Mình không muốn tu cực khổ, mình muốn tu cái đó nó nhẹ nhẹ, nhàng nhàng, an an, ổn ổn, đều đều, bình bình vậy đó. Chứ mà tu cực khổ quá làm sao mà tu, vậy thì Đức Thế Tôn hồi xưa là thế tử thì đâu có đi khổ hành tới mức độ gần chết như vậy. Nhịn đói mới mức mà tóc rớt từng mảng, ăn phân bò, chết lên chết xuống, về đọc đi. Rồi khi thành Chánh đẳng chánh giác, ngồi ôm bình bát đi mà không ai cho ăn gì hết thì về uống nước lả mấy ngày trời như vậy. Chứ không phải mình nói là thành Phật xong rồi sướng để hưởng, không có. Thành ra là cái tu của mình nó phải dữ lắm, mình phải dồn công lực, cái tâm tư rồi phải lo lắng, phải nhiều kế hoạch, chiến lược, chiến thuật.
Con có giảng hình như 3, 4 bài kinh trong Trung Bộ kinh, về “Chiến thuật Tâm Linh của Đức Phật”, về nghe đi, sẽ bất ngờ. Nhắc lại lợi ích số 7 là: “Tâm được an trú trong trí tuệ của bậc Chánh đẳng giác, trong khi đọc, học, nghe, nghiên cứu, học hỏi các bài kinh trong Nikāya. Thì tâm của hành giả được an trú vào trong Chánh tri kiến, trong lúc ấy thì tham, sân, si vắng mặt, tâm được an trú vào trong Chánh pháp.” Như nãy giờ mình được thì cái tâm mạnh lên, phấn khởi lên, mạnh mẽ lên: “Chuyến này về mình phải làm việc với nó mới được, chuyến này về mình phải tu làm sao mới được. Chứ trước giờ tu không được rồi”, có không?
Suy nghĩ vậy đó, bắt đầu mới sanh khởi lên Chánh kiến, sanh khởi lên tinh cần, tinh tấn, sanh khởi lên nhiệt tâm, nổ lực, gắng sức. Từ mà Đức Phật gọi là: “Một ước muốn sắt bén”, “này các Tỳ-kheo, ta không có xưng tán, khen ngợi người mà dừng lại, đứng lại đối với các thiện pháp”. Đừng có nói chi là đứng lại, nhiều khi bây giờ mình tu mà mình đi lùi luôn cũng không biết nữa. Con nhắc hoài, mới vô tu là dễ thương vô cùng, gặp là chấp tay: “Sư phụ”. Sáng, trưa, chiều, tối gặp ai cũng xá. Bây giờ tới nay thì mất hết cung kính rồi, nhiêu đó là thấy đi lùi rồi còn gì nữa. Các thầy để ý con từng cái nhỏ, mỗi lần con lên là có xá các thầy, các cô rất là cung kính.
Mà nhiều khi mấy thầy, mấy cô không có thấy, phải để ý mới thấy. Cái đó không phải là thực tập cái pháp cung kính, đó là đảnh lễ Tăng, kính Tăng. Con thấy con xá mà ở dưới ngồi giỡn, chơi, cười không có để ý. Lúc mà ra chơi đó, không biết có ai để ý không ạ? Con thấy không có để ý. Con xá cúi xuống sát như vậy đó, mà ở dưới không có thấy. Mình phải đặt câu hỏi là: “Tại sao thầy giáo thọ phải làm như vậy?” Chuyên đề cung kính trong Nikāya là rất quan trọng, quan trọng lắm. Người không có cung kính, là không có thành tựu pháp. Nhất là Phật, pháp, Tăng và giới, là bốn dự lưu phần. Cung kính Phật, cung kính pháp, cung kính Tăng, cung kinh giới.
Kế đó là cung kính thiền định, sau nữa là cung kính sự không buông lung phóng dật. Rồi cung kính, nương tựa, xã giao, tiếp đó. Thí dụ mình đang ngồi, mình thấy các bậc tôn đức vô là mình phải đứng dậy, chắp tay cúi lạy. Bất cứ lúc nào cũng vậy, đó là sự cung kính trong xã giao tiếp đón, đó là trong Nikāya dạy đó. Về nghe mấy bài về cung kính con chia sẻ rất là kỹ, nhiều pháp để học, để thực tập lắm không có đơn giản đâu. Cung kính thiền định, chúng ta thấy giờ xuất gia có mấy người ngồi thiền. Một ngày ngồi thiền mấy tiếng con thưa thầy? Trong mùa hạ ngồi được nửa tiếng, tức là ngày thường không có ngồi.
Mất cái pháp cung kính thiền định, mà khi mình không có thiền định thì không có thấy được như thật. “Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập thiền định. Người có tu tập thiền định, sẽ thấy biết 1 cách như thật. Thấy biết gì? Thấy biết sắc tập khởi, thấy biết sắc đoạn diệt. Thấy biết gì? Thấy biết thọ, thấy biết thọ tập khỏi, thọ đoạn diệt. Thấy biết tưởng, hành, thức, thấy biết sự tập khỏi và đoạn diệt của ngũ uẩn”. Mình không có thiền làm sao mình thấy? Cho nên tại sao mình hỏi lại pháp hành mình quên hết trơn, tại vì mình đâu có thực hành đâu. Mình thiền như vậy, thì mình khắc ghi, mình nhớ sâu vào bên trong mình quán chiếu là nó không có quên.
Nó thành cái trí tuệ của mình, mình đem cái Thánh trí đưa vào cái phàm tình của mình, thì mình đuổi cái phàm tình ra, thì Thánh trí đó ở lại. Thì đến khi thể nhập Thánh trí, là mình thành tựu Thánh đạo, Thánh quả. Còn cái này là học Thánh trí 1 lẽ, rồi để đó, phàm tình vẫn giữ y nguyên. Thì mãi mãi Thánh trí là Thánh trí trên bàn thờ, còn phàm tình là mình. Mãi mãi 2 cái nó không có ăn nhập với nhau, làm sao nó thể nhập. Cho nên cái duyên sanh pháp vừa rồi là 1 sự chứng minh đó, về học cẩn thận lại. Tất cả phần ở trong cái quyển “Tóm tắt năm uẩn” đó, rồi cái trang nhỏ là những cái pháp phải học thuộc lòng hết.
Cố gắng học thuộc lòng, bây giờ nếu chưa thuộc, đọc bằng cái âm thanh của mình, nghe tới nghe lui hoài như vậy là thuộc à. Tối thiểu là nhận diện được ngũ uẩn, quán 3 cảm thọ, nhiếp phục tham, sân, si. Tối thiểu là diệt vô minh, bản ngã, cái đó cốt tủy nhất. Mà chúng ta nắm được cái này rồi, con thưa các thầy các cô giảng sư tương lai của con là thiên hạ vô địch, tối thượng pháp sư, không ai qua mình nổi hết trơn á. Mình nhìn vô 1 cái là biết chánh ta liền à, đúng sai là rành rõ trong pháp nhãn, trí nhãn, đạo nhãn, Thánh nhãn của mình, không có qua mặt được. Thì cái đó mới là bậc pháp sư, mà Đức Thế Tôn khen ngợi. Mà cái này là con đã trình bày với chúng ta trong buổi mà 2 lớp gặp nhau rồi, “pháp là gì? Và thế nào là giảng sư trong Nikāya định nghĩa”.
Về coi lại, coi lại Đức Phật định nghĩa giảng sư đàng hoàng, tuyệt diệu lắm. Có ai còn nhớ bài đó không? Dễ gì nhớ. Học giảng sư mà không thuộc bài kinh đó là coi như chưa có được Đức Phật ấn chứng. Tìm bài kinh mà Đức Phật định nghĩa thế nào là 1 giảng sư, mà bài đó con đã giảng từ bữa mà 2 lớp gặp nhau trong cái giảng đường phía dưới đó, về mở ra coi. Như vậy bữa nay chúng ta được tới lợi ích thứ mấy rồi? “Thứ 8”. Nhớ kỹ nha, lần sau vô hỏi tới thứ mấy rồi nhớ kỹ đó. Rồi bây giờ trong cảm thọ nó đang như thế nào? Thầy trên này nói hỷ lạc, còn ở dưới nới sao? Nôn phải không? Nhìn thấy được các cảm thọ của mình rất tuyệt vời, đọc kinh xong nhìn lại tự tâm.
Những Lợi Ích – Thù Thắng
Khi Tu Học Pháp Phật Nguyên Chất 4
Thích Minh Thành
Ngày 11 tháng 04 năm 2023
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lợi ích thứ 4 PAGEREF _Toc140657025 \h 1
II. Lợi ích thứ 5 PAGEREF _Toc140657026 \h 3
III. Duyên sanh pháp – nhiếp phục cảm thọ PAGEREF _Toc140657027 \h 4
IV. Lợi ích số 6, 7, 8 PAGEREF _Toc140657028 \h 9
I. Lợi ích thứ 4
Tiếp theo lợi ích thứ 4: “Đã được Đức Phật trình bày đa dạng với nhiều hình thức, nhiều góc độ, nhiều khía cạnh. Hành giả học hỏi được nhiều cách tu tập, nhiều phương tiện tu tập, không bị hạn chế, bó buộc trong một phương tiện tu tập, theo một cá nhân, 1 tông phái nào”, cái này rất quan trọng. Có 1 cái nhìn toàn diện về giáo pháp, ở đây mình nói ví dụ thôi. Chúng ta được học suốt 2 năm nay, mà cái chìa khóa để mở cánh cửa nội tâm chúng ta là nhận diện ngũ uẩn. Nếu không thấy cái đó thì tất cả pháp tu không có nền tảng, không có cơ sở. Mình không thấy được cái tâm mình là cái gì, thì làm sao mình tu. Mà từ ngày chúng ta biết nhận diện ngũ uẩn, chúng ta thấy có khác không?
Mình đọc cái tâm mình nó chính xác hơn, mình nhìn nhận cái tâm mình nó rõ ràng hơn. Thì từ cái đó thấy được ngũ uẩn ở đây là mình nói đơn giản, cốt lõi thôi, rồi sau này mình thấy được tham, sân, si. Thấy được những dục, tham, ái, vô minh, bản ngã, chấp thủ ở trong 5 uẩn. Sau đó mình có những phương pháp tác chiến, những chiến lược thích ứng phù hợp, thích nghi với từng cái tên giặt trong tâm của mình. Thí dụ như dục lấy gì trị? Quán bất tịnh. Sân hận lấy gì trị? Dục, tham, ái lấy gì trị? Si mê lấy gì trị? Ái luyến lấy gì trị? Vô thường. Bản ngã lấy gì trị? Khiêm cung, khiêm hạ, diệt ngã. Chúng ta thấy không? Từng cái, từng cái nó đối trị.
Mà đó là nói tổng cương lĩnh, tổng quát những cái lớn. Còn khi mà đi sâu vào những khía cạnh, từng cái nhỏ nó có những cái đối trị tương thích, tương ứng, cách như lý tác ý từng khía cạnh một. Thì chúng ta thấy đó là sự tu học nhiều khía cạnh, phương diện, không có bị hạn chế, bó buộc. Rồi thí dụ như bây bờ mình chỉ biết niệm 1 câu thôi, rồi bây giờ dục ái, mà niệm nó không hết rồi sao? Rồi cái thôi à. Rồi bây giờ sân mình cứ niệm Phật, niệm thì niệm mà không hết sân thì lúc đó làm sao? Thôi à? “Tại vì tôi là người tu pháp môn này, tôi chỉ niệm cái này không có làm gì khác. Thì cái đó là chỗ hạn chế mình rất nhiều, chúng ta thấy không?
Rồi bây giờ cái bản ngã nó sanh khởi, nó hơn thua thì dù mình niệm mà nó không hết thì làm sao? La, rầy, quở, trách, mắng nó: “Đồ ngu, tối ngày mày cứ hơn thua quài. Mày ngu si vừa vừa thôi cái tâm mê này”. Mình quở trách, mình làm đủ kiểu hết trơn, để cho cái tâm nó thấy xấu hổ, nó nhục, nó lắng dịu xuống, nó tan biến khỏi thân tâm mình. Mình làm đủ mọi cách hết, cái đó gọi là thiền quán. Đó là sự tu tập tuyệt diệu, đầy đủ, tối thượng, nhiều phương diện, khía canh, góc độ của Nikāya. Ở đây mình không có nêu cái tông phái nào hết trơn, mà cái tâm của mình chính là những lời dạy nguyên chất của Đức Phật. Không có đi theo bất cứ người thứ 2 nào, chỗ đó là chỗ đặc biệt.
Mà ngày đầu tiên chúng ta đã trực chỉ Phật môn, thẳng vô lời dạy của Đức Phật. Chúng ta đọc thì chúng ta sẽ thấy Đức Phật quở trách dục khủng khiếp, Đức Phật chỉ toàn là cái cách cho mình tác ý để mình ly dục. Đức Phật quở trách rất là nhiều trong việc lợi đắc cung kính, “Tương ưng lợi đắc cung kính”. Quở cho bằng tan nát hết trơn, đọc trong đó là mình thấy xấu hổ, tàm quý, sợ hãi, lo lắng lắm. Mà những cái đó là cách Đức Phật dạy cho mình cách như lý tác ý, chúng ta có nghe qua rồi phải không? Còn nhớ không? Ai đứng lên nói coi. Trong chương “Lợi đắc cung kính”, Đức Phật dạy phải quán như thế nào? Ai nhớ giơ tay lên, không nhớ làm sao biết cách tác ý.
Hãy xem những lợi dưỡng cung kính, cúng dường đó giống như cái gì? Đống phân. Rồi giống như gì nữa? Quên rồi thì làm sao biết cách tác ý? Đó là chỉ dạy cách tu đó, cho nên mình đi tìm cách tu ở đâu đó. Giống như lưỡi câu với miếng mồi, giống như sấm sét, giống như cái dao cắt vô da, vô thịt, vô xương, vô tới trong tủy. Về mở ra đọc lại, từ cách Đức Phật dạy mình tác ý, suy được cách cung kính, đảnh lễ, cúng dường, tôn trọng, phải quán như vậy. Nhiều cái pháp tu, trong đó tất cả những lời dạy trong Nikāya là pháp tu, pháp hành hết. Chẳng những mình đọc, mình hiểu, mà mình còn phải nhớ thực hành.
II. Lợi ích thứ 5
Lợi ích thứ 5: “Tâm nguyện tu học chân chánh có khả năng được thành tựu, khi nghiên cứu và học hỏi Nikāya, hành giả có được 1 cái nhìn trực tiếp, trực diện đối với Chánh pháp. Giúp cho hành giả không có đi lệch ra ngoài con đường chân chánh, đưa đến sự thoát ly khổ, thoát ly sanh tử. Không có làm uổng phí thời gian và công sức mà hành giả đã bỏ ra để nghiên cứu, học hỏi, tìm hiểu và thực hành theo giáo pháp của Đức Phật. Giúp cho việc tình và ước nguyện chân chánh của người tu được đạt thành kết quả tốt đẹp và lợi ích thiết thực ngay trong đời sống hiện tại.”
Chúng ta thấy không, bây giờ mình tu mình nói: “Liễu sanh thoát tử, thoát ly sanh tử, giải thoát sanh tử”. Mình nói: “Cuộc đời mình không có khổ”, rồi làm sao thoát ly, sao xuất ly. Chúng ta thấy cái tầm quan trọng của nó chưa? Cái sự nhất quán trong trí tuệ Nikāya, không phải ba hồi nói vậy, bốn hồi nói khác được. Bây giờ mình nhìn cái chuông trên bàn mình còn nói cái này đẹp, còn thích, còn khoái cái này làm sao mình bỏ được. Nói: “Cái chuông này của tôi, cái chuông này đem bên Ấn Độ về, cái chuông này mắt lắm, cái chuông này quý lắm, cái chuông này êm lắm, cái tiếng nghe đã lắm, hay lắm”, thì làm sao mình bỏ nó được.
Rủi có ai lại bưng cái chuông đi, rồi về ngủ không được, khổ, thấy chưa? Tuy là mình sử dụng nó, nhưng mà mình biết được thực chất của nó, nó chỉ là sắc pháp, tứ đại thôi. Nó không bị người ta ăn trộm, thì có ngày đánh nó cũng bể à, rồi nó cũng hư hoại. Chính vì vậy mà khi nó bị ăn cắp, nó bị hư, bị hoại, bị bể thì mình vẫn điềm nhiên thôi, tại vì mình biết nó là như vậy. Vì nó còn duyên, nên cái duyên sanh với cái xúc nó vang ra tiếng như vậy. Nó hết duyên đánh vô nó kêu cạch cạch, kẹt kẹt, nó kêu cái tiếng khác, mình đổi đánh chỗ khác thì nó kêu tiếng khác. Hay mình lấy cái tay áo mình chùi vô nó thì nó có kêu đâu, cũng là xúc nhưng mà nó đâu nó kêu. Nó chỉ là duyên sanh thôi, nhưng mà mình chấp thủ vô trong đó.
Thì mình phải có cái thấy biết như vậy đối với tất cả mọi cái, chứ không phải chỉ có cái chuông này. Tấm thân này cũng vậy, cảm giác trong con người mình cũng vậy, những suy nghĩ, những hình bóng trong tâm, nhận thức này cũng như vậy. Tất cả nó sanh khởi lên, đều do cái duyên nó sanh ra. Chúng ta đã học duyên sanh pháp rồi, ai lên trả bài coi. Ai xung phong lên duyên sanh pháp coi, không có lật tập gì hết. Tại vì không thuộc là không có biết cách tu, như bây giờ mình quán duyên sanh pháp mà mình không có thuộc, “chờ tôi về tôi vở bài tôi tìm”, thì quán sao được. Ai nhớ duyên sanh pháp giơ tay, cộng điểm thi. Rồi mời sư cô, đóng sách lại, không có cho dòm nha.
III. Duyên sanh pháp – nhiếp phục cảm thọ
Sư cô:
“Dạ mô Phật, kính bạch trên chư tôn đức, con xin nói về duyên sanh pháp của con mắt. Đó là do duyên có con mắt và các sắc, các sắc sanh ra nhãn thức, sự hội tụ 3 pháp này gọi là nhãn xúc. Rõ biết các sắc, thọ do nhãn xúc sanh và sắc tưởng, sắc tư.”
Đúng rồi, cho tràng pháp tay lớn. Tại vì chúng ta không có thời gian nhiều, mai mốt nếu có ngày pháp hành, chúng ta sẽ thực tập ngay tại chỗ hết. Thí dụ mình nhìn 1 cái như vậy, mình phải trình bày ra được cái duyên sanh pháp của nó. Khi chúng ta chưa có học Nikāya, là chúng ta nói duyên sanh 1 cách chung chung không à. Cái tâm mình nó mờ lắm, không có tỏ, trí huệ không có sắc bén, chính xác, chân xác về các pháp. Khi chúng ta học được cái Thánh trí này rồi, chúng ta thấy chính xác, chân xác, nó rất là rõ, cái nào nó ra cái nấy hết trơn. Còn có ai thuộc duyên sanh pháp nào nữa không ạ? Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.
Lâu lâu phải trả bài lại, phải học, phải dò lại, phải có thực hành thì mới nhớ, còn người không thực hành thì sẽ quên. Về học đi, mấy bữa sau sẽ trả bài, ngay lúc trả bài là cộng vô điểm thị luôn. Thi không có quan trọng, bằng cái bình thường mình sử dụng được. Khi mình nghe tiếng chê bai, chỉ trích, thâm chí là mắng chửi. Mình có thấy “tôi đang chị mắng chửi không?” Nếu thấy như vậy là vô văn phàm phu rồi, mình không có thấy bằng trí tuệ. Trí tuệ thì thấy sao? Sư cô bác sĩ bên đây nè, trí tuệ phải thấy làm sao. Đọc duyên sanh pháp lỗ tai coi, xếp sách lại không cho nhìn, không có mót gì hết.
Sư cô 2:
“Dạ kính bạch trên thầy giáo thọ, quý thầy, quý sư cô, con sxin được nhắc lại duyên sanh pháp của tai. Do duyên có lỗ tai và các tiếng sanh ra nhĩ thức, sự hội tụ, giao thoa của 3 pháp này sanh ra nhĩ xúc. Do duyên có nhĩ xúc, nên sanh ra thọ do nhĩ xúc sanh. Từ đó sanh ra thanh tưởng, thanh tư.”
Cho 1 tràng pháo tay lớn đi, đó là lớp khác cứu bồ lớp này đó, trợ giúp đấy. Chúng ta không thuộc cái này, chúng ta không có thành tựu Thánh trí tuệ về duyên sanh. Phải thuộc lòng, vì đây là cái định lý chứng ngộ của Đức Phật mà. Những cái cần thuộc thì không thuộc, những cái không cần thuộc thì cứ thuộc, thuộc thơ, thơ thẩn gì không à. Những cái này phải thuộc nằm lòng, như chú “Giảng sanh”, chú “Đại bi” vậy đó. Tại vì đây là định lý chứng ngộ của Đức Phật, nếu mình không thuộc cái này làm sao mình thấy được cái duyên sanh. Nếu mình không thấy được cái duyên sanh, thì làm sao mình thấy được cái vô ngã. Chúng ta thấy cái này rất quan trọng, hồi xưa khi mà con chưa học Nikāya là con không biết cái này.
Mình nghĩ đâu kinh là nói 1 lẽ mình học thôi, còn khi ra tu là tu cái khác. Mình nghĩ như vậy không phải, chính là những cái đó đó. Cho nên Nikāya đặt biệt hơn với tất cả những cái mà trước nay mình tu, pháp học chính là cái pháp hành, hai cái nó không tách rời nhau. Bây giờ mình bị ai đó nhục mạ mình nè, lúc đó mình tu làm sao? Làm sao mà tu được, không có thể nào mà cái tâm mình bình an hết trơn đó. Tại vì mình thấy rằng mình đang bị người kia nhục mạ, mắng chửi. Mà nếu thấy như vậy thì chướng ngại tướng rồi, là thức ăn của sân rồi, học chưa? Từ cái ngày đầu mình đã học rồi, thành ra phải thuộc, phải nhớ.
Rồi bây giờ mình lo quay trở lại nhiếp phục cảm thọ, cảm thọ nhiếp phục không còn chưa được nữa. Tại vì mình thấy mình còn giận, mình kêu nó lắng nó không chịu lắng, bây giờ mình phải quán duyên sanh pháp. Quán không có ai ở đât hết, cái lỗ tai nó làm bằng cái gì? Ngồi im ru hết trơn. Bằng tứ đại, đất, nước, gió, lửa, bằng da, thịt, máu, mủ, gân. Nó đâu có tôi trong này, tại sao mình nói là: “Tôi bị chửi, tôi bị chê”. Mình dùng cái tư tưởng đúng, dập cái tư tưởng sai. Dùng suy nghĩ đúng đánh vô cái suy nghĩ sai. Dùng cái nhìn nhận đúng đập cái nhìn nhận sai. Thì cái đó là mình lấy Chánh kiến dẹp tà kiến đó. Chúng ta thấy rõ không?
Thì mình nói cái lỗi tai này không có mình trong này, nó là tứ đại thôi. Do duyên có cái tứ đại này, miếng thịt, máu, đầy đủ các thành phần trong đây. Cho nên nó nghe cái tiếng ở ngoài, sanh ra sự rõ biết. Nó là nó, đừng có gắn mình trong đó, không có tôi, của tôi, tự ngã của tôi trong đó. Lỗ tai, âm thanh và sự rõ biết âm thanh nó có mặt. Và 3 cái pháp này nó là sự giao thoa, tiếp xúc, gọi là nhĩ xúc. Khi tiếp xúc nó sanh ra cảm thọ, mà cảm thọ này là đang có cảm thọ bực bội, tức giận, sân hận. Mà cảm thọ này không phải là mình, không phải của mình. Do duyên nó sanh? Duyên cái lỗ tai mà ở trong tầm nghe của nó, chứ mà đứng ở ngoài đường chửi có nghe đâu mà sân. Phải chưa?
Nó thiếu cái duyên thì nó không có giận, bây giờ ở nửa vòng trái đất mà có cái điện thoại nghe cái giận. Mà chỉ cần cách vách tường thôi mà bên kia có chửi, mình nghe không được thì đâu có giận. Đem bánh qua cho ăn, mà mới chửi tất thì, không có biết thì đâu có giận. Thành ra Đức Thế Tôn nói: “Cái thức này là trò ảo thuật thôi”, đâu có thật đâu. Thọ do nhĩ xúc sanh, sau đó đi về rồi mình tơ tưởng lại cái âm thanh đó, cái âm thanh chửi. Hồi tưởng lại những cái âm thanh đó, thanh tưởng, thanh tư. Rồi xong tiếp tục khổ nữa, sân nữa, bực bội nữa. Phân tích đủ kiểu theo minh, chấp thủ, tham ái nó dính chum, dính nùi nùi trong đó, gỡ quài gỡ không ra.
Còn cái kia dập thẳng vô bên trong có mình nó à, “đâu phải của mình, đây chỉ là duyên sanh thôi”. Thì mình lúc đầu sẽ khó, nhưng mà làm riết nó sẽ quen, từ từ mình dập luôn cái suy nghĩ mình, của mình. Bên kia cũng ngũ uẩn, bên đây cũng ngũ uẩn. Tất cả ngũ uẩn đều tham, sân, si, vô minh, bản ngã, đau khổ, tại họa, tai nạn, khốn nạn, khổ nạn, hoạn nạn, ách nạn, hiểm nạn, nguy nan không à. Giận làm chi cho nó mệt, thương đi, tội nghiệp cái cơn giận này đi. Tội nghiệp cái cảm thọ, cái tâm ngu, tâm mê, tâm si, tâm chấp ngã này. Mình trải cái tâm thương mình, rồi mình trải tâm thương cho người kia. Rồi mình diệt tận luôn cái cảm thọ bực bội, sân hận.
Sau này mình nhớ lại lá mình không có nhớ giận nữa, thương thôi. Mình đã nhổ luôn cái gốc của tâm sân hận, bản ngã. Cái đó gọi là “được cái nhìn trực tiếp, trực diện đối với Chánh pháp. Giúp cho hành giả không có đi lệch ra ngoài con đường chân chánh, đưa đến sự thoát ly khổ, thoát ly sanh tử”. Chúng ta thấy tu học những cách tối thượng, thần diệu, vi diệu, thiết thực, hiện tại, không có thời gian đến để mà thấy, có hiệu quả tức thời như vậy đó. Như vậy mà không chịu tu mà tu cái gì, dùng toàn trí tuệ, pháp quán, thiền quán để thấy sự thật không à. Chứ không có sự mê tín, tưởng tượng gì ở đây hết trơn, nó rõ ràng như vậy.
Cảm thọ sân khởi sân lên mình biết không? Rồi cảm thọ tham lên, dục ái lên biết không? Bản ngã sanh khởi lên biết không? Rồi có cách diệt tận nó không? Mà chịu làm hay không, thì chỗ đó mới là chỗ cốt lõi của vấn đề. Ở kế bên dòng sông mà chết khát, ở trong kho báu mà nghèo khổ, là tại vì sao? Tại vì không có nghe theo lời dạy, không có chịu làm theo bậc đại đạo sư Đức Thế Tôn. Bất hiếu, nghịch tử, không có hiếu thảo với cha, với từ phụ. Thích làm vô côn, đi lang thang, không chịu quay về căn nhà an ổn của mình. Đức Thế Tôn nói ở trong “Tương Ưng Niệm Xứ”: “Tứ niệm xứ chính là chỗ của ông bà, tổ tiên, cha mẹ của mình”. Mình không chịu ở chỗ đó, mình đi ra ngoài.
Mình nhớ trong Tây Du Ký mà Tôn Ngộ Không vẽ cái vòng tròn, kêu xứ phụ ở trong này nhớ không? Rồi ông sư phụ thấy cái gì đó rồi ổng bước ra ngoài, xong rồi bị bắt. Thành ra Ngộ Không vẽ cái vòng đó, là 1 trí tuệ an trú ở trong Chánh pháp. Còn ông Đường Tăng thấy cái này, cái kia đi ra giúp đỡ là chuyện thường tình của phàm phu. Nó đi ra khỏi trí huệ, đi ra khỏi phạm trù của Chánh pháp thì gặp tai họa liền, bị sớt liền, yêu tinh bắt liền. Coi chừng yêu tinh ở kế bên mình đó, nhiều khi nó ngồi xát bên đó, không có xa. Mắt mình thấy, tai mình nghe, mũi mình ngửi, lưỡi mình nếm, thân mình xúc chạm, ý mình nghiêng với pháp, suy nghĩ những hình ảnh ở trong đó, hở ra 1 chút là nó bắt mình à.
Đức Phật dùng hình ảnh là con chim nhỏ với lại con đại bàng, con chim nhỏ này trốn vô tảng đá, mỏm đất rất là cứng chắc. Con đại bàng ở trên xỉa thẳng cái mỏ nó xuống, dọng vô 1 cái thì cái mỏ nó đau. Con chim nhỏ này trốn trong đó, ẩn trú trong cái mỏm đá. Là Đức Phật ví dụ người tu xuất gia của mình ở trong tứ niệm xứ, không có ra khỏi tứ niệm xứ, luôn luôn nhìn lại thân, thọ, tâm, pháp của mình. Mình không có quán thân trên thân, không nhìn lại cảm thọ của mình. Mình không có soi rọi vào nội tâm, không có biết rằng trong tâm có pháp thiện, bất thiện sanh khởi, vận hành, quậy phá mình như thế nào. Mình không biết gì hết trơn, mình cứ hướng ngoại nhìn bên ngoài: “Ôi cái này đẹp quá ha!”
Tối ngày cứ hướng ngoại như vậy không, rồi tham, sân, si. Đụng vô tới là sân liền, nhìn vô cái thấy tham liền, chạm vô 1 cái bản ngã, hơn thua liền. Rồi xong sầu, bi, khổ, ưu não, sanh tử dài dài, đau khổ quài quài, khóc quài. Vậy thôi chứ có gì đâu, pháp Phật đâu có nhiều đâu. Nhận diện ngũ uẩn, nhiếp phục tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã. Tẩy sạch, diệt tận, Thánh quả tối thượng, cứu cánh phạm hạnh, vô thượng nhân thiên phước điền. Muốn hay là không muốn, làm hay là không làm, quyết hay là không quyết là ở chỗ mình. Cái đó là dục như ý túc, tinh tấn như ý túc, tâm như ý túc, tư duy như ý túc, tinh cần tinh tấn.
Cho nên chúng ta học những cái này, chúng ta học trực tiếp phương pháp diệt khổ. “Giúp cho việc tình và ước nguyện chân chánh của người tu được đạt thành kết quả tốt đẹp và lợi ích thiết thực ngay trong đời sống hiện tại”. Cho nên là chúng ta phải thuộc lòng, Nikāya là phải thuộc lòng. Nhớ ba mớ nói tùm lum, lộn xộn xà ngầu, lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia, tự nhiên 1 hồi bà có râu. “Kinh có câu, tổ đức có câu”, cái này là ghê gớm. Con mà lên chấm bài, làm giám khảo là đánh rớt hết trơn, thấy chữ “có câu” là cho rớt hết. Kinh nào? Tăng Chi Bộ, Trường Bộ, Tương Ưng Bộ… Phẩm nào…Phải rõ ràng như vậy, chứ không có nói chung chung, giảng sư mà nói chung chung. Phải cố gắng dẫn chứng ở trong tạng kinh Nikāya, phải dẫn chứng nó ra.
IV. Lợi ích số 6, 7, 8
Nói cái này là trời người rúng động, thiên thần cũng phải cúi đầu nghe chứ đừng nói chi loài người. Tất cả chư Thiên đau khổ vì dục, ái, vô minh, chấp thủ. Lợi ích số 6: “Biết rõ điều cần tu tập khi nghiên cứu học hỏi kinh Nikāya, hành giả có đầy đủ những phương tiện để thực hiện pháp học và pháp hành cho tự thân. Hành giả biết rõ những gì mình cần phải làm, trên con đường đi đến sự chấm dứt sanh tử”. Lợi ích số 7: “Tâm được an trú trong trí tuệ của bậc Chánh đẳng giác, trong khi đọc, học, nghe, nghiên cứu, học hỏi các bài kinh trong Nikāya. Thì tâm của hành giả được an trú vào trong Chánh tri kiến, trong lúc ấy thì tham, sân, si vắng mặt, tâm được an trú vào trong Chánh pháp.”
Lợi ích số 8: “Được gieo duyên với Chánh pháp, Chánh đạo, khi nghiên cứu học kinh Nikāya. Ngay trong hiện tại, hành giả gieo kết được những thiện duyên tốt lành, đối với Chánh pháp của Đức Phật. Có thể thẳng tiến đến việc tu tập sự giải thoát sanh tử, ngay trong kiếp hiện tại chứng đạt quả A-la-hán. Nhưng nếu ngay trong hiện tại, không đạt được sự chấm dứt sanh tử. Thì những thiện duyên này sẽ giúp cho các đời sau, khi được sanh ra tâm của hành giả luôn hướng về sự tìm cầu Chánh pháp. Thao thức tìm kiếm những lời dạy nguyên gốc của Đức Phật, đồng thời tâm cũng luôn hướng về sự không ưa thích đối với các tà pháp, tà nhân, tránh xa các tà kiến không chơn chánh, không có cảm xúc, cảm tình đối với các tà đạo.
Tránh được các cơn đường tu tập sai lệch làm uổng phí công sức, và tâm nguyện của người tu, mà vẫn không đạt được sự giải thoát khổ đau.”
Lợi ích thứ 6: “Đầy đủ những phương tiện để thực hiện pháp học và pháp hành”. Thì chúng ta thấy từng 1 cái phiền não có 1 pháp khí để mà đối trị, tập khí có pháp khí để đối trị. Phiền não thì có 1 trí tuệ để mà đối trị tương thích, tương ứng, phong phú và đa dạng nhiều góc độ, khía cạnh. Và cái quan trọng ở đây là “biết rõ những gì mình cần phải làm, trên con đường đi đến sự chấm dứt sanh tử”. Cái này rất quan trọng, biết rõ những gì mình phải làm, mình cần làm cái gì, mình biết cái gì cần làm và không cần làm. Giống như hồi nãy con nói cho các thầy các cô, không có quan trọng vấn đề ai nói thị phi này nọ kia. Không có quan trọng người kia tu làm sao, mình lo cho mình.
Mình phải biết là mình đang làm cái gì, đang cần cái gì, đang cần phải tu cái gì mình phải biết. Thí dụ hiện tại mình đang bị dục xâm chiếm, chi phối, áp đảo rất là dữ tợn. Cho nên cần phải tập trung toàn bộ tâm ý vào sự quán tứ đại, quán bất tịnh, quán 32 thể trượt và chín giai đoạn tử thi. Mình biết rằng bây giờ mình cần uống cái thuốc này, thì mình tập trung tất cả những đề mục, những bài pháp mình nghe, những thời mình thiền quán, mọi sự thực tập, mình tập trung vào cái này. Một cái này suy nhất thôi, xuyên suốt 1 tháng, 2 tháng, 3 tháng, 1 pháp 1 thôi, để mình trị cái bệnh dục. Mình biết nó đang trong người mình nó đang mạnh, nó đang xâm chiếm, áp đảo mình, tập trung vào 1 cái đó mình trị.
Mình lạy sám hối, cũng lạy sám hối về cái dục, rồi mình viết bài nhật ký tu học mình cũng khai báo nó ra luôn. Mình viết cho mình đọc thôi, rồi mình quán từ tứ đại, quán 32 thể trượt, quán bộ xương, quán tử thi. Tập trung tất cả thời gian vào đề mục đó mình quán. Rồi mình khai triển hết tất cả năng lực, tâm lực, trí lực, sức lực, pháp lực, đạo lực mà mình có, mình dập nó. Đưa ra những phương pháp tác chiến, quyết chiến, quyết tử. Thậm chí cần thiết thì đóng cửa nhập thất, không sao hết. Tất cả chuyện khác để qua 1 bên, bây giờ có chuyện nào quan trọng bằng đời tu của mình, sự nghiệp tu hành của mình. Dừng lại hết tất cả mọi công việc, đóng của nhập thất, lên núi tu.
“Thầy ơi cho con lên núi tu, con sắp sửa gặp guy hiểm rồi. Yêu tinh nó sắp tới bắt con rồi”. Lên đây tu cho vô thất liền, vẽ vòng tròn liền, trở về mảnh đất của tổ tiên, an trú vào căn nhà của đức Chánh đẳng giác, của chư Phật. “Lập tức vô thất liền con”. Rồi bây giờ mình thấy cái tâm mình nó tham nhiều quá, tham cái này, cái nọ, cái kia. Bắt đầu mình dập nó, mình quán vô thường, quán khổ liên tục. Mình an trú vào vô thường tưởng, vô ngã tưởng, khổ tưởng. Cái này tất cả bài con có hướng dẫn hết trơn, có pháp hành hết, vừa có lý thuyết, có thực hành luôn. Nghe nguyên loạt bài về khổ Thánh trí, gần 20 bài. Dập vô cái tâm tham, tâm muốn, tâm ham chơi, ham ăn, ham ngủ, ham vui. Cái tâm mà ưa thích buông thả, buông trôi, buông lơi, buông lung, buông rơi.
Dập vô nó, đập nó, phạt nó, trị nó. Tất cả thời lạy sám hối, thiền quán, viết nhật ký về tu học. Làm liên tục hết tất cả quán về khổ, vô thường, quán về tai họa của dục, tai họa của buông lung phông dật. Mình quán, suy tư tất cả những cái mình viết ra, trình pháp mỗi ngày. Chứ không phải lại kêu mà ngồi im ru, lắc đầu. Cái tâm đó là chưa có nhu nhuyến, chưa có nhiệt tâm, tinh cần, chưa có tha thiết tu học. Đưa cái micro cho mình, mình trình liền, dạ liền: “Con thấy con xấu hổ, hổm rày con tu không có tiến bộ, con nhìn con thất cái bản ngã của con hổm rày nó mạnh”. Chân thành, chân thật, thành thật khai báo hết tất cả, đó là đệ tử của Đức Thế Tôn đó. Trực hạnh là đệ tử của Thế Tôn, chân chánh hạnh là để tử của Thế Tôn, ứng lý hạnh là đệ tử của Thế Tôn, diệu hạnh là đệ tử của Thế Tôn.
Đó là định nghĩa về tăng do chính Đức Phật định nghĩa à, chứ không phải người nào định nghĩa đâu à, bốn đức tánh đó là bốn đức tánh vi diệu của Thánh đệ tử. Rồi hổm rày mình thấy cái bản ngã mình nó quá xá quà xa, xấu hổ, nhục nhã. Đọc bài “Sám hối diệt ngã”, đọc bài đức hạnh của ngài Xá-lợi-phất, 9 cái pháp an trú tâm. An trú tâm thành cái nùi giẻ rách, nhớ kẻ ăn xin, nhớ cái u nhọt 9 lỗ rỉ chảy. Dập nó, đánh nó, đưa ra những phương pháp tác chiến, chiến lược, viết ra những kế hoạch tu hành trong 1, 3 tháng này. Viết ra mình tu cái gì, học cái gì, mình phải ngồi thiền chủ đề gì. Mình phải chuẩn bị, sửa soạn hết, mình dập nó liên tục, mình có 1 kế hoạch khủng, quyết liệt, quyết tâm. Tu như vậy đó mà không thành tựu mới lạ.
Chứ không phải tu là người ta sao mình vậy, tới giờ lên tụng mới tụng còn không thôi khỏi. Đưa ra nhiều phương pháp tác chiến, chiến lược, chiến thuật. Phải suy nghĩ: “Mày ha mạy, hổm rày tao thấy mày rồi nha không. Cái bản ngã mày dục nè, mày chết mày với tao nghe không, tao giết mày chết nghe không. Đồ ác độc, khốn nạn, tao giết cho mày chết”. Mình nói với cái tâm mình như vậy đó, đó mới là “dầu tại bãi xa trường, chiến thắng ngàn quân địch. Cũng không bằng tự thắng được chính mình. Chiến thắng được chính mình, mới là chiến công oanh liệt nhất”. Đọc cái câu đó mà mình không có chiến đấu gì hết trơn, thì đâu có cảm thọ gì đâu.
Mình không muốn tu cực khổ, mình muốn tu cái đó nó nhẹ nhẹ, nhàng nhàng, an an, ổn ổn, đều đều, bình bình vậy đó. Chứ mà tu cực khổ quá làm sao mà tu, vậy thì Đức Thế Tôn hồi xưa là thế tử thì đâu có đi khổ hành tới mức độ gần chết như vậy. Nhịn đói mới mức mà tóc rớt từng mảng, ăn phân bò, chết lên chết xuống, về đọc đi. Rồi khi thành Chánh đẳng chánh giác, ngồi ôm bình bát đi mà không ai cho ăn gì hết thì về uống nước lả mấy ngày trời như vậy. Chứ không phải mình nói là thành Phật xong rồi sướng để hưởng, không có. Thành ra là cái tu của mình nó phải dữ lắm, mình phải dồn công lực, cái tâm tư rồi phải lo lắng, phải nhiều kế hoạch, chiến lược, chiến thuật.
Con có giảng hình như 3, 4 bài kinh trong Trung Bộ kinh, về “Chiến thuật Tâm Linh của Đức Phật”, về nghe đi, sẽ bất ngờ. Nhắc lại lợi ích số 7 là: “Tâm được an trú trong trí tuệ của bậc Chánh đẳng giác, trong khi đọc, học, nghe, nghiên cứu, học hỏi các bài kinh trong Nikāya. Thì tâm của hành giả được an trú vào trong Chánh tri kiến, trong lúc ấy thì tham, sân, si vắng mặt, tâm được an trú vào trong Chánh pháp.” Như nãy giờ mình được thì cái tâm mạnh lên, phấn khởi lên, mạnh mẽ lên: “Chuyến này về mình phải làm việc với nó mới được, chuyến này về mình phải tu làm sao mới được. Chứ trước giờ tu không được rồi”, có không?
Suy nghĩ vậy đó, bắt đầu mới sanh khởi lên Chánh kiến, sanh khởi lên tinh cần, tinh tấn, sanh khởi lên nhiệt tâm, nổ lực, gắng sức. Từ mà Đức Phật gọi là: “Một ước muốn sắt bén”, “này các Tỳ-kheo, ta không có xưng tán, khen ngợi người mà dừng lại, đứng lại đối với các thiện pháp”. Đừng có nói chi là đứng lại, nhiều khi bây giờ mình tu mà mình đi lùi luôn cũng không biết nữa. Con nhắc hoài, mới vô tu là dễ thương vô cùng, gặp là chấp tay: “Sư phụ”. Sáng, trưa, chiều, tối gặp ai cũng xá. Bây giờ tới nay thì mất hết cung kính rồi, nhiêu đó là thấy đi lùi rồi còn gì nữa. Các thầy để ý con từng cái nhỏ, mỗi lần con lên là có xá các thầy, các cô rất là cung kính.
Mà nhiều khi mấy thầy, mấy cô không có thấy, phải để ý mới thấy. Cái đó không phải là thực tập cái pháp cung kính, đó là đảnh lễ Tăng, kính Tăng. Con thấy con xá mà ở dưới ngồi giỡn, chơi, cười không có để ý. Lúc mà ra chơi đó, không biết có ai để ý không ạ? Con thấy không có để ý. Con xá cúi xuống sát như vậy đó, mà ở dưới không có thấy. Mình phải đặt câu hỏi là: “Tại sao thầy giáo thọ phải làm như vậy?” Chuyên đề cung kính trong Nikāya là rất quan trọng, quan trọng lắm. Người không có cung kính, là không có thành tựu pháp. Nhất là Phật, pháp, Tăng và giới, là bốn dự lưu phần. Cung kính Phật, cung kính pháp, cung kính Tăng, cung kinh giới.
Kế đó là cung kính thiền định, sau nữa là cung kính sự không buông lung phóng dật. Rồi cung kính, nương tựa, xã giao, tiếp đó. Thí dụ mình đang ngồi, mình thấy các bậc tôn đức vô là mình phải đứng dậy, chắp tay cúi lạy. Bất cứ lúc nào cũng vậy, đó là sự cung kính trong xã giao tiếp đón, đó là trong Nikāya dạy đó. Về nghe mấy bài về cung kính con chia sẻ rất là kỹ, nhiều pháp để học, để thực tập lắm không có đơn giản đâu. Cung kính thiền định, chúng ta thấy giờ xuất gia có mấy người ngồi thiền. Một ngày ngồi thiền mấy tiếng con thưa thầy? Trong mùa hạ ngồi được nửa tiếng, tức là ngày thường không có ngồi.
Mất cái pháp cung kính thiền định, mà khi mình không có thiền định thì không có thấy được như thật. “Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập thiền định. Người có tu tập thiền định, sẽ thấy biết 1 cách như thật. Thấy biết gì? Thấy biết sắc tập khởi, thấy biết sắc đoạn diệt. Thấy biết gì? Thấy biết thọ, thấy biết thọ tập khỏi, thọ đoạn diệt. Thấy biết tưởng, hành, thức, thấy biết sự tập khỏi và đoạn diệt của ngũ uẩn”. Mình không có thiền làm sao mình thấy? Cho nên tại sao mình hỏi lại pháp hành mình quên hết trơn, tại vì mình đâu có thực hành đâu. Mình thiền như vậy, thì mình khắc ghi, mình nhớ sâu vào bên trong mình quán chiếu là nó không có quên.
Nó thành cái trí tuệ của mình, mình đem cái Thánh trí đưa vào cái phàm tình của mình, thì mình đuổi cái phàm tình ra, thì Thánh trí đó ở lại. Thì đến khi thể nhập Thánh trí, là mình thành tựu Thánh đạo, Thánh quả. Còn cái này là học Thánh trí 1 lẽ, rồi để đó, phàm tình vẫn giữ y nguyên. Thì mãi mãi Thánh trí là Thánh trí trên bàn thờ, còn phàm tình là mình. Mãi mãi 2 cái nó không có ăn nhập với nhau, làm sao nó thể nhập. Cho nên cái duyên sanh pháp vừa rồi là 1 sự chứng minh đó, về học cẩn thận lại. Tất cả phần ở trong cái quyển “Tóm tắt năm uẩn” đó, rồi cái trang nhỏ là những cái pháp phải học thuộc lòng hết.
Cố gắng học thuộc lòng, bây giờ nếu chưa thuộc, đọc bằng cái âm thanh của mình, nghe tới nghe lui hoài như vậy là thuộc à. Tối thiểu là nhận diện được ngũ uẩn, quán 3 cảm thọ, nhiếp phục tham, sân, si. Tối thiểu là diệt vô minh, bản ngã, cái đó cốt tủy nhất. Mà chúng ta nắm được cái này rồi, con thưa các thầy các cô giảng sư tương lai của con là thiên hạ vô địch, tối thượng pháp sư, không ai qua mình nổi hết trơn á. Mình nhìn vô 1 cái là biết chánh ta liền à, đúng sai là rành rõ trong pháp nhãn, trí nhãn, đạo nhãn, Thánh nhãn của mình, không có qua mặt được. Thì cái đó mới là bậc pháp sư, mà Đức Thế Tôn khen ngợi. Mà cái này là con đã trình bày với chúng ta trong buổi mà 2 lớp gặp nhau rồi, “pháp là gì? Và thế nào là giảng sư trong Nikāya định nghĩa”.
Về coi lại, coi lại Đức Phật định nghĩa giảng sư đàng hoàng, tuyệt diệu lắm. Có ai còn nhớ bài đó không? Dễ gì nhớ. Học giảng sư mà không thuộc bài kinh đó là coi như chưa có được Đức Phật ấn chứng. Tìm bài kinh mà Đức Phật định nghĩa thế nào là 1 giảng sư, mà bài đó con đã giảng từ bữa mà 2 lớp gặp nhau trong cái giảng đường phía dưới đó, về mở ra coi. Như vậy bữa nay chúng ta được tới lợi ích thứ mấy rồi? “Thứ 8”. Nhớ kỹ nha, lần sau vô hỏi tới thứ mấy rồi nhớ kỹ đó. Rồi bây giờ trong cảm thọ nó đang như thế nào? Thầy trên này nói hỷ lạc, còn ở dưới nới sao? Nôn phải không? Nhìn thấy được các cảm thọ của mình rất tuyệt vời, đọc kinh xong nhìn lại tự tâm.