Nhập Thất Chia Sẻ 2 - Bất Tịnh Quán - ĐĐ. Thích Minh Thành
Nhập Thất Chia Sẻ 2
BẤT TỊNH QUÁN
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Quán bất tịnh PAGEREF _Toc110752244 \h 1
II.Quán tứ đại PAGEREF _Toc110752245 \h 3
III.Nhận diện năm uẩn PAGEREF _Toc110752246 \h 4
IV.Bốn loại tinh cần PAGEREF _Toc110752247 \h 8
Quán bất tịnh
Hãy quán chiếu chùa đăng bảng “Đại Đức Thích Minh Thành viên tịch”, lúc đó ông năm, bà năm, mấy thầy, mấy cô, mấy chú đều khóc. Tất cả đệ tử đều về, bạn bè và mọi người đều tập trung về Linh Quy Pháp Ấn. Minh Thành nằm bất động trên tấm ván, lúc đó sáu người khiêng, trên bảng ghi thế danh Hồ Ngọc Hiệp; pháp danh Thích Minh Thành; ngày sinh 30/12/1975; ngày mất; hưởng dương; hạ lạp… đều ghi rõ.
Trước mắt mình là cảnh bi thương đó, Minh Thành đã đi rồi, Phật tử tới viếng. Thân thể bắt đầu lạnh lẽo, cứng đơ, bất động. Sau đó ba ngày thân xác phình lên, mặt dày ra, sưng lên. Bụng căng lên, tay chân phình ra, trương phình lên. Tiếp theo là cơ thể xanh bầm, xanh lớm đớm, da nứt nẻ, chảy máu, chảy mủ ra. Lúc đó từ trong ruột, bao tử giòi ăn ra. Những con giòi từ trong hai khoé mắt, hai lỗ tai mắt, hai lỗ mũi tuôn ra. Giòi ăn bao tử, ăn lá lách, ăn ruột già ruột non, ăn hết tim, gan. Giòi ăn hai bắp đùi, hai bắp dế. Giòi tuông trào ra hết thân thể, dần dần, chúng ăn mất thịt, ăn mất mỡ, ăn đến các bộ phận ở bên trong, chỉ còn sót lại một ít máu thịt, dính trong bộ xương. Chó rừng, kênh kênh, diều hâu đến rỉa rứt ra từng miếng. Sau đó tất cả thịt, máu khô kiệt hết chỉ còn một bộ xương trắng. Bộ xương này theo năm tháng mòn từ từ, rã ra. Đầu lâu ở một chỗ, xương khuỷu tay ở một nơi. Xương chân, xương sườn rã nát từ từ, rệu rã thành tro bụi.
Tiếp đến, Minh Thành phân tích ba mươi hai thể trược. Minh Thành ngồi bứt từng nắm tóc xuống, để nắm tóc trước mặt; cạo hết râu quai hàm ra; lấy hết lông mũi, lông ngực, lông nách, lông chân ra. Sau đó, để một bên là nắm tóc, một bên là nắm lông. Rứt từng cái móng tay ra, máu chảy đầm đìa, đau đớn, rứt hết hai chục cái móng, gồm mười móng tay mười móng chân. Nhổ từng cái răng ra, máu chảy xuống, nhổ hết ba mươi mấy cái răng, trong miệng chảy đầy máu ra.
Tiếp tục rọc từ trên trán rọc dài xuống, máu chảy xối xả, bên trong là mỡ trong thịt. Rọc từng miếng da ra, máu tuông xuống, mỡ thịt đổ ra. Lột hết da bắp dế, lột hết da chân, lột hết da tay, lột da đầu, lột da lưng để qua một bên. Đây là tóc, đây là móng, đây là răng, đây là da, đây là thịt, đây là những sợi dây gân lộ ra, lấy từng bộ phận ra, lấy tim, lá lách, dạ dày, gan, phổi, thận, túi mật để ra trước mặt.
Khi đó, nhìn lại tấm thân này, có gì là mình? Dơ bẩn, hôi hám, thối tha, đầy những chất bất tịnh. Nước tiểu, phân, mủ, máu, nước mắt, nước mũi, mồ hôi, những nước trong khớp xương. Bao nhiêu thứ hôi hám, bất tịnh. Ghê rợn quá tấm thân này. Vậy mà từ nhỏ tới lớn mấy chục năm cứ đam mê, nắm chặt lấy nó, rồi muốn đi tìm một cái thân, một bộ xương nữa để ôm ấp, muốn tìm thêm một thây thúi nữa để buộc ràng với nhau và say sưa trong đó. Tại sao mình say đắm như vậy, tại sao mình ngu si như vậy, tại sao mình điên đảo vô minh như vậy! Tham dục ơi là tham dục hãy tỉnh lại đi, hãy mở con mắt ra đi để nhìn thấy thực tướng bi thảm, thực tướng dơ bẩn, tanh hôi của tấm thân này.
Mỗi khi quán niệm tử, nhớ về cái chết, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chín giai đoạn của một tử thi thì nước mắt Minh Thành đều trào ra, rúng động hết. Xung quanh xông lên một mùi tanh hôi, đầm đìa nước mắt dâng trào ra. Xót xa, cay đắng vì sự si mê ái dục trong nội tâm của mình. Nước mắt tràn ra, giòi tràn ra, rúng động hết châu thân, thấy mình si mê, vô minh trong bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp. Từ nhỏ tới lớn, tới giờ xuất gia rồi tâm mình vẫn còn si mê, vẫn còn tham ái, vẫn còn vướng mắc.
Tỉnh đi, tỉnh đi! Tại sao lại ngu si, mê muội như vậy. Khi nhìn thấy bộ xương thì hoảng sợ, vậy tại sao lại không biết mình cũng chính là một bộ xương. Tất cả những người đến đi là bộ xương trước mắt của mình, tại sao vẫn đam mê! Thật là ngu si, thật là vô minh! Chính tham ái này lôi đầu mình làm kẻ tù ngục bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp, gần nhất là từ hồi nhỏ đến bây giờ, tại sao giờ này còn chưa tỉnh nữa.. Quán chiếu như vậy nước mắt Minh Thành trào ra, rúng động không phải một lần, mà năm lần như vậy.
Khi nhìn thấy thực tướng sắc thân này, Minh Thành thấy mình si mê như vậy là đủ rồi, vô minh tới đây là vừa rồi. Chính tham ái dẫn mình đi trong vòng luân hồi. Sau khi trải qua cảm giác chấn động đó, Minh Thành trở ra ngoài suốt bao nhiêu ngày không có khởi dục niệm, hoặc có khởi nhẹ thì chỉ cần nhìn lại một cái là tan biến. Như vậy, chỗ quan trọng nhất của pháp tu này là phải phát sanh ra cảm giác rúng động, ghê gớm trong nội tâm mình. Nếu không phát sinh ra cảm giác đó thì mình chưa đắc lực, chưa phải thành công vĩnh viễn mà đây chỉ là một giai đoạn có kết quả. Có vài thầy tâm sự với Minh Thành, nói quán bất tịnh chỉ thấy tịnh không chứ không thấy bất tịnh. Đó là vì không biết cách quán. Nếu chỉ thấy tịnh thì sao Đức Phật giác ngộ. Cho nên, đây là một pháp bắt buộc cho ai muốn tu giác ngộ, nếu không tu pháp này thì vĩnh viễn không phá được dục.
Ngày xưa, trong thân hành niệm Minh Thành không biết nên nghĩ tu một môn hoặc hai môn thôi. Bây giờ mới thấy sai lầm, như vậy là không đủ. Trong thân hành niệm có sáu pháp: thứ nhất là niệm hơi thở, thứ hai là niệm oai nghi, thứ ba là niệm hành động, thứ tư là niệm tứ đại, thứ năm là niệm bất tịnh, thứ sáu là niệm chín trạng thái của một tử thi. Đức Thế Tôn từng nói trong kinh tạng: “Này các Tỷ-kheo, ai thực hiện thân hành niệm người đó nếm được hương vị của bất tử.”. Vì thế nên thân hành niệm là phải thực hành từng bước. Đừng sợ khó, đừng sợ khổ, đừng sợ nhiều, cứ làm từng bước từng bước. Nếu ai cũng sợ khó, sợ khổ thì đâu ai chứng Thánh quả, đâu ai giác ngộ. Cho nên, đầu tiên phải thực tập niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động: tức là làm cái gì biết cái nấy.
Quán tứ đại
Kế đến, cần thực tập quán về tứ đại. Khi Minh Thành ngồi nhìn kĩ về tứ đại, lúc đó mới thấy không chỉ phong đại chỉ luân chuyển trong hơi thở mà phong đại ở trong con mắt cho nên mới chớp chớp được, ở lỗ tai mới nghe gió thổi rì rào, nghe tiếng được, trong lỗ mũi, trong miệng cũng phải có. Lúc đó cảm nhận được toàn thân, từng lỗ chân lông đều có phong đại vận hành trong huyết quản, mạch máu, tim, phổi, gan, lá lách, dạ dày, ruột non,... Tất cả châu thân đều có phong đại luân lưu ở trong đó hết.
Chỉ khi quán chiếu về tứ đại mới thấy được tấm thân này là sự kết hợp, cấu tạo là đồ lắp ráp. Chẳng có cái gì là tôi và của tôi, không có một cái gì nguyên vẹn. Chỉ là một sự kết hợp rỗng tuếch, dơ bẩn, tanh hôi, rỉ chảy chín lỗ. Tanh hôi rỉ chảy chín lỗ chính là chín lỗ trên cơ thể chảy ra, không có chỗ nào sạch sẽ, thơm tho. Thế mà nhả không ra, cắn thiệt chặt, bám thật chắc, khổ, đau, sầu, bi, ưu, não. Lại thế mà cả thế gian, hành tinh, tất cả chúng sanh trong tam giới này vì dục mà đau khổ. Đức Thế Tôn đã từng nói: “Này các Tỷ-kheo, dục là căn bản của tất cả phiền não, tất cả khổ đau”. Dục căn bản của tất cả các dục là ái dục, dâm dục và tham dục. Cho nên, khi quán như vậy, mới thấy tâm là mình hay lông là mình, cái đầu lâu đó là mình hay sương cù chỏ là mình, bộ xương sườn đó là mình hay xương hàm là mình, cái nào mới là mình? Tách từng bộ phận ra, nhắm mắt lại đọc tên tới cái nào thì cái đó phải hiện rõ trước mắt. Nhờ vậy mà chấn cảm, chấn động, rúng động thân tâm vì thấy sự vô minh, tham ái, si mê trong bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp. Phải có cảm giác này thì mới đánh đuổi được cảm giác tham dục, nếu chưa có thì sẽ không không thể đánh đuổi mỗi khi tham dục sanh khởi. Bởi vì cảm giác tham dục còn cứng khừ bên trong cho nên phải dùng cảm giác bất tịnh này đẩy ra. Khi chết rồi thì còn cái gì? Chẳng còn cái gì hết. Vậy tại sao không tỉnh ngộ? Đó là Minh Thành trình bày về phần quán bất tịnh. Đây là một bước rất quan trọng. Hồi xưa khi nhập thất đối đầu với tham dục là mệt nhất, cho nên không ở lâu được. Nhờ bước này tự nhiên tham dục trở nên nhẹ tênh, không còn bị quấy nhiễu, quậy phá nữa.
Nhìn vào hình ảnh giải phẫu thân người, quán chiếu đây là tôi, thường xuyên lấy ra nhìn sâu, soi rọi, nghiền ngẫm để hình ảnh đó in đậm vào sâu trong nội tâm; dùng bất tịnh tướng để phá tịnh tướng; từ hình ảnh đó phân tích thêm: giòi bò ra…Cho tới khi diệt tận hết tất cả tham dục trong nội tâm, không còn sanh khởi nữa mới thành công. Khi còn sống thì phân ra trắng, đen, mập, ốm, xấu, đẹp, cao, thấp, sang, hèn. Chết rồi đều y hệt như nhau. Thâm nào cũng như thân nào, thân nào cũng giòi bò, hôi hám, bẩn thỉu. Dù là thân ông vua hay thân của kẻ ăn mày cũng đều giống như nhau. Phải tu mới thấy những lời Đức Phật dạy là có thật, không phải lời nói suông. Cho nên, phải thường xuyên thực tập quán tứ đại, ba mươi hai thể trượt và chín giai đoạn của một tử thi sau khi chết. Vì như vậy sẽ thấy thân tâm nhẹ nhàng, thoải mái và an lạc lắm.
Nhận diện năm uẩn
Tiếp theo là một bước rất sâu sắc – Nhận diện năm uẩn. Đầu tiên hãy xem cảm giác đang nằm ở đâu? Lồng ngực, tim, lỗ tai hay mặt. Cảm thọ vui, khổ, không vui không khổ đó gọi là thọ. Khi suy nghĩ, hình bóng của sáu trần ở ngoài lưu lại trong tâm; ví dụ như nói hồ Xuân Hương ở Đà Lạt là thấy hình ảnh trong tâm hiện ra hồ Xuân Hương ngay, đó là tưởng. Còn nói Hồ Xuân Hương ở Đà Lạt thì câu nói đó là hành. Mỗi một vọng tưởng khởi lên đều đầy đủ ngũ uẩn trong đó, còn chỉ nói chung chung là do tâm suy nghĩ thì không diệt tận nguồn gốc được.
Cho nên, khi phân tích sâu sắc sẽ thấy từng cái khởi lên: cảm thọ là cảm giác, tưởng là hình bóng, hành là những lời nói lầm thầm trong nội tâm; thức là sự nhận biết thọ, tưởng, hành. Ví dụ như trong đầu khởi lên một ý nghĩ: “Giờ mình leo lên gường mình bung cái chân ra ngủ chắc đã lắm ta!”. Lúc đó sẽ thấy sắc tưởng, tức là hình bóng của mình; câu nói trên là hành; và sự nhận biết tưởng và hành đang sanh khởi là thức. Mà cái gì sanh khởi, đòi hỏi như vậy? Đó là thọ. Nó muốn cho khoẻ, đòi một cảm giác thoải mái, sung sướng đi chứ còn bây giờ đang khó chịu; và từ trong cái thọ đó âm thầm thúc đẩy tưởng, hành và cả thức. Cho nên, Đức Phật từng nói: “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ”, tức là tất cả những tham dục, si mê, vô minh, tham ái đều có gốc ở cảm thọ.
Chúng ta cũng thấy, mỗi ngày tin tức về giết người đầy rẫy. Hát Karaoke ồn quá, hàng xóm đâm nhau chết. Có người chê hát dở quá thì cũng đâm chết luôn. Tất cả đều là do cảm giác khó chịu, không chấp nhận lời chê đó gây ra; từ cảm giác đó đẩy tưởng, hành lên theo chiều sân hận. Cũng từ ý hành đẩy ra khẩu hành là cãi cự, rồi đưa ra thân hành cầm dao chém nhau đưa tới án mạng. Tất cả thế gian này đều bị chìm đắm, vùi dập bởi biển cả của cảm thọ mà không hay biết. Tất cả mọi cái mình làm đều là cảm thọ sâu sắc ở bên trong thúc dục. Cũng như mới ngồi thiền được mười lăm phút thì đau chân, muốn bung chân ra, vậy là bung theo mà không biết là do tưởng với hành kêu. Hành có ba loại là thân hành, khẩu hành, ý hành. Từ ý hành (suy nghĩ) phát ra lời nói, lời nói mới ra hành động. Suy nghĩ đầu tiên là bung chân ra đi, trong đó tưởng ra hình ảnh bung chân ra là khoẻ lắm. Khi đó tưởng ra hình bóng của mình, đây một ảo tưởng của tự ngã bên trong tâm; hiện ra mình bóng bung chân ra là khoẻ lắm, đã lắm; khi đó lập tức chân bung ra ngay, mà lúc đó không biết là thọ bên trong thúc dục, cuốn theo tưởng, hành, thức rồi làm theo. Đó là cả một hành trình của tâm lộ, tức là lộ trình diễn biến của tâm mà không thấy, cứ làm theo thôi.
Nhận diện năm uẩn là bước thực hành cực kì quan trọng. Đây là pháp chánh truyền của Đức Phật. Tìm được pháp này là nhân duyên từ vô lượng kiếp không phải dễ. Minh Thành chỉ thực hành bảy ngày mà nhiếp phục được tham dục, nhưng đòi hỏi mọi người phải nỗ lực và cố gắng thì mới được. Hãy tập nhận diện ngay cảm thọ lúc này, nhìn lại tưởng xem có hình bóng gì trong tâm không? Có lời nói lầm thầm gì trong tâm không? Và thức nhận biết thế nào? Vì vậy, khi Minh Thành thực hành đúng theo lời Phật dạy, mở Thiên uẩn trong Tương Ưng Bộ kinh thì sáng tỏ, bất ngờ vô cùng, phát hiện ra sự sâu xa, hoạt động của tham ái và vô minh. Trước giờ ta chỉ biết được phần ngọn, phần đuôi của vô minh trên chữ nghĩa nên mơ hồ không rõ; còn khi tập nhìn sâu vào sẽ thấy được khởi điểm của nó. Lúc trước nước sôi rồi, tràn lên thì mới biết; còn nếu thực hành pháp đúng thì dưới đáy nồi vừa sủi bọt lên là đã thấy rồi. Mà muốn thấy được như vậy thì phải thực tập cảm giác toàn thân và nhận diện năm uẩn.
Lúc ở trong thất, Minh Thành đi lại bình thuỷ rót một miếng nước gạo lức uống. Lúc đó tưởng và hành khởi lên: “Vài bữa ra thất mình nói với đại chúng là ngày mình ăn có một bữa, ăn một nắm gạo lức thôi mà ba ngày ăn chưa hết”. Cứ ngỡ đó là một câu nói vô cùng bình thường, không hề có tham, sân, si; nhưng mà không phải vậy. Khi quán chiếu sâu mới thấy được: thọ, tưởng, hành này là cái danh phô trương, khoe khoang mình tu hay, tu giỏi. Vậy cái gì muốn cái danh này? Đó là cái ngã, cái tôi; muốn người ta khen mình, đó là cái tôi và điều cần làm là phải dập cái tôi đó. Nói với tâm rằng: “Mày là vô minh, si mê, chấp ngã, bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp vì cái tôi này mà trầm luân trong sanh tử luân hồi. Tại sao bây giờ hở cái là tôi, chỗ này có ai đâu mà tôi!”. Chính bản ngã si mê, chấp đắm này đưa mình vào cái danh, lợi, tham, dục, sân hận. Tôi là cái gì? Tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, lá lách, ruột non, ruột già, tim, gan, phổi, thận có cái nào là tôi? Sắc uẩn là tôi hay thọ uẩn là tôi? Tác ý mạnh mẽ, dập tới tấp, dập tơi tả, dập cho tan nát, dập cho diệt tận. Đức Thế Tôn gọi là: “Làm cho nó diệt tận, làm cho nó không còn hiện hữu, làm cho nó không còn tái sanh nữa”. Làm cho sanh ra cảm giác cái tôi đó tan ra như khói bụi, đó mới là người trí huệ.
Có những khi Minh Thành gọi điện mà người nhỏ hơn tắt máy, không nghe, chỉ có như vậy mà cảm thọ khó chịu sanh khởi ba ngày chưa hết: “Tôi là trụ trì, tôi là lớn mà sao xem thường tôi?”. Lúc đó khởi lên như vậy mình dập nó rồi mà chiều chiều nó khởi lên nữa, rồi mình dập nữa, mấy bữa sau khởi lên lại tiếp tục dập. Dập cho nó tan nát, tơi tả, thành khói bụi: “Mày vô minh, mày si mê. Có cái pháp giả dối như vậy mà tại sao bản ngã mày như vậy, mày si mê điên đảo hả? Tại sao mày si mê, ngu muội vậy?”. Dùng tất cả các pháp ngữ trong Phật ngữ đánh đuổi cho nó tan tành hết. Như vậy mới sanh ra được cảm giác xấu hổ, hổ thẹn: “Tại sao mình là Thánh đệ tử, một người xuất gia mà bản ngã một đống như vậy? Có xứng đáng với một người tu không? Có xứng đáng với một bậc xuất trần không? Tại sao nuôi cái bản ngã như vậy? Bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp rồi nó vùi dập mình trong sanh tử. Tại sao giờ này còn nuôi nó. Diệt tận nó đi, diệt tận nó, làm cho nó không còn tái sanh nữa. Chặt nó giống như chặt cây cau vậy”. Tự nhiên lúc đó nội lực bên trong bung ra. Như thế rồi mà lâu lâu vẫn còn sanh khởi.
Cũng vậy, phương pháp này là tối cao để diệt tận gốc tham dục. Dùng quán bất tịnh và trách dục, chửi thậm tệ, đánh tới tấp, làm cho nó không ngóc đầu lên nổi. Phải chặt bỏ, bứng gốc lên, đốt cháy, rồi ném tro xuống sông, thổi vào gió cho tan đi. Đó là lời trong kinh Đức Phật đã nói. Diệt tận, giết cho nó không có chỗ chôn thân, như vậy sẽ đi đến chỗ đoạn tận hết tất cả phiền não. Đừng để biết có vọng tưởng mà không làm gì thì sẽ không đi tới đâu hết. Phải dũng mãnh đánh đuổi thì trí huệ thiện xảo, sức tuệ quán sẽ phát sanh nội lực rất khủng khiếp. Qua đó, thấy được chỉ có một cú điện thoại thôi mà nó thỏ thẻ, thì thầm, thủ thỉ, nói tới nói lui dằn vặt mình. Tới lúc này Minh Thành mới thấy rõ được lời Đức Thế tôn đã nói trong Tương Ưng Bộ kinh:
Này các Tỳ-kheo, hãy từ bỏ sắc, hãy từ bỏ thọ, hãy từ bỏ tưởng, hãy từ bỏ hành, hãy từ bỏ thức. Thì các Ông sẽ được giải thoát.
Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường ?
Là vô thường, bạch Thế Tôn.
Cái gì vô thường là khổ hay lạc ?
Là khổ, bạch Thế Tôn.
Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi " ?
Thưa không, bạch Thế Tôn.
(Kinh Tương Ưng Bộ - Tập III Thiên Uẩn, chương I Tương Ưng Uẩn, phần Năm Mươi Kinh Ở Giữa, phẩm Những Gì Được Ăn, kinh Đáng Được Ăn)
Đức Phật đã khuyên các Tỳ-kheo hãy quán sát sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Hiểu rằng tất cả đều là vô thường. Từ khi thấy được đó là vô thường mới chán nản, nhàm chán; từ nhàm chán đến không còn tham và cũng từ không còn tham đưa đến giải thoát. Cho nên, khi nhìn kỹ trong tâm thì mới thấy mệt mỏi với sắc, thọ, tưởng, hành, thức vô cùng. Miệng nói tu nhưng vẫn còn đam mê luân hồi, không thấy được sự sâu sắc ở trong đó nên nếu nhìn kỹ thì khi thực hành sẽ đưa đến chấn dứt luân hồi. Bởi vì thọ, tưởng, hành, thức này dẫn mình đi qua đời sau.
Có bốn loại thức ăn sau đây:
Đoàn thực là thức ăn gắp, bóc, nắm được;
Xúc thực là tâm thích tiếp xúc, không tiếp xúc là chịu không nổi, phải gặp người này người kia nói chuyện, đi đây đi đó, đây là món ăn về tinh thần;
Tư niệm thực là những suy nghĩ;
Thức thực là những tri thức.
Tứ thực này sẽ nuôi ngũ uẩn, nếu ngừng cung cấp bốn loại thức ăn này là ngũ uẩn sẽ chết, không thể tiếp tục được nữa. Nhịn đoàn thực chắc chắn sẽ chết, không có thức ăn làm sao nuôi thân xác tứ đại. Ba loại còn lại là thức ăn tinh thần. Thành ra, khi dùng những sự tiếp xúc, suy nghĩ, kiến thức, nhận thức là để nuôi ngũ uẩn; nếu dừng lại hết thì sẽ trở về chỗ tịch lặng, không cho ngũ uẩn ăn nữa thì nó không sống được. Không cho tâm ăn thì sẽ đi đến chỗ vắng lặng. Hiện tại thích suy nghĩ, thích nhớ, thích tính toán… Đó là đang cho ngũ uẩn ăn. Vấn đề ở đây là phải nhìn sâu để thực tập năm uẩn thì sẽ thấy được gốc rễ của tham, sân, si. Nếu không quán xét sâu thì chỉ là lý thuyết suông ngoài miệng. Có nhiều người khi tu luôn cảm thấy an ổn, không hề nhìn thấy tham, sân, si; đó là do họ chưa biết, nếu thực sự thấy được tham, sân, si thì mới có thể chấm dứt. Ví như có hai ly nước cam và thuốc độc, nếu đã biết được thì có bưng ly có độc uống không?
Vì vậy, tu theo lời Đức Phật dạy trong Tương Ưng Bộ kinh, chương Uẩn thì sẽ giúp nhận diện lại được thân tâm. Vì lẽ đó phải cố gắng, tinh tấn tu tập. Trong Bát Chánh Đạo, chánh kiến đầu tiên là phải thấy được thân hành niệm, sắc này là do pháp cấu tạo; như Minh Thành đã nói ở trên, phải quán thân hành niệm như quán về bất tịnh, tử thi, cửu tưởng thường xuyên và thường trực; nếu không thì không thể nào phá nổi tham dục và chấp ngã. Nhìn thấy được thì mới thành tựu được chánh kiến, phá được thân kiến và sự chấp về thân. Cũng từ thấy đúng đưa đến tư duy đúng, suy nghĩ đúng, nói đúng, hành động đúng, nuôi sống đúng, tinh tấn đúng, niệm đúng, định đúng.
Bốn loại tinh cần
Trước giờ chỉ nghĩ chánh tinh tấn là siêng làm cái này, làm cái kia cho chùa, siêng lên ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật,...là chưa đúng. Vì Đức Phật dạy, có bốn loại tinh tấn:
Thứ nhất là hộ trì căn;
Thứ hai là tinh cần đoạn tận;
Thứ ba là tu tập chánh niệm;
Thú tư là hộ trì thiện pháp đã có.
Bốn loại tinh tấn này rất quan trọng trong sự tinh tấn. Hộ trì căn tức là tinh cần chế ngự; một người tu lúc nào cũng phải để ý mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình, nói đơn giản là tai mắt; phải bảo hộ, gìn giữ sáu căn. Đừng thấy gì cũng nhìn, gặp ai cũng nói, thấy chuyện gì cũng lao vào; vì như vậy là người không có hộ trì căn. Thứ hai là tinh cần đoạn tận, tức là quay lại tẩy sạch tham, sân, si tồn đọng. Đức Phật dạy rất tuần tự, thứ lớp, chặt chẽ, khít khao, tinh mật; giống như bát diện mai phục. Bởi vì giặc, phiền não ẩn nấp đầy rẫy trong thân tâm, nơi nào cũng có tham dục. Con mắt, lỗ tai, lưỡi, mũi mình có núp tham dục trong đó không? Khắp thân đã đầy rẫy tham dục, vậy còn tâm thì sao? Khắp sáu căn, sáu trần, sáu thức, mười tám giới đều dính mắc. Trong kinh Tạp A-hàm Đức Phật có dạy:
“Một thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương xá. Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất, Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la cùng ở trong núi Kỳ-xà-quật. Buổi chiều sau khi từ thiền tịnh dậy, Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất, cùng nhau thăm hỏi, rồi ngồi lui qua một bên, nói với Tôn giả Xá-lợi-phất:
- Tôi có điều muốn hỏi, Nhân giả có rảnh để giải đáp cho chăng?
Tôn giả Xá-lợi-phất trả lời:
- Tùy theo những gì Nhân giả hỏi, nếu tôi biết, tôi sẽ trả lời.
Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
- Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, thế nào, mắt kết buộc sắc, hay sắc kết buộc mắt? Tai và âm thanh, mũi và mùi, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp; ý kết buộc pháp hay pháp kết buộc ý?
Tôn giả Xá-lợi-phất trả lời Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la:
- Chẳng phải mắt kết buộc sắc, cũng chẳng phải sắc kết buộc mắt, cho đến, chẳng phải ý kết buộc pháp, cũng chẳng phải pháp kết buộc ý. Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la, ở giữa hai cái đó, cái gì là dục tham thì cái đó là kết buộc.
Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la, giống như hai con bò, một đen một trắng, cùng bị buộc vào một cái ách. Có người hỏi, ‘Bò đen buộc bò trắng hay bò trắng buộc bò đen?’. Hỏi như vậy có đúng không?
Đáp:
- Không, Tôn giả Xá-lợi-phất, chẳng phải bò đen buộc bò trắng, cũng chẳng phải bò trắng buộc bò đen. Nhưng ở đây, hoặc là cái ách, hay là dây buộc cổ, là cái kết buộc chúng.
Tôn giả Xá-lợi-phất nói:
- Cũng vậy, Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la, chẳng phải mắt kết buộc sắc, cũng chẳng phải sắc kết buộc mắt, cho đến, chẳng phải ý kết buộc pháp, cũng chẳng phải pháp kết buộc ý. Ở đây dục tham kết buộc chúng. Thưa Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la, nếu mắt kết buộc sắc, hay nếu sắc kết buộc mắt và cho đến, nếu ý kết buộc pháp, hay nếu pháp kết buộc ý, thì Thế Tôn đã không dạy người kiến lập phạm hạnh để đoạn tận khổ. Vì chẳng phải mắt kết buộc sắc, cũng chẳng phải sắc kết buộc mắt và cho đến, chẳng phải ý kết buộc pháp, cũng chẳng phải pháp kết buộc ý, nên Đức Thế Tôn dạy người kiến lập phạm hạnh để đoạn tận khổ. Thưa Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la, Thế Tôn khi mắt thấy sắc hoặc tốt, hoặc xấu, không khởi dục tham; còn những chúng sanh khác khi mắt thấy sắc hoặc tốt, hoặc xấu thì khởi dục tham. Cho nên Đức Thế Tôn nói hãy đoạn tận dục tham, thì tâm được giải thoát. Cho đến, ý và pháp lại cũng như vậy.
Bấy giờ, hai vị Chánh sĩ đều hoan hỷ, mỗi người trở về chỗ của mình”.
(Kinh Tạp A-hàm, kinh số 250).
Đức Phật và các vị Thánh đệ tử đã giảng giải rất rõ: “Chẳng phải bò đen buộc bò trắng, cũng chẳng phải bò trắng buộc bò đen. Nhưng ở đây, hoặc là cái ách, hay là dây buộc cổ, là cái kết buộc chúng.”. Cũng vậy, con mắt và sắc, lỗ tai và tiếng đều không trói buộc nhau, nhưng từ chỗ rõ biết của con mắt và lỗ tai sanh ra tham dục, tham muốn này là sự trói buộc kiết sử. Con mắt và hình sắc hay lỗ tai và tiếng, thâm chí là sự nhận thức đều không có tội lỗi, thủ phạm ở đây là dục và tham. Vì vậy, tu là điều phục dục và tham. Ví dụ như gặp người hay món đồ đẹp thì thấy con mắt ra sao? Có muốn nhìn thêm nữa không? Người ta đã đi khuất bóng mà cứ đứng nhìn hoài, thậm chí là đi theo. Lỗ tai cũng như vậy, có cô nào đó dễ thương vào chùa nói với mấy thầy: “Thầy ơi, sao thầy đi tu uổng quá!”. Chỉ nói một câu như vậy mà tối ngồi thiền không được, mấy ngày sau vẫn còn nhớ. Đó là dục và tham trong nhĩ thức. Hoặc nghe: “Sao nhìn mặt thầy thấy ngu quá!” thì cũng bị buộc. Đó là người ta còn kêu bằng thầy, còn người ta kêu bằng thằng rồi sao? Chữ “thằng” cũng là chữ, ngôn ngữ thôi, nhưng tại sao lại bực bội, khó chịu, ray rứt? Chính là chấp ngã, cái sân, cái tôi bị chạm đến ở trong đó. Cho nên, lỗ tai và tiếng hay sự rõ biết âm thanh của nhĩ thức không phải buộc; là do dục và tham, vô minh và tham ái ở bên trong. Vô minh là chấp ngã, còn tham ái là dính mắc. Có tham là có sân, có yêu thích là có chán ghét, không thể khác được. Đây là Chánh tạng, đích thân Đức Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Giác giảng dạy, vậy nên nếu không nhìn lại năm uẩn, không nhìn lại cảm thọ thì làm sao thấy chỗ phát xuất dục và tham? Khi nhìn kĩ sẽ thấy lúc bắt đầu nó manh nha, sanh khởi thì lập tức dập từ trong ý hành, trước khi để xuất ra khẩu thành, thân hành.
Thế nên, thực tập lời Đức Phật dạy khi quán chiếu ngũ uẩn là phải tập từ trong ý hành, trong ý nghĩ cũng không suy nghĩ nhiều, vừa phớt nhẹ qua lập tức dùng quán chiếu công phá. Từ từ nhìn sẽ phát giác ra tất cả pháp đều trong thân tâm, chứ không phải chỉ trong kinh. Đây là một bước tiến rất quan trọng, mình sẽ thấy được tham dục trú ẩn ở trong cảm giác, tưởng, hành, thức của mình. Trong thân sắc cũng thấy được, bởi vì tâm và thân gắn liền với nhau. Bởi vậy, khi sân nổi lên thì lỗ tai, ngực,… nóng lên hoặc sẽ khó chịu. Vì vậy, phải thường thường nhìn cảm giác thì lúc đó nó vừa manh động lên là thấy được ngay và chuyển hoá ngay chỗ đó luôn. Không chỉ riêng tâm mà thân cũng có cảm giác khi sân sanh khởi.
Cũng như hồi sáng Minh Thành ngồi thiền một tiếng rưỡi nên đau chân, nếu không quán chiếu, không tỉnh thức, không có nhìn cảm thọ là bung ra ngay. Nhưng chân đau mà tâm không đau, thân đau mà tâm không đau thì ngồi được thêm mười lăm phút nữa. Mặc kệ đau đớn, để coi cảm giác đau như thế nào? Lúc đó nên tác ý: “Thân này là khổ, cảm giác này là vô thường, tại sao mới đau một chút là muốn bung ra? Tham hả, ham cảm giác dễ chịu, ghét cảm giác khó chịu, tham sân hả?”. Nhưng mà chỗ ghê gớm nhất là cảm giác không khó chịu không dễ chịu; vì vậy mà trong si mê, vô minh cũng không biết. Cho nên, tham, sân rất dễ thấy; nhưng mà si là không thấy. Đang ngồi mà lờ đờ, mắt mở không muốn lên, vậy nên cũng không thấy cảm giác toàn thân, không biết cảm giác trong tâm đang là cảm giác gì, trong ba loại cảm thọ cũng không biết. Tưởng thì lờ mờ, hành dẫn đi, thức thì lờ đờ. Đó là vô minh, si mê.
Thành ra, phải nỗ lực tu tập. Tinh cần đoạn tận là siêng năng quay trở lại nội tâm. Khi một Tỷ-kheo đang khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm có một tâm dục niệm khởi lên mà không cố gắng trừ diệt, tẩy sạch, đoạn tận, làm cho nó không còn hiện hữu nữa. Như vậy là kẻ buông lung, phóng giật, lười biếng trong giáo pháp của Như Lai. Một niệm tham, sân, ganh tỵ, tật đố cũng vậy; vừa có một niệm trong tâm là phải nỗ lực trừ diệt cho cảm giác đó tan biến, không còn nữa thì người đó mới là người tinh tấn, nhiệt tình trong giáo pháp của Như Lai. Cho nên, trong suốt một ngày, bên ngoài thì hộ trì căn, hộ trì mắt, tai, mũi, lưỡi; bên trong thì luôn nhìn lại để xem trong cảm giác có cái gì trong này, có pháp bất thiện là phải dùng đủ mọi cách để tẩy trừ, gột rửa, đập phá, cho nó không còn tái sanh được nữa thì người đó mới là người tinh tấn.
Pháp thứ ba là tu tập chánh niệm, tức là tứ niệm xứ; quán thân, thọ, tâm, pháp. Phải học nhuần nhuyễn tất cả pháp, thì lúc quán mới biết được.
Thứ tư là hộ trì những thiện pháp đã có. Những gì đã có trong thiện pháp phải gìn giữ, bảo vệ, đừng để mất. Ví dụ như ngồi thiền được một tiếng, thì phải giữ luôn ngồi một tiếng hoặc hơn. Chứ không phải ngồi được một tiếng rồi bỏ xuống còn bốn mươi lăm phút, rồi còn nữa tiếng. Thậm chí lúc đầu kiết già về sau không kiết già nữa, bung chân ra. Đó là không biết giữ gìn thiện pháp đã có. Cũng như Minh Thành chia sẻ ba pháp là chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Có được như vậy thì phải giữ hoài, không được để mất. Như thế mới là tinh tấn. Phải cố gắng, nỗ lực để không uổng đời tu; bỏ hết gia đình, cha mẹ đi xuất gia mà tu vòng vòng trong tham, sân, si, bản ngã, vô minh, tham ái mà không thấy được thì uổng lắm. Ngày hôm nay có duyên lành được gặp Chánh Pháp, được duyên đi sâu vào Chánh Pháp, đó không phải dễ dàng. Giống như con rùa mù một trăm năm dưới đáy biển mà gặp bọng cây nổi, rồi chui vô bọng cây đó đưa nó vào bờ. Đức Phật đã nói: “Cái khó để gặp được Chánh Pháp còn hơn còn rùa mù đó.”. Làm sao để có được cơ hội lần thứ hai, vậy nên các huynh đệ xuất gia và tập sự xuất gia tuổi còn trẻ, tâm trí mạnh mẽ hãy cố gắng, nỗ lực, tinh tấn; phải có tinh thần quyết tử, xã thân vì đạo, vì pháp, vì sự thành tựu đời sống thanh tịnh, phạm hạnh của người xuất gia. Như vậy mới báo đáp được công ơn cha mẹ, thầy tổ, ân Tam Bảo. Đừng có buông lung, cho là đủ, biết, làm được một chút là thầm thầm bản ngã bên trong, vậy là uổng lắm. Phải đi sâu vào tuệ giác Đức Phật đã dạy, để thấy được lợi ích thật sự. Lúc đó mới nếm được hương vị chánh pháp vô thường, trí huệ khai mở sẽ thấy rõ chân tướng của thân, tâm, sinh mạng, cuộc đời này. Sau đó mới có thể nói rằng: “Lợi cho mình rồi mới giúp ích được cho mọi người.”.
Những lời chia sẻ, tâm sự ngày hôm nay mong rằng tất cả các huynh đệ cố gắng ghi nhớ hành trì, đừng quên.
./.
BẤT TỊNH QUÁN
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Quán bất tịnh PAGEREF _Toc110752244 \h 1
II.Quán tứ đại PAGEREF _Toc110752245 \h 3
III.Nhận diện năm uẩn PAGEREF _Toc110752246 \h 4
IV.Bốn loại tinh cần PAGEREF _Toc110752247 \h 8
Quán bất tịnh
Hãy quán chiếu chùa đăng bảng “Đại Đức Thích Minh Thành viên tịch”, lúc đó ông năm, bà năm, mấy thầy, mấy cô, mấy chú đều khóc. Tất cả đệ tử đều về, bạn bè và mọi người đều tập trung về Linh Quy Pháp Ấn. Minh Thành nằm bất động trên tấm ván, lúc đó sáu người khiêng, trên bảng ghi thế danh Hồ Ngọc Hiệp; pháp danh Thích Minh Thành; ngày sinh 30/12/1975; ngày mất; hưởng dương; hạ lạp… đều ghi rõ.
Trước mắt mình là cảnh bi thương đó, Minh Thành đã đi rồi, Phật tử tới viếng. Thân thể bắt đầu lạnh lẽo, cứng đơ, bất động. Sau đó ba ngày thân xác phình lên, mặt dày ra, sưng lên. Bụng căng lên, tay chân phình ra, trương phình lên. Tiếp theo là cơ thể xanh bầm, xanh lớm đớm, da nứt nẻ, chảy máu, chảy mủ ra. Lúc đó từ trong ruột, bao tử giòi ăn ra. Những con giòi từ trong hai khoé mắt, hai lỗ tai mắt, hai lỗ mũi tuôn ra. Giòi ăn bao tử, ăn lá lách, ăn ruột già ruột non, ăn hết tim, gan. Giòi ăn hai bắp đùi, hai bắp dế. Giòi tuông trào ra hết thân thể, dần dần, chúng ăn mất thịt, ăn mất mỡ, ăn đến các bộ phận ở bên trong, chỉ còn sót lại một ít máu thịt, dính trong bộ xương. Chó rừng, kênh kênh, diều hâu đến rỉa rứt ra từng miếng. Sau đó tất cả thịt, máu khô kiệt hết chỉ còn một bộ xương trắng. Bộ xương này theo năm tháng mòn từ từ, rã ra. Đầu lâu ở một chỗ, xương khuỷu tay ở một nơi. Xương chân, xương sườn rã nát từ từ, rệu rã thành tro bụi.
Tiếp đến, Minh Thành phân tích ba mươi hai thể trược. Minh Thành ngồi bứt từng nắm tóc xuống, để nắm tóc trước mặt; cạo hết râu quai hàm ra; lấy hết lông mũi, lông ngực, lông nách, lông chân ra. Sau đó, để một bên là nắm tóc, một bên là nắm lông. Rứt từng cái móng tay ra, máu chảy đầm đìa, đau đớn, rứt hết hai chục cái móng, gồm mười móng tay mười móng chân. Nhổ từng cái răng ra, máu chảy xuống, nhổ hết ba mươi mấy cái răng, trong miệng chảy đầy máu ra.
Tiếp tục rọc từ trên trán rọc dài xuống, máu chảy xối xả, bên trong là mỡ trong thịt. Rọc từng miếng da ra, máu tuông xuống, mỡ thịt đổ ra. Lột hết da bắp dế, lột hết da chân, lột hết da tay, lột da đầu, lột da lưng để qua một bên. Đây là tóc, đây là móng, đây là răng, đây là da, đây là thịt, đây là những sợi dây gân lộ ra, lấy từng bộ phận ra, lấy tim, lá lách, dạ dày, gan, phổi, thận, túi mật để ra trước mặt.
Khi đó, nhìn lại tấm thân này, có gì là mình? Dơ bẩn, hôi hám, thối tha, đầy những chất bất tịnh. Nước tiểu, phân, mủ, máu, nước mắt, nước mũi, mồ hôi, những nước trong khớp xương. Bao nhiêu thứ hôi hám, bất tịnh. Ghê rợn quá tấm thân này. Vậy mà từ nhỏ tới lớn mấy chục năm cứ đam mê, nắm chặt lấy nó, rồi muốn đi tìm một cái thân, một bộ xương nữa để ôm ấp, muốn tìm thêm một thây thúi nữa để buộc ràng với nhau và say sưa trong đó. Tại sao mình say đắm như vậy, tại sao mình ngu si như vậy, tại sao mình điên đảo vô minh như vậy! Tham dục ơi là tham dục hãy tỉnh lại đi, hãy mở con mắt ra đi để nhìn thấy thực tướng bi thảm, thực tướng dơ bẩn, tanh hôi của tấm thân này.
Mỗi khi quán niệm tử, nhớ về cái chết, niệm ba mươi hai thể trược, niệm chín giai đoạn của một tử thi thì nước mắt Minh Thành đều trào ra, rúng động hết. Xung quanh xông lên một mùi tanh hôi, đầm đìa nước mắt dâng trào ra. Xót xa, cay đắng vì sự si mê ái dục trong nội tâm của mình. Nước mắt tràn ra, giòi tràn ra, rúng động hết châu thân, thấy mình si mê, vô minh trong bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp. Từ nhỏ tới lớn, tới giờ xuất gia rồi tâm mình vẫn còn si mê, vẫn còn tham ái, vẫn còn vướng mắc.
Tỉnh đi, tỉnh đi! Tại sao lại ngu si, mê muội như vậy. Khi nhìn thấy bộ xương thì hoảng sợ, vậy tại sao lại không biết mình cũng chính là một bộ xương. Tất cả những người đến đi là bộ xương trước mắt của mình, tại sao vẫn đam mê! Thật là ngu si, thật là vô minh! Chính tham ái này lôi đầu mình làm kẻ tù ngục bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp, gần nhất là từ hồi nhỏ đến bây giờ, tại sao giờ này còn chưa tỉnh nữa.. Quán chiếu như vậy nước mắt Minh Thành trào ra, rúng động không phải một lần, mà năm lần như vậy.
Khi nhìn thấy thực tướng sắc thân này, Minh Thành thấy mình si mê như vậy là đủ rồi, vô minh tới đây là vừa rồi. Chính tham ái dẫn mình đi trong vòng luân hồi. Sau khi trải qua cảm giác chấn động đó, Minh Thành trở ra ngoài suốt bao nhiêu ngày không có khởi dục niệm, hoặc có khởi nhẹ thì chỉ cần nhìn lại một cái là tan biến. Như vậy, chỗ quan trọng nhất của pháp tu này là phải phát sanh ra cảm giác rúng động, ghê gớm trong nội tâm mình. Nếu không phát sinh ra cảm giác đó thì mình chưa đắc lực, chưa phải thành công vĩnh viễn mà đây chỉ là một giai đoạn có kết quả. Có vài thầy tâm sự với Minh Thành, nói quán bất tịnh chỉ thấy tịnh không chứ không thấy bất tịnh. Đó là vì không biết cách quán. Nếu chỉ thấy tịnh thì sao Đức Phật giác ngộ. Cho nên, đây là một pháp bắt buộc cho ai muốn tu giác ngộ, nếu không tu pháp này thì vĩnh viễn không phá được dục.
Ngày xưa, trong thân hành niệm Minh Thành không biết nên nghĩ tu một môn hoặc hai môn thôi. Bây giờ mới thấy sai lầm, như vậy là không đủ. Trong thân hành niệm có sáu pháp: thứ nhất là niệm hơi thở, thứ hai là niệm oai nghi, thứ ba là niệm hành động, thứ tư là niệm tứ đại, thứ năm là niệm bất tịnh, thứ sáu là niệm chín trạng thái của một tử thi. Đức Thế Tôn từng nói trong kinh tạng: “Này các Tỷ-kheo, ai thực hiện thân hành niệm người đó nếm được hương vị của bất tử.”. Vì thế nên thân hành niệm là phải thực hành từng bước. Đừng sợ khó, đừng sợ khổ, đừng sợ nhiều, cứ làm từng bước từng bước. Nếu ai cũng sợ khó, sợ khổ thì đâu ai chứng Thánh quả, đâu ai giác ngộ. Cho nên, đầu tiên phải thực tập niệm hơi thở, niệm oai nghi, niệm hành động: tức là làm cái gì biết cái nấy.
Quán tứ đại
Kế đến, cần thực tập quán về tứ đại. Khi Minh Thành ngồi nhìn kĩ về tứ đại, lúc đó mới thấy không chỉ phong đại chỉ luân chuyển trong hơi thở mà phong đại ở trong con mắt cho nên mới chớp chớp được, ở lỗ tai mới nghe gió thổi rì rào, nghe tiếng được, trong lỗ mũi, trong miệng cũng phải có. Lúc đó cảm nhận được toàn thân, từng lỗ chân lông đều có phong đại vận hành trong huyết quản, mạch máu, tim, phổi, gan, lá lách, dạ dày, ruột non,... Tất cả châu thân đều có phong đại luân lưu ở trong đó hết.
Chỉ khi quán chiếu về tứ đại mới thấy được tấm thân này là sự kết hợp, cấu tạo là đồ lắp ráp. Chẳng có cái gì là tôi và của tôi, không có một cái gì nguyên vẹn. Chỉ là một sự kết hợp rỗng tuếch, dơ bẩn, tanh hôi, rỉ chảy chín lỗ. Tanh hôi rỉ chảy chín lỗ chính là chín lỗ trên cơ thể chảy ra, không có chỗ nào sạch sẽ, thơm tho. Thế mà nhả không ra, cắn thiệt chặt, bám thật chắc, khổ, đau, sầu, bi, ưu, não. Lại thế mà cả thế gian, hành tinh, tất cả chúng sanh trong tam giới này vì dục mà đau khổ. Đức Thế Tôn đã từng nói: “Này các Tỷ-kheo, dục là căn bản của tất cả phiền não, tất cả khổ đau”. Dục căn bản của tất cả các dục là ái dục, dâm dục và tham dục. Cho nên, khi quán như vậy, mới thấy tâm là mình hay lông là mình, cái đầu lâu đó là mình hay sương cù chỏ là mình, bộ xương sườn đó là mình hay xương hàm là mình, cái nào mới là mình? Tách từng bộ phận ra, nhắm mắt lại đọc tên tới cái nào thì cái đó phải hiện rõ trước mắt. Nhờ vậy mà chấn cảm, chấn động, rúng động thân tâm vì thấy sự vô minh, tham ái, si mê trong bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp. Phải có cảm giác này thì mới đánh đuổi được cảm giác tham dục, nếu chưa có thì sẽ không không thể đánh đuổi mỗi khi tham dục sanh khởi. Bởi vì cảm giác tham dục còn cứng khừ bên trong cho nên phải dùng cảm giác bất tịnh này đẩy ra. Khi chết rồi thì còn cái gì? Chẳng còn cái gì hết. Vậy tại sao không tỉnh ngộ? Đó là Minh Thành trình bày về phần quán bất tịnh. Đây là một bước rất quan trọng. Hồi xưa khi nhập thất đối đầu với tham dục là mệt nhất, cho nên không ở lâu được. Nhờ bước này tự nhiên tham dục trở nên nhẹ tênh, không còn bị quấy nhiễu, quậy phá nữa.
Nhìn vào hình ảnh giải phẫu thân người, quán chiếu đây là tôi, thường xuyên lấy ra nhìn sâu, soi rọi, nghiền ngẫm để hình ảnh đó in đậm vào sâu trong nội tâm; dùng bất tịnh tướng để phá tịnh tướng; từ hình ảnh đó phân tích thêm: giòi bò ra…Cho tới khi diệt tận hết tất cả tham dục trong nội tâm, không còn sanh khởi nữa mới thành công. Khi còn sống thì phân ra trắng, đen, mập, ốm, xấu, đẹp, cao, thấp, sang, hèn. Chết rồi đều y hệt như nhau. Thâm nào cũng như thân nào, thân nào cũng giòi bò, hôi hám, bẩn thỉu. Dù là thân ông vua hay thân của kẻ ăn mày cũng đều giống như nhau. Phải tu mới thấy những lời Đức Phật dạy là có thật, không phải lời nói suông. Cho nên, phải thường xuyên thực tập quán tứ đại, ba mươi hai thể trượt và chín giai đoạn của một tử thi sau khi chết. Vì như vậy sẽ thấy thân tâm nhẹ nhàng, thoải mái và an lạc lắm.
Nhận diện năm uẩn
Tiếp theo là một bước rất sâu sắc – Nhận diện năm uẩn. Đầu tiên hãy xem cảm giác đang nằm ở đâu? Lồng ngực, tim, lỗ tai hay mặt. Cảm thọ vui, khổ, không vui không khổ đó gọi là thọ. Khi suy nghĩ, hình bóng của sáu trần ở ngoài lưu lại trong tâm; ví dụ như nói hồ Xuân Hương ở Đà Lạt là thấy hình ảnh trong tâm hiện ra hồ Xuân Hương ngay, đó là tưởng. Còn nói Hồ Xuân Hương ở Đà Lạt thì câu nói đó là hành. Mỗi một vọng tưởng khởi lên đều đầy đủ ngũ uẩn trong đó, còn chỉ nói chung chung là do tâm suy nghĩ thì không diệt tận nguồn gốc được.
Cho nên, khi phân tích sâu sắc sẽ thấy từng cái khởi lên: cảm thọ là cảm giác, tưởng là hình bóng, hành là những lời nói lầm thầm trong nội tâm; thức là sự nhận biết thọ, tưởng, hành. Ví dụ như trong đầu khởi lên một ý nghĩ: “Giờ mình leo lên gường mình bung cái chân ra ngủ chắc đã lắm ta!”. Lúc đó sẽ thấy sắc tưởng, tức là hình bóng của mình; câu nói trên là hành; và sự nhận biết tưởng và hành đang sanh khởi là thức. Mà cái gì sanh khởi, đòi hỏi như vậy? Đó là thọ. Nó muốn cho khoẻ, đòi một cảm giác thoải mái, sung sướng đi chứ còn bây giờ đang khó chịu; và từ trong cái thọ đó âm thầm thúc đẩy tưởng, hành và cả thức. Cho nên, Đức Phật từng nói: “Tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ”, tức là tất cả những tham dục, si mê, vô minh, tham ái đều có gốc ở cảm thọ.
Chúng ta cũng thấy, mỗi ngày tin tức về giết người đầy rẫy. Hát Karaoke ồn quá, hàng xóm đâm nhau chết. Có người chê hát dở quá thì cũng đâm chết luôn. Tất cả đều là do cảm giác khó chịu, không chấp nhận lời chê đó gây ra; từ cảm giác đó đẩy tưởng, hành lên theo chiều sân hận. Cũng từ ý hành đẩy ra khẩu hành là cãi cự, rồi đưa ra thân hành cầm dao chém nhau đưa tới án mạng. Tất cả thế gian này đều bị chìm đắm, vùi dập bởi biển cả của cảm thọ mà không hay biết. Tất cả mọi cái mình làm đều là cảm thọ sâu sắc ở bên trong thúc dục. Cũng như mới ngồi thiền được mười lăm phút thì đau chân, muốn bung chân ra, vậy là bung theo mà không biết là do tưởng với hành kêu. Hành có ba loại là thân hành, khẩu hành, ý hành. Từ ý hành (suy nghĩ) phát ra lời nói, lời nói mới ra hành động. Suy nghĩ đầu tiên là bung chân ra đi, trong đó tưởng ra hình ảnh bung chân ra là khoẻ lắm. Khi đó tưởng ra hình bóng của mình, đây một ảo tưởng của tự ngã bên trong tâm; hiện ra mình bóng bung chân ra là khoẻ lắm, đã lắm; khi đó lập tức chân bung ra ngay, mà lúc đó không biết là thọ bên trong thúc dục, cuốn theo tưởng, hành, thức rồi làm theo. Đó là cả một hành trình của tâm lộ, tức là lộ trình diễn biến của tâm mà không thấy, cứ làm theo thôi.
Nhận diện năm uẩn là bước thực hành cực kì quan trọng. Đây là pháp chánh truyền của Đức Phật. Tìm được pháp này là nhân duyên từ vô lượng kiếp không phải dễ. Minh Thành chỉ thực hành bảy ngày mà nhiếp phục được tham dục, nhưng đòi hỏi mọi người phải nỗ lực và cố gắng thì mới được. Hãy tập nhận diện ngay cảm thọ lúc này, nhìn lại tưởng xem có hình bóng gì trong tâm không? Có lời nói lầm thầm gì trong tâm không? Và thức nhận biết thế nào? Vì vậy, khi Minh Thành thực hành đúng theo lời Phật dạy, mở Thiên uẩn trong Tương Ưng Bộ kinh thì sáng tỏ, bất ngờ vô cùng, phát hiện ra sự sâu xa, hoạt động của tham ái và vô minh. Trước giờ ta chỉ biết được phần ngọn, phần đuôi của vô minh trên chữ nghĩa nên mơ hồ không rõ; còn khi tập nhìn sâu vào sẽ thấy được khởi điểm của nó. Lúc trước nước sôi rồi, tràn lên thì mới biết; còn nếu thực hành pháp đúng thì dưới đáy nồi vừa sủi bọt lên là đã thấy rồi. Mà muốn thấy được như vậy thì phải thực tập cảm giác toàn thân và nhận diện năm uẩn.
Lúc ở trong thất, Minh Thành đi lại bình thuỷ rót một miếng nước gạo lức uống. Lúc đó tưởng và hành khởi lên: “Vài bữa ra thất mình nói với đại chúng là ngày mình ăn có một bữa, ăn một nắm gạo lức thôi mà ba ngày ăn chưa hết”. Cứ ngỡ đó là một câu nói vô cùng bình thường, không hề có tham, sân, si; nhưng mà không phải vậy. Khi quán chiếu sâu mới thấy được: thọ, tưởng, hành này là cái danh phô trương, khoe khoang mình tu hay, tu giỏi. Vậy cái gì muốn cái danh này? Đó là cái ngã, cái tôi; muốn người ta khen mình, đó là cái tôi và điều cần làm là phải dập cái tôi đó. Nói với tâm rằng: “Mày là vô minh, si mê, chấp ngã, bao nhiêu đời bao nhiêu kiếp vì cái tôi này mà trầm luân trong sanh tử luân hồi. Tại sao bây giờ hở cái là tôi, chỗ này có ai đâu mà tôi!”. Chính bản ngã si mê, chấp đắm này đưa mình vào cái danh, lợi, tham, dục, sân hận. Tôi là cái gì? Tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, lá lách, ruột non, ruột già, tim, gan, phổi, thận có cái nào là tôi? Sắc uẩn là tôi hay thọ uẩn là tôi? Tác ý mạnh mẽ, dập tới tấp, dập tơi tả, dập cho tan nát, dập cho diệt tận. Đức Thế Tôn gọi là: “Làm cho nó diệt tận, làm cho nó không còn hiện hữu, làm cho nó không còn tái sanh nữa”. Làm cho sanh ra cảm giác cái tôi đó tan ra như khói bụi, đó mới là người trí huệ.
Có những khi Minh Thành gọi điện mà người nhỏ hơn tắt máy, không nghe, chỉ có như vậy mà cảm thọ khó chịu sanh khởi ba ngày chưa hết: “Tôi là trụ trì, tôi là lớn mà sao xem thường tôi?”. Lúc đó khởi lên như vậy mình dập nó rồi mà chiều chiều nó khởi lên nữa, rồi mình dập nữa, mấy bữa sau khởi lên lại tiếp tục dập. Dập cho nó tan nát, tơi tả, thành khói bụi: “Mày vô minh, mày si mê. Có cái pháp giả dối như vậy mà tại sao bản ngã mày như vậy, mày si mê điên đảo hả? Tại sao mày si mê, ngu muội vậy?”. Dùng tất cả các pháp ngữ trong Phật ngữ đánh đuổi cho nó tan tành hết. Như vậy mới sanh ra được cảm giác xấu hổ, hổ thẹn: “Tại sao mình là Thánh đệ tử, một người xuất gia mà bản ngã một đống như vậy? Có xứng đáng với một người tu không? Có xứng đáng với một bậc xuất trần không? Tại sao nuôi cái bản ngã như vậy? Bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp rồi nó vùi dập mình trong sanh tử. Tại sao giờ này còn nuôi nó. Diệt tận nó đi, diệt tận nó, làm cho nó không còn tái sanh nữa. Chặt nó giống như chặt cây cau vậy”. Tự nhiên lúc đó nội lực bên trong bung ra. Như thế rồi mà lâu lâu vẫn còn sanh khởi.
Cũng vậy, phương pháp này là tối cao để diệt tận gốc tham dục. Dùng quán bất tịnh và trách dục, chửi thậm tệ, đánh tới tấp, làm cho nó không ngóc đầu lên nổi. Phải chặt bỏ, bứng gốc lên, đốt cháy, rồi ném tro xuống sông, thổi vào gió cho tan đi. Đó là lời trong kinh Đức Phật đã nói. Diệt tận, giết cho nó không có chỗ chôn thân, như vậy sẽ đi đến chỗ đoạn tận hết tất cả phiền não. Đừng để biết có vọng tưởng mà không làm gì thì sẽ không đi tới đâu hết. Phải dũng mãnh đánh đuổi thì trí huệ thiện xảo, sức tuệ quán sẽ phát sanh nội lực rất khủng khiếp. Qua đó, thấy được chỉ có một cú điện thoại thôi mà nó thỏ thẻ, thì thầm, thủ thỉ, nói tới nói lui dằn vặt mình. Tới lúc này Minh Thành mới thấy rõ được lời Đức Thế tôn đã nói trong Tương Ưng Bộ kinh:
Này các Tỳ-kheo, hãy từ bỏ sắc, hãy từ bỏ thọ, hãy từ bỏ tưởng, hãy từ bỏ hành, hãy từ bỏ thức. Thì các Ông sẽ được giải thoát.
Này các Tỷ-kheo, các Ông nghĩ thế nào, sắc là thường hay vô thường ?
Là vô thường, bạch Thế Tôn.
Cái gì vô thường là khổ hay lạc ?
Là khổ, bạch Thế Tôn.
Cái gì vô thường, khổ, chịu sự biến hoại, có hợp lý chăng khi quán cái ấy là: "Cái này là của tôi, cái này là tôi, cái này là tự ngã của tôi " ?
Thưa không, bạch Thế Tôn.
(Kinh Tương Ưng Bộ - Tập III Thiên Uẩn, chương I Tương Ưng Uẩn, phần Năm Mươi Kinh Ở Giữa, phẩm Những Gì Được Ăn, kinh Đáng Được Ăn)
Đức Phật đã khuyên các Tỳ-kheo hãy quán sát sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Hiểu rằng tất cả đều là vô thường. Từ khi thấy được đó là vô thường mới chán nản, nhàm chán; từ nhàm chán đến không còn tham và cũng từ không còn tham đưa đến giải thoát. Cho nên, khi nhìn kỹ trong tâm thì mới thấy mệt mỏi với sắc, thọ, tưởng, hành, thức vô cùng. Miệng nói tu nhưng vẫn còn đam mê luân hồi, không thấy được sự sâu sắc ở trong đó nên nếu nhìn kỹ thì khi thực hành sẽ đưa đến chấn dứt luân hồi. Bởi vì thọ, tưởng, hành, thức này dẫn mình đi qua đời sau.
Có bốn loại thức ăn sau đây:
Đoàn thực là thức ăn gắp, bóc, nắm được;
Xúc thực là tâm thích tiếp xúc, không tiếp xúc là chịu không nổi, phải gặp người này người kia nói chuyện, đi đây đi đó, đây là món ăn về tinh thần;
Tư niệm thực là những suy nghĩ;
Thức thực là những tri thức.
Tứ thực này sẽ nuôi ngũ uẩn, nếu ngừng cung cấp bốn loại thức ăn này là ngũ uẩn sẽ chết, không thể tiếp tục được nữa. Nhịn đoàn thực chắc chắn sẽ chết, không có thức ăn làm sao nuôi thân xác tứ đại. Ba loại còn lại là thức ăn tinh thần. Thành ra, khi dùng những sự tiếp xúc, suy nghĩ, kiến thức, nhận thức là để nuôi ngũ uẩn; nếu dừng lại hết thì sẽ trở về chỗ tịch lặng, không cho ngũ uẩn ăn nữa thì nó không sống được. Không cho tâm ăn thì sẽ đi đến chỗ vắng lặng. Hiện tại thích suy nghĩ, thích nhớ, thích tính toán… Đó là đang cho ngũ uẩn ăn. Vấn đề ở đây là phải nhìn sâu để thực tập năm uẩn thì sẽ thấy được gốc rễ của tham, sân, si. Nếu không quán xét sâu thì chỉ là lý thuyết suông ngoài miệng. Có nhiều người khi tu luôn cảm thấy an ổn, không hề nhìn thấy tham, sân, si; đó là do họ chưa biết, nếu thực sự thấy được tham, sân, si thì mới có thể chấm dứt. Ví như có hai ly nước cam và thuốc độc, nếu đã biết được thì có bưng ly có độc uống không?
Vì vậy, tu theo lời Đức Phật dạy trong Tương Ưng Bộ kinh, chương Uẩn thì sẽ giúp nhận diện lại được thân tâm. Vì lẽ đó phải cố gắng, tinh tấn tu tập. Trong Bát Chánh Đạo, chánh kiến đầu tiên là phải thấy được thân hành niệm, sắc này là do pháp cấu tạo; như Minh Thành đã nói ở trên, phải quán thân hành niệm như quán về bất tịnh, tử thi, cửu tưởng thường xuyên và thường trực; nếu không thì không thể nào phá nổi tham dục và chấp ngã. Nhìn thấy được thì mới thành tựu được chánh kiến, phá được thân kiến và sự chấp về thân. Cũng từ thấy đúng đưa đến tư duy đúng, suy nghĩ đúng, nói đúng, hành động đúng, nuôi sống đúng, tinh tấn đúng, niệm đúng, định đúng.
Bốn loại tinh cần
Trước giờ chỉ nghĩ chánh tinh tấn là siêng làm cái này, làm cái kia cho chùa, siêng lên ngồi thiền, tụng kinh, niệm Phật,...là chưa đúng. Vì Đức Phật dạy, có bốn loại tinh tấn:
Thứ nhất là hộ trì căn;
Thứ hai là tinh cần đoạn tận;
Thứ ba là tu tập chánh niệm;
Thú tư là hộ trì thiện pháp đã có.
Bốn loại tinh tấn này rất quan trọng trong sự tinh tấn. Hộ trì căn tức là tinh cần chế ngự; một người tu lúc nào cũng phải để ý mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình, nói đơn giản là tai mắt; phải bảo hộ, gìn giữ sáu căn. Đừng thấy gì cũng nhìn, gặp ai cũng nói, thấy chuyện gì cũng lao vào; vì như vậy là người không có hộ trì căn. Thứ hai là tinh cần đoạn tận, tức là quay lại tẩy sạch tham, sân, si tồn đọng. Đức Phật dạy rất tuần tự, thứ lớp, chặt chẽ, khít khao, tinh mật; giống như bát diện mai phục. Bởi vì giặc, phiền não ẩn nấp đầy rẫy trong thân tâm, nơi nào cũng có tham dục. Con mắt, lỗ tai, lưỡi, mũi mình có núp tham dục trong đó không? Khắp thân đã đầy rẫy tham dục, vậy còn tâm thì sao? Khắp sáu căn, sáu trần, sáu thức, mười tám giới đều dính mắc. Trong kinh Tạp A-hàm Đức Phật có dạy:
“Một thời, Phật ở tại vườn Trúc, khu Ca-lan-đà, thành Vương xá. Bấy giờ Tôn giả Xá-lợi-phất, Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la cùng ở trong núi Kỳ-xà-quật. Buổi chiều sau khi từ thiền tịnh dậy, Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la đến chỗ Tôn giả Xá-lợi-phất, cùng nhau thăm hỏi, rồi ngồi lui qua một bên, nói với Tôn giả Xá-lợi-phất:
- Tôi có điều muốn hỏi, Nhân giả có rảnh để giải đáp cho chăng?
Tôn giả Xá-lợi-phất trả lời:
- Tùy theo những gì Nhân giả hỏi, nếu tôi biết, tôi sẽ trả lời.
Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la hỏi Tôn giả Xá-lợi-phất:
- Thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, thế nào, mắt kết buộc sắc, hay sắc kết buộc mắt? Tai và âm thanh, mũi và mùi, lưỡi và vị, thân và xúc, ý và pháp; ý kết buộc pháp hay pháp kết buộc ý?
Tôn giả Xá-lợi-phất trả lời Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la:
- Chẳng phải mắt kết buộc sắc, cũng chẳng phải sắc kết buộc mắt, cho đến, chẳng phải ý kết buộc pháp, cũng chẳng phải pháp kết buộc ý. Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la, ở giữa hai cái đó, cái gì là dục tham thì cái đó là kết buộc.
Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la, giống như hai con bò, một đen một trắng, cùng bị buộc vào một cái ách. Có người hỏi, ‘Bò đen buộc bò trắng hay bò trắng buộc bò đen?’. Hỏi như vậy có đúng không?
Đáp:
- Không, Tôn giả Xá-lợi-phất, chẳng phải bò đen buộc bò trắng, cũng chẳng phải bò trắng buộc bò đen. Nhưng ở đây, hoặc là cái ách, hay là dây buộc cổ, là cái kết buộc chúng.
Tôn giả Xá-lợi-phất nói:
- Cũng vậy, Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la, chẳng phải mắt kết buộc sắc, cũng chẳng phải sắc kết buộc mắt, cho đến, chẳng phải ý kết buộc pháp, cũng chẳng phải pháp kết buộc ý. Ở đây dục tham kết buộc chúng. Thưa Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la, nếu mắt kết buộc sắc, hay nếu sắc kết buộc mắt và cho đến, nếu ý kết buộc pháp, hay nếu pháp kết buộc ý, thì Thế Tôn đã không dạy người kiến lập phạm hạnh để đoạn tận khổ. Vì chẳng phải mắt kết buộc sắc, cũng chẳng phải sắc kết buộc mắt và cho đến, chẳng phải ý kết buộc pháp, cũng chẳng phải pháp kết buộc ý, nên Đức Thế Tôn dạy người kiến lập phạm hạnh để đoạn tận khổ. Thưa Tôn giả Ma-ha Câu-hi-la, Thế Tôn khi mắt thấy sắc hoặc tốt, hoặc xấu, không khởi dục tham; còn những chúng sanh khác khi mắt thấy sắc hoặc tốt, hoặc xấu thì khởi dục tham. Cho nên Đức Thế Tôn nói hãy đoạn tận dục tham, thì tâm được giải thoát. Cho đến, ý và pháp lại cũng như vậy.
Bấy giờ, hai vị Chánh sĩ đều hoan hỷ, mỗi người trở về chỗ của mình”.
(Kinh Tạp A-hàm, kinh số 250).
Đức Phật và các vị Thánh đệ tử đã giảng giải rất rõ: “Chẳng phải bò đen buộc bò trắng, cũng chẳng phải bò trắng buộc bò đen. Nhưng ở đây, hoặc là cái ách, hay là dây buộc cổ, là cái kết buộc chúng.”. Cũng vậy, con mắt và sắc, lỗ tai và tiếng đều không trói buộc nhau, nhưng từ chỗ rõ biết của con mắt và lỗ tai sanh ra tham dục, tham muốn này là sự trói buộc kiết sử. Con mắt và hình sắc hay lỗ tai và tiếng, thâm chí là sự nhận thức đều không có tội lỗi, thủ phạm ở đây là dục và tham. Vì vậy, tu là điều phục dục và tham. Ví dụ như gặp người hay món đồ đẹp thì thấy con mắt ra sao? Có muốn nhìn thêm nữa không? Người ta đã đi khuất bóng mà cứ đứng nhìn hoài, thậm chí là đi theo. Lỗ tai cũng như vậy, có cô nào đó dễ thương vào chùa nói với mấy thầy: “Thầy ơi, sao thầy đi tu uổng quá!”. Chỉ nói một câu như vậy mà tối ngồi thiền không được, mấy ngày sau vẫn còn nhớ. Đó là dục và tham trong nhĩ thức. Hoặc nghe: “Sao nhìn mặt thầy thấy ngu quá!” thì cũng bị buộc. Đó là người ta còn kêu bằng thầy, còn người ta kêu bằng thằng rồi sao? Chữ “thằng” cũng là chữ, ngôn ngữ thôi, nhưng tại sao lại bực bội, khó chịu, ray rứt? Chính là chấp ngã, cái sân, cái tôi bị chạm đến ở trong đó. Cho nên, lỗ tai và tiếng hay sự rõ biết âm thanh của nhĩ thức không phải buộc; là do dục và tham, vô minh và tham ái ở bên trong. Vô minh là chấp ngã, còn tham ái là dính mắc. Có tham là có sân, có yêu thích là có chán ghét, không thể khác được. Đây là Chánh tạng, đích thân Đức Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Giác giảng dạy, vậy nên nếu không nhìn lại năm uẩn, không nhìn lại cảm thọ thì làm sao thấy chỗ phát xuất dục và tham? Khi nhìn kĩ sẽ thấy lúc bắt đầu nó manh nha, sanh khởi thì lập tức dập từ trong ý hành, trước khi để xuất ra khẩu thành, thân hành.
Thế nên, thực tập lời Đức Phật dạy khi quán chiếu ngũ uẩn là phải tập từ trong ý hành, trong ý nghĩ cũng không suy nghĩ nhiều, vừa phớt nhẹ qua lập tức dùng quán chiếu công phá. Từ từ nhìn sẽ phát giác ra tất cả pháp đều trong thân tâm, chứ không phải chỉ trong kinh. Đây là một bước tiến rất quan trọng, mình sẽ thấy được tham dục trú ẩn ở trong cảm giác, tưởng, hành, thức của mình. Trong thân sắc cũng thấy được, bởi vì tâm và thân gắn liền với nhau. Bởi vậy, khi sân nổi lên thì lỗ tai, ngực,… nóng lên hoặc sẽ khó chịu. Vì vậy, phải thường thường nhìn cảm giác thì lúc đó nó vừa manh động lên là thấy được ngay và chuyển hoá ngay chỗ đó luôn. Không chỉ riêng tâm mà thân cũng có cảm giác khi sân sanh khởi.
Cũng như hồi sáng Minh Thành ngồi thiền một tiếng rưỡi nên đau chân, nếu không quán chiếu, không tỉnh thức, không có nhìn cảm thọ là bung ra ngay. Nhưng chân đau mà tâm không đau, thân đau mà tâm không đau thì ngồi được thêm mười lăm phút nữa. Mặc kệ đau đớn, để coi cảm giác đau như thế nào? Lúc đó nên tác ý: “Thân này là khổ, cảm giác này là vô thường, tại sao mới đau một chút là muốn bung ra? Tham hả, ham cảm giác dễ chịu, ghét cảm giác khó chịu, tham sân hả?”. Nhưng mà chỗ ghê gớm nhất là cảm giác không khó chịu không dễ chịu; vì vậy mà trong si mê, vô minh cũng không biết. Cho nên, tham, sân rất dễ thấy; nhưng mà si là không thấy. Đang ngồi mà lờ đờ, mắt mở không muốn lên, vậy nên cũng không thấy cảm giác toàn thân, không biết cảm giác trong tâm đang là cảm giác gì, trong ba loại cảm thọ cũng không biết. Tưởng thì lờ mờ, hành dẫn đi, thức thì lờ đờ. Đó là vô minh, si mê.
Thành ra, phải nỗ lực tu tập. Tinh cần đoạn tận là siêng năng quay trở lại nội tâm. Khi một Tỷ-kheo đang khi đi, khi đứng, khi ngồi, khi nằm có một tâm dục niệm khởi lên mà không cố gắng trừ diệt, tẩy sạch, đoạn tận, làm cho nó không còn hiện hữu nữa. Như vậy là kẻ buông lung, phóng giật, lười biếng trong giáo pháp của Như Lai. Một niệm tham, sân, ganh tỵ, tật đố cũng vậy; vừa có một niệm trong tâm là phải nỗ lực trừ diệt cho cảm giác đó tan biến, không còn nữa thì người đó mới là người tinh tấn, nhiệt tình trong giáo pháp của Như Lai. Cho nên, trong suốt một ngày, bên ngoài thì hộ trì căn, hộ trì mắt, tai, mũi, lưỡi; bên trong thì luôn nhìn lại để xem trong cảm giác có cái gì trong này, có pháp bất thiện là phải dùng đủ mọi cách để tẩy trừ, gột rửa, đập phá, cho nó không còn tái sanh được nữa thì người đó mới là người tinh tấn.
Pháp thứ ba là tu tập chánh niệm, tức là tứ niệm xứ; quán thân, thọ, tâm, pháp. Phải học nhuần nhuyễn tất cả pháp, thì lúc quán mới biết được.
Thứ tư là hộ trì những thiện pháp đã có. Những gì đã có trong thiện pháp phải gìn giữ, bảo vệ, đừng để mất. Ví dụ như ngồi thiền được một tiếng, thì phải giữ luôn ngồi một tiếng hoặc hơn. Chứ không phải ngồi được một tiếng rồi bỏ xuống còn bốn mươi lăm phút, rồi còn nữa tiếng. Thậm chí lúc đầu kiết già về sau không kiết già nữa, bung chân ra. Đó là không biết giữ gìn thiện pháp đã có. Cũng như Minh Thành chia sẻ ba pháp là chánh niệm trước mặt, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác. Có được như vậy thì phải giữ hoài, không được để mất. Như thế mới là tinh tấn. Phải cố gắng, nỗ lực để không uổng đời tu; bỏ hết gia đình, cha mẹ đi xuất gia mà tu vòng vòng trong tham, sân, si, bản ngã, vô minh, tham ái mà không thấy được thì uổng lắm. Ngày hôm nay có duyên lành được gặp Chánh Pháp, được duyên đi sâu vào Chánh Pháp, đó không phải dễ dàng. Giống như con rùa mù một trăm năm dưới đáy biển mà gặp bọng cây nổi, rồi chui vô bọng cây đó đưa nó vào bờ. Đức Phật đã nói: “Cái khó để gặp được Chánh Pháp còn hơn còn rùa mù đó.”. Làm sao để có được cơ hội lần thứ hai, vậy nên các huynh đệ xuất gia và tập sự xuất gia tuổi còn trẻ, tâm trí mạnh mẽ hãy cố gắng, nỗ lực, tinh tấn; phải có tinh thần quyết tử, xã thân vì đạo, vì pháp, vì sự thành tựu đời sống thanh tịnh, phạm hạnh của người xuất gia. Như vậy mới báo đáp được công ơn cha mẹ, thầy tổ, ân Tam Bảo. Đừng có buông lung, cho là đủ, biết, làm được một chút là thầm thầm bản ngã bên trong, vậy là uổng lắm. Phải đi sâu vào tuệ giác Đức Phật đã dạy, để thấy được lợi ích thật sự. Lúc đó mới nếm được hương vị chánh pháp vô thường, trí huệ khai mở sẽ thấy rõ chân tướng của thân, tâm, sinh mạng, cuộc đời này. Sau đó mới có thể nói rằng: “Lợi cho mình rồi mới giúp ích được cho mọi người.”.
Những lời chia sẻ, tâm sự ngày hôm nay mong rằng tất cả các huynh đệ cố gắng ghi nhớ hành trì, đừng quên.
./.