Duyên Sanh Pháp _ Vô Ngã _ Đại Kinh Mãn Nguyệt 3
KINH NIKĀYA GIẢNG GIẢI
DUYÊN SANH PHÁP _ VÔ NGÃ
ĐẠI KINH MÃN NGUYỆT 3
Thích Minh Thành
Khi đi ra đường gặp người đẹp, về nhà mình nhớ lại hình bóng người đó. Chỉ đơn giản vậy thôi nhưng khi các pháp vận hành mình lại không biết, sau đây Đức Phật sẽ cho mình biết định lý của các pháp vận hành: Do mình có con mắt thấy người đó, khởi lên sự rõ biết về người đó, khi đó căn – trần – thức ba pháp này hội tụ, giao thoa với nhau gọi là nhãn xúc và nhãn xúc này xảy ra rất nhanh, chỉ trong tích tắc. Khi ba pháp này giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của con mắt thì lập tức sanh ra cảm thọ, nếu là đẹp thì thích, tham ái và đây là lạc thọ. Khi trở về hình bóng người đó xuất hiện trong tâm gọi là sắc tưởng, suy nghĩ về người đó gọi là sắc tư vậy mà mình không thấy, không biết gì cả nên gọi là vô minh, chỉ có học cái này mới thấy mới biết đúng như sự thật các pháp đang diễn ra. Cho nên đây là những định lý, định luật về sự vận hành của tâm thức do bậc Chánh Đẳng Giác giác ngộ. Nếu không biết duyên sanh pháp thì mình không thể biết được thân tâm của mình là gì, mình chỉ thấy một tự ngã, có một cái tôi và một cái của tôi, còn khi biết duyên sanh pháp sẽ thấy cả một chuỗi vận hành của các pháp, không có cái ta cái tôi trong đó. Những điều trong Căn bản trí là những điều Đức Phật đã chứng ngộ, nếu không học thì khi nhìn lại nội tâm bằng suy nghĩ bình thường sẽ không thành tựu trí huệ thượng nhân pháp, không thành tựu Thánh trí. Mình nghĩ đơn giản 'Tôi nhớ người đó' nhưng thật chất là cả một vòng vận hành, đây chỉ mới là duyên sanh pháp của con mắt thôi, ngoài ra còn duyên sanh pháp của tai; mũi; lưỡi; thân; ý.
Do duyên có lỗ tai, có âm thanh và sự rõ biết âm thanh, ba pháp này hội tụ giao thoa tạo thành nhĩ xúc là sự tiếp xúc của lỗ tai, khi tiếp xúc sẽ sanh cảm thọ cho nên sự yêu thích không phải chỉ ở trên hình dáng mà còn yêu thích trên cả âm thanh, đó là thọ do nhĩ xúc sanh, sau đó nhớ lại lời nói đó là thanh tưởng, suy nghĩ về lời nói đó là thanh tư.
Món đồ hay cảnh vật cũng giống như vậy, ví dụ khi mình được ăn món ngon và duyên sanh pháp của món ngon đó là như thế nào? Do duyên có lưỡi, có món ăn và sự rõ biết vị của món ăn (thiệt thức), ba pháp này hội tụ giao thoa với nhau tạo thành sự tiếp xúc của lưỡi gọi là thiệt xúc, khi tiếp xúc như vậy sẽ sanh ra thọ gọi là thọ do thiệt xúc sanh, sau đó nhớ lại mùi vị món ăn là vị tưởng, suy nghĩ về mùi vị món ăn là vị tư. Thân xúc rất ghê gớm, đến chết cũng không quên được, nó sẽ ám ảnh trong tâm mình cho nên tất cả chúng sanh đều bị khổ vì không thấy được duyên sanh pháp. Mình cần học thuộc duyên sanh pháp, định nghĩa năm uẩn 1-2, hộ trì căn, oai nghi của người xuất gia như thế nào… đó là pháp hành của kinh tạng Nikāya nên cần đọc tụng hằng ngày.
--"Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi là thức uẩn?
--Danh sắc là nhân, này Tỳ-kheo, danh sắc là duyên được chấp nhận gọi là thức uẩn". (Trung Bộ kinh, 109. Ðại kinh Mãn nguyệt)
Sắc này do tứ đại tạo thành, danh chính là thọ; tưởng; tư; xúc và tác ý, đây là phần tâm của mình. Tư là sự suy tư, suy nghĩ (hành), xúc là sự tiếp xúc, tác ý cũng là một sự suy nghĩ tác động tâm ý. Bài kinh này là những phần cực kì quan trọng, cốt lõi trong Thánh trí năm uẩn, sau đây là những câu hỏi rất quan trọng.
-- "Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là thân kiến?" (Trung Bộ kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Thân kiến là kiếp chấp về thân, sự nhìn nhận sai lầm về thân xác này. Ở Đài Loan có chỗ bán đậu hủ thối nổi tiếng, ai đến Đài Loan cũng phải ăn món này và càng thối lại càng ngon. Các cô của Minh Thành đều ăn chay, các cô có món đậu hủ ủ, lấy vải mùng trùm lên đậu ủ vài ngày đến khi đem ra chiên thì mùi hương cực kì thơm. Chiều nay đi học về đến cổng chùa thì mùi đậu hủ thối bốc lên, như vậy là do duyên có lỗ mũi, có mùi của đậu hủ khởi lên sự rõ biết mùi đó gọi là tỷ thức, lỗ mũi là tỷ căn, mùi của đậu hủ là hương trần. Vậy là ba pháp này giao thoa với nhau tạo thành tỷ xúc là sự tiếp xúc của lỗ mũi, khi tiếp xúc sẽ sanh ra thọ do tỷ xúc sanh, sau đó trong tâm khởi lên hình bóng của món ăn đó là hương tưởng, suy nghĩ về mùi đó là hương tư. Nhưng còn mùi hương nước hoa của một người đi ngang qua mình mới ghê gớm hoặc là những người bị nặng mùi, đi chung trong xe có máy lạnh là một sự hành hạ nhau, người biết ăn sầu riêng thì thấy món đó thơm ngon, béo bổ, ngọt bùi nhưng người không biết ăn sầu riêng lại không chịu nổi mùi của món này. Nếu mình không chánh niệm tỉnh giác, không nhận biết các pháp vận hành thì lúc đó mình bị mê muội, tham sân si trong đó. Mùi nào mình thích thì ham, mùi nào không thích thì sân, mùi không thích không ghét lại không biết duyên sanh pháp là si. Đây là giá trị, lợi ích của duyên sanh pháp, chỉ có Đức Phật bậc chứng ngộ tối thượng mới nói ra được điều này, ngoài ra không có nhà tâm lý học nào trên thế giới có thể chỉ ra tường tận, rõ ràng tất cả mọi phương diện, khía cạnh của thân tâm. Trước đây Minh Thành ngồi ghế nhà trường học mười năm nhưng không được học cái này cho nên có được cái này không phải chuyện đơn giản, phải học thuộc lòng từng chữ vì chỉ cần sai một chữ là sai hết vì nó là định lý, là sự chứng ngộ của Đức Phật.
Ví dụ một lát nữa chuông reng hết giờ, mọi người đứng lên bước ra. Mình đang đi bình thường thì có người phía sau đẩy tới làm mình té thì cảm giác lúc đó ra sao? Mình chỉ nghĩ 'Người này đụng tôi làm tôi khó chịu', suy nghĩ đó là của phàm phu không biết tu, còn suy nghĩ đúng duyên sanh pháp mới là suy nghĩ của bậc trí tuệ Đa văn Thánh đệ tử: 'Do duyên có thân này, có sự đụng chạm của người kia đẩy mình mới sanh khởi lên sự rõ biết sự đụng chạm đó. Ba pháp này giao thoa với nhau tạo thành sự xúc chạm của thân gọi là thân xúc, khi xúc lập tức sẽ sanh cảm thọ'. Tùy vào sự tiếp xúc làm mình sanh khởi ra khổ thọ hay tiếp xúc làm mình sanh khởi ra lạc thọ, sau khi đã sanh khởi ra cảm giác rồi mình trở về thì hình bóng của sự tiếp xúc hiện khởi trở lại gọi là xúc tưởng, suy nghĩ về sự đụng chạm đó là xúc tư. Nếu nhớ lại sự đụng chạm đó mà mình bực bội, khó chịu thì mình sân, nếu là sự tiếp xúc trìu mến thì mình tham, ưa thích, dính mắc. Như vậy là lạc thọ khi tiếp xúc thì mình tham dục, ưa thích, khoan khoái, còn tiếp xúc mà có khổ thọ thì sân hận, bực dọc, nếu tiếp xúc mà sanh ra không dễ chịu không khó chịu là bất khổ bất lạc thọ và sự tiếp xúc này mình không biết rõ có thân, có sự đụng chạm, có sự rõ biết, có sự tiếp xúc của thân, có sự không khổ không vui, cái không biết đó là vô minh, si ám. Lúc đó mình chỉ thấy 'Tôi đang thấy không khó chịu cũng không dễ chịu, tôi thấy thường thường', cái tôi thấy thường thường đó là vô minh, chấp ngã, si mê.
Khi học thì nói từng phần nhưng thực tế thì sáu thọ, sáu trần này cùng lúc tấn công mình rất nhanh, nếu mình không có thiền định, không có trí quán, không biết duyên sanh pháp, không thực tập nhìn nhận thì lúc đó mình hoàn toàn bị vô minh, dục tham, sân hận, si mê trùm phủ và tất cả lời nói, hành động, suy nghĩ đều ở trong bản ngã, trong vô minh, tham ái, chấp thủ đối với năm uẩn. Như vậy mỗi ngày khi mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý tiếp xúc mình có thấy duyên sanh pháp không hay là mình chỉ thấy 'Tôi đang thấy cái đó đẹp' thì đó là vô minh, chấp ngã hoặc là có cái tôi đang nghe, đang hiểu, đang biết thì hoàn toàn đều ở trong vô minh, thân kiến, trong sự chấp ngã, không thấy duyên sanh pháp, không thấy được những móc xích, những sự lắp ráp, vận hành của các pháp đó mà chỉ thấy một cái tôi thuần nhất, nguyên khối tưởng, một cái ta, một cái tao, một cái tự ngã. Khi có một cái tao, một cái tôi, một cái mình, một cái tự ngã thì ai đụng chạm vào sẽ sân si nếu bị trầy trụa, nói nặng hoặc mất đi cái gì đó, nếu được thì dục ái, tham thích còn thường thường là si, vô minh. Trong cả ba loại cảm xúc vui, khổ, không vui không khổ mình đều bị dính mắc, nếu mình học mà không có bậc thiện tri thức chỉ dẫn thì có ngồi thiền suốt đời cũng không biết được cái này, mọi người cần tập trung tâm ý, lắng tai nghe pháp cao độ để hiểu được điều này vì đây là sự chứng ngộ của Đức Phật mà từ trước đến nay mình chưa từng được nghe, chưa từng được hiểu, chưa từng được thực tập, chưa từng được tu học.
Sư cô: Mô Phật, con kính bạch thầy và đại chúng cho con được hỏi thêm phần lạc thọ, khổ thọ và bất khổ bất lạc thọ. Ví dụ khi lên đạo tràng tụng kinh có không khí nóng bức, nếu mình cảm nhận được thì thấy nóng, lúc đó sẽ có thọ khổ. Nếu ngồi cạnh cửa hoặc có máy lạnh sẽ thấy mát thì mình có lạc thọ. Còn trong bất khổ bất lạc thọ có hai trường hợp: Thứ nhất nếu mình không nghĩ đến thì mình sẽ không thấy nóng mà sẽ thấy thoải mái, thứ hai là nếu không nghĩ đến, không biết thì là vô minh, si mê. Con đang phân vân phần này, xin thầy chỉ dẫn thêm ạ.
Sư Phụ: Mình không nghĩ đến không có nghĩa là nó không có, mọi người cần nhớ rõ điều này không nghĩ đến không có nghĩa là nó không có cho nên phần quán chiếu cảm thọ Minh Thành đã giảng rất nhiều bài, chúng ta về chịu khó lên trang linhquyphapan.vn nghe thêm.
Chúng ta đang ngồi thiền yên tịnh trong phòng để ý vào trong tâm thì thấy có hình bóng người buổi sáng mình cự cãi với họ hiện lên nên cảm giác khó chịu xuất hiện, mình suy nghĩ về người đó. Lúc đó có sự rõ biết trong tâm là đang có hình bóng đó, đang có cảm giác khó chịu đó, đang có suy nghĩ về người đó. Đây là ý căn, đây là pháp trần, đây là ý thức, căn – trần – thức cho nên ý căn là sự để ý vào bên trong. Ví dụ trong cả giảng đường này mọi người đang để ý Minh Thành chứ không để ý những thứ khác, vậy nên khi để ý bất kì cái nào thì cái pháp đó sẽ hiện rõ trong tâm. Khi đi trong bóng đêm mà muốn nhìn vào đâu thì rọi đèn pin vào đó, khi rọi vào nơi nào thì vật đó sẽ hiện ra rõ ràng, hành động rọi vào để vật đó hiện rõ ra gọi là ý căn. Từ nãy giờ nếu không để ý vào xương sống thì không cảm nhận gì nhưng khi để ý vào thì thấy mỏi lưng, có hình ảnh xương sống hiện ra thì đó là ý căn. Khi để ý vào tâm thì hình bóng, cảm giác, suy nghĩ về người mà mình cự cãi ban sáng hiện ra, đó là nội trần còn sắc; thanh; hương; vị; xúc là ngoại trần. Khi cảm giác, hình bóng, suy nghĩ hiện ra thì mình có sự rõ biết, ba cái này giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của ý, sanh ra cảm thọ mới thì lại bực bội tiếp, mình càng nhớ đến người đó thì mình càng giận thêm. Ái dục cũng vậy, trong tâm mình có hình bóng của một người ám ảnh mà mình cho rằng dễ thương, mình có cảm giác ưa thích, có suy nghĩ về người đó, mình càng suy nghĩ, càng tưởng về người đó thì càng sanh ra những cảm giác ưa thích gọi là thọ do ý xúc sanh, dù không tiếp xúc với người đó, chỉ ở một mình nhưng ý xúc vẫn sanh ra. Sự tiếp xúc của các pháp ở bên trong, những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ tiếp xúc bên trong ý sanh khởi ra các cảm thọ, những hình bóng của cái đó hiện lại nữa, không phải nghĩ phớt qua một lần là xong mà tiếp tục sanh ra cảm giác, suy nghĩ, hình bóng số một, số hai, ba, bốn… Như vậy người hận thù càng suy nghĩ thì họ càng tức giận, càng tức giận lại càng suy nghĩ, cứ như vậy làm cho tăng trưởng phát triển thọ; tưởng; hành, những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ cứ tiếp tục cho đến khi nào người này giận quá không chịu nổi nữa thì đi tìm một người khác để trút bầu tâm sự. Tham, ái, dục cũng vận hành giống như vậy, những hình bóng của thọ; tưởng; hành hiện khởi trở lại rồi suy nghĩ về những điều đó. Đây chính là tâm của mình và nó hoạt động hằng ngày hằng giờ nhưng tại sao mình lại không thấy? Vì không có sự thiền quán đúng như pháp Đức Phật chỉ dạy, khi ngồi lại thì trong tâm rất lộn xộn và mình không biết có gì trong đó, khi hỏi tâm là gì thì chỉ có thể nói 'Tâm là tâm'. Còn khi thiền định từng pháp đều hiện rõ ràng.
"-- Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Vị Tỳ-kheo có Thiền định, này các Tỳ-kheo, hiểu biết một cách như thật.
Hiểu biết gì một cách như thật? Sắc tập khởi và đoạn diệt; thọ tập khởi và đoạn diệt; tưởng tập khởi và đoạn diệt; các hành tập khởi và đoạn diệt; thức tập khởi và đoạn diệt". (Tương Ưng Bộ, tập III - Thiên uẩn, chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. phẩm Nakulapità, V. Thiền Ðịnh)
./.
DUYÊN SANH PHÁP _ VÔ NGÃ
ĐẠI KINH MÃN NGUYỆT 3
Thích Minh Thành
Khi đi ra đường gặp người đẹp, về nhà mình nhớ lại hình bóng người đó. Chỉ đơn giản vậy thôi nhưng khi các pháp vận hành mình lại không biết, sau đây Đức Phật sẽ cho mình biết định lý của các pháp vận hành: Do mình có con mắt thấy người đó, khởi lên sự rõ biết về người đó, khi đó căn – trần – thức ba pháp này hội tụ, giao thoa với nhau gọi là nhãn xúc và nhãn xúc này xảy ra rất nhanh, chỉ trong tích tắc. Khi ba pháp này giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của con mắt thì lập tức sanh ra cảm thọ, nếu là đẹp thì thích, tham ái và đây là lạc thọ. Khi trở về hình bóng người đó xuất hiện trong tâm gọi là sắc tưởng, suy nghĩ về người đó gọi là sắc tư vậy mà mình không thấy, không biết gì cả nên gọi là vô minh, chỉ có học cái này mới thấy mới biết đúng như sự thật các pháp đang diễn ra. Cho nên đây là những định lý, định luật về sự vận hành của tâm thức do bậc Chánh Đẳng Giác giác ngộ. Nếu không biết duyên sanh pháp thì mình không thể biết được thân tâm của mình là gì, mình chỉ thấy một tự ngã, có một cái tôi và một cái của tôi, còn khi biết duyên sanh pháp sẽ thấy cả một chuỗi vận hành của các pháp, không có cái ta cái tôi trong đó. Những điều trong Căn bản trí là những điều Đức Phật đã chứng ngộ, nếu không học thì khi nhìn lại nội tâm bằng suy nghĩ bình thường sẽ không thành tựu trí huệ thượng nhân pháp, không thành tựu Thánh trí. Mình nghĩ đơn giản 'Tôi nhớ người đó' nhưng thật chất là cả một vòng vận hành, đây chỉ mới là duyên sanh pháp của con mắt thôi, ngoài ra còn duyên sanh pháp của tai; mũi; lưỡi; thân; ý.
Do duyên có lỗ tai, có âm thanh và sự rõ biết âm thanh, ba pháp này hội tụ giao thoa tạo thành nhĩ xúc là sự tiếp xúc của lỗ tai, khi tiếp xúc sẽ sanh cảm thọ cho nên sự yêu thích không phải chỉ ở trên hình dáng mà còn yêu thích trên cả âm thanh, đó là thọ do nhĩ xúc sanh, sau đó nhớ lại lời nói đó là thanh tưởng, suy nghĩ về lời nói đó là thanh tư.
Món đồ hay cảnh vật cũng giống như vậy, ví dụ khi mình được ăn món ngon và duyên sanh pháp của món ngon đó là như thế nào? Do duyên có lưỡi, có món ăn và sự rõ biết vị của món ăn (thiệt thức), ba pháp này hội tụ giao thoa với nhau tạo thành sự tiếp xúc của lưỡi gọi là thiệt xúc, khi tiếp xúc như vậy sẽ sanh ra thọ gọi là thọ do thiệt xúc sanh, sau đó nhớ lại mùi vị món ăn là vị tưởng, suy nghĩ về mùi vị món ăn là vị tư. Thân xúc rất ghê gớm, đến chết cũng không quên được, nó sẽ ám ảnh trong tâm mình cho nên tất cả chúng sanh đều bị khổ vì không thấy được duyên sanh pháp. Mình cần học thuộc duyên sanh pháp, định nghĩa năm uẩn 1-2, hộ trì căn, oai nghi của người xuất gia như thế nào… đó là pháp hành của kinh tạng Nikāya nên cần đọc tụng hằng ngày.
--"Do nhân gì, duyên gì được chấp nhận gọi là thức uẩn?
--Danh sắc là nhân, này Tỳ-kheo, danh sắc là duyên được chấp nhận gọi là thức uẩn". (Trung Bộ kinh, 109. Ðại kinh Mãn nguyệt)
Sắc này do tứ đại tạo thành, danh chính là thọ; tưởng; tư; xúc và tác ý, đây là phần tâm của mình. Tư là sự suy tư, suy nghĩ (hành), xúc là sự tiếp xúc, tác ý cũng là một sự suy nghĩ tác động tâm ý. Bài kinh này là những phần cực kì quan trọng, cốt lõi trong Thánh trí năm uẩn, sau đây là những câu hỏi rất quan trọng.
-- "Nhưng bạch Thế Tôn, thế nào là thân kiến?" (Trung Bộ kinh, 109. Đại kinh Mãn nguyệt)
Thân kiến là kiếp chấp về thân, sự nhìn nhận sai lầm về thân xác này. Ở Đài Loan có chỗ bán đậu hủ thối nổi tiếng, ai đến Đài Loan cũng phải ăn món này và càng thối lại càng ngon. Các cô của Minh Thành đều ăn chay, các cô có món đậu hủ ủ, lấy vải mùng trùm lên đậu ủ vài ngày đến khi đem ra chiên thì mùi hương cực kì thơm. Chiều nay đi học về đến cổng chùa thì mùi đậu hủ thối bốc lên, như vậy là do duyên có lỗ mũi, có mùi của đậu hủ khởi lên sự rõ biết mùi đó gọi là tỷ thức, lỗ mũi là tỷ căn, mùi của đậu hủ là hương trần. Vậy là ba pháp này giao thoa với nhau tạo thành tỷ xúc là sự tiếp xúc của lỗ mũi, khi tiếp xúc sẽ sanh ra thọ do tỷ xúc sanh, sau đó trong tâm khởi lên hình bóng của món ăn đó là hương tưởng, suy nghĩ về mùi đó là hương tư. Nhưng còn mùi hương nước hoa của một người đi ngang qua mình mới ghê gớm hoặc là những người bị nặng mùi, đi chung trong xe có máy lạnh là một sự hành hạ nhau, người biết ăn sầu riêng thì thấy món đó thơm ngon, béo bổ, ngọt bùi nhưng người không biết ăn sầu riêng lại không chịu nổi mùi của món này. Nếu mình không chánh niệm tỉnh giác, không nhận biết các pháp vận hành thì lúc đó mình bị mê muội, tham sân si trong đó. Mùi nào mình thích thì ham, mùi nào không thích thì sân, mùi không thích không ghét lại không biết duyên sanh pháp là si. Đây là giá trị, lợi ích của duyên sanh pháp, chỉ có Đức Phật bậc chứng ngộ tối thượng mới nói ra được điều này, ngoài ra không có nhà tâm lý học nào trên thế giới có thể chỉ ra tường tận, rõ ràng tất cả mọi phương diện, khía cạnh của thân tâm. Trước đây Minh Thành ngồi ghế nhà trường học mười năm nhưng không được học cái này cho nên có được cái này không phải chuyện đơn giản, phải học thuộc lòng từng chữ vì chỉ cần sai một chữ là sai hết vì nó là định lý, là sự chứng ngộ của Đức Phật.
Ví dụ một lát nữa chuông reng hết giờ, mọi người đứng lên bước ra. Mình đang đi bình thường thì có người phía sau đẩy tới làm mình té thì cảm giác lúc đó ra sao? Mình chỉ nghĩ 'Người này đụng tôi làm tôi khó chịu', suy nghĩ đó là của phàm phu không biết tu, còn suy nghĩ đúng duyên sanh pháp mới là suy nghĩ của bậc trí tuệ Đa văn Thánh đệ tử: 'Do duyên có thân này, có sự đụng chạm của người kia đẩy mình mới sanh khởi lên sự rõ biết sự đụng chạm đó. Ba pháp này giao thoa với nhau tạo thành sự xúc chạm của thân gọi là thân xúc, khi xúc lập tức sẽ sanh cảm thọ'. Tùy vào sự tiếp xúc làm mình sanh khởi ra khổ thọ hay tiếp xúc làm mình sanh khởi ra lạc thọ, sau khi đã sanh khởi ra cảm giác rồi mình trở về thì hình bóng của sự tiếp xúc hiện khởi trở lại gọi là xúc tưởng, suy nghĩ về sự đụng chạm đó là xúc tư. Nếu nhớ lại sự đụng chạm đó mà mình bực bội, khó chịu thì mình sân, nếu là sự tiếp xúc trìu mến thì mình tham, ưa thích, dính mắc. Như vậy là lạc thọ khi tiếp xúc thì mình tham dục, ưa thích, khoan khoái, còn tiếp xúc mà có khổ thọ thì sân hận, bực dọc, nếu tiếp xúc mà sanh ra không dễ chịu không khó chịu là bất khổ bất lạc thọ và sự tiếp xúc này mình không biết rõ có thân, có sự đụng chạm, có sự rõ biết, có sự tiếp xúc của thân, có sự không khổ không vui, cái không biết đó là vô minh, si ám. Lúc đó mình chỉ thấy 'Tôi đang thấy không khó chịu cũng không dễ chịu, tôi thấy thường thường', cái tôi thấy thường thường đó là vô minh, chấp ngã, si mê.
Khi học thì nói từng phần nhưng thực tế thì sáu thọ, sáu trần này cùng lúc tấn công mình rất nhanh, nếu mình không có thiền định, không có trí quán, không biết duyên sanh pháp, không thực tập nhìn nhận thì lúc đó mình hoàn toàn bị vô minh, dục tham, sân hận, si mê trùm phủ và tất cả lời nói, hành động, suy nghĩ đều ở trong bản ngã, trong vô minh, tham ái, chấp thủ đối với năm uẩn. Như vậy mỗi ngày khi mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý tiếp xúc mình có thấy duyên sanh pháp không hay là mình chỉ thấy 'Tôi đang thấy cái đó đẹp' thì đó là vô minh, chấp ngã hoặc là có cái tôi đang nghe, đang hiểu, đang biết thì hoàn toàn đều ở trong vô minh, thân kiến, trong sự chấp ngã, không thấy duyên sanh pháp, không thấy được những móc xích, những sự lắp ráp, vận hành của các pháp đó mà chỉ thấy một cái tôi thuần nhất, nguyên khối tưởng, một cái ta, một cái tao, một cái tự ngã. Khi có một cái tao, một cái tôi, một cái mình, một cái tự ngã thì ai đụng chạm vào sẽ sân si nếu bị trầy trụa, nói nặng hoặc mất đi cái gì đó, nếu được thì dục ái, tham thích còn thường thường là si, vô minh. Trong cả ba loại cảm xúc vui, khổ, không vui không khổ mình đều bị dính mắc, nếu mình học mà không có bậc thiện tri thức chỉ dẫn thì có ngồi thiền suốt đời cũng không biết được cái này, mọi người cần tập trung tâm ý, lắng tai nghe pháp cao độ để hiểu được điều này vì đây là sự chứng ngộ của Đức Phật mà từ trước đến nay mình chưa từng được nghe, chưa từng được hiểu, chưa từng được thực tập, chưa từng được tu học.
Sư cô: Mô Phật, con kính bạch thầy và đại chúng cho con được hỏi thêm phần lạc thọ, khổ thọ và bất khổ bất lạc thọ. Ví dụ khi lên đạo tràng tụng kinh có không khí nóng bức, nếu mình cảm nhận được thì thấy nóng, lúc đó sẽ có thọ khổ. Nếu ngồi cạnh cửa hoặc có máy lạnh sẽ thấy mát thì mình có lạc thọ. Còn trong bất khổ bất lạc thọ có hai trường hợp: Thứ nhất nếu mình không nghĩ đến thì mình sẽ không thấy nóng mà sẽ thấy thoải mái, thứ hai là nếu không nghĩ đến, không biết thì là vô minh, si mê. Con đang phân vân phần này, xin thầy chỉ dẫn thêm ạ.
Sư Phụ: Mình không nghĩ đến không có nghĩa là nó không có, mọi người cần nhớ rõ điều này không nghĩ đến không có nghĩa là nó không có cho nên phần quán chiếu cảm thọ Minh Thành đã giảng rất nhiều bài, chúng ta về chịu khó lên trang linhquyphapan.vn nghe thêm.
Chúng ta đang ngồi thiền yên tịnh trong phòng để ý vào trong tâm thì thấy có hình bóng người buổi sáng mình cự cãi với họ hiện lên nên cảm giác khó chịu xuất hiện, mình suy nghĩ về người đó. Lúc đó có sự rõ biết trong tâm là đang có hình bóng đó, đang có cảm giác khó chịu đó, đang có suy nghĩ về người đó. Đây là ý căn, đây là pháp trần, đây là ý thức, căn – trần – thức cho nên ý căn là sự để ý vào bên trong. Ví dụ trong cả giảng đường này mọi người đang để ý Minh Thành chứ không để ý những thứ khác, vậy nên khi để ý bất kì cái nào thì cái pháp đó sẽ hiện rõ trong tâm. Khi đi trong bóng đêm mà muốn nhìn vào đâu thì rọi đèn pin vào đó, khi rọi vào nơi nào thì vật đó sẽ hiện ra rõ ràng, hành động rọi vào để vật đó hiện rõ ra gọi là ý căn. Từ nãy giờ nếu không để ý vào xương sống thì không cảm nhận gì nhưng khi để ý vào thì thấy mỏi lưng, có hình ảnh xương sống hiện ra thì đó là ý căn. Khi để ý vào tâm thì hình bóng, cảm giác, suy nghĩ về người mà mình cự cãi ban sáng hiện ra, đó là nội trần còn sắc; thanh; hương; vị; xúc là ngoại trần. Khi cảm giác, hình bóng, suy nghĩ hiện ra thì mình có sự rõ biết, ba cái này giao thoa tạo thành sự tiếp xúc của ý, sanh ra cảm thọ mới thì lại bực bội tiếp, mình càng nhớ đến người đó thì mình càng giận thêm. Ái dục cũng vậy, trong tâm mình có hình bóng của một người ám ảnh mà mình cho rằng dễ thương, mình có cảm giác ưa thích, có suy nghĩ về người đó, mình càng suy nghĩ, càng tưởng về người đó thì càng sanh ra những cảm giác ưa thích gọi là thọ do ý xúc sanh, dù không tiếp xúc với người đó, chỉ ở một mình nhưng ý xúc vẫn sanh ra. Sự tiếp xúc của các pháp ở bên trong, những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ tiếp xúc bên trong ý sanh khởi ra các cảm thọ, những hình bóng của cái đó hiện lại nữa, không phải nghĩ phớt qua một lần là xong mà tiếp tục sanh ra cảm giác, suy nghĩ, hình bóng số một, số hai, ba, bốn… Như vậy người hận thù càng suy nghĩ thì họ càng tức giận, càng tức giận lại càng suy nghĩ, cứ như vậy làm cho tăng trưởng phát triển thọ; tưởng; hành, những hình bóng, cảm giác, suy nghĩ cứ tiếp tục cho đến khi nào người này giận quá không chịu nổi nữa thì đi tìm một người khác để trút bầu tâm sự. Tham, ái, dục cũng vận hành giống như vậy, những hình bóng của thọ; tưởng; hành hiện khởi trở lại rồi suy nghĩ về những điều đó. Đây chính là tâm của mình và nó hoạt động hằng ngày hằng giờ nhưng tại sao mình lại không thấy? Vì không có sự thiền quán đúng như pháp Đức Phật chỉ dạy, khi ngồi lại thì trong tâm rất lộn xộn và mình không biết có gì trong đó, khi hỏi tâm là gì thì chỉ có thể nói 'Tâm là tâm'. Còn khi thiền định từng pháp đều hiện rõ ràng.
"-- Này các Tỳ-kheo, hãy tu tập Thiền định. Vị Tỳ-kheo có Thiền định, này các Tỳ-kheo, hiểu biết một cách như thật.
Hiểu biết gì một cách như thật? Sắc tập khởi và đoạn diệt; thọ tập khởi và đoạn diệt; tưởng tập khởi và đoạn diệt; các hành tập khởi và đoạn diệt; thức tập khởi và đoạn diệt". (Tương Ưng Bộ, tập III - Thiên uẩn, chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. phẩm Nakulapità, V. Thiền Ðịnh)
./.