Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Xuất Gia Như Thế Nào Để Không Thành Vô Dụng - Tiểu Kinh Xóm Ngựa - Trung Bộ 1

2026-03-03 00:56:13
Kinh Nikāya Giảng Giải

Xuất Gia Như Thế Nào Để Không Thành Vô Dụng

Tiểu Kinh Xóm Ngựa

Trung Bộ 1

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Các pháp xứng đáng bậc Sa Môn PAGEREF _Toc162802903 \h 1

II. Tứ vô lượng tâm PAGEREF _Toc162802904 \h 8

III. Ví như một hồ sen PAGEREF _Toc162802905 \h 17

I. Các pháp xứng đáng bậc Sa Môn

Kính thưa tất cả quý Tăng Ni sinh, được sự chỉ dạy của quý thầy, Minh Thành hôm nay gặp gỡ, chia sẻ, tâm sự trong đời sống tu hành xuất gia của người tu sĩ chúng ta. Xin thưa tất cả quý thầy cô, vì đại dịch nên chúng ta cũng không gặp nhau suốt hơn 6 tháng qua, trước tình cảnh thảm họa toàn cầu, tất cả nhân loại trên toàn thế giới đều sống trong sự bất an, lo lắng, sợ hãi, đều phải chứng kiến cảnh sanh ly tử biệt đau đớn của bệnh tật, của chết chóc, của vô thường, nào là thiên tại, thủy nạn, bệnh tật chia lìa.

Hơn bao giờ hết trong lúc này là cơ hội để người xuất gia chúng ta nhìn nhận một cách sâu sắc về những lời dạy chân lý mà Đức Phật đã chứng ngộ, hơn bao giờ hết trong thời khắc này là những giờ phút quý báu để chúng ta quay lại nhìn kĩ hơn về thân tâm chính mình, hơn bao giờ hết trong lúc này là lúc chúng ta quay trở về nội tâm đối diện tự thân để nhìn nhận lại từ ngày chúng ta được sư phụ bổn sư cạo tóc, thế độ, thế phát cho đến biết bao năm qua tu học trong thiền môn đã làm được những gì, đã thành tựu những thiện pháp gì, đã tu tập được những đức hạnh gì, đối với giới học có tăng thượng nhiều không, đối với định học đã phát triển vững trú chưa, đối với tuệ học có càng ngày càng sắc bén, sáng tỏ để nhìn thấu rõ bản chất thật sự của thân tâm này, của đời sống này, của thế giới này không.

Chúng ta đã đạt đến chỗ nào rồi? Đây là thời khắc rất phù hợp để chúng ta phản tỉnh, nội quán, nội chiếu để làm động lực tiến lên trong giới hạnh, thiền định và trí tuệ. Những giây phút chúng ta gặp gỡ nhau như vầy rất quý báu, rất hiếm hoi, rất khó được, Minh Thành mong rằng chúng ta sẽ trân trọng bằng tất cả tấm lòng của một người xuất gia, chúng ta sẽ nghe những lời tha thiết, thấm đượm tận tim gan, xương tủy mà Đức Thế Tôn truyền trao cho chúng ta qua bài kinh Tiểu kinh xóm ngựa nằm trong Trung Bộ Kinh.

"Như vầy tôi nghe.

Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Anga (Ương già), tại một xã ấp của dân chúng Anga, tên là Assapura (xóm Ngựa). Lúc bấy giờ, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:

-- Này các Tỳ-kheo.

-- Bạch Thế Tôn.

Những Tỳ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

-- Sa-môn! Sa-môn! Này các Tỳ-kheo, dân chúng biết các Ông là vậy. Và nếu các Ông có được hỏi: 'Các Ông là ai!'. Các Ông phải tự nhận: 'Chúng tôi là Sa-môn'. Này các Tỳ-kheo, các Ông đã được danh xưng như vậy, đã tự nhận là như vậy, thì này, các Tỳ-kheo, các Ông phải tự tu tập như sau: 'Những pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, chúng ta sẽ tu tập pháp môn ấy. Như vậy danh xưng này của chúng ta mới chân chính và sự tự nhận này của chúng ta mới như thật. Và những thứ cúng dường mà chúng ta thọ hưởng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh mới có được kết quả lớn, lợi ích lớn cho chúng ta. Và chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích'

Này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo không thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn? Này các Tỳ-kheo, đối với Tỳ-kheo có tâm tham dục và lòng tham dục không được đoạn diệt, có tâm sân hận và lòng sân hận không được đoạn diệt, có tâm phẫn nộ và lòng phẫn nộ không được đoạn diệt, có tâm thù hận và lòng thù hận không được đoạn diệt, có tâm giả dối và lòng giả dối không được đoạn diệt, có tâm não hại và lòng não hại không được đoạn diệt, có tâm tật đố và lòng tật đố không được đoạn diệt, có tâm xan lẩn và lòng xan lẩn không được đoạn diệt, có tâm man trá và lòng man trá không được đoạn diệt, có tâm xảo trá và lòng xảo trá không được đoạn diệt, có tâm ái dục và lòng ái dục không được đoạn diệt, có tà kiến và tà kiến không được đoạn diệt. Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, nếu vị ấy không thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, thì không thể đoạn diệt được những cấu uế cho Sa-môn, những tỳ vết cho Sa-môn, những lỗi lầm cho Sa-môn, sự đọa sanh vào đọa xứ, sự thọ lãnh các ác thú.

Này các Tỳ-kheo, ví như một loại võ khí nguy hiểm tên mataja có hai lưỡi rất sắc bén, có thể được bao lại và bỏ vào trong một cái bao. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, Ta nói sự xuất gia của Tỳ-kheo ấy là như vậy". (Trung Bộ Kinh, 40. Tiểu kinh Xóm ngựa)

Các ông được người ta gọi là Sa-môn, các ông được người ta gọi là tu sĩ, các ông được người ta gọi là quý thầy, quý cô thì các ông phải tu tập như sau, những pháp nào để tu tập trở thành người tu sĩ xứng đáng thì các ông phải tu tập những pháp ấy. Có những sách vở sau này diễn giải là một con dao được phủ lên một tấm y, đây là điều chúng ta cần chiêm nghiệm vì những lời dạy này rất chân thành, tha thiết bằng tất cả tình thương của Thế Tôn nhắn gửi lại cho hàng xuất gia chúng ta. Nếu một người xuất gia mà không đoạn trừ, nhiếp phục tham, sân, si, hơn thua, dối trá, tật đố, phẫn nộ, những tâm não hại, ái dục, tà kiến, xảo trá, còn chất chứa, tăng trưởng, che đậy, nuôi dưỡng những thứ đó thì Thế Tôn nói sự xuất gia của người đó giống như một tấm vải phủ lên một con dao rất sắc bén.

"Này các Tỳ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị mang đại y (Sanghati) chỉ tùy thuộc vào mang đại y. Này các Tỳ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị lõa thể chỉ tùy thuộc vào lõa thể. Này các Tỳ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị sống thoa bụi và đất chỉ tùy thuộc vào hạnh thoa bụi và đất. Này các Tỳ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị sống theo lễ nghi tắm rửa chỉ tùy thuộc vào lễ nghi tắm rửa. Này các Tỳ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị sống dưới gốc cây chỉ tùy thuộc vào hạnh sống dưới gốc cây. Này các Tỳ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị sống ngoài trời chỉ tùy thuộc vào hạnh sống ngoài trời. Này các Tỳ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của người theo hạnh đứng thẳng chỉ tùy thuộc vào hạnh đứng thẳng. Này các Tỳ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của một vị ăn uống có định kỳ chỉ tùy thuộc vào hạnh ăn uống có định kỳ. Này các Tỳ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của người sống theo chú thuật chỉ tùy thuộc vào hạnh sống theo chú thuật. Này các Tỳ-kheo, Ta không nói rằng Sa-môn hạnh của vị bện tóc chỉ tùy thuộc vào hạnh bện tóc.

Này các Tỳ-kheo, nếu lòng tham dục của người có tâm tham dục được đoạn diệt chỉ nhờ vào hạnh mang đại y của người mang đại y, nếu lòng sân của người có tâm sân được đoạn diệt, nếu lòng phẫn nộ của người có tâm phẫn nộ được đoạn diệt, nếu lòng hiềm hận của người có tâm hiềm hận được đoạn diệt, nếu lòng giả dối của người có tâm giả dối được đoạn diệt, nếu lòng não hại của người có tâm não hại được đoạn diệt, nếu lòng tật đố của người có tâm tật đố được đoạn diệt, nếu lòng xan lẩn của người có tâm xan lẩn được đoạn diệt, nếu lòng man trá của người có tâm man trá được đoạn diệt, nếu lòng xảo trá của người có tâm xảo trá được đoạn diệt, nếu lòng ái dục của người có tâm ái dục được đoạn diệt, nếu tà kiến của người có tà kiến được đoạn diệt, (chỉ nhờ hạnh mang đại y của người mang đại y), thì những thân hữu quyến thuộc, bà con cùng một huyết thống có thể khiến người đó mang đại y ngay khi người đó mới sanh, và khuyên người đó mặc đại y như sau: Này hiền nhi, hãy mang đại y, nếu mang đại y thì lòng tham dục của người có tâm tham dục sẽ được đoạn diệt, lòng sân của người có tâm sân sẽ được đoạn diệt, lòng giả dối của người có tâm giả dối sẽ được đoạn diệt, lòng não hại của người có tâm não hại sẽ được đoạn diệt, lòng tật đố của người có tâm tật đố sẽ được đoạn diệt, lòng xan lẩn của người có tâm xan lẩn sẽ được đoạn diệt, lòng man trá của người có tâm man trá sẽ được đoạn diệt, lòng xảo trá của người có tâm xảo trá sẽ được đoạn diệt, lòng ái dục của người có tâm ái dục sẽ được đoạn diệt, tà kiến của người có tà kiến sẽ được đoạn diệt chỉ nhờ mang đại y". (Trung Bộ Kinh, 40. Tiểu kinh Xóm ngựa)

Nếu như chỉ nhờ vào tấm y, chỉ nhờ vào chiếc áo, chỉ nhờ vào vẻ bề ngoài mà tất cả những phiền não, cấu uế được chấm dứt, hết sạch hoàn toàn, những tà kiến, những sự thấy biết sai lầm được đoạn diệt thì những người bà con, cha mẹ, cô bác sẽ khiến cho đúa trẻ đó mang đại y ngay khi mới được sanh ra và khuyên nhủ đứa trẻ đó hãy khoác tấm áo này vì nó giúp cho tham dục chấm dứt, sân hận chấm dứt, phẫn nộ chấm dứt, những ái dục chấm dứt, những sự dối trá, hơn thua, tật đố, ganh tỵ đều chấm dứt.

Nếu tấm y áo đó thật sự có công năng như vậy thì tất cả mọi người vừa sanh ra thì cha mẹ, ông bà, cô chú đã đắp cho chiếc áo đó rồi, nhưng thật sự có phải như vậy hay không? Chiếc áo chỉ là chiếc áo, nếu ở dưới gốc cây mà có thể sạch hết tham, sân, si thì tất cả mọi người tu hành chỉ cần ra gốc cây là thành tựu lậu tận, dứt hết lậu hoặc, dứt hết tham, sân, si, nếu thật sự chỉ cần tụng một câu chú hay câu kệ nào đó mà có thể phá tan tất cả phiền não, vô minh, dục ái thì những người thân thương nhất của mình đã cho mình thực hành điều đó khi mình vừa sanh ra cho nên Thế Tôn không nói rằng đức hạnh Sa-môn của một người có tham dục chỉ tùy thuộc vào hạnh mang đại y của người đó.

Bài kinh này rất sâu sắc, có khi ở trong chùa nhiều năm cũng chưa từng được nghe một lần, những lời này được nói từ chính kim khẩu của Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Nếu khoác tấm y lên mà hết sạch tham, sân, si thì bây giờ mình không khổ như vầy, nếu chỉ cần cạo tóc mà tất cả dục ái đều rơi rụng theo từng sợi tóc thì mình đã không khổ sở như vầy, nếu chỉ cần vào tụng niệm vài câu mà tâm được giải thoát khỏi tất cả vô minh, tà kiến thì ngày giờ này mình không sầu, bi, khổ, ưu, não như vầy, mình không còn tham dục, tham vọng, tham muốn, ái dục đầy rẫy như vầy. Cho nên đây là những lời dạy rất thực tế, thực tiễn, thực chất, rất rõ ràng, tỏ tường, minh bạch, cụ thể mà Đức Thế Tôn đã bằng tất cả tấm lòng của một người cha, của một người thầy, của một bậc đại đạo sư nhắn gửi lại cho hàng tu sĩ xuất gia chúng ta.

"Này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn? Này các Tỳ-kheo, đối với Tỳ-kheo có tâm tham dục và lòng tham dục được đoạn diệt". (Trung Bộ Kinh, 40. Tiểu kinh Xóm ngựa)

Thế nào là người tu sĩ thực hành những đức hạnh, những pháp môn xứng đáng thật sự của một bậc tu sĩ, một bậc tu hành? Nghĩa là tâm người này có tham dục nhưng người này luôn nhìn trở lại những cảm thọ, kiểm tra cảm thọ, dò xét cảm xúc để kiểm tra những sự tham muốn, thúc giục đó, những sự đòi hỏi, ưa thích đó. Người này nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận bằng sự tu tập quán bất tịnh, quán cát bụi, quán bộ xương, quán về tứ đại, quán chín giai đoạn của một tử thi, quán chiếu khi ra đi là một con người nhưng khi trở về là một hủ cốt và tất cả chúng ta đã nhìn thấy hiện thực nhãn tiền trước mắt ngay trong giờ phút hiện tại này.

Như vậy tâm có tham dục và lòng tham dục được đoạn diệt thì cái đó Đức Thế Tôn gọi là đức hạnh của người tu sĩ, đó là pháp môn xứng đáng của bậc Sa-môn. Nhìn thấy bản thân có tham dục rồi cố gắng nhiếp phục, tẩy sạch, diệt trừ thì đó là cái mà Thế Tôn mong muốn, chờ đợi, chỉ dạy, những đức hạnh bên ngoài cũng cần nhưng những cái đó chỉ nhằm phục vụ cho mục đích thành tựu thật sự này, chính là tẩy sạch tham, sân, si, bản ngã, tà kiến, vô minh, tham dục. Nếu chỉ dựa vào hình thức bên ngoài, tấm y áo, đầu trọc, bữa ăn, chỗ ở thì đó chỉ mới là vỏ ngoài của phạm hạnh chứ không phải là lõi cây thật sự, chưa phải là trọng tâm thật sự của sự tu tập đối với người tu sĩ chúng ta.

"Có tâm sân hận và lòng sân hận được đoạn diệt, có tâm phẫn nộ và lòng phẫn nộ được đoạn diệt, có tâm hiềm hận và lòng hiềm hận được đoạn diệt, có tâm giả dối và lòng giả dối được đoạn diệt, có tâm não hại và lòng não hại được đoạn diệt, có tâm tật đố và lòng tật đố được đoạn diệt, có tâm xan lẩn và lòng xan lẩn được đoạn diệt, có tâm man trá và lòng man trá được đoạn diệt, có tâm xảo trá và lòng xảo trá được đoạn diệt, có tâm ái dục và lòng ái dục được đoạn diệt, có tà kiến và tà kiến được đoạn diệt..." (Trung Bộ Kinh, 40. Tiểu kinh Xóm ngựa)

Những tâm xấu xa này được phát giác, phát hiện, được nhìn thấy bằng một sự tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm, dõng mãnh, có những phương pháp hiệu quả để mình nhận diện, nhiếp phục, tẩy sạch, trừ diệt và đoạn tận thì cái đó Đức Thế Tôn gọi là pháp môn xứng đáng của bậc Sa-môn.

"Này các Tỳ-kheo, Ta nói rằng, nếu vị ấy thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn, thì có thể đoạn diệt được những cấu uế cho Sa-môn, những tỳ vết cho Sa-môn, những lỗi lầm cho Sa-môn, đọa sanh vào đọa xứ, sự thọ lãnh các ác thú.

Vị ấy thấy tự ngã được gột sạch tất cả những ác, bất thiện pháp và vị ấy thấy tự ngã được giải thoát". (Trung Bộ Kinh, 40. Tiểu kinh Xóm ngựa)

Vị ấy nhìn vào nội tâm chính mình, tự mình thấy, tự mình biết một cách minh bạch, tỏ tường rằng chính mình được gột sạch tất cả những ác và bất thiện pháp và vị ấy thấy chính mình được thoát ra khỏi những thứ đó, thoát ra khỏi những tham dục, sân hận, si mê, bản ngã, thoát ra được những tà kiến, tham vọng, xấu xa, dối trá, tật đố, hơn thua, thoát ra tất cả những danh lợi, chấp thủ vào hình hài, tâm thức, đời sống này, vị ấy tự mình thấy, tự mình biết đã thoát ra khỏi những lầm lỗi, những cấu uế, những tỳ vết.

"Do thấy tự ngã được gột sạch tất cả những ác, bất thiện pháp ấy, do thấy tự ngã được giải thoát nên hân hoan sanh; do tâm hân hoan nên hỷ sanh; do hỷ nên thân được khinh an; do thân khinh an nên lạc thọ sanh; do lạc thọ nên tâm được định tĩnh.". (Trung Bộ Kinh, 40. Tiểu kinh Xóm ngựa)

Do thấy mình được thoát ra những thứ cấu uế, uế nhiễm đó nên sanh ra sự hân hoan, do tâm hân hoan nên sanh ra hỷ lạc, vui mừng, do có hỷ lạc nên thân được nhẹ nhàng, khinh an, do thân khinh an nên lạc thọ sanh ra, lạc thọ là một cảm giác an vui nhẹ trong tâm, do có lạc thọ nên tâm được định tĩnh.

Đây là trình tự vận hành của tâm, nếu đi đúng theo Thánh đạo của Đức Phật thì tất cả những cái này mình sẽ được thực nghiệm, chứng nghiệm, mình sẽ được trải nghiệm. Thế Tôn đã nói khổ sẽ không chứng được thiền định, chỉ có tâm an lạc mới chứng được thiền định.

"Vô thỉ, này các Tỳ-kheo, là sự luân chuyển, khởi điểm không thể nêu rõ, đối với (những đau khổ) do bị thương đâm, do bị kiếm chém, do bị búa chặt. Dầu vậy đi chăng nữa, này các Tỳ-kheo, Ta cũng không tuyên bố rằng nhờ khổ và ưu mà bốn Thánh đế được chứng ngộ. Nhưng này các Tỳ-kheo, Ta tuyên bố rằng nhờ lạc và hỷ mà bốn Thánh đế được chứng ngộ". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Ðại Phẩm, Chương XII – Tương Ưng Sự Thật (a), IV. Phẩm Rừng Simsapà, V. Một Trăm Cây Thương)

Nhìn lại nội tâm chỉ toàn tham dục, tham ái, giận người này sân người kia, ganh tỵ, đố kỵ thì làm sao có được an lạc, ngược lại người này sẽ bị dao động, ray rứt, cắn rứt lương tâm, đó cũng chính là trạo cử của tâm, tâm sẽ hối hận, khó chịu, bực bội. Khi tâm sạch hết năm triền cái, không còn sân hận, dao động, hối tiếc, tâm không hôn trầm mà tỉnh sáng, trí tuệ nhận diện năm uẩn được tinh tường, không còn một chút nghi ngờ, với một nội tâm trong sách, thanh tịnh, được gội sạch thì vị này hân hoan, giống như khi nhìn vào gương mà thấy gương mặt sạch sẽ thì mình sẽ vui mừng.

II. Tứ vô lượng tâm

Cũng vậy, khi mình ngồi một mình mà thấy tâm yên tịnh, vắng lặng, tất cả những cảm thọ về dục được an tịnh, những cảm xúc sân hận, bức xúc được lắng dịu, những cái ta, cái tôi không còn sanh khởi, bao nhiêu cấu uế, tỳ vết, lỗi lầm được tẩy sạch thì người này sẽ thích thú, hân hoan, mình phải thực tu, thực nghiệm rồi sẽ thực thấy, thực chứng. Với tâm hân hoan sẽ có vui mừng, khi có vui mừng thì thân sẽ nhẹ nhàng, thân nhẹ nhàng thì tâm an vui, khi có yên vui thì tâm đi vào trạng thái định tĩnh và đây cũng là trạng thái của sơ thiền, ly sanh hỷ lạc. Do lìa những tham muốn, dục vọng, ái dục, lìa xa những đòi hỏi, thèm thuồng, khao khát mà nội tâm được hoan hỉ, an lạc, hân hoan.

"Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với từ, cũng vậy, phương thứ hai, cũng vậy, phương thứ ba, cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với từ, quảng đại vô biên, không hận không sân". (Tương Ưng Bộ, Tập V – Thiên Ðại Phẩm, Chương XII – Tương Ưng Sự Thật (a), IV. Phẩm Rừng Simsapà, V. Một Trăm Cây Thương)

Đây là phương trước mặt,

Rộng lớn và bao la,

Hòa lẫn khắp phương này,

Là tâm từ của ta.

Tâm đầy niềm thương cảm

Tâm đầy nỗi xót thương

Tâm đầy lòng thương tưởng

Tâm đầy tràn tình thương.

(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)

Mình trải cảm thọ, cảm xúc của mình về phương trước mặt đồng thời hòa lẫn với tình thương xót bao la, thương xót cho chính mình, thương xót cho cái tâm đầy rẫy tham, sân si, thương xót cho tâm hôn ám, si mê, chấp thủ, thương xót cho tâm sân hận, bản ngã, phẫn nộ, tật đố. Thương mình vì đã nhiều đời nhiều kiếp ở trong mê lầm, ở trong tham ái, ở trong sự nắm chặt vào sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, nắm chặt vào hình hài này, nắm chặt vào những cảm thọ, cảm giác này, nắm chặt vào những suy tư, nghĩ ngợi này, nắm chặt vào những nhận thức, rõ biết. Chính vì sự say mê, tham đắm này làm không biết bao nước mắt đã tuôn chảy xuống, làm không biết bao dòng máu đã đổ xuống, không biết bao nỗi buồn lo, bất an, sợ hãi, khổ sầu. Thật là thương cho chính ta!

Khi thực tập trải tâm từ này mình sẽ tuôn chảy dòng nước mắt vì thương tự thân mình, những giọt lệ chảy đầy mặt vì trong dòng sanh tử này mình đã bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc. Mình cứ sống trong sự sai khiến của dục, của sự nóng giận, thiêu đốt, trong sự sai khiến của cái ta, cái tôi, bản ngã. Từ đảnh tóc cho đến gót chân thấm đượm sự xót thương dạt dào đối với chính tự thân mình, giống như khi tắm nước chảy thấm ướt từ đỉnh đầu đến gót chân, cũng vậy, lòng từ này, cảm thọ xót thương này, từ tâm này sẽ được trải cùng khắp tất cả thân tâm.

Khi có cảm thọ thương chính mình rồi mới trải rộng cảm thọ đó về phía trước mặt mình, những người thân trong gia đình, bạn bè mình cũng đầy rẫy tham, sân, si, cũng đau khổ vì vô minh, cũng ràng rụa nước mắt vì dục ái, tham ái, cũng đầy rẫy lo sợ, bất an vì chấp ngã, vì bản ngã, mình thương thật là thương dào dạt, biến mãn, cùng khắp về phía trước mặt. Vị ấy an trú cùng khắp với một tâm xót thương chính mình và xót thương hữu tình chúng sanh, như thế là mình trải tâm từ về phương trước mặt, phía sau lưng, bề dọc, bề ngang, trên dưới cũng giống vậy.

Đây là phương bên phải

Rộng lớn và bao la,

Hòa lẫn khắp phương này,

Là tâm từ của ta.

Tâm từ này rộng lớn

Vô lượng và vô biên.

(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)

Mình quán tưởng tình thương của mình dào dạt, biến mãn, sung mãn, cùng khắp hư không về phía bên phải, về phía bên trái, ở phía trên, phía dưới, cùng khắp mười phương. Trải rộng sự xót thương cho chính mình, xót thương cho hữu tình, xót thương cho chúng sanh vì tất cả chúng ta là những nạn nhân của tham dục, những nạn nhân của sân hận, si mê, vô minh, những nạn nhân của bản ngã, hơn thua, tranh đấu, chúng ta là kẻ gặp tai nạn của tâm đố kỵ, ganh ghét, của tâm thị phi, nhân ngã, hơn thua, chúng ta là nạn nhân của kẻ mù lòa trong bóng đêm của vô minh, mù lòa trong cái nhìn sai lệch của tà kiến, mù lòa trong sự thấy lệch lạc của tâm điên đảo, tưởng điên đảo, kiến điên đảo.

Chúng ta cho sự bất tịnh dơ bẩn đó là sạch sẽ, chúng ta cho sự mong manh, tạm bợ, dễ tan nát, bại hoại là thường hằng, vĩnh cửu, bất biến, chúng ta cho một đời sống đầy rẫy những bất an, lo lắng, sợ hãi này là vui sướng, hạnh phúc, chúng ta cho những thứ vô thường, rỗng không, những thứ lắp ráp này là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi rồi chúng ta đau khổ triền miên, mấy chục năm sau đó cũng đầy rẫy bất an, lo lắng, sợ hãi, chúng ta bị vây hãm trong sanh, già, bệnh, chết, chúng ta bị tù ngục trong tham, sân, si, bản ngã. Chúng ta có đáng thương không? Chúng ta có tự thương chính mình không? Nếu có thì phải đoạn diệt tham, sân, si, bản ngã, đó mới thật sự là thương mình, chúng ta tiếp tục trào dâng lên sự xót thương như vậy thì gọi là trải tâm bi vì tâm bi còn được gọi là tâm xót thương, đối với trải tâm bi cũng giống như trải tâm từ.

Đây là phương trước mặt,

Rộng lớn và bao la,

Hòa lẫn khắp phương này,

Là tâm hiền của ta.

Tâm đầy lòng hiền thiện

Đầy ước nguyện hiền hòa

Đầy ước mong hiền đức

Đầy ước muốn hiền lương.

(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)

Trước đây mình chỉ học từ, bi, hỷ, xả trên lý thuyết rồi thôi, thật ra tâm từ, bi, hỷ, xả này phải tu tập thành cỗ xe, thành căn cứ địa, bất cứ lúc nào muốn an trú vào tâm này là lập tức sẽ có cảm thọ từ bi, xót thương chan hòa cùng khắp mọi nơi, vì thế Minh Thành thường nói trong thời điểm này rất phù hợp để thực tập những tâm thánh thiện, cao thượng, vi diệu mà Đức Phật truyền trao cho chúng ta, nếu chúng ta không học, không tu, không thực tập trong lúc này thì thật sự là điều đáng tiếc, sau này hết rồi thì chúng ta cũng trở lại đời sống thường thường rồi cũng tiếp tục tham, sân, si, sầu, bi, ưu, não cho nên phải khởi lên lòng thương sâu sắc về tự thân mình thì chúng ta mới có thể thương được tha nhân, mới có thể thương được hữu tình, mới có thể thương được chúng sanh.

Nếu không thương mình thì làm sao thương được người khác thật sự, có thương thì chỉ là ái chứ không phải là từ, người ta nghe lời thì mình thương, người ta làm theo ý mình thì mình thương, người ta hợp ý thì mình thương, ngược lại thì mình ghét, đó không phải là thương mà là ái, là cái thương thường tình của thế gian. Khi chúng ta học trong kinh Nikāya là Đức Thế Tôn truyền cho mình một tình thương cao thượng, thánh thiện, vi diệu, bao la và rộng mới, như vậy mới gọi là từ vô lượng tâm.

"Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với bi, cũng vậy, phương thứ hai, cũng vậy, phương thứ ba, cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với bi, quảng đại vô biên, không hận không sân". (Trung Bộ Kinh, 40. Tiểu kinh Xóm ngựa)

Với một cái tâm như vậy thì còn giận ai nữa, với một cái tâm như vậy thì còn sân với ai nữa, với một cái tâm đã nhìn thấy rõ được mình là nạn nhân của tham, sân, si, vô minh, bản ngã thì còn muốn hơn thua, tranh giành với ai nữa. Một cái tâm xót thương bao la, rộng lớn, trùm khắp vũ trụ vạn vật này chính là từ vô lượng tâm và cái này cần thực tập nhiều thật nhiều chứ không phải học sơ sài trên lớp là có thể đạt được từ tâm vô lượng, phải thực tập từ tháng này qua tháng khác, từ năm này qua năm khác cộng với một sự hướng dẫn đúng đắn thì mới sanh khởi được cảm giác của từ tâm chân chánh, đúng như lời Thế Tôn truyền trao cho mình, nếu không từ chỉ là ái trá hình trên nghĩ tưởng, suy tư, không phải thật sự là chân từ, chân bi, không phải thật sự là từ vô lượng tâm.

"Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với hỷ, cũng vậy, phương thứ hai, cũng vậy, phương thứ ba, cũng vậy, phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với hỷ, quảng đại vô biên, không hận không sân". (Trung Bộ Kinh, 40. Tiểu kinh Xóm ngựa)

Mình hỷ lạc vì thấy nội tâm được trong sạch, hỷ lạc vì thấy mình có pháp hỷ, thiền duyệt, khi mình thấy những cấu uế được tẩy sạch, thanh lọc. Điều đầu tiên quan trọng nhất trong sự tu hành là phải nhiếp phục, tẩy sạch và đoạn tận các ác bất thiện pháp, mình đừng nghĩ rằng đi tu rồi không ác, không có bất thiện pháp, thực ra còn đầy rẫy trong tâm, nhìn gương mặt thấy hiền nhưng đụng vào rồi biết tay nhau cho nên sự tu học theo Đức Phật dạy là phải cực kì để tâm vào bên trong, còn nếu tu phớt bên ngoài là không bao giờ thành tựu, Thế Tôn đã nói không phải vì tấm y áo mà nói lên tất cả đạo hạnh của người xuất gia, không phải vì ăn một ngày mấy bữa mà nói lên đạo hạnh của người xuất gia, không phải ở núi rừng thanh vắng rồi nói sạch hết tham, sân, si là không đúng.

Những cái này chỉ là phương tiện ở bên ngoài để giúp cho mình thực hiện điều quan trọng ở bên trong chính là "tâm tham dục và lòng tham dục được đoạn diệt, có tâm sân hận và lòng sân hận được đoạn diệt, có tâm phẫn nộ và lòng phẫn nộ được đoạn diệt, có tâm hiềm hận và lòng hiềm hận được đoạn diệt, có tâm giả dối và lòng giả dối được đoạn diệt, có tâm não hại và lòng não hại được đoạn diệt, có tâm tật đố và lòng tật đố được đoạn diệt, có tâm xan lẩn và lòng xan lẩn được đoạn diệt, có tâm man trá và lòng man trá được đoạn diệt, có tâm xảo trá và lòng xảo trá được đoạn diệt, có tâm ái dục và lòng ái dục được đoạn diệt, có tà kiến và tà kiến được đoạn diệt". Đầu tiên phải thấy được những cái này bằng sự quán thọ trên các cảm thọ, quay trở về tự thân thực hành Tứ Niệm Xứ, nhìn lại thân thể, cảm giác sanh khởi, nhìn lại nội tâm, nhìn những cảm thọ nếu có tức giận thì phải làm cho lắng dịu, nhìn lại cảm thọ có dục tham thì phải đánh gục, nhìn cảm thọ có sự trì trệ, buồn ngủ thì làm cho rực sáng lên, không để đi vào si dại, những điều này cần nỗ lực trong tu hành, để tâm rất nhiều, tha thiết, khát ngưỡng, cung kính thì mới có chân đứng trong pháp và luật này, mới thật sự dự vào hàng Thánh đệ tử.

Muốn trải được hỷ vô lượng tâm thì phải thấy được sự thích thú, hoan hỉ, vui sướng trong pháp, phải thấy mình có đầu trọc là phước báo, mình thấy bản thân có đời sống ăn chay thanh tịnh là hạnh phúc, được ngồi thiền tĩnh tâm để nhìn thấy tất cả những cảm giác, nghĩ tưởng, nhiếp phục từng ý niệm, chiến đấu với từng cảm giác xấu ác là một sự tuyệt vời, vi diệu, cao thượng, hiếm có trên đời này, mình thấy vui sướng, hạnh phúc với đời sống xuất gia tu hành đó, mình thấy hoan hỉ trong thiền môn, thấy an lạc trên Bồ-đoàn, thấy vui sướng trong những bước thiền hành, thấy hân hoan thích thú trong từng lời kinh của tạng kinh Nikāya, mình có sự hỷ lạc, vui thích, thấy được giá trị của pháp của đời sống phạm hạnh này thì mới trải hỷ tâm được, ngược lại không có sự thích thú trong tu học thì làm sao trải hỷ vô lượng tâm được vì vậy cần tìm được pháp lạc, thiền duyệt, sự vui thích, hạnh phúc, an lạc trong khi nghe pháp, sự thanh tịnh, nhẹ nhàng trong khi thiền tập, sự thích thú, phấn khởi trong sự thực hành pháp. Khi đã có tâm hỷ đó thì mới trải tâm vui sướng đó rộng cùng khắp cho tự thân mình và cho tất cả chúng sanh, có như vậy mới tu được hỷ vô lượng tâm.

"Vị ấy an trú biến mãn một phương với tâm câu hữu với xả, cũng vậy phương thứ hai, cũng vậy phương thứ ba, cũng vậy phương thứ tư. Như vậy cùng khắp thế giới, trên, dưới, bề ngang, hết thảy phương xứ, cùng khắp vô biên giới, vị ấy an trú biến mãn với tâm câu hữu với xả, quảng đại, vô biên, không hận, không sân". (Trung Bộ Kinh, 40. Tiểu kinh Xóm ngựa)

Chúng ta buông xả lòng dục, lòng tham, buông xả những cảm giác thúc giục, cảm giác yêu mến, thèm muốn, ham muốn, đòi hỏi, buông xả cảm giác hơn thua, ganh đua, thị phi, cao thấp, đúng sai, buông bỏ những ý nghĩ đó là tôi, đó là của tôi, đó là tự ngã của tôi, chúng ta buông bỏ ý nghĩ về sự nắm giữ vào trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, buông bỏ sự nắm chặt vào những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức trong tâm, bỏ suy nghĩ tôi, ta, tao, mi, tới, bỏ suy nghĩ tôi là thầy, tôi là người lớn, tôi là người cao, người trên, xả bỏ, quăng bỏ những suy nghĩ đó. Phải thấy không có một cái tôi trong này, chỉ là đất, nước, gió, lửa, kết hợp, đây là những cảm giác do tiếp xúc nên sanh khởi, đây là những hình bóng ảo tưởng mà thôi, đó là pháp duyên sanh, vô thường, lắp ráp, móc xích, là những vở tuồng, bộ phim của một tâm thức tham ái, vô minh, chấp thủ làm ra chứ không có một cái tôi trong này.

Bằng sự suy tư, thiền tập, bằng sự nhận diện ngũ uẩn này chúng ta có khả năng buông bỏ những ý nghĩ đó, buông bỏ những cảm thọ, tư duy, nhận thức đó để đưa vào thánh trí vô ngã, thánh trí rỗng không, thánh trí duyên sanh, đó là sự vận hành của các pháp chứ không có tự ngã trong này, với sự tu tập tinh cần, với sự như lý tác ý, hướng dẫn tâm, dạy dỗ tâm, huấn luyện tâm, làm người tài xế dẫn xe tâm đi đúng đạo lộ của Đức Phật thì chúng ta sẽ nhìn thấy bản chất thật sự của tứ đại ngũ uẩn này, thấy được bản chất thật sự của sáu thọ, sáu ái, sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu thủ, sáu xúc, chúng ta sẽ thấy rõ tất cả sự hiện hữu trong đời sống này là lo lắng, bất an, già nua, bệnh tật, chết chóc, là bại hoại, đổ vỡ, mục nát, đi đến diệt vong và chấm dứt, chúng ta thấy rõ sự vận hành của ngũ uẩn là vô thường.

"-- Sự thể là vậy, này Ananda, tánh già nằm trong tuổi trẻ; tánh bệnh ở trong sức khỏe; tánh chết ở trong sự sống. Như vậy, màu da không còn thanh tịnh, trong sáng, tay chân rã rời, nhăn nheo, thân còm về phía trước, và các căn đang bị đổi khác, nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thiệt căn, thân căn". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương IV. Tương Ưng Căn (b), V. Phẩm Về Già, I. Già)

Đó là lời cảm thán của Đức Thế Tôn trong bài kinh Già khi ngài Ananda bất ngờ và hoảng hốt khi thấy Thế Tôn vén tấm y lên để lộ lưng ra lúc phơi nắng, lúc ấy Thế Tôn đã 80 tuổi, da nhăn nheo, lưng còng gối mỏi. Khi còn trẻ ánh mắt Thế Tôn trong sáng, da của ngài mịn màng, căng bóng, 32 tướng hảo của Thế Tôn là hiếm có, hy hữu khó gặp trên cuộc đời nhưng nay lại bị cái già đánh sập.

"-- Bất hạnh thay tuổi già! Ðáng sợ thay cuộc sống! Tuổi già làm phai nhạt sắc diện của màu da. Hình bóng trước khả ý, nay già đã phá tan! Ai sống được trăm tuổi, cuối cùng cũng phải chết, không bỏ sót ai, tất cả bị phá sập". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Ðại Phẩm, Chương IV. Tương Ưng Căn (b), V. Phẩm Về Già, I. Già)

Chúng ta thấy được điều này bằng ngọn đuốc Thánh tuệ mà Đức Phật truyền trao cho mình, mồi ngọn đèn trong tâm mình tỏa rạng thì mới soi ra được hình hài này, thân xác này, đời sống này là như vậy, nhìn thấy sự vận hành của các cảm giác quá ngao ngán, hết giận rồi thương, hết thương rồi ghét, hết thân lại sơ nên mình chán ngán nó, không cho những cảm giác này là tôi, là của tôi nữa, mình thấy rõ ràng nó là sự vận hành của vô thường, nó là sự vận hành của tham ái, mê lầm, vô minh, chấp thủ rồi đau khổ.

Những hình bóng trong tâm hoạt động liên tục, hết hình này đến bóng kia, hết tưởng này đến tưởng khác, có biết bao hình bóng ám ảnh trong tâm làm mình phải mệt mỏi, làm tâm phải dao động bất an, làm tâm phải nuối tiếc, nhớ nhung, hệ lụy nên mình không muốn nắm giữ những hình bóng này, mình thấy rõ bản chất của những thứ này là khổ đau, bất an.

Những suy nghĩ trong đầu cứ thỏ thẻ, thủ thỉ, thì thầm, biết bao hành uẩn cứ nói trong đầu dẫn dắt mình tham, sân, si, dẫn dắt mình theo sắc; thanh; hương; vị; xúc, dẫn dắt mình đi hướng ngoại, nhìn cái này, nghe cái kia, ngóng cái nọ, mình thấy hành uẩn này là thứ đáng nhàm chán, không muốn đi theo nó nữa, mình muốn giành quyền làm chủ. Đối với sự nhận thức cũng vậy, mình thấy sự nhận biết này là duyên sanh, căn, trần làm sanh khởi thức, đây là trò ảo thuật của tâm, không có thật, cái nhận thức này rất nông cạn, nhỏ hẹp, chỉ cần một tờ giấy che trước mặt là không thấy gì nữa.

Khi nhìn thâm sâu vào bản chất của ngũ uẩn thì gọi là chiếu kiến ngũ uẩn, soi thấu được bản chất của năm tổ hợp này, tổ hợp của hình sắc, tổ hợp của cảm giác, tổ hợp của hình bóng, tổ hợp của suy nghĩ và tổ hợp của nhận thức, khi soi xét cho tận cùng, triệt để mới thấy cái khổ này chồng lên cái khổ khác, bản chất của nó là thiên lưu, dịch chuyển, cứ tiếp tục như vậy rồi cũng đến ngày ngã xuống, sụp xuống và hoại diệt. Ba đặc tính của sự vận hành ngũ uẩn chính là khổ khổ, hành khổ, hoại khổ.

"-- Này các Tỳ-kheo, có ba khổ tánh này. Thế nào là ba ? Khổ khổ tánh, hành khổ tánh, hoại khổ tánh. Chính vì mục đích thắng tri... liễu tri... đoạn diệt... đoạn tận ba khổ tánh này, này các Tỳ-kheo, Thánh đạo Tám ngành này cần phải tu tập". (Tương Ưng Bộ, Tập V - Thiên Đại Phẩm, Chương I. Tương Ưng Ðạo (b), VII. Phẩm Tầm Cầu (Esanavaggo), V. Khổ Tánh)

Mình không tham mê, nắm giữ, khát khao, không trông chờ, ước mơ, không suy tư để tìm kiếm nó nữa, tất cả thọ; tưởng; hành an tịnh lắng dịu, buông xả những thứ tham, sân, si, chấp ngã đó.

Đây là phương trước mặt,

Rộng lớn và bao la,

Hòa lẫn khắp phương này,

Là tâm xả của ta.

Tâm lặng thinh, trong sạch

Tâm lặng lẻ, trong veo

Tâm bất động, trong ngần

Tâm lặng im, trong suốt

(Cửa Vào Bất Tử - Chơn Tín Toàn)

III. Ví như một hồ sen

Đó là Minh Thành giới thiệu tổng quát phần thực tập bốn tâm vô lượng cho mọi người. Trở về bài kinh thì Đức Phật đưa ra ví dụ rất tuyệt diệu để kết thúc bài kinh.

"Này các Tỳ-kheo, ví như một hồ sen có nước trong, có nước ngọt, có nước mát, có nước trong sáng, có bờ hồ khéo sắp đặt, đẹp đẽ. Nếu có người từ phương Ðông đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước. Người ấy đi đến hồ sen ấy, giải trừ khát nước và giải trừ nóng bức. Nếu có người từ phương Tây đi đến, nếu có người từ phương Bắc đi đến, nếu có người từ phương Nam đi đến, nếu có người từ bất cứ ở đâu đi đến, bị nóng bức áp đảo, bị nóng bức hành hạ, mệt mỏi, khô cổ, đắng họng, khát nước, người ấy đi đến hồ sen ấy, giải trừ khát nước, giải trừ nóng bức. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, nếu có người từ gia đình Sát đế lị xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy đi đến Pháp và Luật do Như lai thuyết dạy, sau khi tu tập từ, bi, hỷ, xả, nội tâm được định tĩnh, Ta nói rằng chính nhờ nội tâm định tĩnh, vị ấy thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn. Nếu vị ấy từ gia đình Bà-la-môn... từ gia đình Phệ xá (Vessa)... từ gia đình Thủ đà (Sudda) xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, vị ấy đi đến Pháp và Luật do Như Lai thuyết dạy, sau khi tu tập từ, bi, hỷ, xả, nội tâm được định tĩnh, Ta nói rằng chính nhờ nội tâm định tĩnh, vị ấy thực hành các pháp môn xứng đáng bậc Sa-môn.

Nếu từ gia đình Sát-đế-lị xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đi đến Pháp và Luật do Như Lai thuyết dạy, nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình chứng tri, chứng ngộ và thành đạt vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát. Vị ấy thành Sa-môn nhờ đoạn diệt các lậu hoặc. Nếu từ gia đình Bà-la-môn... từ gia đình Phệ xá... từ gia đình Thủ đà xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, sau khi đi đến Pháp và Luật do Như Lai thuyết dạy, nhờ đoạn trừ các lậu hoặc, vị ấy ngay trong hiện tại, tự mình chứng tri, chứng ngộ và thành đạt vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, vị ấy thành Sa-môn nhờ đoạn diệt các lậu hoặc". (Trung Bộ Kinh, 40. Tiểu kinh Xóm ngựa)

Nhờ tâm định tĩnh mà người này thực hành pháp môn xứng đáng của một bậc xuất gia, vị ấy trở thành một người tu thật sự, trở thành một bậc Sa-môn đúng nghĩa một bậc Sa-môn là do vị ấy đoạn trừ tham, sân, si, vô minh, bản ngã, do đoạn trừ tất cả sự thấy biết sai lầm về tài kiến, đoạn trừ tất cả cấu nhiễm, tỳ vết, lỗi lầm được gội sạch, tẩy sạch, rửa sạch hoàn toàn. Ngay trong đời sống hiện tại tự thân vị ấy chứng biết, chứng ngộ, thành đạt một nội tâm trong sáng, thanh tịnh, tất cả những cấu nhiễm đều được thanh lọc hoàn toàn sạch sẽ, thanh lương và mát mẻ.

Tuyệt vời là hình ảnh ví dụ hồ sen, tuyệt vời là hình ảnh trong xanh, sạch mát và ngọt, tuyệt vời là bốn phương đông, tây, nam, bắc có những người nóng bức, mệt mỏi khi đến hồ sen này có nước trong sạch để giải khát, giải trừ nhiệt não nóng bức, đều được thanh lương. Tất cả hạng người ngoài xã hội, từ vua chúa, quan quyền, làm thuê làm mướn hay kẻ buôn bán miễn là đi vào pháp và luật của Như Lai, tu đúng chánh pháp, hành đúng chánh đạo thì đều có khả năng đoạn diệt tất cả lậu hoặc và trở thành một bậc Sa-môn chân chánh, đúng nghĩa, đúng pháp. Đó là kết quả của sự tu hành, đó là thành tựu của người xuất gia, đó là thành quả của việc từ bỏ lục thân quyến thuộc để vào chùa, đó là chỗ hướng đến của tất cả chúng ta.

Minh Thành mong rằng qua bài kinh này, tất cả Tăng Ni sinh có thêm động lực, có thêm niềm tin, có thêm ý chí, có thêm sức mạnh, sự phấn khởi, sự nhiệt tâm, có thêm ngọn lửa để chúng ta thẳng tiến và nỗ lực tinh cần trong giai đoạn đầy khó khăn và đau khổ thảm họa của toàn cầu. Thành kính chúc tất cả các vị thành tựu Sa-môn hạnh cao quý.

./.