Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

TẠNG KINH NIKAYA QUÝ BÁU - TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ 3 - VỊ NGỌT, NGUY HẠI, SỰ XUẤT LY

2026-03-03 00:56:12
TẠNG KINH NIKAYA QUÝ BÁU!

TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ 3

VỊ NGỌT NGUY HẠI SỰ XUẤT LY

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Tinh thần học đạo PAGEREF _Toc90460344 \h 1

II.Quán chiếu Khổ Thánh Đế PAGEREF _Toc90460345 \h 5

III.Sáng đôi mắt đạo PAGEREF _Toc90460346 \h 8

IV.Trí tuệ về vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của sáu xứ PAGEREF _Toc90460347 \h 11

1.Bài kinh “Chánh Giác” PAGEREF _Toc90460348 \h 11

2.Bài kinh “Vị Ngọt” PAGEREF _Toc90460349 \h 13

3.Bất động tâm giải thoát PAGEREF _Toc90460350 \h 16

Tinh thần học đạo

Minh Thành xin chia sẻ một vài kinh nghiệm học đạo. Trong bài kệ nói về giới bổn, Đức Phật Vipassī có nói: “Nhẫn nhục, khổ hạnh, kham nhẫn, là đệ nhất” (Trường Bộ Kinh, 14. Kinh Đại Bổn). “Kham nhẫn” nghĩa là chịu khó, chịu đựng, nhẫn nại, chịu khổ. Ở ngoài đời, kham nhẫn là để khổ luyện thành tài, còn ở trong chùa thì kham nhẫn là để khổ luyện thành đạo. Nếu không có đức hạnh này thì chúng ta sẽ tu không thành công.

Đại đa số mọi người đều sống theo tham ái, ai cũng thích những gì vừa lòng, hợp ý, thuận theo suy nghĩ của mình. Đó là tham ái vi tế nhưng mình không thấy, chính vì vậy mà không thấy được pháp. Dù cho có cầu đạo, học đạo suốt đời nhưng nếu đem tâm tham ái để học đạo thì không thể thấy được pháp ly tham; đem bản ngã để học đạo thì không thể thấy được pháp vô ngã; đem tâm tham muốn của dục để học đạo thì không thể đạt được pháp ly dục.

Minh Thành có một số kinh nghiệm và cách nhìn, cách tác ý để chúng ta tu học. Ở ngoài đời, khi đi làm chúng ta không thể nói với ông chủ rằng cái này tôi thích làm, cái kia tôi không thích làm, mà phải làm mọi công việc người ta giao phó. Hầu hết mọi người đều vì miếng ăn mà phải làm nhiều việc mình không thích, vì có làm thì mới kiếm được đồng tiền bát gạo để sống. Cho nên, khi đi kiếm tiền, không thể chọn việc thích làm, bỏ việc không thích làm, đây là nói về pháp thế gian, huống hồ chi chúng ta đi vào trong đạo.

Trên con đường tu học, những bậc thiện tri thức, bậc thầy, tôn trưởng, huynh trưởng là người biết cái gì tốt cho mình, cái gì lợi ích cho mình, cái gì tác thành cho mình. Thế nhưng, vào tu rồi mà đa số vẫn đi theo tâm tham ái, không chịu làm theo, cứ thích thì làm, không thích thì thôi. Theo kinh nghiệm ở chùa mấy chục năm, Minh Thành thấy rằng những người như vậy cả một đời tu không thành tựu được gì cả. Khi làm theo sở thích tức là làm theo dục, tham, ái, chứ không phải làm theo lời của bậc thầy, bậc thiện tri thức, bậc đào luyện, rèn luyện cho mình. Nhiều khi Minh Thành để ý muốn giúp đỡ nên rèn luyện người đó, nhưng được vài lần là họ văng hết, không muốn đến gần mình. Đó là tại vì cái ái và bản ngã quá lớn nên không thấy giá trị của pháp tối thượng. Đây là chỗ quan trọng để chúng ta nhìn nhận lại trong sự tu học, bằng không, chúng ta sẽ không tiến bộ.

Trên con đường tu này, chúng ta phải kham nhẫn, phải chịu đựng, phải chịu khó, phải chịu cực. Nếu như ngày trước con là một chú tiểu Minh Thành không chịu khó, không chịu khổ, không kham nhẫn thì sẽ không có Linh Quy Pháp Ấn như bây giờ. Khi đó nếu Minh Thành cứ ở lại Sài Gòn cho sướng thì thân thể bệnh hoạn, yếu đuối, không chịu được lạnh giá này không cần phải lên núi cao đầy khó khăn, giá lạnh, khai sơn phá thạch và tạo dựng Linh Quy Pháp Ấn. Dù vậy Minh Thành vẫn thấy chưa đủ mà cần phải cố gắng thêm rất nhiều. Còn người học đạo bây giờ có tâm rất yếu đuối, chỉ làm cái mình thích, cái mình muốn, còn những gì người đi trước hướng dẫn, đào luyện thì mình không muốn. Cho nên, sự tu học của chúng ta mỗi buổi sáng gồm có: lạy Pháp bảo, tụng kinh Nikāya, ngồi thiền và nghe pháp, đó chính là sự rèn luyện, là bài tập cho mỗi người. Hơn nữa, đây chỉ mới là sự rèn luyện nhỏ.

Thành ra, cách nhìn và cách tác ý rất là quan trọng trong sự tu học. Nếu suy nghĩ lệch một chút là mình sẽ thoái lui. Khi chưa thành tựu chánh kiến, dù thấy điều đó là đúng nhưng thật sự là nó sai, thấy là phải nhưng thật sự là nó quấy. Khi chưa tu học chánh kiến, chưa thành tựu chánh kiến một cách sâu sắc thì thường thường chúng ta sống theo những cái ưa thích, ham muốn, cái tôi, dục, ái, tham, bản ngã, vô minh; ít biết được lợi ích, công năng, giá trị của pháp và càng ít hiểu được tâm ý của người có lòng từ mẫn đối với mình nên có khi mình sẽ khó chịu. Vì không có sự nhận diện năm uẩn sâu sắc nên chúng ta sống trong bóng đêm, sống trong yêu thích, sống trong ham muốn của tự thân, sống trong cái tôi và như vậy thì cuộc đời tu của mình trở thành vô tích sự, không có ý nghĩa gì cả.

Hơn nữa, chúng ta cần phải để tâm rất nhiều vào đạo nghiệp của mình. Ngày nào cũng phải dòm ngó, để ý vào bên trong, nhìn xem bước tiến của mình trong sự tu học đang đến chỗ nào. Cần thiết tha, mong muốn, cố gắng, để tâm và tìm đủ mọi cách để tiến tu, đó là sự vận dụng Tứ Như Ý Túc. Tức là chúng ta phải muốn tiến; cố gắng để tiến lên; để tâm vào sự tiến bộ và suy tư và tìm đủ mọi cách để tiến bộ, mau chóng thể nhập vào dòng trí tuệ và có chân đứng trong pháp và luật. Khi chỉ nghĩ ngợi, tha thiết về duy nhất một điều như vậy thì chúng ta sẽ không để tâm đến chuyện thương hay không thương, thích hay không thích, hợp hay không hợp. Thậm chí mọi sự mệt mỏi đều có thể cố gắng điều hòa để xả phú cầu bần, xả thân cầu đạo, xả bản ngã cầu chứng đắc vô ngã, xả những tham ái để mong an trú vào pháp ly tham.

Suốt đời tu chỉ tâm tâm, niệm niệm, chăm chăm tiến đạo, không để ý đến những chuyện nhỏ nhặt, nhỏ mọn, nhỏ hẹp, nhỏ nhít, nhỏ nhoi, nhỏ nhen. Từ ngày xuất gia đến nay, ở chùa ba mươi năm nhưng không bao giờ Minh Thành đến ý đến sự đúng sai, hay dở của những người xung quanh, hoặc chuyện của họ nếu biết thì chỉ biết vậy thôi, chứ không bao giờ đặt nặng những điều đó. Cho đến ngày hôm nay cũng vậy, thậm chí bị họ nói xấu, hủy nhục nhưng Minh Thành cũng không quan trọng, mà điều quan trọng là xem mình đạt đạo chưa, thấy đạo chưa, đắc đạo chưa. Chúng ta bỏ gia đình, bỏ cha mẹ để vào chùa đâu phải chỉ vì muốn nghe tiếng khen, thế nên, người ta có chửi mắng, khinh khi, hủy nhục mình thì cũng không có gì quan trọng. Điều quan trọng là thấy đạo chưa, sống được với đạo chưa, đứng vững ở trong đạo chưa, đắc đạo chưa, thành đạo chưa, chứng đạo chưa… người tu chỉ quan tâm điều đó.

Với tinh thần học đạo như vậy thì chúng ta sẽ tiến rất nhanh, tiến rất xa và xa vượt bậc, giống như con tuấn mã vượt nhanh, bỏ lại sau lưng những con ngựa hèn. Những người chỉ biết quan tâm đúng sai, tốt xấu, thị phi của người khác, chỉ biết dòm những điều nhỏ nhặt, nhỏ nhoi, nhỏ hẹp, nhỏ mọn, nhỏ nhít, chỉ biết hơn thua, ganh đua với nhau là những con ngựa hèn. Còn con lương tuấn mã thì chỉ tiến thẳng về phía trước, tìm cách để đạt được đích đến và không quan trọng những điều nhỏ hẹp khác. Đây cũng là một trong những bí quyết tu tập, nắm được rồi thì chúng ta tu rất tuyệt vời. Tức là cứ chăm chăm niệm đạo, tâm tâm niệm niệm cầu pháp, học pháp, hành pháp, đắc pháp, ngộ pháp, chứng pháp, truyền pháp và hoằng pháp. Chỉ có một con đường thẳng trong sự tu học như vậy, còn tất cả những thứ khác thì bỏ qua một bên. Bằng không, chúng ta sẽ tu theo cái thường tình, vào chùa rồi kết thân, xưng chị chị, em em, anh anh, huynh huynh, đệ đệ, thầy thầy, trò trò… rồi buồn thương, giận ghét với nhau, đó gọi là thân xuất gia nhưng tâm không xuất gia, tâm ở chùa nhưng tâm ở nhà.

Chúng ta phải dám hạ bản ngã của mình xuống, phải có dũng khí hạ gục bản ngã, nốc ao bản ngã, quật nó ngã xuống, làm được như vậy thì mình tu mới tiến bộ. Mỗi lần lạy sám hối diệt ngã chính là lúc chúng ta tung những đòn nốc ao, công kích, đánh phá, hạ độc thủ đối với bản ngã, có như thế thì mới tu được. Bằng không, nhiều người chỉ mới tới chùa làm công quả mà cả mấy thầy, mấy cô còn phải sợ mình, dù vậy nhưng họ không thấy được bản ngã của mình. Trong khi ai cũng thấy mình bản ngã rồi sợ mình nhưng mình vẫn không thấy, không biết, đó là vì mình vô minh, không nhận diện ngũ uẩn, không để tâm để nhìn nhận chính mình.

Mặt khác, bản ngã trá hình trong nhiều kiểu dáng, không chỉ vênh váo, ta đây, kiêu căng, ngạo mạn mới là bản ngã, mà co rút cũng là hình thái của bản ngã. Ví dụ, có người khi bị người khác chỉnh sửa, chỉ dạy là co rút lại, không làm gì nữa, không muốn đụng chạm đến ai, chui vào vỏ ốc của riêng mình. Thành ra, để thành tựu được sự thấy biết về bản ngã là cả một trí tuệ tu tập về nhận diện năm uẩn. Hơn nữa, khi cái tôi càng lớn thì mình càng khổ chứ không được gì cả, không ai muốn đến gần mình, thấy từ xa là sợ. Như vậy, bản ngã làm cho người ta bên ngoài thì bị xa lạnh, bên trong thì đầy rẫy những sân hận, hơn thua, ganh đua. Sâu sắc hơn, bản ngã chính là chướng ngại lớn đối với Thánh Pháp, bởi vì Thánh Pháp là vô ngã, mà mình đem bản ngã vào tu thì làm sao cùng chung con đường! Chúng ta muốn học vô ngã mà lại chình ình bản ngã thì làm sao gặp được pháp, mà bước đầu đã không thấy pháp thì đừng nói đến chuyện đắc pháp. Pháp này là pháp ly tham mà chúng ta đem tâm tham muốn vào tu thì làm sao gặp được pháp. Pháp này là pháp ly sân mà hở một chút là bực, hở một chút là sân, hở một chút là giận thì sao thấy được pháp.

Thế nên, những phương pháp Đức Phật dạy chúng ta rất là tuyệt diệu. Sự nhận diện cảm thọ là tối tôn, tối thượng, không có một người nào có thể chỉ ra được hang ổ, sào huyệt của tham, sân, si trong thân tâm này. Đầu tiên phải trở về cảm giác toàn thân để thấy được hang ổ của tham, sân, si, dục, ái, vô minh, bản ngã và lậu hoặc. Sau đó đi đến tận sào huyệt, hang ổ, căn nguyên của chúng thì mới có thể trị tận gốc. Bằng không, có khi miệng nói không giận nhưng là do không thấy được cảm thọ bên trong; miệng nói là không tham nhưng bên trong thì tham không ai bằng. Có nhiều trường hợp ở đây, một là nói dối, hai là ngụy biện, ba là thật sự không thấy, không biết. Còn sự tuyệt diệu của pháp là lúc nào cũng trú trong cảm giác toàn thân thì sẽ thấy biết được thân tâm mình. Như vậy, pháp hành do Đức Phật truyền trao chúng ta đã có, việc duy nhất cần làm là thực hành để thành công, đạt được kết quả. Chúng ta không cần đi tìm một thứ gì khác nữa, người đang tu tập theo Chánh Pháp mà còn muốn đi tìm một thứ gì khác thì chẳng khác nào người mù, thấy cũng như không thấy, gặp cũng như không gặp.

Cảm giác toàn thân là tuyệt diệu, là tối thượng. Khi trú trong cảm giác toàn thân thì tất cả những sự chuyển động, máy động, dao động của tâm mình đều thấy được. Sau đó, dùng những cách tương thích, tương ứng để quét dọn, tẩy rửa, lau chùi, vệ sinh những cấu nhiễm đó. Tuyệt vời vô cùng là chỗ an trú cảm giác toàn thân, định tâm trên thân giống như bàn thạch. Khi quên an trú trong cảm giác toàn thân là chúng ta bị hướng ngoại, bị thả lỏng các căn và chạy theo năm dục sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp ngay lập tức. Khi an trú cảm giác toàn thân có mặt thì cũng giống như người có xác và có hồn, thân ở đâu thì tâm ở đó. Còn quên an trú cảm giác toàn thân thì lúc đó hướng ngoại, không thấy rõ được tự thân tâm của chính mình. Cho nên, an trú cảm giác toàn thân là hết sức quan trọng.

Quán chiếu Khổ Thánh Đế

Như vậy, chúng ta phải cố gắng thực hành ba pháp: rõ biết phía trước, an trú cảm giác toàn thân và tỉnh giác ở bên trong để thấy biết được những gì đang sanh khởi. Đồng thời thấy biết được chỗ thâm sâu nhất trong những cảm giác, nghĩ, tưởng là do khổ vận hành bên trong. Khi thấy tận vào đó thì chúng ta mới thấm được Khổ Thánh Trí, Khổ Thánh Đế và không còn muốn hơn thua, trành giành, đúng sai với ai nữa. Và một người khi đã thấy pháp thì không muốn tranh với đời, không muốn tranh với người, không muốn tranh với bất cứ một ai trên thế gian này. Người đó đi đến chỗ vô tranh, vô tránh tam muội, tức là tâm an định, không còn tranh giành hơn thua với mọi người, với cuộc đời. Người này có tâm khiêm hòa, khiêm cung, tâm từ ái, hiền thiện, tâm bao dung, rộng mở, tương cảm, tương thông, tương ái, tương kính, thông cảm, thông hiểu, thấu hiểu, thương yêu, thương xót và cung kính, kính trọng lẫn nhau. Vì người này thấy tất cả đều là khổ, không có lí do gì để gây thêm khổ.

Đức Phật đã dạy mắt là khổ, tai là khổ, mũi là khổ, lưỡi là khổ, thân là khổ, ý là khổ; sắc là khổ, tiếng là khổ, mùi là khổ, vị là khổ, tiếp xúc là khổ, những cảm giác, nghĩ, tưởng bên trong là khổ. Khi thấy các pháp đều là khổ như vậy thì lòng mình được lắng dịu xuống, những thứ tham, sân, si, bản ngã cũng sẽ lắng dịu. Bất cứ lúc nào nhìn thấy, tác ý, suy tư, cảm giác, nhận thức về sự khổ thì ngũ uẩn cũng được lắng dịu. Chúng ta phải quán khổ cho thật thấm thía. Nhìn cả bầu trời, cả trái đất, cả hành tinh này phải thấy được chữ “khổ” vĩ đại, to tướng bao phủ, bao trùm vạn vật. Thân người đang ngồi chình ình một đống tại nơi này cũng không có cái tôi, cái ta nào trong đó. Chỉ toàn đất, nước, gió, lửa, dục, ái, tham, sân, si, vô minh và bản ngã đang dần dần đi đến chỗ khô kiệt, cạn kiệt, đang đi đến chỗ dập tắt, dầu sắp cạn, tiêm đang mòn và chuẩn bị đèn tắt.

Hãy tắt đi ngọn lửa của dục vọng!

Hãy tắt đi ngọn lửa của sân hận!

Hãy tắt đi ngọn lửa của hơn thua, tranh giành!

Hãy tắt đi ngọn lửa của khao khát, thèm muốn, kiếm tìm, chạy đuổi, truy tầm!

Hãy tắt đi ngọn lửa của hơn thua, đúng sai!

Đúng sai trên cuộc đời này để được cái gì? Giành được phần đúng để được cái gì? Sân hận với nhau, giành phần hơn rồi được cái gì? Được chút ghét, được chút ưa, được kẻ thù, rồi mình làm gì với những thứ đó? Khi vào được trí tuệ này thì sự tu học của chúng ta rất vi diệu, vì mình nhìn được hết tất cả ngỏ ngách, góc cạnh, hốc xó của trái đất, của hành tinh, của thế giới này. Từ đó tâm chúng ta thật sự nhàm chán, thật sự đưa đến chỗ ly tham, hướng đến chỗ từ bỏ, thật sự thoát ra. Những lời kinh này vi diệu như vậy cho nên chúng ta phải đọc từ từ để trí tuệ này ngấm thật sâu.

Các sắc, này các Tỷ-kheo, là khổ, kể cả (các sắc) quá khứ và vị lai, còn nói gì (các sắc) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với các sắc quá khứ, không hoan hỷ đối với các sắc tương lai, đối với các sắc hiện tại; đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt.

Các tiếng … Các hương … Các vị … Các xúc …

Các pháp, này các Tỷ-kheo, là khổ, kể cả (các pháp) quá khứ và vị lai, còn nói gì đến (các pháp) hiện tại. Thấy vậy, này các Tỷ-kheo, vị Ða văn Thánh đệ tử không tiếc nuối đối với các pháp quá khứ, không hoan hỷ đối với các pháp vị lai, đối với các pháp hiện tại; đã thực hành sự nhàm chán, ly tham, đoạn diệt. (Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a) – Phần I. Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. Phẩm Vô Thường, bài kinh Khổ 4 Ngoại)

Các hình sắc, hình dáng, hình hài, hình tướng, hình mạo, hình tướng, hình thể, hình vóc là khổ đau. Đây là một sự thật mà chúng ta cần phải cố gắng để nhìn thấy. càng nhìn thấy được khổ, càng nhàm chán chừng nào thì chúng ta càng được hạnh phúc chừng đó. Tuyệt diệu như vậy! Chúng ta phải thấy con mắt này, lỗ tai này chứa biết bao thứ bệnh. Minh Thành từng đưa Bà Năm đi mổ lỗ tai, toàn là máu và mủ trong đó; lỗ mũi thì bị viêm xoang; cái miệng, cái lưỡi cũng toàn bệnh tật, ngày nào cũng phải đánh răng, súc miệng vì nếu không làm thì tự mình ngửi mùi của miệng mình còn thấy sợ, đừng nói chi người khác. Mùi của chính mình mà còn chịu không nổi như vậy nhưng tâm vô minh, khái ái lại khoái mùi trong miệng của người ta. Khổ như vậy nhưng chúng ta lại thích, khi nhìn ra được những điều đó mình thấy nhục làm sao.

Minh Thành vừa nghe tin Hoà Thượng dưới Sài Gòn bị té nhưng may là té trên giường, bây giờ phải nằm một chỗ, ngồi dậy phải có người đỡ dù trước đó còn đi đứng, khoẻ mạnh bình thường, bác sĩ nói Ngài bị teo mách máu não. Minh Thành cũng từng thưa với Hoà Thượng là phải cẩn thận, mang dép mũ để đi lại, trong toilet phải trải những tấm nhựa có gai để không trơn và làm ghế để ngồi tắm, chứ không đứng để tắm. Hoà Thượng nói may là Ngài có làm giống như vậy, nếu không bị té xuống đất sẽ rất nguy hiểm, vì té trên giường thôi mà phải nằm một chỗ.

Vì vậy Đức Phật nói thân thể này là khổ, mang vác tấm thân này phải lo lắng đủ thứ. Đi cọ quẹt một chút là máu chảy, tóc dài phải cạo vì ngứa, móng tay dài phải cắt vì đất dính vào bị hôi dơ, trời lạnh không tắm vài bữa là bốc mùi, phải đánh răng súc miệng mỗi ngày nếu không sẽ hôi thối không ai dám gần, có khi đại tiểu tiện không kiềm được sẽ xấu hổ. Chúng ta chiêm nghiệm từng điều nhỏ như vậy để thấy ngao ngán những thân xác máu mủ, tanh hôi này. Tại sao mình cứ làm hang, làm ổ, làm tổ trong thân này? Tại sao cứ nhận thân này là mình, là của mình? “Mê vừa vừa thôi, ngu quá vậy”, cứ tác ý mỗi ngày một chút như vậy thì dần dần sẽ “tích tiểu thành đa”, dần dần trí tuệ sẽ thành tựu.

Sáng đôi mắt đạo

Mỗi một bài kinh trong Tạng kinh Nikāya này dù chúng ta có học ba tháng cũng chưa xem là xong, vì phải nghiền ngẫm, suy tư, chiêm nghiệm từng câu chữ. Mỗi ngày phải tự hỏi mình có thật sự thấy thân xác này là khổ chưa? Có thật sự thấy cảm giác này là khổ chưa? Có thật sự thấy những hình bóng trong nội tâm là khổ chưa? Có thật sự thấy những suy tư, nghĩ ngợi là khổ, là phiền não chưa? Có thật sự thấy sự rõ biết, nhận thức này đem đến khổ đau hay chưa? Càng thấy, càng biết nhiều chừng nào thì càng khổ chừng đó, có khi không thấy còn tốt hơn, vì không nhìn thấy ở ngoài để thấy rõ bên trong. Trong tác phẩm Lục Vân Tiên, nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu có viết hai câu thơ làm Minh Thành ấn tượng suốt đời không quên được:

Sự đời thà khuất đôi tròng thịt,

Lòng đạo xin tròn một tấm gương.

Đối với sự đời thà bị mù, bị khuất đôi tròng mắt để không nhìn, không thấy những chuyện của người khác. Vì thế gian này không có gì đáng để nhìn, tất cả đều là tham, sân, si, hơn thua, bản ngã. Những sự lòe loẹt trên cuộc đời này chỉ để khêu gợi, thu hút, làm cho người ta càng phát sanh thêm những tham muốn, thúc giục, thèm thuồng, khao khát. Sau đó làm cho họ càng phải đảo điên, truy tầm, tranh giành, giành giật, đấu đá, cuộc đời như vậy thì cần gì phải nhìn! Con người còn dùng những âm thanh để làm đau khổ cho nhau, cuộc đời như vậy thì nghe để làm gì! Ngoài đời có hình tượng “khỉ tam không” gồm ba chú khỉ che mắt, che tai, che miệng, nghĩa là không nhìn, không nghe, không nói. Đó chính là “sự đời thà khuất đôi tròng thịt”, nghĩa là không muốn nhìn nữa.

Nếu không may, mắt chúng ta không thấy được thì vẫn tác ý hoan hỷ, mừng vui, không được buồn, vì điều đó càng giúp cho “lòng đạo xin tròn một tấm gương”. Chúng ta không thấy ở bên ngoài để nhìn thấy rõ hơn bên trong thân tâm của chính mình, từ đó thành tựu trí tuệ nội tâm, tâm linh. Nhờ vậy chúng ta càng thấy rõ những thọ, tưởng, hành, càng thấy được sự vô thường, biến hoại của thân xác này và càng thấy rõ được bộ mặt thật sự của nội tâm. Khi đó, phải thấy sự vận hành của những thọ, tưởng, hành, cảm giác, nghĩ, tưởng đó là sự vận hành của khổ, sự vận hành của bức xúc, của phiền toái, của mệt mỏi, của nhàm chán. Vì thế chúng ta không ưa, không thích sự vận hành này, chỉ muốn an tịnh, lắng dịu và trải một tình thương bao la. Tình thương này không những đối với con cháu mình, đối với đại chúng mà còn đối với cả nhân loại, hữu tình, sum la, vạn tượng, chúng sanh.

Câu thơ “Sự đời thà khuất đôi tròng thịt – Lòng đạo xin tròn một tấm gương” khi ứng dụng vào Nikāya thì hết sức tuyệt vời. Tâm đạo nghĩa là tâm chúng ta phải tròn sáng như cái gương. Còn đối với việc đời, đối với những chuyện hơn thua của con người với nhau bên ngoài thì chúng ta xin nguyện làm kẻ mù, không muốn nhìn thấy. Dù thấy cũng như mù, nghe cũng như điếc, có miệng cũng như câm. Vì miệng này chỉ để dành nói sự thật, miệng này để dành nói lên lời từ ái, miệng này chỉ để dành nói lời Chánh Pháp. Còn đối với sự đời thì miệng này xin nguyện làm một kẻ câm. Chúng ta mỗi ngày phải nguyện trong lòng:

“Con nguyện mình mù với tất cả sự loè loẹt của thế gian, con nguyện con không nhìn thấy gì trong cuộc đời đầy vô minh, dục vọng, sân hận này. Con nguyện con làm kẻ mù không nhìn thấy những sự giành giật, mưu sĩ, mưu mô, mưu sĩ, mưu tính, mưu hại, hơn thua, đấu đá, lọc lừa, dối trá, gian xảo. Con không cần nhìn, không muốn nhìn, không ưa nhìn, không ham nhìn, không mê nhìn. Con không muốn nghe, không ham nghe, không ưa nghe những chuyện tham, sân, si, phiền não của thế gian này. Con không muốn nói, không ham nói, không ưa nói, không thích nói, chỉ muốn làm người câm đối với tất cả những thị phi, đúng sai, hay dở, phải quấy, tốt xấu của cuộc đời này.

Đổi lại, con nguyện con mắt có thể nhìn thấy pháp, nguyện nhìn thấy được sự thật, nhìn thấy được bản chất đau khổ của cuộc đời, nhìn thấy được bản chất tan vỡ, bên ngoại của thế gian này. Con nguyện nhìn thấy được bản chất trống rỗng của cuộc đời này, con không muốn thấy những chuyện hơn thua. Nguyện lỗ tai này chỉ để, nghe sự thật, nghe Chánh Pháp, nghe Thánh giáo, Thánh trí, Thánh tuệ, Thánh đạo, chứ không muốn nghe những chuyện hơn thua, thị phi. Nếu nghe, thấy mà tăng thêm những phiền não, tham, sân, si thì nghe, thấy không có lợi ích gì”.

Trí tuệ về vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly của sáu xứ

Trong “Phẩm Song Đôi”, Tương Ưng Bộ Kinh, Đức Thế Tôn sẽ nói cho chúng ta biết về định nghĩa của vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly, thoát ra khỏi sáu căn, sáu trần.

Ngài nói rằng Ngài đã sống, tìm cầu và thực nghiệm qua tất cả những gì gọi là vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly, thoát ra. Thế Tôn nói rằng, nếu không có vị ngọt thì chúng sanh không tham luyến, không ưa thích vì cuộc đời không phải toàn là khổ mà còn có vui, sự vui thích đó chính là vị ngọt. Sự giác ngộ chánh giác của Đức Phật là vậy, Ngài không nói một chiều, tức là do có vị ngọt nên chúng sanh mới ham thích, si mê, tham đắm trong vị ngọt đó, nhưng có sự nguy hiểm cho nên chúng sanh mới muốn thoát ra, chính vì vậy mới có xuất ly đạo lộ. Chúng ta sẽ tìm hiều và chiêm nghiêm những điểm chính trong “Phẩm Song Đôi” này:

Bài kinh “Chánh Giác”

—Thuở trước, này các Tỷ-kheo, khi Ta chưa giác ngộ, chưa chứng Chánh Ðẳng Giác, khi còn là Bồ-tát, Ta suy nghĩ như sau: “Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là xuất ly của mắt? Cái gì là vị ngọt … của tai? Cái gì là vị ngọt … của mũi? Cái gì là vị ngọt … của lưỡi? Cái gì là vị ngọt … của thân? Cái gì là vị ngọt, cái gì là nguy hiểm, cái gì là xuất ly của ý?”

Đức Phật nói rằng, trước đây khi Ngài chưa giác ngộ, chưa thấy biết một cách rốt ráo, tận cùng, hoàn toàn, thấu suốt, trọn vẹn, triệt để về mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Khi đó, Ngài tự hỏi cái gì là vị ngọt, cái gì là sự nguy hiểm và cái gì là sự xuất ly, thoát ra của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

Này các Tỷ-kheo, về vấn đề này Ta suy nghĩ như sau: “Do duyên với mắt, khởi lên lạc hỷ gì, đấy là vị ngọt của mắt. Mắt vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đấy là nguy hiểm của mắt. Nhiếp phục dục tham, đoạn trừ dục tham đối với mắt là xuất ly của mắt

… của tai … của mũi … của lưỡi … của thân …

Do duyên với ý, khởi lên lạc hỷ gì, đấy là vị ngọt của ý. Ý vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, đấy là nguy hiểm của ý. Nhiếp phục dục tham, đoạn trừ dục tham đối với ý là xuất ly của ý”. (Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a) – Phần I. Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. Phẩm Song Đôi, bài kinh Chánh Giác 1)

Từ nơi con mắt mà khởi lên sự vui thích, vui sướng, vui vẻ thì đó là vị ngọt của mắt. Vị ngọt này có vô số: cảnh đẹp, con người đẹp, món đồ tốt, quần áo đẹp, món đồ đẹp… khi thấy những thứ này, chúng ta khởi lên sự thích thú, đó chính là vị ngọt của con mắt. Như vậy, từ con mắt này mà khởi ra sự khoan khoái, thích thú, vui sướng gì thì đó là vị ngọt.

Cái gì là sự nguy hiểm và tác hại của con mắt? Mắt là vô thường, khổ, chịu sự biến hoại và các sắc, cảnh đẹp, người đẹp, đồ đẹp cũng là vô thường, tan hoại, đem lại sự khổ, chịu sự biến hoại, tan ra. Đó chính là sự nguy hiểm của con mắt và cũng chính là sự nguy hại của các sắc. Mắt và các sắc không phải như tốt đẹp hoài mà phải đổi dời, đổ vỡ, tan nát, biến hoại và làm cho chúng ta khổ đau, đó chính là sự nguy hiểm của mắt và các sắc.

Vậy, làm sao để thoát ra khỏi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; thoát ra khỏi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp? Đó chính là nhiếp phục dục tham, chặn đứng ham muốn đối với con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, cái lưỡi, gương mặt, đôi môi, hình hài; đoạn trừ tham muốn đối với thể xác, đối với món đồ, đối với cảnh đẹp; nhiếp phục, đoạn trừ tham muốn đó gọi là sự thoát ra.

Đó là định nghĩ về vị ngọt, sự nguy hại và sự xuất ly – ba loại trí tuệ này chúng ta phải thành tựu. Đức Phật đã chứng ngộ ba loại trí tuệ này, Ngài chánh giác là chánh giác những điều này, tức là thấy biết một cách đúng đắn, thấu đáo, triệt để, trọn vẹn về vị ngọt của thân xác này, sự nguy hại của thân xác này và sự xuất ly, thoát ra khỏi thân xác này bằng trí tuệ. Vị ngọt của những cảnh vật, sự nguy hiểm và tác hại của các cảnh vật, sắc tưởng, món đồ và sự thoát ra khỏi chúng bằng cách ngăn chặn, chấm dứt được lòng tham muốn đối với chúng. Ba loại trí tuệ này chúng ta cần phải chiêm nghiệm và quán chiếu thật sâu sắc.

Bài kinh “Vị Ngọt”

-- Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu vị ngọt của mắt. Có vị ngọt nào của mắt, Ta đều thực nghiệm. Vị ngọt của mắt như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu nguy hiểm của mắt. Có nguy hiểm nào của mắt, Ta đều thực nghiệm. Nguy hiểm của mắt như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ- kheo, Ta đã sống tìm cầu xuất ly của mắt. Có xuất ly nào của mắt, Ta đều thực nghiệm. Xuất ly của mắt như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. (Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a) – Phần I. Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. Phẩm Song Đôi, bài kinh Vị Ngọt 1)

Khi còn là thái tử, Đức Phật đã tìm cầu vị ngọt của con mắt, tìm cầu những sự vui sướng, hỷ lạc do con mắt đem lại. Con mắt có vị ngọt nào Đức Phật Ngài đều đã thực nghiệm, kinh nghiệm, trải nghiệm qua hết những vị ngọt đó, gồm những vị ngọt của các sắc: lầu vàng điện ngọc, cung phi mỹ nữ, vợ đẹp con thơ. Vị ngọt của lỗ tai là những âm thanh, những âm nhạc, những lời ngon tiếng ngọt, những lời cung kính, vâng dạ, tung hô, tâng bốc, tán dương. Vị ngọt của mũi và lưỡi là những món ngon vật lạ, sơn hào hải vị, thức ăn quý hiếm trên cuộc đời này.

Tất cả những vị ngọt đó Đức Phật từng tìm cầu, từng hưởng thụ, từng nếm trải và đã từng đi qua. Ngài đã tìm kiếm trong những vị ngọt đó, sống trong đó và nếm trải qua. Vị ngọt nào trong thân xác, hình hài này Ngài đã hưởng thụ qua, không thiếu thứ gì. Và vị ngọt đó như thế nào thì Ngài đã thấy bằng trí tuệ rằng đó thật sự là vị ngọt, là những sung sướng, khoan khoái, thích thú, những cảm giác êm dịu của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý.

Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu nguy hiểm của các sắc. Có nguy hiểm nào của các sắc, Ta đều thực nghiệm. Xuất ly của các sắc như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ.

...các tiếng... các hương... các vị... các xúc...

Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu vị ngọt của các pháp. Có vị ngọt nào của các pháp, Ta đều thực nghiệm. Vị ngọt của các pháp như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. Này các Tỷ-kheo, Ta đã sống tìm cầu nguy hiểm của các pháp. Có nguy hiểm nào của các pháp, Ta đều thực nghiệm. Xuất ly của pháp như thế nào, Ta đã khéo thấy với trí tuệ. (Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a) – Phần I. Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. Phẩm Song Đôi, bài kinh Vị Ngọt 2)

Đức Phật đã tìm cầu sự nguy hiểm và tác hại của các sắc và Ngài đã nhìn thấy sự nguy hiểm trong đó, bởi vì chúng sẽ đổi thay. Ngài nhìn thấy một người già lụm khụm, mắt mờ, lưng còng, gối mỏi, tai điếc, đi đứng run rẩy, lịu khịu, phải dựa vào cây gậy. Ngài đã nhìn thấy sự nguy hiểm và tác hại của thân xác này, Ngài đã chứng kiến sự biến đổi, suy lão của đời sống này. Tận mắt Ngài đã chứng kiến, tận lỗ tai Ngài đã nghe, tận những cảm xúc của Ngài đã cảm thọ, cảm giác được sự biến hoại, vô thường, khổ não của thân xác, hình hài, sắc đẹp, những món ngon, vật lạ, mùi hương. Ngài thấy trong đó một sự biến đổi, đột ngột, đột xuất, đột quỵ, đột tử.

Đức Phật đã nhìn thấy những ngọn lửa thiêu đốt mái tóc đen huyền trở thành bạc trắng như sương tuyết. Ngài đã nhìn thấy đôi môi đỏ thắm, mái tóc óng mượt kia trở nên héo tàn. Ngài đã nhìn thấy mặt hoa da phấn đó biến thành vầng trán nhăn nheo, mắt mù loà, thân run rẩy. Ngài đã nhìn thấy người già nằm một chỗ trên đống phân và nước tiểu của chính mình. Ngài đã nhìn thấy, đã chứng kiến, đã cảm thọ, đã cảm xúc, đã cảm giác, đã nhận thức, đã thấu hiểu bằng trí tuệ về sự nguy hiểm của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý, thể xác, hình hài, thân tướng, hình thể, đời sống này. Ngài đã thực nghiệm, đã trải qua những sanh, già, bệnh, chết trong vô lượng vô biên kiếp. Ngài đã tu tập trí tuệ, tu tập quán chiếu, tu tập sự soi xét chánh giác, sự hiểu biết chính xác trong vô lượng vô biên kiếp, trong những đời sống sanh tử vừa qua. Ngài đã thực nghiệm, đã trải nghiệm, đã kinh qua, đã chứng kiến, đã chịu đựng những sự suy tàn của tuổi già, những sự đau bệnh, biến hoại của hình hài, thân xác này.

Sau đó Ngài thấy được sự thoát ra, sự xuất ly bằng cách nhiếp phục dục tham, đoạn trừ dục tham đối với thân xác, hình tướng, hình vóc, hình thể, hình hài này. Ngài thấy con đường thoát ra những thứ đó là bằng con đường nhiếp phục sự ham muốn đối với thân xác, dứt trừ ham muốn đối với hình thể, hình tướng, hình hài, sắc chất.

Như vậy, Đức Phật đã sống tìm cầu vị ngọt của các sắc. Vị ngọt của các sắc như thế nào Ngài đã thực nghiệm, vị ngọt của các sắc như thế nào Ngài đã khéo thấy với trí tuệ. Ngài đã sống tìm cầu sự nguy hiểm và tác hại của các sắc. Ngài đã tìm kiếm, quán sắc, quán chiếu và đối với sự nguy hiểm nào của các sắc Ngài đều thực nghiệm, trải nghiệm, chứng nghiệm, đi qua. Sự xuất ly của các sắc, thanh, hương, vị, xúc như thế nào Ngài đã khéo thấy bằng trí tuệ. Ngài đã sống tìm cầu vị ngọt của các pháp, của các thọ, tưởng, hành. Ngài đã sống tìm cầu vị ngọt của các cảm giác, hình bóng, suy tư, nghĩ ngợi bên trong. Ngài đã sống tìm cầu những cảm giác êm ái, những hình bóng tốt đẹp, yêu dấu, tươi đẹp, những suy nghĩ về tự thân, tự ngã, hỷ lạc đó. Có vị ngọt nào của những cảm giác, nghĩ, tưởng đó thì Ngài đều thực nghiệm, đều kinh qua, đều trải qua, đều nếm qua. Vị ngọt của những cảm giác, nghĩ, tưởng đó như thế nào Ngài đã khéo thấy bằng trí tuệ. Cuối cùng, Ngài đã thấy một cách khéo léo bằng trí tuệ rằng vị ngọt là vị ngọt, nguy hại là nguy hại và thoát ra thật sự là thoát ra. Sự thoát ra, sự xuất ly như thế nào Ngài đã khéo thấy bằng trí tuệ.

Cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, đối với sáu ngoại xứ này, Ta chưa như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly... thời cho đến khi ấy, này các Tỷ-kheo, đối với các thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới và đối với quần chúng gồm có Samôn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Ta không xác chứng Ta đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác.\

Và cho đến khi nào, này các Tỷ-kheo, đối với sáu nội xứ này, Ta đã như thật liễu tri vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm và xuất ly là xuất ly, thời khi ấy, đối với các thế giới gồm có Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, đối với quần chúng gồm có Sa-môn, Bà-la-môn chư Thiên và loài Người, Ta xác chứng Ta đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác. (Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a) – Phần I. Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, II. Phẩm Song Đôi, bài kinh Vị Ngọt 2)

Khi nào đối với sáu ngoại xứ – sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp mà Ngài chưa thấu biết một cách rốt ráo, triệt để, hoàn toàn vị ngọt là vị ngọt, nguy hiểm là nguy hiểm, xuất ly là xuất ly thì cho đến khi ấy Ngài không tuyên bố Ngài là bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Nếu đối với những sắc, thanh, hương, vị, xúc ở bên ngoài và các cảm giác, nghĩ, tưởng ở bên trong mà Ngài không thấu suốt triệt để, thấu đáo một cách hoàn toàn, rốt ráo, tận cùng thì Ngài không tuyên bố Ngài là bậc cứu cánh cùng cực giữa Nhân Thiên, Ma Phạm, Phạm Thiên, Sa-môn, Bà-la-môn.

Khi nào đã thấy biết rốt ráo, viên mãn, triệt để, thấu đáo, tận cùng về vị ngọt của thân xác, tâm thức, cảnh sắc này, tức là khi Ngài thấu đáo một cách cùng tận, triệt để, rốt ráo, viên mãn, hoàn toàn tất cả phương diện, khía cạnh về sáu căn, sáu trần, về thân, tâm, cảnh này thì khi đó Ngài mới tuyên bố rằng Ngài đã giác ngộ tới chỗ cùng cực vô thượng. Vì Ngài đã thấu suốt triệt để, hoàn toàn nên Ngài mới tuyên bố về sự giác ngộ cứu cánh ấy. Đức Phật là bậc đã thấu đáo hoàn toàn về mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý nơi tự thân và cảnh vật ở bên ngoài, không còn một chỗ nào Ngài không thấy rõ ràng, chính xác về vị ngọt, sự nguy hại và sự thoát ra khỏi nó. Ngài đã chứng, đã biết, đã thành tựu và đã thoát ra một cách rốt ráo, viên mãn và trọn vẹn. Ngài đã xuất ly khỏi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Ngài hoàn toàn liễu tri, thấu đạt, chứng ngộ, xuất ly và thoát ra khỏi tất cả những thứ đó. Cho nên, Ngài mới tuyên bố Ngài là bậc Vô thượng Chánh Đẳng Chánh Giác.

Bất động tâm giải thoát

Và tri kiến này khởi lên nơi Ta: "Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðời này là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa".

Tâm bất động giải thoát là không còn bất cứ một hình sắc nào, con người nào, cảnh vật nào có thể làm cho tâm Ngài dao động; không có bất cứ âm thanh nào của chư Thiên, Ma giới và nhân loại có thể làm tâm Ngài dao động; bất cứ một mùi, vị nào cũng không thể làm cho tâm Ngài dao động. Chúng ta phải hiểu bất động tâm giải thoát đối với sáu căn, sáu trần là như vậy. Tức là bất cứ sắc, thanh, mùi, vị, sự xúc chạm nào cũng không làm tâm Ngài nhiễu động, dao động, rối loạn. Tâm bất động này là bất động đối với sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Bất cứ cảm giác, hình bóng, suy nghĩ nào dù có khởi lên cũng không thể làm cho tâm Ngài dao động. Bất cứ con mắt, lỗ tai, lỗ mũi, thân nào cũng không thể làm cho tâm Ngài dao động. Bất động tâm giải thoát của ý nghĩa như vậy.

Khi ấy, sự thấy biết về tự thân khởi lên rằng tâm Ngài đã thoát ra khỏi mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; tâm Ngài đã thoát ra khỏi sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Tâm đó là tâm đã thoát ra, đạt được bất động, không còn bất cứ hình sắc, âm thanh, hương, vị, sự xúc chạm nào có thể làm cho tâm Ngài dao động. Không còn bất cứ con mắt, lỗ mũi, gương mặt, đôi môi, cái lưỡi, hình hài nào có thế làm cho tâm Ngài dao động. không còn bất cứ cảm giác, nghĩ, tưởng bên trong nào sanh khởi lên có thể làm cho tâm Ngài dao động. Đó chính là bất động tâm giải thoát và ở phương diện này là bất động đối với sáu căn, sáu trần.

Khi bất động như vậy thì đời sống này là đời sống cuối cùng vì Ngài đã xuất ly ra khỏi tất cả những căn, trần đó. Ngài đã thấy sự nguy hại một cách tận cùng và thoát ra một cách rốt ráo, trọn vẹn nên đời sống này là đời sống cuối, nay không còn tái sanh nữa. Không còn bất cứ một điều gì có thể dẫn Ngài đi vào hình thái của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý; kshông còn một nguyên nhân, động lực nào dẫn Ngài đi tìm cầu trong sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Tâm hoàn toàn tịch tịnh, Niết-bàn vô sanh, bất diệt, tâm giải thoát và tuệ giải thoát được viên mãn.

Đây là ý nghĩa của câu nói "Bất động là tâm giải thoát của Ta. Ðời này là đời sống cuối cùng, nay không còn tái sanh nữa".

./.