MẬT MÃ THẾ GIỚI 5 - ĐỊNH NGHĨA VÀ BẢN CHẤT
Tinh Hoa Nikāya
MẬT MÃ THẾ GIỚI 5
ĐỊNH NGHĨA VÀ BẢN CHẤT
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Một số định nghĩa về “thế giới” trong kinh tạng Nikāya PAGEREF _Toc86828274 \h 1
II.Bài kinh “Thế Giới” PAGEREF _Toc86828275 \h 2
1.Bốn Thánh Trí về thế giới PAGEREF _Toc86828276 \h 2
2.Sự chứng ngộ của Như Lai PAGEREF _Toc86828277 \h 6
3.Sự vĩ đại của Đức Phật PAGEREF _Toc86828278 \h 9
III.Bài kinh “Thế Giới Dục Công Đức” PAGEREF _Toc86828279 \h 16
1.Thế giới trong giới luật của bậc Thánh PAGEREF _Toc86828280 \h 16
2.Pháp vị giữa bậc Đạo sư và Thánh đệ tử PAGEREF _Toc86828281 \h 21
Một số định nghĩa về “thế giới” trong kinh tạng Nikāya
Có sự chiêm nghiệm thì chúng ta mới thấy được trí tuệ của Đức Phật không thể dùng lời gì để diễn tả, thật sự đúng như câu nói “nắm thế giới trong lòng bằng tay”. Khi học được giáo pháp này thì chúng ta như nắm được cả thế giới trong lòng bàn tay, cũng có nghĩa là nắm pháp trong lòng bàn tay.
Lúc chưa học Nikāya, chưa nhận diện ngũ uẩn, chưa thấy biết về thân tâm thì chúng ta thấy thế giới muôn màu muôn vẽ, ngàn sắc muôn hương, vô tận vô lượng, nhưng khi đã học giáo pháp này thì mọi thứ rất đơn giản, tất cả chỉ là “căn – trần – thức”, Đức Thế Tôn chỉ dùng ba chữ nhưng tóm thâu hết cả vũ trụ này. Hoặc nói gọn thì chỉ cần hai từ là căn và trần, bởi vì trong căn có ý căn, nó thuộc về phần tinh thần, ý thức. Như vậy, chỉ bằng hai, ba chữ của Đức Phật nhưng có thể tóm thâu cả thế giới này, đời sống này, thân tâm này. Cho nên, chúng ta phải để tâm thật nhiều vào pháp học và pháp hành, phải vừa nghe, vừa nghiền ngẫm, vừa tư duy, vừa quán chiếu. Trong Nikāya Đức Phật nói về thế giới rất nhiều và có rất nhiều định nghĩa về thế giới. Chúng ta điểm qua sơ lượt các định nghĩa.
Định nghĩa đầu tiên chúng ta đã học nói tóm gọn lại là: thế giới gồm căn – trần – thức.
Định nghĩa thứ hai chúng ta cũng đã tìm hiểu: tóm thâu hết tất cả thế giới này chính là năm uẩn.
Thứ ba, trong bài kinh “Các Bà-la-môn”, Tăng Chi Bộ Kinh IV, Đức Phật định nghĩa: “Năm dục trưởng dưởng này được gọi là thế giới trong Luật của bậc Thánh”.
Thứ tư, trong bài kinh “Biến Hoại”, Tương Ưng Bộ IV, Đức Phật định nghĩa thế giới:
“-- "Thế giới, thế giới", bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là thế giới?
Cái gì chịu sự biến hoại (palokadhamma), này Ananda, đây gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh”.
Đây cũng là định nghĩa về thế giới nhưng nói về tính chất, bản chất, đặc tính biến hoại của thế giới. “Biến hoại” nghĩa là biến đổi và tan hoại. Trong kinh Nikāya thường dịch ra những chữ vắn tắt, cho nên từ biến hoại phải được hiểu là biến đổi và tan hoại. Có những chỗ dùng từ “biến mau”, “biến chậm” thì chúng ta hiểu là biến đổi mau, biến đổi chậm. Như vậy, bản chất của thế giới là: “Cái gì chịu sự biến hoại được gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh”.
Thứ năm, bản chất của thế giới còn được Đức Phật định nghĩa là trống không, trống rỗng. Trong Tương Ưng Bộ Kinh IV, bài kinh “Trống Không”:
Rồi Tôn giả Ananda... bạch Thế Tôn:
-- "Trống không là thế giới, trống không là thế giới", bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi trống không là thế giới?
-- Vì rằng, này Ananda, thế giới là không tự ngã, và không thuộc tự ngã, nên thế giới được gọi là trống không.
Như vậy, chúng ta đã được nghe sơ lượt năm định nghĩa về thế giới của Đức Phật. Có định nghĩa về mặt hình tướng của thế giới, có định nghĩa về mặt cấu tạo, thành phần của thế giới và có định nghĩa về mặt tính chất, bản chất của thế giới. Chúng ta phải hiểu, nếu rút nhỏ lại thì thế giới chính là thân tâm và mở rộng ra thì thế giới chính là vũ trụ. Chúng ta tìm hiểu ý nghĩa về các định nghĩa để thấy được trí tuệ của Đức Phật rất siêu việt.
Bài kinh “Thế Giới”
Bốn Thánh Trí về thế giới
Trong bài kinh “Thế Giới”, Tăng Chi Bộ Kinh I:
Thế giới được Như Lai Chánh Đẳng Giác
Tức là thế giới được Như Lai thấy biết một cách thấu triệt, tận cùng, viên mãn, đầy đủ, đồng đều về tất cả mọi góc độ, khía cạnh, không còn một cái gì Ngài không biết về thế giới này. Cho nên nói thế giới được Như Lai Chánh Đẳng Giác.
Như Lai không hệ lụy đối với đời
Thế giới được Ngài thấy biết, tận tường về tất cả bản chất, tánh chất, đặc chất, bản tính, sự cấu tạo, hình thành, sanh diệt nên Phật không hệ lụy đối với thế giới. “Hệ” là liên hệ, trói cột; “lụy” là làm cho khổ lụy, tức là Đức Phật không bị sắc, thanh, hương, vị, xúc trói cột. Khi đối chiếu những lời dạy của Đức Phật với nhau thì chúng ta thấy rất rõ về thế giới, bằng không, mình không biết rồi mường tượng thế giới là quả địa cầu, như vậy không phải.
Nghĩa là, các sắc được Như Lai thấu biết tận cùng, từ thân người đến cảnh vật tứ đại, vì vậy, Như Lai không bị sắc trói cột, hệ lụy, làm cho đau khổ. Các tiếng, các mùi, các vị, các sự tiếp xúc cũng được Như Lai thấu biết tận cùng, triệt để về các yếu tố cấu tạo, tính chất, bản chất của chúng, cho nên, chúng không trói buộc được Như Lai, không làm Như Lai khổ lụy. Tóm lại, sáu căn, sáu trần, sáu thức, năm thủ uẩn, năm uẩn được Như Lai Chánh Đẳng Giác, thấu suốt tận cùng về tính chất, bản chất, cấu tạo của chúng, thế nên, chúng không làm Như Lai đau khổ và không trói buộc được Như Lai. Như vậy được gọi là “thế giới được Như Lai Chánh Đẳng Giác, Như Lai không hệ lụy đối với đời”.
Thế giới tập khởi được Như Lai Chánh Đẳng Giác.
Tức là nguyên nhân hình thành nên thế giới được Như Lai thấu suốt tận cùng.
Thế giới tập khởi được Như Lai đoạn tận.
Và nguyên nhân để hình thành thế giới bị Như Lai làm cho chấm dứt, đoạn tận. Nếu học không rõ ràng, đọc không hiểu định nghĩa này thì chúng ta sẽ rất mờ mit, vì không hiểu đoạn tận thế giới là như thế nào rồi nghĩ rằng Như Lai đoạn tận thế giới là hủy diệt trái đất, hủy hoại địa cầu… hiểu như vậy không đúng. Chúng ta phải hiểu câu này có nghĩa là những nguyên nhân nào làm sanh khởi ra năm uẩn được Như Lai đoạn tận và cái làm sanh khởi ra ngũ uẩn chính là vô minh và tham ái đối với ngũ uẩn. Cho nên, khi đọc kinh phải thông suốt ý nghĩa của kinh, bằng không chúng ta đọc không hiểu đúng hoặc có người hỏi thì mình sẽ giải thích sai nghĩa.
Thế giới đoạn diệt được Như Lai Chánh Đẳng Giác. Thế giới đoạn diệt được Như Lai giác ngộ.
Thế giới đoạn diệt tức là làm cho chấm dứt, không còn tái tạo những xác thân ngũ uẩn, Như Lai thấy biết điều này. Và Như Lai thấy biết, thấu hiểu rõ ràng về con đường, cách thức, đạo lộ, phương pháp để không cho năm thủ uẩn tái tục, tái tạo, tái diễn trong vòng luân hồi sanh tử nữa.
Con đường đưa đến thế giới đoạn diệt được Như Lai Chánh Đẳng Giác. Con đường đưa đến thế giới đoạn diệt được Như Lai tu tập.
Đây cũng chính là Tứ Thánh Đế, Bốn Thánh Trí, nghĩa là Đức Phật trình bày thế giới là gì, thế giới sanh, thế giới diệt và con đường đưa đến thế giới chấm dứt. Chỗ nào Đức Phật cũng đưa Bốn Thánh Trí vào, đó là sanh – diệt trí. Cụ thể, chân lý đầu tiên trong Tứ Thánh Đế là Khổ Đế, kế đến là Tập Đế, sau đó là Diệt Đế và cuối cùng là Đạo Đế, tức là khổ, nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến chấm dứt khổ. Thế giới cũng giống như vậy, đưa Bốn Thánh Trí vào đó soi rọi thì sẽ sáng ra. Cho nên, bốn trí về thế giới gồm: thế giới là gì, thế giới sanh khởi, thế giới hoại diệt và con đường đưa đến sự hoại diệt, chấm dứt. Nói gọn về Mười Hai Nhân Duyên là: “Ta rõ biết sự già chết, Ta rõ biết nguyên nhân của già chết, Ta rõ biết sự chấm dứt của già chết và con đường đưa đến sự chấm dứt già chết” – đây cũng gồm bốn trí. Như vậy, thành tựu trí huệ đối với một pháp nào là chúng ta phải có đủ bốn trí như vậy, đó gọi là Bốn Thánh Trí, tức là sanh – diệt trí.
Trí tuệ về thế giới cũng giống vậy, đứa bốn trí vào thì trí tuệ về thế giới sẽ sáng rực lên. Đầu tiên là thành tựu trí về thế giới, tức là rõ biết thế giới này chỉ là ngũ uẩn, không có cái gì ở ngoài ngũ uẩn. Cho nên, “thế giới là ngũ uẩn” là câu nói đinh đóng cột, là pháp ấn, không thay đổi, không sai trật ở một điểm nào. Thứ hai, “thế giới sanh khởi là do vô minh và tham ái”, nghĩa là sanh khởi là do không hiểu biết về thế giới và yêu thích thế giới, rõ ràng hơn là do không hiểu biết về ngũ uẩn, yêu thích ngũ uẩn nên có ngũ uẩn. Thứ ba, “thế giới diệt là do hết vô minh và hết tham ái”, hết vô minh là hiểu biết về ngũ uẩn nên không còn yêu thích, không còn tham ái đối với ngũ uẩn, khi không còn yêu thích thì sẽ không còn tạo ra ngũ uẩn nữa, cho nên, ngũ uẩn bị đoạn diệt. Cuối cùng, “con đường đưa đến sự chấm thế giới là Bát Chánh Đạo”, tức là thấy đúng về ngũ uẩn, nghĩ đúng, nói đúng, sống đúng, làm đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng.
Như vậy, Bốn Thánh Trí này được áp dụng vào tất cả pháp, đây chính là định lý trong Nikāya, cần phải nắm vững. Một định lý, định nghĩa, định luật được học thì sẽ ứng dụng được vào tất cả khía cạnh. Ở ngoài đời người ta phát triển ra nhiều ngành nghề, nhiều sáng chế trên toàn thế giới cũng nhờ những định lý, định luật. Trong pháp cũng vậy, Bốn Thánh Trí này là định lý, định luật của giải thoát, của giác ngộ.
Chúng ta không được học phớt qua là xong mà cần phải nhìn thật kỹ. Ví dụ, khi cơn tức giận nổi lên thì chúng ta phải hiểu cơn giận, phải biết tại sao cơn giận đó sanh khởi, phải biết sự chấm dứt của con giận và con đường đưa đến cơn giận chấm dứt. Lúc đó chúng ta rõ ràng biết được mình đang giận; cơn giận sanh là do tiếp xúc; phải làm cho cơn giận diệt; con đường đưa đến cơn giận diệt cũng là áp dụng Bát Chánh Đạo vào, tức là thấy biết rõ nguy hại của cơn giận, tác ý để đánh đuổi nó ra, siêng năng có những hành động phù hợp như là trải tâm từ, quán niệm đúng làm cho tâm an tịnh lắng dịu. Đó chính là Bốn Thánh Trí về sân giận.
Bản ngã cũng vậy, chúng ta đưa Bốn Thánh Trí vào đó. Mỗi khi muốn thể hiện sự ta đây thì biết được đó là bản ngã; bản ngã sanh là do chấp thủ vào năm uẩn, cho đó là tôi, là của tôi; thấy được không có tôi, không có của tôi, thân này là trống rỗng, không có ai trong đó thì bản ngã sẽ chấm dứt; muốn dứt được như vậy thì phải có đạo lộ tu tập, tức là Bát Chánh Đạo. Cụ thể là nhìn thấy nguy hiểm và tác hại của bản ngã; suy nghĩ để dẹp bỏ bản ngã: “Bản ngã này là nhục nhã, thối tha, hèn hạ, thấp hém, hạ liệt”; có hành động sám hối, quỳ lạy, quán tưởng hình ảnh quỳ mọp xuống chân người khác, quán tưởng về nùi giẻ, kẻ hèn hạ đi ăn xin mà vênh váo với ai, hất hất mặt với ai. Đó chính là Bốn Thánh Trí về bản ngã. Đối với vô minh thì chúng ta phải biết được vô minh xuất hiện, tại sao vô minh sanh, làm sao vô minh diệt và con đường đưa đến vô minh diệt.
Thế nên, tất cả đều phải đưa Bốn Thánh Trí vào soi rọi, bằng không thì chúng ta không thấy, không biết, vô minh, vô tri đối với pháp đó và mong muốn diệt tận được bản ngã, chấm dứt được cơn giận là điều không thể xảy ra. Không biết pháp đó, không biết tại sao nó sanh, không biết làm sao làm sao nó diệt, không biết con đường để chấm dứt, đoạn tận thì làm sao diệt được. Chẳng qua là chúng ta để qua một bên, tránh né nó chứ thực tế là nó không diệt, không hết được. Cần phải đào bới gốc rễ thì mới diệt được, muốn như vậy thì cần phải để tâm, dòm ngó, quán xét, tìm đủ mọi cách, vận dụng Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Bát Chánh Đạo. Trong pháp nào cũng có Bốn Thánh Trí như vậy.
Sự chứng ngộ của Như Lai
Này các Tỷ-kheo, cái gì trong toàn thế giới với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, được đạt đến, được tầm cầu, được ý tư sát, tất cả đều được Như Lai Chánh Đẳng Giác. Do vậy, được gọi là Như Lai.
Tức là tất cả những gì trong toàn thế giới đối với thế giới của chư Thiên, của ma, của vua trời và tất cả giới tu hành, loài người được thấy, được nghe, được cảm giác, được nhận thức, được đạt đến, được tầm cầu, được tư sát… tất cả đều được Như Lai thấy biết cùng tận, triệt để, trọn vẹn, thấu đáo, viên mãn, không có cái gì Ngài không thấy biết, không thấu suốt, không tận cùng sự thấy hiểu, do vậy nên được gọi là Như Lai Chánh Đẳng Giác. Đây chính là định nghĩa của chữ Như Lai, tức là sự chứng ngộ của Đức Phật.
Từ đêm Như Lai được Chánh Đẳng Giác, đến đêm Như Lai nhập Niết-bàn, trong thời gian ấy, điều gì Như Lai nói, nói lên, tuyên bố, tất cả là như vậy, không có khác được. Do vậy, được gọi là Như Lai.
Tức là từ đêm Đức Phật giác ngộ dưới cội bồ đề, cho đến đêm Ngài nhập diệt dưới hai cây sa la, trong khoảng thời gian giữa hai thời điểm đó, tất cả những gì Đức Phật tuyên bố đều là như vậy, không đổi khác. Vậy, chúng ta còn học điều gì ở ngoài kinh Nikāya này? Chúng ta còn tìm kiếm cái gì ngoài trí tuệ đó? Chỉ cần học những gì Đức Phật nói từ lúc ở thành đạo ở “Bồ Đề Đạo Tràng” cho đến khi nhập diệt ở “sa la song thọ” là đủ chứng Thánh quả, dư sức để giải thoát chứng ngộ, diệt tận tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Chúng ta không cần học gì khác nữa, không cần tìm học của ai nữa.
Chúng ta chiêm nghiệm câu kinh trên để thấy được giá trị của kinh tạng Nikāya. Từng từ, từng câu, từng chữ trong đó là sự chứng ngộ triệt để về chân lý của vũ trụ, của thế giới, không còn gì khác ngoài tạng kinh này. Nếu còn đi tìm điều gì khác ngoài những lời dạy này tức là còn mê, nếu còn đi tìm tức là còn chưa xác quyết tin tưởng về sự chứng ngộ của Đức Phật, nếu còn đi tìm thì người đó được xem như thấy mà không thấy, biết mà không biết, vẫn là kẻ mù.
Như Lai nói gì thì làm vậy, làm gì thì nói vậy. Vì rằng nói gì thì làm vậy, làm gì thì nói vậy, nên được gọi là Như Lai.
Trong toàn thế giới với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Như Lai là bậc chiến thắng, không bị ai chiến bại, toàn tri, toàn kiến đại tự tại, do vậy được gọi là Như Lai.
Như Lai là bậc chiến thắng năm dục trưởng dưỡng; chiến thắng căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ, hữu; chiến thắng sanh, già, bệnh, chết; chết thắng năm thủ uẩn; chiến thắng hết tất cả những dục, tham, ái, chấp thủ vô minh, si mê, bản ngã. Ngài chiến thắng một cách oanh liệt, không bị ai chiến bại, toàn tri, toàn kiến đại tự tại. Toàn tri là toàn tri về ngũ uẩn; toàn kiến là toàn kiến về ngũ uẩn; đại tự tại là đại tự tại đối với ngũ uẩn, cũng có nghĩa là toàn tri về thế giới, toàn kiến về thế giới và đại tự tại đối với thế giới. Toàn tri là biết một cách hoàn toàn, không còn thiếu sót; toàn kiến là thấy trọn vẹn, không còn cái gì mà không thấy; đại tự tại là hoàn toàn thoải mái, hoàn toàn thong dong ở trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không còn bất cứ một sắc, một thọ, một tưởng, một hành, một thức nào dù nhỏ bằng hạt bụi có thể trói cột được Như Lai. Cho nên nói Như Lai toàn tri thế giới, toàn kiến thế giới, đại tự tại đối với thế giới, ngũ uẩn.
Trí tuệ của Đức Phật thật sự vô cùng khủng khiếp, chúng ta học để càng thêm tăng trưởng tín tâm đối với Đức Phật và đối với sự chứng ngộ của Ngài. Một con người xuất hiện trên cuộc đời này bằng da, bằng thịt, có tri thức, có cảm giác, có nghĩ tưởng. Một con người chứng ngộ tận cùng sự thật về thế giới này. Một con người được xem là tối tôn, tối thượng, tối thắng trong tất cả các loài chúng sanh. Đó là bậc Đại Đạo sư, là bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người, là bậc đã mở ra bí mật, mật mã của thế giới. Đức Phật đã mở ra hệ điều hành tối mật của vũ trụ mà từ vô lượng vô biên kiếp chưa ai khám phá nổi. Ngài là người khám phá ra guồng máy của sanh tử, tìm ra nguyên nhân sống chết, tái tục, tái diễn trong vô lượng vô biên kiếp từ vô thỉ. Ngài là người duy nhất khám phá ra guồng máy của thế giới, của sanh tử, của khổ đau, của sầu, bi, ưu, não. Ngài đã khám phá và tìm ra phương pháp phá tung, phá vỡ guồng máy, không cho ngũ uẩn tái tạo được nữa.
Thật là hạnh phúc vì một bậc tối tôn, tối thượng như vậy là sư phụ của chúng ta! Chúng ta hy sinh cả cuộc đời, bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ anh, bỏ em, bỏ hết gia đình, vợ chồng, con cái để đi theo một bậc như vậy thì có xứng đáng không! Chúng ta nhịn sắc, nhịn dục, nhịn những thứ vui sướng của cuộc đời để đi theo học Thánh Pháp tối thượng của một bậc Chánh Biến Tri như vậy thì có xứng đáng không! Tác ý như vậy mới thấy sung sướng để học pháp hoài, nghe pháp hoài tới chết cũng chẳng sao, ngồi thiền dù ngã xuống cũng chẳng sao, hy sinh thân mạng này cũng chẳng là gì. Phải hạnh phúc, sung sướng, hân hoan vì được làm đệ tử của một bậc duy nhất khám phá ra hệ điều hành tối mật của vũ trụ mà từ xưa đến nay chưa từng có ai thấy. Khi chứng ngộ thì những điều Ngài chưa thấy, chưa biết sanh khởi lên, lúc đó nhãn sanh, minh sanh, kiến sanh, quang sanh, bừng lên… khi ấy tất cả những bí mật, mật mã của thế giới được phơi bày, được chứng ngộ, được thấy biết. Đức Phật đã truyền trao lại trí tuệ đó cho chúng ta nhưng nhiều người vẫn muốn tìm những thứ khác, làm như vậy cũng giống như vua đã truyền ngôi báu, trưởng giả đã giao gia tài nhưng không lấy, rồi lại đi ở đợ, làm thuê, làm mướn.
Như vậy, Đức Phật đã khám phá ra hệ điều hành bí mật của vũ trụ, phát hiện ra guồng máy vận hành của toàn thế giới và Ngài phá vỡ guồng máy đó, không cho ngũ uẩn tiếp tục tái tạo, sanh tử nữa, điều đó gọi là đạt đến thế giới của bất tử và hoàn toàn toàn tri, toàn kiến, đại tự tại đối với thế giới, đối với ngũ uẩn, đối với thân tâm, đối với trời đất này. Đó chính là bậc Đạo sư của chúng ta, phải lạy xuống dưới chân Ngài. Mỗi lần lạy Phật phải tác ý như vậy: “Ngài là bậc toàn tri, toàn kiến, đại tự tại đối với năm uẩn, đối với đời sống này”.
Sự vĩ đại của Đức Phật
Do thắng tri thế giới
Đúng như thật như vậy
Ly hệ mọi thế giới
Không chấp thủ thế giới
Thắng tất cả bậc trí
Giải thoát mọi buộc ràng
Cảm thọ tối thắng tịnh
Niết-bàn, không sợ hãi
Vị này đoạn lậu hoặc
Bậc Giác ngộ, Trí giả
Không dao động nhiễu loạn
Nghi ngờ được chặt đứt
Đạt diệt tận mọi nghiệp
Giải thoát diệt sanh y
Là Thế Tôn là Phật
Bậc Sư tử vô thượng
Trong thế giới, Thiên giới
Chuyển bánh xe pháp luân
Như vậy hàng Thiên, Nhân
Đến quy y đức Phật
Gặp nhau đảnh lễ Ngài
Vĩ đại không sanh hữu
Điều phục bậc tối thượng
Trong người được điều phục
An tịnh bậc ẩn sĩ
Những được được an tịnh
Giải thoát bậc tối thượng
Những người được giải thoát
Vượt qua bậc tối thắng
Những người được vượt qua
Như vậy họ lễ Ngài
Vĩ đại, không sanh hữu
Thiên giới, thế giới này
Không ai được bằng Ngài.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, 4. Chương Bốn Pháp, III. Phẩm Uruvelà, bài kinh Thế Giới)
Đây là bài kệ tán thán Đức Phật, nghe xong chấn động toàn thân tâm, cảm thọ. Bài kệ này có nghĩa rằng, do sự thấy biết tận cùng về thế giới này đúng như sự thật, cho nên Như Lai rời bỏ hết mọi sự trói buộc của thế gian này. Ngài không nắm giữ bất cứ thứ gì ở cuộc đời này, không có gì trói buộc được Ngài, tại vì Ngài thấu hiểu bản chất biến hoại của thế giới này. “Cái gì chịu sự biến hoại, này Ananda, đây gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh”.
Cái gì chịu sự biến hoại? Sắc chịu sự biến hoại, thân này, đồ vật, cảnh vật tứ đại chịu sự biến hoại. Các cảm giác dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu không khó chịu cũng chịu sự biến hoại, đổi thay, tự tánh đổi khác. Những hình bóng hư tưởng, ảo tưởng, vọng tưởng, huyễn ảnh, ảo ảnh trong tâm thức chịu sự biến đổi, biến hoại, tan hoại, tự tánh đổi khác, nắm giữ vào đó là nắm vào khổ. Những suy nghĩ, những lời nói lầm thầm chịu sự biến đổi và tan hoại, tự tánh đổi khác, cho nên, cần phải biết trọn vẹn về đống suy nghĩ hỗn tạp đó. Thức là vô thường, hoại diệt, chịu sự biến đổi và biến hoại, tự tánh đổi khác.
Đức Thế Tôn dùng từ một mớ hỗn độn rối ren như cuộn chỉ, tơ vò, tổ kén để chỉ những hình bóng, cảm thọ, suy nghĩ. Đó là những pháp chịu sự biến hoại, đừng cho chúng là thật, chỉ là ảo ảnh, hư tưởng, huyễn ảnh… phải tỉnh thức và chánh niệm để thoát ra khỏi chúng. Dùng chày kim cang để đập tan, dùng Thánh trí huệ để tác ý đánh phá, dùng những suy nghĩ mạnh mẽ của tuệ lực để thoát ra khỏi tất cả những thứ vô thường này. Chính vì vậy, Thế Tôn rời xa hết mọi sự trói buộc ở trong năm uẩn, thế giới, đời sống này.
“Thắng tất cả bậc trí – Giải thoát mọi buộc ràng”, tức là Ngài vượt qua hết tất cả những bậc có trí tuệ trên cuộc đời này. Những bậc trí huệ trên thế gian không ai bằng Ngài, “thắng” tức là Ngài vượt lên trên tất cả.
“Cảm thọ tối thắng tịnh” nghĩa là dứt hết tất cả những cảm thọ của tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Cảm thọ dục sanh khởi thì khổ, cảm thọ sân sanh khởi thì khó chịu, cảm thọ bản ngã trỗi dậy thì bứt rứt, cảm thọ hôn trầm, vô minh xâm chiếm thì khổ sở – khi những cảm thọ này dứt hết, không còn nữa thì được gọi là cảm thọ tối thắng tịnh. Cảm thọ trong sạch, tối thắng, an tịnh, tối thượng như vậy thì không còn cái hơn nữa.
“Niết-bàn, không sợ hãi” nghĩa là dập tắt hết mọi cảm thọ tham, sân, si, bản ngã, vô minh thì tâm không còn sợ hãi được bất cứ điều gì trên cuộc đời nữa, gọi là vô sở úy.
“Vị này đoạn lậu hoặc – Bậc Giác ngộ, Trí giả”, vị này dứt hết tất cả mọi mê lầm, lậu hoặc, là bậc giác ngộ, bậc trí. Dù cho gặp bất điều gì thì tâm cũng “Không dao động nhiễu loạn”, đạt đại định. Không những chỉ định trong lúc ngồi thiền, mà khi đi, đứng, ngồi, nằm, khi gặp bất cứ chuyện gì cũng không bị dao động, không bị nhiễu loạn.
“Nghi ngờ được chặt đứt – Đạt diệt tận mọi nghiệp”, tất cả mọi nghiệp đều bị diệt tận, vì thế “Giải thoát diệt sanh y”, tức là chấm dứt hoàn toàn chỗ dựa tái sanh ở đời sau, không còn những yếu tố để kéo lôi đi trong vòng sanh tử. Tức là không còn bất cứ một thọ, tưởng, hành, dục, tham, ái, chấp thủ, bản ngã nào có thể lôi kéo mình được nữa. Người như vậy được gọi là bậc tôn quý trên đời, bậc Thế Tôn, bậc giác ngộ.
“Là Thế Tôn là Phật – Bậc Sư tử vô thượng – Trong thế giới, Thiên giới”. Những kinh sách sau này có dùng từ “nhân trung sư tử” để chỉ Đức Phật, nghĩa là sư tử trong loài người. Sư tử ở đây không phải là con sư tử, mà sư tử thể hiện sự oai hùng, là vua của muôn thú, tiếng gầm của sư tử vang lên là những con khác run sợ, chạy trốn. Vì có uy lực như vậy cho nên lấy hình ảnh sư tử làm ví dụ cho pháp âm của Thế Tôn như tiếng gầm sư tử. Trong Chứng Đạo Ca, Ngài Huyền Giác thiền sư có nói:
Sư tử hống, vô úy thuyết
Bách thú văn chi giai não liệt
Hương tượng bôn ba thất khước uy
Thiên long tịch thính sanh hân duyệt.
Nghĩa là muôn thú khi nghe tiếng sư tử gầm lên đều vỡ óc, nghĩa là run sợ, tìm đường trốn chạy. Con voi chúa “hương tượng” khi nghe tiếng gầm của sư tử cũng quýnh quáng, bôn ba chạy mất. Bình thường con voi to lớn, đi từ từ, chậm chậm, uy thế rất lớn nhưng khi nghe tiếng sư tử gầm lên thì bỏ chạy nên nó bị “khước uy”, tức là mất hết uy thế, uy nghi. “Thiên long tịch thính” tức là thần rồng lặng yên lắng nghe và sanh hoan hỷ mỗi khi Đức Phật thuyết pháp. Có nhiều loài rồng biến thành Tỳ-kheo để được tu học theo giáo pháp của Phật, đến hôm vị thần rồng này trực Tăng phòng cho các thầy khác đi khất thực thì vị này ngủ quên. Khi các thầy Tỳ-kheo về thì hoảng hồn, kinh hãi vì trong nhà là một con rồng to lớn nằm kín phòng, lúc ngủ hiện nguyên hình nằm chật kín cả tịnh xá. Các thầy hỏi sao dám vào giả làm Tỳ-kheo thì vị đó trả lời muốn vào học pháp của Thế Tôn.
Cho nên, lời Đức Phật như sư tử rống, nói lên những lời oai hùng, không sợ hãi. Lúc bấy giờ có rất nhiều tà kiến, ngoại đạo, Đức Phật tuyên bố Chánh Pháp khác hẳn mọi người nhưng Ngài không sợ ai cả. Cho nên gọi là “Sư tử hống, vô úy thuyết”, nghĩa là tiếng gầm của sư tử, không sợ bất cứ thế lực nào. Ngai vàng còn dám bỏ, cha mẹ, vợ đẹp, con thơ vẫn bỏ thì còn sợ điều gì nữa. Vì vậy, Phật gầm lên tiếng gầm của sư tử, không sợ bất cứ điều gì, gọi là vô úy thuyết, nghĩa là sự thuyết pháp của Đức Phật không sợ hãi bất cứ gì.
Trong Tương Ưng Kosala, bài kinh “Tuổi trẻ”, khi được vua Ba Tư Nặc hỏi: “Tôn giả Gotama có tự cho mình đã chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác không?” thì Ngài đã tuyên bố mình là bậc giác ngộ tối tôn, tối thượng: “Thưa Đại vương, nếu có ai có thể nói một cách chơn chánh là mình đã chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thời người ấy phải chính là Ta. Thưa Đại vương, Ta đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”. Vua Ba Tư Nặc thắc mắc rằng giáo tổ của giáo phái, tuổi già, lụm khụm khi Ngài hỏi vậy còn chưa dám tuyên bố thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nhưng tại sao Phật còn trẻ, tu hành chưa bao nhiêu mà dám tuyên bố như vậy. Đức Phật mới nói rằng, vua không nên xem thường bốn loại trẻ tuổi, đó là: hoàng tử nhỏ, con rắn nhỏ, đốm lửa nhỏ và vị tu hành còn nhỏ, sau khi nói xong, Phật thuyết pháp. Cho nên, từ khi Phật thành đạo dưới cội cây cho đến khi nhập diệt dưới sa la song thọ thì những gì Ngài tuyên bố không thể khác đi, đó là tiếng gầm của sư tử.
“Chuyển bánh xe pháp luân – Như vậy hàng Thiên, Nhân – Đến quy y đức Phật – Gặp nhau đảnh lễ Ngài – Vĩ đại không sanh hữu”. Nghĩa là khi Ngài thuyết pháp như vậy thì những tà ma, ngoại đạo, những người tu theo học thuyết sai lầm đều khiếp sợ và bỏ đạo đi theo Đức Phật. Do vậy, những ngoại tạo sân tức, phá hoại, làm đủ chuyện để phá Đức Thế Tôn, thậm chí, họ phái đệ tử giả dạng xuất gia để học và trộm giáo pháp đem về giảng bên họ. Mỗi khi Đức Phật chuyển bánh xe pháp luân thì hàng thiên, nhân đến quy y dưới Đức Phật, đảnh lễ Phật, đem đỉnh đầu cao nhất lạy dưới chân thấp nhất của Phật. Cho nên mới nói, trời rồng lặng nghe Đức Phật thuyết pháp và lòng hoan hỷ. Những con vật tu hành lâu năm, nhiều trăm năm, nhiều vạn năm thì được thăng thành thần, tiên nếu tu thiện, còn nếu tu ác thì trở thành yêu quái, yêu ma. Đó gọi là thiên giới, ma giới mà chúng ta thường nghe. Mà những vị đã trở thành thần, tiên thì sẽ nhận thức được ở đâu là Chánh Pháp và đi đến đó học.
“Vĩ đại không sanh hữu”, sự vĩ đại của Đức Phật là không sanh hữu, vì sao? Chữ “hữu” này là tam hữu, gồm sự hiện hữu trong dục (dục hữu), sắc hữu và vô sắc hữu. Không sanh hữu là không còn ở trong ba cõi trên: cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc. Vĩ đại là ở chỗ vượt ra khỏi ba cõi đó. Chúng ta đừng hiểu “không sanh” là đoạn diệt ngũ uẩn, không còn gì hết mà phải hiểu đúng “không sanh” là không còn bị ngũ uẩn trói trăn, ràng buộc, thành tựu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tâm bất động giải thoát. Nói cách khác là không còn bị sắc, thọ, tưởng, hành, thức điều khiển, xâm chiếm, áp đảo, đày đọa, hành hạ, trói buộc, chấp thủ bên trong nữa. Cho nên, đừng hiểu đoạn diệt là tu xong rồi là không còn gì hết, mà đoạn diệt là diệt hết tất cả những động cơ, dữ kiện, yếu tố lôi kéo làm mình bị trói cột trong năm uẩn.
Vậy, tâm giải thoát, tuệ giải thoát là như thế nào? Khi tham ái hết thì tâm được giải thoát ra, khi tham ái còn thì tâm bị trói cột trong tham ái nên cứ quanh quẩn trong đó. Ví dụ như truyện Aladin và cây đèn thần, ông thần bị nhốt trong chai sành 500 năm, người đi chài lưới chài trúng chai sành và mở ra coi, sau đó vị thần bay, thoát khỏi cái chai đó. Cũng vậy, tham ái của chúng ta bị nhốt trong ngũ uẩn không đi ra được, lúc phá tham ái thì thoát ra khỏi ngũ uẩn, đó gọi là tâm giải thoát. Tuệ giải thoát là khi phá hết vô minh thì trí tuệ không bị che mờ nữa, còn lúc trước bóng tối của vô minh che lấp nên trí tuệ không được chiếu sáng, giống như mây đen che mặt trăng. Thành ra, trí tuệ của chúng ta bị vô minh che kín, khi phá hết vô minh, mây đen bị thổi bay không còn một điểm đen nào nữa, gọi là “thuần thanh tuyệt điểm” thì lúc đó mặt trăng tròn sáng, đại viên mãn, đó là tuệ giải thoát. Trí tuệ thoát ra khỏi màn đêm, thoát ra đám mây đen thì được đại viên mãn trong sáng, như vậy, tâm giải thoát, tuệ giải thoát khi vô minh và tham ái diệt. Cho nên, phải nhớ kỹ, đoạn diệt không phải là tu cho đến mức còn không gì hết. Khi nghe “đoạn diệt, thắng trí, an tịnh, giác ngộ, Niết-bàn, nhàm chán, ly tham” đừng nghĩ rằng đoạn diệt là không còn gì nữa, phải hiểu kỹ từ này.
“Điều phục bậc tối thượng – Trong người được điều phục”, câu này giải thích cho danh xưng “điều ngự trượng phu” của Đức Phật, tức là điều phục bậc tối thượng trong những người được điều phục.
“An tịnh bậc ẩn sĩ – Những người được an tịnh” tức là những người ẩn sĩ tuy ở ẩn nhưng không được an tịnh trọn vẹn, sau đó họ được Đức Phật dạy cho Chánh Pháp và đạt được an tịnh thật sự. Thử nghĩ, nếu ở ẩn mà không nhận diện được ngũ uẩn thì không thể phá được tham, sân, si, bản ngã, vì không thấy ngũ uẩn, không thấy lậu hoặc thì làm sao nhiếp phục, đoạn tận. Cho nên, dù ẩn tu cỡ nào thì cao nhất cũng chỉ có thể thành tiên, chứ không thể giác ngộ, giỏi lắm thì đến mức ly dục, ly tham chứ không đến mức Chánh Đẳng Giác được. Mà ly dục, ly tham ở đây là đối với những cái thô trong sắc, thanh, hương, vị, xúc bên ngoài, còn thọ, tưởng, hành, thức bên trong không nhìn thấy được thì không xa lìa được những thứ đó. Chỉ có Thánh trí năm uẩn mới có khả năng ly tham tuyệt đối. Thành ra mới nói “Phàm là pháp vô vi hay hữu vi thì pháp ly tham là tối thượng trong tất cả các pháp”, ly tham ở đây là ly tham đối với ngũ uẩn, còn ở ngoài đời nói không tham là chỉ không tham đối với những cái thô bên ngoài đối với sắc pháp, sắc uẩn.
“Giải thoát bậc tối thượng – Những người được giải thoát”, nghĩa là trong tất cả những người được giải thoát thì Đức Phật là người giải thoát tối thượng. “Vượt qua bậc tối thắng – Những người được vượt qua”, nói chung trong bất kỳ khía cạnh nào thì Đức Phật cũng là người đứng đầu.
“Như vậy họ lễ Ngài – Vĩ đại, không sanh hữu – Thiên giới, thế giới này – Không ai được bằng Ngài”. Đức Phật là bậc giải mã thế giới, thế giới này được Thế Tôn chứng ngộ.
Bài kinh “Thế Giới Dục Công Đức”
Thế giới trong giới luật của bậc Thánh
Tiếp theo, chúng ta sẽ tìm hiểu một bài kinh rất hay, bài kinh“Thế Giới Dục Công Đức”, Tương Ưng Bộ Kinh:
-- Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tận cùng thế giới không thể biết, không thể thấy, không thể đạt được bằng cách đi đến tận cùng thế giới. Ta cũng không tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, sự chấm dứt đau khổ có thể làm được bằng cách đạt đến sự tận cùng thế giới.
Đức Thế Tôn nói hai câu đó xong thì đứng dậy đi vào tịnh xá.
Đầu tiên, Đức Phật tuyên bố rằng: không thể biết, không thể thấy, không thế biết được sự tận cùng của thế giới bằng cách đi hết thế giới này. Nhiều người nghĩ rằng, sau khi đi du lịch khắp thế giới: Châu Á, Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Úc và tìm hiểu được những phong tục, tập quán, con người, tính tình, tri thức, thói quen ở mọi nơi thì nghĩ rằng mình đã thấy, đã biết, đã đạt được tất cả… thế nhưng Đức Phật nói không phải cứ chạy ra ngoài để thấy, để nghe, để biết như vậy là đạt tận cùng thế giới, điều đó là không thể.
Thứ hai, Đức Phật không tuyên bố sự chấm dứt đau khổ có thể làm được bằng cách đạt đến tận cùng thế giới. Nghĩa là không phải đi hết mọi nơi, biết hết mọi chuyện ở trên đời là hết đau khổ, Đức Phật không tuyên bố như vậy. Vậy, thế nào mới gọi là tận cùng thế giới? Có nhiều người đi khắp thế giới này nhưng không hết khổ, tham vẫn y nguyên, còn nhiều ham muốn, không biết chán. Cho nên, không thể giải quyết vấn đề đau khổ bằng cách chạy đi nhìn, chạy đi tìm hiểu bên ngoài như vậy.
Thế Tôn nói xong hai câu đó thì đi vào tịnh xá, các vị Tỳ-kheo ở đó khởi lên tư tưởng rằng Thế Tôn nói quá vắn tắt, Ngài không phân tích, diễn giải ý nghĩa một cách rộng rãi câu nói đó.
Rồi các Tỷ-kheo ấy lại suy nghĩ như sau: " Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các bậc đồng Phạm hạnh có trí kính trọng, Tôn giả Ananda có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi lời Thế Tôn tuyên bố vắn tắt này. Chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, hãy hỏi Tôn giả Ananda về ý nghĩa này ".
Vì vậy, các vị Tỳ-kheo đến chỗ của Ngài Anan, sau khi nói những lời chào đón hỏi thăm thân hữu thì các thầy Tỳ-kheo ngồi xuống một bên. Sau đó, các thầy nhắc lại câu chuyện Thế Tôn nói vắn tắt như vậy và các thầy nghĩ rằng Tôn giả Anan có thể phân tích, giải thích cho các thầy nghe.
-- Này chư Hiền, ví như một người cần thiết lõi cây, tìm cầu lõi cây, đang đi tìm cầu lõi cây, đứng trước một cây lớn có lõi cây. Người ấy bỏ rễ, bỏ thân cây, nghĩ rằng lõi cây cần phải tìm trong các nhánh cây, lá cây. Cũng vậy, là việc chư Tôn giả làm... Chư Tôn giả đứng trước mặt Thế Tôn, chư Tôn giả lại vượt qua Thế Tôn và nghĩ rằng cần phải hỏi tôi về ý nghĩa này.
Tức là Thế Tôn là đại cổ thụ, trước mặt Thế Tôn tại sao các thầy không hỏi mà lại đến hỏi Ngài Anan. Ngài Anan nói mình chỉ là cành, lá, tại sao lại chỗ Ngài đến tìm lõi cây.
Nhưng này chư Hiền, Thế Tôn biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, bậc có mắt, bậc có trí, bậc Pháp giả, bậc Phạm thiên, bậc Thuyết giả, bậc tuyên thuyết, bậc dẫn đến mục đích, bậc đem cho bất tử, bậc Pháp chủ, bậc Như Lai. Nay đã đến thời, chư Hiền hãy đến hỏi Thế Tôn về ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích cho chư Hiền như thế nào, hãy như vậy thọ trì.
Những câu của Ngài Anan nói là những lời xưng tán Đức Phật: “Thế Tôn biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, bậc có mắt, bậc có trí, bậc Pháp giả, bậc Phạm thiên, bậc Thuyết giả, bậc tuyên thuyết, bậc dẫn đến mục đích, bậc đem cho bất tử, bậc Pháp chủ, bậc Như Lai”. Đây là những lời Thánh khen Thánh, đệ tử khen thầy, là những lời vi diệu, chân chánh. Ngài Anan nói rằng các thầy Tỳ-kheo đi tìm lõi cây, đứng trước đại cổ thụ mà lại bỏ qua, ở trước mặt Thế Tôn mà không chịu hỏi, rồi nghĩ rằng lõi cây nằm trong lá nhỏ, cành nhỏ hay sao mà đến hỏi Ngài Anan. Tôn giả Anan nói các thầy Tỳ-kheo hãy đến chỗ Thế Tôn và hỏi Ngài, Thế Tôn giải thích như thế nào thì các vị tiếp nhận, nghe theo, ghi nhận, thọ trì và thực hành như vậy. Đó là cách ứng xử của các bậc Thánh hiền, khen ngợi, cung kính, xưng tán nhau.
Các thầy Tỳ-kheo mới nói chắc chắn Thế Tôn biết những gì cần biết. “Nhưng Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng Phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Ananda có thể giải thích một cách rộng rãi lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn chưa được phân tích rộng rãi. Mong Tôn giả Ananda phân tích cho, nếu Tôn giả không cảm thấy phiền phức”.
Này chư Hiền, lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn không được phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, tôi hiểu một cách rộng rãi như sau: Này chư Hiền, do cái gì trong thế giới, người ta tưởng đến thế giới, người ta kiêu mạn về thế giới, đây gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh.
Và này chư Hiền, do cái gì trong thế giới, người ta tưởng đến thế giới, người ta kiêu mạn về thế giới?
Do con mắt, này chư Hiền, trong thế giới, người ta tưởng đến thế giới, người ta kiêu mạn về thế giới. Do tai, này chư Hiền... Do mũi, này chư Hiền... Do lưỡi, này chư Hiền... Do thân, này chư Hiền... Do ý, này chư Hiền, trong thế giới, người ta tưởng đến thế giới, người ta kiêu mạn về thế giới. Ðây gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh.
Học kinh Nikāya nếu không có sự trầm tĩnh, bình tĩnh, kiên nhẫn, sâu sắc thì sẽ không hiểu nổi, đọc sẽ bị rối. Như vậy, do mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý (sáu căn) mà người ta tưởng đến thế giới, kiêu mạn về thế giới. Khi tưởng về sáu căn của chính mình thì người ta kiêu mạn, thấy mặt của tôi đẹp, mắt mũi của tôi đẹp, thân hình của tôi đẹp… cho nên có tưởng, có kiêu mạn về sáu căn, về tứ đại, về ngũ uẩn. Tưởng là tưởng uẩn, còn kiêu mạn là hành uẩn có liên hệ đến sắc uẩn, có những lời nói chuyện thầm bên trong nên có kiêu mạn. “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, mà tác ý là từ chỗ hành uẩn. Cho nên tất cả đều nằm trong ngũ uẩn, không nằm ngoài ngũ uẩn. Mắt, tai, mũi, lưỡi thân là sắc uẩn; ý là thức uẩn; tưởng là tưởng uẩn; sự vênh váo, kiêu mạn, ta đây, hơn người, bản ngã là hành uẩn. Vì thế, ngũ uẩn là thế giới trong pháp và luật của bậc Thánh. Tùy hoàn cảnh, tùy trường hợp, tùy góc độ phân tích nên cách diễn đạt khác nhau, nhưng tất cả đều nằm trong ngũ uẩn.
Chúng ta đưa chữ “thế giới” ra và thay thế chữ “thân” vào thì nghĩa sẽ sáng hơn, cụ thể: “Do cái gì trong thế thân, người ta tưởng đến thân, người ta kiêu mạn về thân?”. Sắc thân là một phần của ngũ uẩn, bên trong sắc thân là tâm, chúng ta dùng từ thân ở đây là chỉ cho cả thân và tâm. Ngũ uẩn là thân, là tâm, là thế giới, nếu đặt rộng ra ngoài thì ngũ uẩn là thế giới, còn đặt gọn vào trong thì ngũ uẩn là thân tâm. Nếu không có tâm thì không thành thế giới, không có thọ, tưởng, hành, thức thì trái đất này không có người sống, người ta không nhận thức, không biết đó là thế giới. Con người mới có thọ, tưởng, hành, thức, tức là phần tinh thần và khi có cả tinh thần và vật chất thì mới thành thế giới.
Qua câu “do cái gì mà người ta tưởng, người ta kiêu mạn về thân” chúng ta hiểu được, sở dĩ có thế giới là do có tưởng và kiêu mạn, nếu phá được tưởng về thân, phá được kiêu mạn về bản ngã thì thế giới đoạn diệt, ngũ uẩn chấm dứt. Chúng ta chú ý, mắt, tai, mũi, lưỡi thân là thuộc sắc uẩn; ý thuộc thức uẩn; tưởng thuộc tưởng uẩn; kiêu mạn thuộc hành uẩn và trong sự kiêu mạn có cảm thọ bên trong, đó là thọ uẩn… những thứ này chính là thế giới. Ngũ uẩn bao trùm tất cả nhưng khi nói về khía cạnh nào thì các Ngài khai thác và nói ở góc độ thôi. Ở bài kinh này các Ngài nhấn mạnh vào tưởng và kiêu mạn. Vì vậy, chúng ta phải hiểu nói đến tưởng thì thọ và hành cũng đi chung; còn những ý nghĩ về ta tôi, kiêu căng, ngạo mạn, hơn người là thuộc về ý hành.
Đó chính là thế giới trong pháp và luật của bậc Thánh, mà thế giới ngoài đời cũng giống như vậy, cũng nằm trong ngũ uẩn. Tính chất của tất cả những thứ này đều là vô thường, biến hoại. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là vô thường, biến hoại. Biến hoại là tính chất của thế giới, là tính chất của ngũ uẩn, là tính chất của thân tâm này. Thế giới này là trống rỗng, do căn, trần, thức giao thoa nên có xúc, thọ, ái, thủ, hữu… tất cả những pháp này đều vô thường, tan hoại, biến đổi, vô ngã, trống rỗng. Cho nên căn là trống không, trần là trống không, thức là trống không, xúc, thọ, ái, thủ cũng là trống không. Tất cả đều quy nạp về tính chất biến hoại, trống không. Chúng ta cứ tác ý, quán chiếu như vậy mỗi khi sanh khởi những phiền não thì có thể giải phá, giải tỏa, giải phóng, giải thoát đối với nó. Đó gọi là thoát ly, xuất ly khỏi thế giới, cũng là xuất ly khỏi ngũ uẩn, cũng là xuất ly khỏi tham, sân, si, vô minh, bản ngã, cũng là sự đoạn diêt, đoạn tận tham, sân, si đối với ngũ uẩn, cũng có nghĩa là đoạn diệt thế giới, đoạn diệt nguyên nhân tiếp tục tạo ra, tập khởi thế giới.
Như vậy, hiểu về thế giới là trí thứ nhất; hiểu về thế giới sanh là trí thứ hai; hiểu về thế giới diệt là trí thứ ba; hiểu về thế giới diệt đạo, con đường đưa đến chấm dứt thế giới là trí thứ tư. Đó là Bốn Thánh trí về thế giới, Bốn Thánh trí về ngũ uẩn, Bốn Thánh trí về thân tâm, là mật mã của thế giới.
Pháp vị giữa bậc Đạo sư và Thánh đệ tử
Sau khi phân tích hai câu của Thế Tôn xong, Ngài Anan nói với các thầy Tỳ-kheo rằng:
--Tôi hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Nhưng nếu muốn, chư Tôn giả hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích như thế nào, hãy như vậy thọ trì”.
Lúc đầu khi được các thầy hỏi thì Ngài Anan rất khiêm cung, nói mình là cành lá, muốn tìm lõi cây thì gặp Đức Thế Tôn vì Đức Thế Tôn mới là đại cổ thủ, nhưng do các thầy Tỳ-kheo năn nỉ nên Ngài Anan mới giải thích. Sau khi giải thích xong thì Ngài Anan dặn các thầy Tỳ-kheo đến gặp và hỏi Đức Thế Tôn, Thế Tôn dạy thế nào thì nghe theo, ghi nhận và thọ trì tu học như thế đó. Đây là điểm rất tuyệt vời, vì trước khi nói, sau khi nói thì Ngài Anan đều quy nạp về Đức Phật, không vượt qua bậc Đạo sư.
-- Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tôn giả ấy vâng đáp Tôn giả Ananda, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Sau đó các thầy Tỳ-kheo đến chỗ Đức Thế Tôn, thuật lại lời Ngài Anan đã giải thích cho Ngài nghe. Khi nghe xong, Thế Tôn nói:
-- Hiền trí, này các Tỷ-kheo, là Ananda. Ðại tuệ, này các Tỷ-kheo, là Ananda! Này các Tỷ-kheo, nếu các Ông có hỏi Ta về ý nghĩa này, Ta cũng trả lời như vậy, như Ananda đã trả lời. Ðây là ý nghĩa của lời nói ấy. Hãy thọ trì như vậy. (Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c) Phần III. Năm Mươi Kinh Thứ Ba, II. Phẩm Thế Giới Dục Công Ðức, bài kinh Thế Giới Dục Công Ðức)
Đức Thế Tôn khen ngợi Ananda là bậc hiền thiện, trí sáng, là bậc có trí tuệ lớn. Đức Phật nói nếu các thầy Tỳ-kheo hỏi thì Ngài cũng sẽ trả lời như Ngài Ananda đã nói, các thầy Tỳ-kheo hãy ghi nhận và thực hành như vậy.
Qua những lời Thánh ngôn của Đức Phật và Ananda, chúng ta thấy được hình ảnh thầy trò hợp xướng, cùng nhau hòa tấu khúc nhạc bất tử vô sanh, đầy đạo tình, đạo vị, pháp vị. Nếu là một người thầy bình thường, không phải là một người chứng ngộ; nếu là một người học trò không có sự cung kính thật sự đối với thầy của mình thì có được như vậy không? Ngài Ananda trước và sau khi nói đều mời các thầy Tỳ-kheo đến tìm hỏi Đức Thế Tôn và nghe theo lời Ngài, còn Đức Thế Tôn sau khi nghe các thầy Tỳ-kheo thuật lại lời của Ananda thì xưng tán Ananda là bậc hiền trí, đại tuệ, nói rằng nếu Ngài giải thích thì cũng giống như vậy và dạy các thầy Tỳ-kheo thọ trì như lời Ananda.
Đó chính là bản hòa tấu của Đức Thế Tôn và Tôn giả Ananda, là khúc nhạc bất tử của bậc Đạo sư và đệ tử, là hương vị Chánh Pháp của sư đồ bậc Thánh vào 2.600 năm trước. Bây giờ đọc lại, cảm thọ trong chúng ta thấm đượm tình thầy trò giữa sư phụ và thị giả, pháp hợp pháp, tâm ấn tâm, nghĩa đồng nghĩa là ở chỗ này. Sự tương ái, tương kính, cung kính của học trò đối với thầy và tình thương của thầy đối với trò rất tuyệt vời, ngọt ngào và vi diệu. Pháp vị, đạo tình, đạo vị là như thế, chứ không chỉ là tình cảm thông thường như cho ăn ngon, mặc đẹp, lo lắng những thứ thường tình. Đương nhiên những thứ thông thường cũng có nhưng chỗ thâm sâu của pháp là giúp cho người đệ tử của mình thành tựu trí tuệ. Những lời Ngài Anan xưng tán Đức Như Lai và những lời khen ngợi của Đức Như Lai dành cho Anan là tình cảm giữa thầy và trò, tâm ấn tâm, tương thông, dung thông với nhau về pháp nghĩa.
Chúng ta phải cảm thấy thật hạnh phúc vì giống như được tham dự buổi hòa tấu giữa bậc Đại Đạo sư và Thánh giả Anan, hai thầy và trò cùng nhau hòa tấu về mật mã của thế giới. Như vậy, guồng máy của sanh tử, hệ điều hành tối mật của vũ trụ đã được Thế Tôn mở ra và trình bày một cách sáng tỏ, rõ ràng, tận tường, thấu đáo, triệt để, đầy đủ, viên mãn, rành rành trước mắt. Hãy cảm nhận, ngâm mình vào trong pháp vị này để thấm đượm, thấm nhuần, tẩm ướp, tưới tẩm, tắm gội trong Thánh Pháp tối thượng vi diệu này. Hãy uống dòng sữa này, hấp thu dưỡng chất thiêng liêng, thần vị, pháp vị, thánh vị, trí tuệ vị, giải thoát vị này. Còn gì tuyệt vời hơn trí tuệ về thế giới, đời sống, thân tâm, ngũ uẩn này. Hãy cảm nhận, cảm thọ, cảm xúc, cảm giác, cảm ngộ để lòng ngực tràn ngập cảm thọ sung mãn này.
Cuối cùng, hãy cảm nhận thật sâu sắc hương vị của bất tử qua lời xưng tán của Tôn giả Ananda dành cho Đức Thế Tôn và lời ngợi khen của Đức Thế Tôn dành cho Ngài Ananda:
--Thế Tôn biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, bậc có mắt, bậc có trí, bậc Pháp giả, bậc Phạm thiên, bậc Thuyết giả, bậc tuyên thuyết, bậc dẫn đến mục đích, bậc đem cho bất tử, bậc Pháp chủ, bậc Như Lai.
-- Hiền trí, này các Tỷ-kheo, là Ananda. Ðại tuệ, này các Tỷ-kheo, là Ananda! Này các Tỷ-kheo, nếu các Ông có hỏi Ta về ý nghĩa này, Ta cũng trả lời như vậy, như Ananda đã trả lời. Ðây là ý nghĩa của lời nói ấy. Hãy thọ trì như vậy.
./.
MẬT MÃ THẾ GIỚI 5
ĐỊNH NGHĨA VÀ BẢN CHẤT
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Một số định nghĩa về “thế giới” trong kinh tạng Nikāya PAGEREF _Toc86828274 \h 1
II.Bài kinh “Thế Giới” PAGEREF _Toc86828275 \h 2
1.Bốn Thánh Trí về thế giới PAGEREF _Toc86828276 \h 2
2.Sự chứng ngộ của Như Lai PAGEREF _Toc86828277 \h 6
3.Sự vĩ đại của Đức Phật PAGEREF _Toc86828278 \h 9
III.Bài kinh “Thế Giới Dục Công Đức” PAGEREF _Toc86828279 \h 16
1.Thế giới trong giới luật của bậc Thánh PAGEREF _Toc86828280 \h 16
2.Pháp vị giữa bậc Đạo sư và Thánh đệ tử PAGEREF _Toc86828281 \h 21
Một số định nghĩa về “thế giới” trong kinh tạng Nikāya
Có sự chiêm nghiệm thì chúng ta mới thấy được trí tuệ của Đức Phật không thể dùng lời gì để diễn tả, thật sự đúng như câu nói “nắm thế giới trong lòng bằng tay”. Khi học được giáo pháp này thì chúng ta như nắm được cả thế giới trong lòng bàn tay, cũng có nghĩa là nắm pháp trong lòng bàn tay.
Lúc chưa học Nikāya, chưa nhận diện ngũ uẩn, chưa thấy biết về thân tâm thì chúng ta thấy thế giới muôn màu muôn vẽ, ngàn sắc muôn hương, vô tận vô lượng, nhưng khi đã học giáo pháp này thì mọi thứ rất đơn giản, tất cả chỉ là “căn – trần – thức”, Đức Thế Tôn chỉ dùng ba chữ nhưng tóm thâu hết cả vũ trụ này. Hoặc nói gọn thì chỉ cần hai từ là căn và trần, bởi vì trong căn có ý căn, nó thuộc về phần tinh thần, ý thức. Như vậy, chỉ bằng hai, ba chữ của Đức Phật nhưng có thể tóm thâu cả thế giới này, đời sống này, thân tâm này. Cho nên, chúng ta phải để tâm thật nhiều vào pháp học và pháp hành, phải vừa nghe, vừa nghiền ngẫm, vừa tư duy, vừa quán chiếu. Trong Nikāya Đức Phật nói về thế giới rất nhiều và có rất nhiều định nghĩa về thế giới. Chúng ta điểm qua sơ lượt các định nghĩa.
Định nghĩa đầu tiên chúng ta đã học nói tóm gọn lại là: thế giới gồm căn – trần – thức.
Định nghĩa thứ hai chúng ta cũng đã tìm hiểu: tóm thâu hết tất cả thế giới này chính là năm uẩn.
Thứ ba, trong bài kinh “Các Bà-la-môn”, Tăng Chi Bộ Kinh IV, Đức Phật định nghĩa: “Năm dục trưởng dưởng này được gọi là thế giới trong Luật của bậc Thánh”.
Thứ tư, trong bài kinh “Biến Hoại”, Tương Ưng Bộ IV, Đức Phật định nghĩa thế giới:
“-- "Thế giới, thế giới", bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi là thế giới?
Cái gì chịu sự biến hoại (palokadhamma), này Ananda, đây gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh”.
Đây cũng là định nghĩa về thế giới nhưng nói về tính chất, bản chất, đặc tính biến hoại của thế giới. “Biến hoại” nghĩa là biến đổi và tan hoại. Trong kinh Nikāya thường dịch ra những chữ vắn tắt, cho nên từ biến hoại phải được hiểu là biến đổi và tan hoại. Có những chỗ dùng từ “biến mau”, “biến chậm” thì chúng ta hiểu là biến đổi mau, biến đổi chậm. Như vậy, bản chất của thế giới là: “Cái gì chịu sự biến hoại được gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh”.
Thứ năm, bản chất của thế giới còn được Đức Phật định nghĩa là trống không, trống rỗng. Trong Tương Ưng Bộ Kinh IV, bài kinh “Trống Không”:
Rồi Tôn giả Ananda... bạch Thế Tôn:
-- "Trống không là thế giới, trống không là thế giới", bạch Thế Tôn, như vậy được nói đến. Cho đến như thế nào, bạch Thế Tôn, được gọi trống không là thế giới?
-- Vì rằng, này Ananda, thế giới là không tự ngã, và không thuộc tự ngã, nên thế giới được gọi là trống không.
Như vậy, chúng ta đã được nghe sơ lượt năm định nghĩa về thế giới của Đức Phật. Có định nghĩa về mặt hình tướng của thế giới, có định nghĩa về mặt cấu tạo, thành phần của thế giới và có định nghĩa về mặt tính chất, bản chất của thế giới. Chúng ta phải hiểu, nếu rút nhỏ lại thì thế giới chính là thân tâm và mở rộng ra thì thế giới chính là vũ trụ. Chúng ta tìm hiểu ý nghĩa về các định nghĩa để thấy được trí tuệ của Đức Phật rất siêu việt.
Bài kinh “Thế Giới”
Bốn Thánh Trí về thế giới
Trong bài kinh “Thế Giới”, Tăng Chi Bộ Kinh I:
Thế giới được Như Lai Chánh Đẳng Giác
Tức là thế giới được Như Lai thấy biết một cách thấu triệt, tận cùng, viên mãn, đầy đủ, đồng đều về tất cả mọi góc độ, khía cạnh, không còn một cái gì Ngài không biết về thế giới này. Cho nên nói thế giới được Như Lai Chánh Đẳng Giác.
Như Lai không hệ lụy đối với đời
Thế giới được Ngài thấy biết, tận tường về tất cả bản chất, tánh chất, đặc chất, bản tính, sự cấu tạo, hình thành, sanh diệt nên Phật không hệ lụy đối với thế giới. “Hệ” là liên hệ, trói cột; “lụy” là làm cho khổ lụy, tức là Đức Phật không bị sắc, thanh, hương, vị, xúc trói cột. Khi đối chiếu những lời dạy của Đức Phật với nhau thì chúng ta thấy rất rõ về thế giới, bằng không, mình không biết rồi mường tượng thế giới là quả địa cầu, như vậy không phải.
Nghĩa là, các sắc được Như Lai thấu biết tận cùng, từ thân người đến cảnh vật tứ đại, vì vậy, Như Lai không bị sắc trói cột, hệ lụy, làm cho đau khổ. Các tiếng, các mùi, các vị, các sự tiếp xúc cũng được Như Lai thấu biết tận cùng, triệt để về các yếu tố cấu tạo, tính chất, bản chất của chúng, cho nên, chúng không trói buộc được Như Lai, không làm Như Lai khổ lụy. Tóm lại, sáu căn, sáu trần, sáu thức, năm thủ uẩn, năm uẩn được Như Lai Chánh Đẳng Giác, thấu suốt tận cùng về tính chất, bản chất, cấu tạo của chúng, thế nên, chúng không làm Như Lai đau khổ và không trói buộc được Như Lai. Như vậy được gọi là “thế giới được Như Lai Chánh Đẳng Giác, Như Lai không hệ lụy đối với đời”.
Thế giới tập khởi được Như Lai Chánh Đẳng Giác.
Tức là nguyên nhân hình thành nên thế giới được Như Lai thấu suốt tận cùng.
Thế giới tập khởi được Như Lai đoạn tận.
Và nguyên nhân để hình thành thế giới bị Như Lai làm cho chấm dứt, đoạn tận. Nếu học không rõ ràng, đọc không hiểu định nghĩa này thì chúng ta sẽ rất mờ mit, vì không hiểu đoạn tận thế giới là như thế nào rồi nghĩ rằng Như Lai đoạn tận thế giới là hủy diệt trái đất, hủy hoại địa cầu… hiểu như vậy không đúng. Chúng ta phải hiểu câu này có nghĩa là những nguyên nhân nào làm sanh khởi ra năm uẩn được Như Lai đoạn tận và cái làm sanh khởi ra ngũ uẩn chính là vô minh và tham ái đối với ngũ uẩn. Cho nên, khi đọc kinh phải thông suốt ý nghĩa của kinh, bằng không chúng ta đọc không hiểu đúng hoặc có người hỏi thì mình sẽ giải thích sai nghĩa.
Thế giới đoạn diệt được Như Lai Chánh Đẳng Giác. Thế giới đoạn diệt được Như Lai giác ngộ.
Thế giới đoạn diệt tức là làm cho chấm dứt, không còn tái tạo những xác thân ngũ uẩn, Như Lai thấy biết điều này. Và Như Lai thấy biết, thấu hiểu rõ ràng về con đường, cách thức, đạo lộ, phương pháp để không cho năm thủ uẩn tái tục, tái tạo, tái diễn trong vòng luân hồi sanh tử nữa.
Con đường đưa đến thế giới đoạn diệt được Như Lai Chánh Đẳng Giác. Con đường đưa đến thế giới đoạn diệt được Như Lai tu tập.
Đây cũng chính là Tứ Thánh Đế, Bốn Thánh Trí, nghĩa là Đức Phật trình bày thế giới là gì, thế giới sanh, thế giới diệt và con đường đưa đến thế giới chấm dứt. Chỗ nào Đức Phật cũng đưa Bốn Thánh Trí vào, đó là sanh – diệt trí. Cụ thể, chân lý đầu tiên trong Tứ Thánh Đế là Khổ Đế, kế đến là Tập Đế, sau đó là Diệt Đế và cuối cùng là Đạo Đế, tức là khổ, nguyên nhân của khổ, sự chấm dứt khổ và con đường đưa đến chấm dứt khổ. Thế giới cũng giống như vậy, đưa Bốn Thánh Trí vào đó soi rọi thì sẽ sáng ra. Cho nên, bốn trí về thế giới gồm: thế giới là gì, thế giới sanh khởi, thế giới hoại diệt và con đường đưa đến sự hoại diệt, chấm dứt. Nói gọn về Mười Hai Nhân Duyên là: “Ta rõ biết sự già chết, Ta rõ biết nguyên nhân của già chết, Ta rõ biết sự chấm dứt của già chết và con đường đưa đến sự chấm dứt già chết” – đây cũng gồm bốn trí. Như vậy, thành tựu trí huệ đối với một pháp nào là chúng ta phải có đủ bốn trí như vậy, đó gọi là Bốn Thánh Trí, tức là sanh – diệt trí.
Trí tuệ về thế giới cũng giống vậy, đứa bốn trí vào thì trí tuệ về thế giới sẽ sáng rực lên. Đầu tiên là thành tựu trí về thế giới, tức là rõ biết thế giới này chỉ là ngũ uẩn, không có cái gì ở ngoài ngũ uẩn. Cho nên, “thế giới là ngũ uẩn” là câu nói đinh đóng cột, là pháp ấn, không thay đổi, không sai trật ở một điểm nào. Thứ hai, “thế giới sanh khởi là do vô minh và tham ái”, nghĩa là sanh khởi là do không hiểu biết về thế giới và yêu thích thế giới, rõ ràng hơn là do không hiểu biết về ngũ uẩn, yêu thích ngũ uẩn nên có ngũ uẩn. Thứ ba, “thế giới diệt là do hết vô minh và hết tham ái”, hết vô minh là hiểu biết về ngũ uẩn nên không còn yêu thích, không còn tham ái đối với ngũ uẩn, khi không còn yêu thích thì sẽ không còn tạo ra ngũ uẩn nữa, cho nên, ngũ uẩn bị đoạn diệt. Cuối cùng, “con đường đưa đến sự chấm thế giới là Bát Chánh Đạo”, tức là thấy đúng về ngũ uẩn, nghĩ đúng, nói đúng, sống đúng, làm đúng, siêng đúng, quán đúng, định đúng.
Như vậy, Bốn Thánh Trí này được áp dụng vào tất cả pháp, đây chính là định lý trong Nikāya, cần phải nắm vững. Một định lý, định nghĩa, định luật được học thì sẽ ứng dụng được vào tất cả khía cạnh. Ở ngoài đời người ta phát triển ra nhiều ngành nghề, nhiều sáng chế trên toàn thế giới cũng nhờ những định lý, định luật. Trong pháp cũng vậy, Bốn Thánh Trí này là định lý, định luật của giải thoát, của giác ngộ.
Chúng ta không được học phớt qua là xong mà cần phải nhìn thật kỹ. Ví dụ, khi cơn tức giận nổi lên thì chúng ta phải hiểu cơn giận, phải biết tại sao cơn giận đó sanh khởi, phải biết sự chấm dứt của con giận và con đường đưa đến cơn giận chấm dứt. Lúc đó chúng ta rõ ràng biết được mình đang giận; cơn giận sanh là do tiếp xúc; phải làm cho cơn giận diệt; con đường đưa đến cơn giận diệt cũng là áp dụng Bát Chánh Đạo vào, tức là thấy biết rõ nguy hại của cơn giận, tác ý để đánh đuổi nó ra, siêng năng có những hành động phù hợp như là trải tâm từ, quán niệm đúng làm cho tâm an tịnh lắng dịu. Đó chính là Bốn Thánh Trí về sân giận.
Bản ngã cũng vậy, chúng ta đưa Bốn Thánh Trí vào đó. Mỗi khi muốn thể hiện sự ta đây thì biết được đó là bản ngã; bản ngã sanh là do chấp thủ vào năm uẩn, cho đó là tôi, là của tôi; thấy được không có tôi, không có của tôi, thân này là trống rỗng, không có ai trong đó thì bản ngã sẽ chấm dứt; muốn dứt được như vậy thì phải có đạo lộ tu tập, tức là Bát Chánh Đạo. Cụ thể là nhìn thấy nguy hiểm và tác hại của bản ngã; suy nghĩ để dẹp bỏ bản ngã: “Bản ngã này là nhục nhã, thối tha, hèn hạ, thấp hém, hạ liệt”; có hành động sám hối, quỳ lạy, quán tưởng hình ảnh quỳ mọp xuống chân người khác, quán tưởng về nùi giẻ, kẻ hèn hạ đi ăn xin mà vênh váo với ai, hất hất mặt với ai. Đó chính là Bốn Thánh Trí về bản ngã. Đối với vô minh thì chúng ta phải biết được vô minh xuất hiện, tại sao vô minh sanh, làm sao vô minh diệt và con đường đưa đến vô minh diệt.
Thế nên, tất cả đều phải đưa Bốn Thánh Trí vào soi rọi, bằng không thì chúng ta không thấy, không biết, vô minh, vô tri đối với pháp đó và mong muốn diệt tận được bản ngã, chấm dứt được cơn giận là điều không thể xảy ra. Không biết pháp đó, không biết tại sao nó sanh, không biết làm sao làm sao nó diệt, không biết con đường để chấm dứt, đoạn tận thì làm sao diệt được. Chẳng qua là chúng ta để qua một bên, tránh né nó chứ thực tế là nó không diệt, không hết được. Cần phải đào bới gốc rễ thì mới diệt được, muốn như vậy thì cần phải để tâm, dòm ngó, quán xét, tìm đủ mọi cách, vận dụng Tứ Chánh Cần, Tứ Như Ý Túc, Bát Chánh Đạo. Trong pháp nào cũng có Bốn Thánh Trí như vậy.
Sự chứng ngộ của Như Lai
Này các Tỷ-kheo, cái gì trong toàn thế giới với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, được thấy, được nghe, được cảm giác, được thức tri, được đạt đến, được tầm cầu, được ý tư sát, tất cả đều được Như Lai Chánh Đẳng Giác. Do vậy, được gọi là Như Lai.
Tức là tất cả những gì trong toàn thế giới đối với thế giới của chư Thiên, của ma, của vua trời và tất cả giới tu hành, loài người được thấy, được nghe, được cảm giác, được nhận thức, được đạt đến, được tầm cầu, được tư sát… tất cả đều được Như Lai thấy biết cùng tận, triệt để, trọn vẹn, thấu đáo, viên mãn, không có cái gì Ngài không thấy biết, không thấu suốt, không tận cùng sự thấy hiểu, do vậy nên được gọi là Như Lai Chánh Đẳng Giác. Đây chính là định nghĩa của chữ Như Lai, tức là sự chứng ngộ của Đức Phật.
Từ đêm Như Lai được Chánh Đẳng Giác, đến đêm Như Lai nhập Niết-bàn, trong thời gian ấy, điều gì Như Lai nói, nói lên, tuyên bố, tất cả là như vậy, không có khác được. Do vậy, được gọi là Như Lai.
Tức là từ đêm Đức Phật giác ngộ dưới cội bồ đề, cho đến đêm Ngài nhập diệt dưới hai cây sa la, trong khoảng thời gian giữa hai thời điểm đó, tất cả những gì Đức Phật tuyên bố đều là như vậy, không đổi khác. Vậy, chúng ta còn học điều gì ở ngoài kinh Nikāya này? Chúng ta còn tìm kiếm cái gì ngoài trí tuệ đó? Chỉ cần học những gì Đức Phật nói từ lúc ở thành đạo ở “Bồ Đề Đạo Tràng” cho đến khi nhập diệt ở “sa la song thọ” là đủ chứng Thánh quả, dư sức để giải thoát chứng ngộ, diệt tận tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Chúng ta không cần học gì khác nữa, không cần tìm học của ai nữa.
Chúng ta chiêm nghiệm câu kinh trên để thấy được giá trị của kinh tạng Nikāya. Từng từ, từng câu, từng chữ trong đó là sự chứng ngộ triệt để về chân lý của vũ trụ, của thế giới, không còn gì khác ngoài tạng kinh này. Nếu còn đi tìm điều gì khác ngoài những lời dạy này tức là còn mê, nếu còn đi tìm tức là còn chưa xác quyết tin tưởng về sự chứng ngộ của Đức Phật, nếu còn đi tìm thì người đó được xem như thấy mà không thấy, biết mà không biết, vẫn là kẻ mù.
Như Lai nói gì thì làm vậy, làm gì thì nói vậy. Vì rằng nói gì thì làm vậy, làm gì thì nói vậy, nên được gọi là Như Lai.
Trong toàn thế giới với Thiên giới, Ma giới, Phạm thiên giới, cùng với quần chúng Sa-môn, Bà-la-môn, chư Thiên và loài Người, Như Lai là bậc chiến thắng, không bị ai chiến bại, toàn tri, toàn kiến đại tự tại, do vậy được gọi là Như Lai.
Như Lai là bậc chiến thắng năm dục trưởng dưỡng; chiến thắng căn, trần, thức, xúc, thọ, ái, thủ, hữu; chiến thắng sanh, già, bệnh, chết; chết thắng năm thủ uẩn; chiến thắng hết tất cả những dục, tham, ái, chấp thủ vô minh, si mê, bản ngã. Ngài chiến thắng một cách oanh liệt, không bị ai chiến bại, toàn tri, toàn kiến đại tự tại. Toàn tri là toàn tri về ngũ uẩn; toàn kiến là toàn kiến về ngũ uẩn; đại tự tại là đại tự tại đối với ngũ uẩn, cũng có nghĩa là toàn tri về thế giới, toàn kiến về thế giới và đại tự tại đối với thế giới. Toàn tri là biết một cách hoàn toàn, không còn thiếu sót; toàn kiến là thấy trọn vẹn, không còn cái gì mà không thấy; đại tự tại là hoàn toàn thoải mái, hoàn toàn thong dong ở trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức, không còn bất cứ một sắc, một thọ, một tưởng, một hành, một thức nào dù nhỏ bằng hạt bụi có thể trói cột được Như Lai. Cho nên nói Như Lai toàn tri thế giới, toàn kiến thế giới, đại tự tại đối với thế giới, ngũ uẩn.
Trí tuệ của Đức Phật thật sự vô cùng khủng khiếp, chúng ta học để càng thêm tăng trưởng tín tâm đối với Đức Phật và đối với sự chứng ngộ của Ngài. Một con người xuất hiện trên cuộc đời này bằng da, bằng thịt, có tri thức, có cảm giác, có nghĩ tưởng. Một con người chứng ngộ tận cùng sự thật về thế giới này. Một con người được xem là tối tôn, tối thượng, tối thắng trong tất cả các loài chúng sanh. Đó là bậc Đại Đạo sư, là bậc tối thượng giữa chư Thiên và loài Người, là bậc đã mở ra bí mật, mật mã của thế giới. Đức Phật đã mở ra hệ điều hành tối mật của vũ trụ mà từ vô lượng vô biên kiếp chưa ai khám phá nổi. Ngài là người khám phá ra guồng máy của sanh tử, tìm ra nguyên nhân sống chết, tái tục, tái diễn trong vô lượng vô biên kiếp từ vô thỉ. Ngài là người duy nhất khám phá ra guồng máy của thế giới, của sanh tử, của khổ đau, của sầu, bi, ưu, não. Ngài đã khám phá và tìm ra phương pháp phá tung, phá vỡ guồng máy, không cho ngũ uẩn tái tạo được nữa.
Thật là hạnh phúc vì một bậc tối tôn, tối thượng như vậy là sư phụ của chúng ta! Chúng ta hy sinh cả cuộc đời, bỏ cha, bỏ mẹ, bỏ anh, bỏ em, bỏ hết gia đình, vợ chồng, con cái để đi theo một bậc như vậy thì có xứng đáng không! Chúng ta nhịn sắc, nhịn dục, nhịn những thứ vui sướng của cuộc đời để đi theo học Thánh Pháp tối thượng của một bậc Chánh Biến Tri như vậy thì có xứng đáng không! Tác ý như vậy mới thấy sung sướng để học pháp hoài, nghe pháp hoài tới chết cũng chẳng sao, ngồi thiền dù ngã xuống cũng chẳng sao, hy sinh thân mạng này cũng chẳng là gì. Phải hạnh phúc, sung sướng, hân hoan vì được làm đệ tử của một bậc duy nhất khám phá ra hệ điều hành tối mật của vũ trụ mà từ xưa đến nay chưa từng có ai thấy. Khi chứng ngộ thì những điều Ngài chưa thấy, chưa biết sanh khởi lên, lúc đó nhãn sanh, minh sanh, kiến sanh, quang sanh, bừng lên… khi ấy tất cả những bí mật, mật mã của thế giới được phơi bày, được chứng ngộ, được thấy biết. Đức Phật đã truyền trao lại trí tuệ đó cho chúng ta nhưng nhiều người vẫn muốn tìm những thứ khác, làm như vậy cũng giống như vua đã truyền ngôi báu, trưởng giả đã giao gia tài nhưng không lấy, rồi lại đi ở đợ, làm thuê, làm mướn.
Như vậy, Đức Phật đã khám phá ra hệ điều hành bí mật của vũ trụ, phát hiện ra guồng máy vận hành của toàn thế giới và Ngài phá vỡ guồng máy đó, không cho ngũ uẩn tiếp tục tái tạo, sanh tử nữa, điều đó gọi là đạt đến thế giới của bất tử và hoàn toàn toàn tri, toàn kiến, đại tự tại đối với thế giới, đối với ngũ uẩn, đối với thân tâm, đối với trời đất này. Đó chính là bậc Đạo sư của chúng ta, phải lạy xuống dưới chân Ngài. Mỗi lần lạy Phật phải tác ý như vậy: “Ngài là bậc toàn tri, toàn kiến, đại tự tại đối với năm uẩn, đối với đời sống này”.
Sự vĩ đại của Đức Phật
Do thắng tri thế giới
Đúng như thật như vậy
Ly hệ mọi thế giới
Không chấp thủ thế giới
Thắng tất cả bậc trí
Giải thoát mọi buộc ràng
Cảm thọ tối thắng tịnh
Niết-bàn, không sợ hãi
Vị này đoạn lậu hoặc
Bậc Giác ngộ, Trí giả
Không dao động nhiễu loạn
Nghi ngờ được chặt đứt
Đạt diệt tận mọi nghiệp
Giải thoát diệt sanh y
Là Thế Tôn là Phật
Bậc Sư tử vô thượng
Trong thế giới, Thiên giới
Chuyển bánh xe pháp luân
Như vậy hàng Thiên, Nhân
Đến quy y đức Phật
Gặp nhau đảnh lễ Ngài
Vĩ đại không sanh hữu
Điều phục bậc tối thượng
Trong người được điều phục
An tịnh bậc ẩn sĩ
Những được được an tịnh
Giải thoát bậc tối thượng
Những người được giải thoát
Vượt qua bậc tối thắng
Những người được vượt qua
Như vậy họ lễ Ngài
Vĩ đại, không sanh hữu
Thiên giới, thế giới này
Không ai được bằng Ngài.
(Tăng Chi Bộ Kinh I, 4. Chương Bốn Pháp, III. Phẩm Uruvelà, bài kinh Thế Giới)
Đây là bài kệ tán thán Đức Phật, nghe xong chấn động toàn thân tâm, cảm thọ. Bài kệ này có nghĩa rằng, do sự thấy biết tận cùng về thế giới này đúng như sự thật, cho nên Như Lai rời bỏ hết mọi sự trói buộc của thế gian này. Ngài không nắm giữ bất cứ thứ gì ở cuộc đời này, không có gì trói buộc được Ngài, tại vì Ngài thấu hiểu bản chất biến hoại của thế giới này. “Cái gì chịu sự biến hoại, này Ananda, đây gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh”.
Cái gì chịu sự biến hoại? Sắc chịu sự biến hoại, thân này, đồ vật, cảnh vật tứ đại chịu sự biến hoại. Các cảm giác dễ chịu, khó chịu, không dễ chịu không khó chịu cũng chịu sự biến hoại, đổi thay, tự tánh đổi khác. Những hình bóng hư tưởng, ảo tưởng, vọng tưởng, huyễn ảnh, ảo ảnh trong tâm thức chịu sự biến đổi, biến hoại, tan hoại, tự tánh đổi khác, nắm giữ vào đó là nắm vào khổ. Những suy nghĩ, những lời nói lầm thầm chịu sự biến đổi và tan hoại, tự tánh đổi khác, cho nên, cần phải biết trọn vẹn về đống suy nghĩ hỗn tạp đó. Thức là vô thường, hoại diệt, chịu sự biến đổi và biến hoại, tự tánh đổi khác.
Đức Thế Tôn dùng từ một mớ hỗn độn rối ren như cuộn chỉ, tơ vò, tổ kén để chỉ những hình bóng, cảm thọ, suy nghĩ. Đó là những pháp chịu sự biến hoại, đừng cho chúng là thật, chỉ là ảo ảnh, hư tưởng, huyễn ảnh… phải tỉnh thức và chánh niệm để thoát ra khỏi chúng. Dùng chày kim cang để đập tan, dùng Thánh trí huệ để tác ý đánh phá, dùng những suy nghĩ mạnh mẽ của tuệ lực để thoát ra khỏi tất cả những thứ vô thường này. Chính vì vậy, Thế Tôn rời xa hết mọi sự trói buộc ở trong năm uẩn, thế giới, đời sống này.
“Thắng tất cả bậc trí – Giải thoát mọi buộc ràng”, tức là Ngài vượt qua hết tất cả những bậc có trí tuệ trên cuộc đời này. Những bậc trí huệ trên thế gian không ai bằng Ngài, “thắng” tức là Ngài vượt lên trên tất cả.
“Cảm thọ tối thắng tịnh” nghĩa là dứt hết tất cả những cảm thọ của tham, sân, si, vô minh, bản ngã. Cảm thọ dục sanh khởi thì khổ, cảm thọ sân sanh khởi thì khó chịu, cảm thọ bản ngã trỗi dậy thì bứt rứt, cảm thọ hôn trầm, vô minh xâm chiếm thì khổ sở – khi những cảm thọ này dứt hết, không còn nữa thì được gọi là cảm thọ tối thắng tịnh. Cảm thọ trong sạch, tối thắng, an tịnh, tối thượng như vậy thì không còn cái hơn nữa.
“Niết-bàn, không sợ hãi” nghĩa là dập tắt hết mọi cảm thọ tham, sân, si, bản ngã, vô minh thì tâm không còn sợ hãi được bất cứ điều gì trên cuộc đời nữa, gọi là vô sở úy.
“Vị này đoạn lậu hoặc – Bậc Giác ngộ, Trí giả”, vị này dứt hết tất cả mọi mê lầm, lậu hoặc, là bậc giác ngộ, bậc trí. Dù cho gặp bất điều gì thì tâm cũng “Không dao động nhiễu loạn”, đạt đại định. Không những chỉ định trong lúc ngồi thiền, mà khi đi, đứng, ngồi, nằm, khi gặp bất cứ chuyện gì cũng không bị dao động, không bị nhiễu loạn.
“Nghi ngờ được chặt đứt – Đạt diệt tận mọi nghiệp”, tất cả mọi nghiệp đều bị diệt tận, vì thế “Giải thoát diệt sanh y”, tức là chấm dứt hoàn toàn chỗ dựa tái sanh ở đời sau, không còn những yếu tố để kéo lôi đi trong vòng sanh tử. Tức là không còn bất cứ một thọ, tưởng, hành, dục, tham, ái, chấp thủ, bản ngã nào có thể lôi kéo mình được nữa. Người như vậy được gọi là bậc tôn quý trên đời, bậc Thế Tôn, bậc giác ngộ.
“Là Thế Tôn là Phật – Bậc Sư tử vô thượng – Trong thế giới, Thiên giới”. Những kinh sách sau này có dùng từ “nhân trung sư tử” để chỉ Đức Phật, nghĩa là sư tử trong loài người. Sư tử ở đây không phải là con sư tử, mà sư tử thể hiện sự oai hùng, là vua của muôn thú, tiếng gầm của sư tử vang lên là những con khác run sợ, chạy trốn. Vì có uy lực như vậy cho nên lấy hình ảnh sư tử làm ví dụ cho pháp âm của Thế Tôn như tiếng gầm sư tử. Trong Chứng Đạo Ca, Ngài Huyền Giác thiền sư có nói:
Sư tử hống, vô úy thuyết
Bách thú văn chi giai não liệt
Hương tượng bôn ba thất khước uy
Thiên long tịch thính sanh hân duyệt.
Nghĩa là muôn thú khi nghe tiếng sư tử gầm lên đều vỡ óc, nghĩa là run sợ, tìm đường trốn chạy. Con voi chúa “hương tượng” khi nghe tiếng gầm của sư tử cũng quýnh quáng, bôn ba chạy mất. Bình thường con voi to lớn, đi từ từ, chậm chậm, uy thế rất lớn nhưng khi nghe tiếng sư tử gầm lên thì bỏ chạy nên nó bị “khước uy”, tức là mất hết uy thế, uy nghi. “Thiên long tịch thính” tức là thần rồng lặng yên lắng nghe và sanh hoan hỷ mỗi khi Đức Phật thuyết pháp. Có nhiều loài rồng biến thành Tỳ-kheo để được tu học theo giáo pháp của Phật, đến hôm vị thần rồng này trực Tăng phòng cho các thầy khác đi khất thực thì vị này ngủ quên. Khi các thầy Tỳ-kheo về thì hoảng hồn, kinh hãi vì trong nhà là một con rồng to lớn nằm kín phòng, lúc ngủ hiện nguyên hình nằm chật kín cả tịnh xá. Các thầy hỏi sao dám vào giả làm Tỳ-kheo thì vị đó trả lời muốn vào học pháp của Thế Tôn.
Cho nên, lời Đức Phật như sư tử rống, nói lên những lời oai hùng, không sợ hãi. Lúc bấy giờ có rất nhiều tà kiến, ngoại đạo, Đức Phật tuyên bố Chánh Pháp khác hẳn mọi người nhưng Ngài không sợ ai cả. Cho nên gọi là “Sư tử hống, vô úy thuyết”, nghĩa là tiếng gầm của sư tử, không sợ bất cứ thế lực nào. Ngai vàng còn dám bỏ, cha mẹ, vợ đẹp, con thơ vẫn bỏ thì còn sợ điều gì nữa. Vì vậy, Phật gầm lên tiếng gầm của sư tử, không sợ bất cứ điều gì, gọi là vô úy thuyết, nghĩa là sự thuyết pháp của Đức Phật không sợ hãi bất cứ gì.
Trong Tương Ưng Kosala, bài kinh “Tuổi trẻ”, khi được vua Ba Tư Nặc hỏi: “Tôn giả Gotama có tự cho mình đã chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác không?” thì Ngài đã tuyên bố mình là bậc giác ngộ tối tôn, tối thượng: “Thưa Đại vương, nếu có ai có thể nói một cách chơn chánh là mình đã chứng Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, thời người ấy phải chính là Ta. Thưa Đại vương, Ta đã chứng Vô thượng Chánh đẳng Chánh giác”. Vua Ba Tư Nặc thắc mắc rằng giáo tổ của giáo phái, tuổi già, lụm khụm khi Ngài hỏi vậy còn chưa dám tuyên bố thành tựu Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, nhưng tại sao Phật còn trẻ, tu hành chưa bao nhiêu mà dám tuyên bố như vậy. Đức Phật mới nói rằng, vua không nên xem thường bốn loại trẻ tuổi, đó là: hoàng tử nhỏ, con rắn nhỏ, đốm lửa nhỏ và vị tu hành còn nhỏ, sau khi nói xong, Phật thuyết pháp. Cho nên, từ khi Phật thành đạo dưới cội cây cho đến khi nhập diệt dưới sa la song thọ thì những gì Ngài tuyên bố không thể khác đi, đó là tiếng gầm của sư tử.
“Chuyển bánh xe pháp luân – Như vậy hàng Thiên, Nhân – Đến quy y đức Phật – Gặp nhau đảnh lễ Ngài – Vĩ đại không sanh hữu”. Nghĩa là khi Ngài thuyết pháp như vậy thì những tà ma, ngoại đạo, những người tu theo học thuyết sai lầm đều khiếp sợ và bỏ đạo đi theo Đức Phật. Do vậy, những ngoại tạo sân tức, phá hoại, làm đủ chuyện để phá Đức Thế Tôn, thậm chí, họ phái đệ tử giả dạng xuất gia để học và trộm giáo pháp đem về giảng bên họ. Mỗi khi Đức Phật chuyển bánh xe pháp luân thì hàng thiên, nhân đến quy y dưới Đức Phật, đảnh lễ Phật, đem đỉnh đầu cao nhất lạy dưới chân thấp nhất của Phật. Cho nên mới nói, trời rồng lặng nghe Đức Phật thuyết pháp và lòng hoan hỷ. Những con vật tu hành lâu năm, nhiều trăm năm, nhiều vạn năm thì được thăng thành thần, tiên nếu tu thiện, còn nếu tu ác thì trở thành yêu quái, yêu ma. Đó gọi là thiên giới, ma giới mà chúng ta thường nghe. Mà những vị đã trở thành thần, tiên thì sẽ nhận thức được ở đâu là Chánh Pháp và đi đến đó học.
“Vĩ đại không sanh hữu”, sự vĩ đại của Đức Phật là không sanh hữu, vì sao? Chữ “hữu” này là tam hữu, gồm sự hiện hữu trong dục (dục hữu), sắc hữu và vô sắc hữu. Không sanh hữu là không còn ở trong ba cõi trên: cõi dục, cõi sắc và cõi vô sắc. Vĩ đại là ở chỗ vượt ra khỏi ba cõi đó. Chúng ta đừng hiểu “không sanh” là đoạn diệt ngũ uẩn, không còn gì hết mà phải hiểu đúng “không sanh” là không còn bị ngũ uẩn trói trăn, ràng buộc, thành tựu tâm giải thoát, tuệ giải thoát, tâm bất động giải thoát. Nói cách khác là không còn bị sắc, thọ, tưởng, hành, thức điều khiển, xâm chiếm, áp đảo, đày đọa, hành hạ, trói buộc, chấp thủ bên trong nữa. Cho nên, đừng hiểu đoạn diệt là tu xong rồi là không còn gì hết, mà đoạn diệt là diệt hết tất cả những động cơ, dữ kiện, yếu tố lôi kéo làm mình bị trói cột trong năm uẩn.
Vậy, tâm giải thoát, tuệ giải thoát là như thế nào? Khi tham ái hết thì tâm được giải thoát ra, khi tham ái còn thì tâm bị trói cột trong tham ái nên cứ quanh quẩn trong đó. Ví dụ như truyện Aladin và cây đèn thần, ông thần bị nhốt trong chai sành 500 năm, người đi chài lưới chài trúng chai sành và mở ra coi, sau đó vị thần bay, thoát khỏi cái chai đó. Cũng vậy, tham ái của chúng ta bị nhốt trong ngũ uẩn không đi ra được, lúc phá tham ái thì thoát ra khỏi ngũ uẩn, đó gọi là tâm giải thoát. Tuệ giải thoát là khi phá hết vô minh thì trí tuệ không bị che mờ nữa, còn lúc trước bóng tối của vô minh che lấp nên trí tuệ không được chiếu sáng, giống như mây đen che mặt trăng. Thành ra, trí tuệ của chúng ta bị vô minh che kín, khi phá hết vô minh, mây đen bị thổi bay không còn một điểm đen nào nữa, gọi là “thuần thanh tuyệt điểm” thì lúc đó mặt trăng tròn sáng, đại viên mãn, đó là tuệ giải thoát. Trí tuệ thoát ra khỏi màn đêm, thoát ra đám mây đen thì được đại viên mãn trong sáng, như vậy, tâm giải thoát, tuệ giải thoát khi vô minh và tham ái diệt. Cho nên, phải nhớ kỹ, đoạn diệt không phải là tu cho đến mức còn không gì hết. Khi nghe “đoạn diệt, thắng trí, an tịnh, giác ngộ, Niết-bàn, nhàm chán, ly tham” đừng nghĩ rằng đoạn diệt là không còn gì nữa, phải hiểu kỹ từ này.
“Điều phục bậc tối thượng – Trong người được điều phục”, câu này giải thích cho danh xưng “điều ngự trượng phu” của Đức Phật, tức là điều phục bậc tối thượng trong những người được điều phục.
“An tịnh bậc ẩn sĩ – Những người được an tịnh” tức là những người ẩn sĩ tuy ở ẩn nhưng không được an tịnh trọn vẹn, sau đó họ được Đức Phật dạy cho Chánh Pháp và đạt được an tịnh thật sự. Thử nghĩ, nếu ở ẩn mà không nhận diện được ngũ uẩn thì không thể phá được tham, sân, si, bản ngã, vì không thấy ngũ uẩn, không thấy lậu hoặc thì làm sao nhiếp phục, đoạn tận. Cho nên, dù ẩn tu cỡ nào thì cao nhất cũng chỉ có thể thành tiên, chứ không thể giác ngộ, giỏi lắm thì đến mức ly dục, ly tham chứ không đến mức Chánh Đẳng Giác được. Mà ly dục, ly tham ở đây là đối với những cái thô trong sắc, thanh, hương, vị, xúc bên ngoài, còn thọ, tưởng, hành, thức bên trong không nhìn thấy được thì không xa lìa được những thứ đó. Chỉ có Thánh trí năm uẩn mới có khả năng ly tham tuyệt đối. Thành ra mới nói “Phàm là pháp vô vi hay hữu vi thì pháp ly tham là tối thượng trong tất cả các pháp”, ly tham ở đây là ly tham đối với ngũ uẩn, còn ở ngoài đời nói không tham là chỉ không tham đối với những cái thô bên ngoài đối với sắc pháp, sắc uẩn.
“Giải thoát bậc tối thượng – Những người được giải thoát”, nghĩa là trong tất cả những người được giải thoát thì Đức Phật là người giải thoát tối thượng. “Vượt qua bậc tối thắng – Những người được vượt qua”, nói chung trong bất kỳ khía cạnh nào thì Đức Phật cũng là người đứng đầu.
“Như vậy họ lễ Ngài – Vĩ đại, không sanh hữu – Thiên giới, thế giới này – Không ai được bằng Ngài”. Đức Phật là bậc giải mã thế giới, thế giới này được Thế Tôn chứng ngộ.
Bài kinh “Thế Giới Dục Công Đức”
Thế giới trong giới luật của bậc Thánh
Tiếp theo, chúng ta sẽ tìm hiểu một bài kinh rất hay, bài kinh“Thế Giới Dục Công Đức”, Tương Ưng Bộ Kinh:
-- Này các Tỷ-kheo, Ta tuyên bố rằng sự tận cùng thế giới không thể biết, không thể thấy, không thể đạt được bằng cách đi đến tận cùng thế giới. Ta cũng không tuyên bố rằng, này các Tỷ-kheo, sự chấm dứt đau khổ có thể làm được bằng cách đạt đến sự tận cùng thế giới.
Đức Thế Tôn nói hai câu đó xong thì đứng dậy đi vào tịnh xá.
Đầu tiên, Đức Phật tuyên bố rằng: không thể biết, không thể thấy, không thế biết được sự tận cùng của thế giới bằng cách đi hết thế giới này. Nhiều người nghĩ rằng, sau khi đi du lịch khắp thế giới: Châu Á, Châu Mỹ, Châu Phi, Châu Úc và tìm hiểu được những phong tục, tập quán, con người, tính tình, tri thức, thói quen ở mọi nơi thì nghĩ rằng mình đã thấy, đã biết, đã đạt được tất cả… thế nhưng Đức Phật nói không phải cứ chạy ra ngoài để thấy, để nghe, để biết như vậy là đạt tận cùng thế giới, điều đó là không thể.
Thứ hai, Đức Phật không tuyên bố sự chấm dứt đau khổ có thể làm được bằng cách đạt đến tận cùng thế giới. Nghĩa là không phải đi hết mọi nơi, biết hết mọi chuyện ở trên đời là hết đau khổ, Đức Phật không tuyên bố như vậy. Vậy, thế nào mới gọi là tận cùng thế giới? Có nhiều người đi khắp thế giới này nhưng không hết khổ, tham vẫn y nguyên, còn nhiều ham muốn, không biết chán. Cho nên, không thể giải quyết vấn đề đau khổ bằng cách chạy đi nhìn, chạy đi tìm hiểu bên ngoài như vậy.
Thế Tôn nói xong hai câu đó thì đi vào tịnh xá, các vị Tỳ-kheo ở đó khởi lên tư tưởng rằng Thế Tôn nói quá vắn tắt, Ngài không phân tích, diễn giải ý nghĩa một cách rộng rãi câu nói đó.
Rồi các Tỷ-kheo ấy lại suy nghĩ như sau: " Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các bậc đồng Phạm hạnh có trí kính trọng, Tôn giả Ananda có thể phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi lời Thế Tôn tuyên bố vắn tắt này. Chúng ta hãy đi đến Tôn giả Ananda; sau khi đến, hãy hỏi Tôn giả Ananda về ý nghĩa này ".
Vì vậy, các vị Tỳ-kheo đến chỗ của Ngài Anan, sau khi nói những lời chào đón hỏi thăm thân hữu thì các thầy Tỳ-kheo ngồi xuống một bên. Sau đó, các thầy nhắc lại câu chuyện Thế Tôn nói vắn tắt như vậy và các thầy nghĩ rằng Tôn giả Anan có thể phân tích, giải thích cho các thầy nghe.
-- Này chư Hiền, ví như một người cần thiết lõi cây, tìm cầu lõi cây, đang đi tìm cầu lõi cây, đứng trước một cây lớn có lõi cây. Người ấy bỏ rễ, bỏ thân cây, nghĩ rằng lõi cây cần phải tìm trong các nhánh cây, lá cây. Cũng vậy, là việc chư Tôn giả làm... Chư Tôn giả đứng trước mặt Thế Tôn, chư Tôn giả lại vượt qua Thế Tôn và nghĩ rằng cần phải hỏi tôi về ý nghĩa này.
Tức là Thế Tôn là đại cổ thụ, trước mặt Thế Tôn tại sao các thầy không hỏi mà lại đến hỏi Ngài Anan. Ngài Anan nói mình chỉ là cành, lá, tại sao lại chỗ Ngài đến tìm lõi cây.
Nhưng này chư Hiền, Thế Tôn biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, bậc có mắt, bậc có trí, bậc Pháp giả, bậc Phạm thiên, bậc Thuyết giả, bậc tuyên thuyết, bậc dẫn đến mục đích, bậc đem cho bất tử, bậc Pháp chủ, bậc Như Lai. Nay đã đến thời, chư Hiền hãy đến hỏi Thế Tôn về ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích cho chư Hiền như thế nào, hãy như vậy thọ trì.
Những câu của Ngài Anan nói là những lời xưng tán Đức Phật: “Thế Tôn biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, bậc có mắt, bậc có trí, bậc Pháp giả, bậc Phạm thiên, bậc Thuyết giả, bậc tuyên thuyết, bậc dẫn đến mục đích, bậc đem cho bất tử, bậc Pháp chủ, bậc Như Lai”. Đây là những lời Thánh khen Thánh, đệ tử khen thầy, là những lời vi diệu, chân chánh. Ngài Anan nói rằng các thầy Tỳ-kheo đi tìm lõi cây, đứng trước đại cổ thụ mà lại bỏ qua, ở trước mặt Thế Tôn mà không chịu hỏi, rồi nghĩ rằng lõi cây nằm trong lá nhỏ, cành nhỏ hay sao mà đến hỏi Ngài Anan. Tôn giả Anan nói các thầy Tỳ-kheo hãy đến chỗ Thế Tôn và hỏi Ngài, Thế Tôn giải thích như thế nào thì các vị tiếp nhận, nghe theo, ghi nhận, thọ trì và thực hành như vậy. Đó là cách ứng xử của các bậc Thánh hiền, khen ngợi, cung kính, xưng tán nhau.
Các thầy Tỳ-kheo mới nói chắc chắn Thế Tôn biết những gì cần biết. “Nhưng Tôn giả Ananda được Thế Tôn tán thán, được các vị đồng Phạm hạnh có trí kính trọng. Tôn giả Ananda có thể giải thích một cách rộng rãi lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn chưa được phân tích rộng rãi. Mong Tôn giả Ananda phân tích cho, nếu Tôn giả không cảm thấy phiền phức”.
Này chư Hiền, lời tuyên bố vắn tắt này của Thế Tôn không được phân tích ý nghĩa một cách rộng rãi, tôi hiểu một cách rộng rãi như sau: Này chư Hiền, do cái gì trong thế giới, người ta tưởng đến thế giới, người ta kiêu mạn về thế giới, đây gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh.
Và này chư Hiền, do cái gì trong thế giới, người ta tưởng đến thế giới, người ta kiêu mạn về thế giới?
Do con mắt, này chư Hiền, trong thế giới, người ta tưởng đến thế giới, người ta kiêu mạn về thế giới. Do tai, này chư Hiền... Do mũi, này chư Hiền... Do lưỡi, này chư Hiền... Do thân, này chư Hiền... Do ý, này chư Hiền, trong thế giới, người ta tưởng đến thế giới, người ta kiêu mạn về thế giới. Ðây gọi là thế giới trong giới luật của bậc Thánh.
Học kinh Nikāya nếu không có sự trầm tĩnh, bình tĩnh, kiên nhẫn, sâu sắc thì sẽ không hiểu nổi, đọc sẽ bị rối. Như vậy, do mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý (sáu căn) mà người ta tưởng đến thế giới, kiêu mạn về thế giới. Khi tưởng về sáu căn của chính mình thì người ta kiêu mạn, thấy mặt của tôi đẹp, mắt mũi của tôi đẹp, thân hình của tôi đẹp… cho nên có tưởng, có kiêu mạn về sáu căn, về tứ đại, về ngũ uẩn. Tưởng là tưởng uẩn, còn kiêu mạn là hành uẩn có liên hệ đến sắc uẩn, có những lời nói chuyện thầm bên trong nên có kiêu mạn. “Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, mà tác ý là từ chỗ hành uẩn. Cho nên tất cả đều nằm trong ngũ uẩn, không nằm ngoài ngũ uẩn. Mắt, tai, mũi, lưỡi thân là sắc uẩn; ý là thức uẩn; tưởng là tưởng uẩn; sự vênh váo, kiêu mạn, ta đây, hơn người, bản ngã là hành uẩn. Vì thế, ngũ uẩn là thế giới trong pháp và luật của bậc Thánh. Tùy hoàn cảnh, tùy trường hợp, tùy góc độ phân tích nên cách diễn đạt khác nhau, nhưng tất cả đều nằm trong ngũ uẩn.
Chúng ta đưa chữ “thế giới” ra và thay thế chữ “thân” vào thì nghĩa sẽ sáng hơn, cụ thể: “Do cái gì trong thế thân, người ta tưởng đến thân, người ta kiêu mạn về thân?”. Sắc thân là một phần của ngũ uẩn, bên trong sắc thân là tâm, chúng ta dùng từ thân ở đây là chỉ cho cả thân và tâm. Ngũ uẩn là thân, là tâm, là thế giới, nếu đặt rộng ra ngoài thì ngũ uẩn là thế giới, còn đặt gọn vào trong thì ngũ uẩn là thân tâm. Nếu không có tâm thì không thành thế giới, không có thọ, tưởng, hành, thức thì trái đất này không có người sống, người ta không nhận thức, không biết đó là thế giới. Con người mới có thọ, tưởng, hành, thức, tức là phần tinh thần và khi có cả tinh thần và vật chất thì mới thành thế giới.
Qua câu “do cái gì mà người ta tưởng, người ta kiêu mạn về thân” chúng ta hiểu được, sở dĩ có thế giới là do có tưởng và kiêu mạn, nếu phá được tưởng về thân, phá được kiêu mạn về bản ngã thì thế giới đoạn diệt, ngũ uẩn chấm dứt. Chúng ta chú ý, mắt, tai, mũi, lưỡi thân là thuộc sắc uẩn; ý thuộc thức uẩn; tưởng thuộc tưởng uẩn; kiêu mạn thuộc hành uẩn và trong sự kiêu mạn có cảm thọ bên trong, đó là thọ uẩn… những thứ này chính là thế giới. Ngũ uẩn bao trùm tất cả nhưng khi nói về khía cạnh nào thì các Ngài khai thác và nói ở góc độ thôi. Ở bài kinh này các Ngài nhấn mạnh vào tưởng và kiêu mạn. Vì vậy, chúng ta phải hiểu nói đến tưởng thì thọ và hành cũng đi chung; còn những ý nghĩ về ta tôi, kiêu căng, ngạo mạn, hơn người là thuộc về ý hành.
Đó chính là thế giới trong pháp và luật của bậc Thánh, mà thế giới ngoài đời cũng giống như vậy, cũng nằm trong ngũ uẩn. Tính chất của tất cả những thứ này đều là vô thường, biến hoại. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý là vô thường, biến hoại. Biến hoại là tính chất của thế giới, là tính chất của ngũ uẩn, là tính chất của thân tâm này. Thế giới này là trống rỗng, do căn, trần, thức giao thoa nên có xúc, thọ, ái, thủ, hữu… tất cả những pháp này đều vô thường, tan hoại, biến đổi, vô ngã, trống rỗng. Cho nên căn là trống không, trần là trống không, thức là trống không, xúc, thọ, ái, thủ cũng là trống không. Tất cả đều quy nạp về tính chất biến hoại, trống không. Chúng ta cứ tác ý, quán chiếu như vậy mỗi khi sanh khởi những phiền não thì có thể giải phá, giải tỏa, giải phóng, giải thoát đối với nó. Đó gọi là thoát ly, xuất ly khỏi thế giới, cũng là xuất ly khỏi ngũ uẩn, cũng là xuất ly khỏi tham, sân, si, vô minh, bản ngã, cũng là sự đoạn diêt, đoạn tận tham, sân, si đối với ngũ uẩn, cũng có nghĩa là đoạn diệt thế giới, đoạn diệt nguyên nhân tiếp tục tạo ra, tập khởi thế giới.
Như vậy, hiểu về thế giới là trí thứ nhất; hiểu về thế giới sanh là trí thứ hai; hiểu về thế giới diệt là trí thứ ba; hiểu về thế giới diệt đạo, con đường đưa đến chấm dứt thế giới là trí thứ tư. Đó là Bốn Thánh trí về thế giới, Bốn Thánh trí về ngũ uẩn, Bốn Thánh trí về thân tâm, là mật mã của thế giới.
Pháp vị giữa bậc Đạo sư và Thánh đệ tử
Sau khi phân tích hai câu của Thế Tôn xong, Ngài Anan nói với các thầy Tỳ-kheo rằng:
--Tôi hiểu ý nghĩa một cách rộng rãi như vậy. Nhưng nếu muốn, chư Tôn giả hãy đi đến Thế Tôn và hỏi ý nghĩa này. Thế Tôn giải thích như thế nào, hãy như vậy thọ trì”.
Lúc đầu khi được các thầy hỏi thì Ngài Anan rất khiêm cung, nói mình là cành lá, muốn tìm lõi cây thì gặp Đức Thế Tôn vì Đức Thế Tôn mới là đại cổ thủ, nhưng do các thầy Tỳ-kheo năn nỉ nên Ngài Anan mới giải thích. Sau khi giải thích xong thì Ngài Anan dặn các thầy Tỳ-kheo đến gặp và hỏi Đức Thế Tôn, Thế Tôn dạy thế nào thì nghe theo, ghi nhận và thọ trì tu học như thế đó. Đây là điểm rất tuyệt vời, vì trước khi nói, sau khi nói thì Ngài Anan đều quy nạp về Đức Phật, không vượt qua bậc Đạo sư.
-- Thưa vâng, Hiền giả.
Các Tôn giả ấy vâng đáp Tôn giả Ananda, từ chỗ ngồi đứng dậy, đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.
Sau đó các thầy Tỳ-kheo đến chỗ Đức Thế Tôn, thuật lại lời Ngài Anan đã giải thích cho Ngài nghe. Khi nghe xong, Thế Tôn nói:
-- Hiền trí, này các Tỷ-kheo, là Ananda. Ðại tuệ, này các Tỷ-kheo, là Ananda! Này các Tỷ-kheo, nếu các Ông có hỏi Ta về ý nghĩa này, Ta cũng trả lời như vậy, như Ananda đã trả lời. Ðây là ý nghĩa của lời nói ấy. Hãy thọ trì như vậy. (Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (c) Phần III. Năm Mươi Kinh Thứ Ba, II. Phẩm Thế Giới Dục Công Ðức, bài kinh Thế Giới Dục Công Ðức)
Đức Thế Tôn khen ngợi Ananda là bậc hiền thiện, trí sáng, là bậc có trí tuệ lớn. Đức Phật nói nếu các thầy Tỳ-kheo hỏi thì Ngài cũng sẽ trả lời như Ngài Ananda đã nói, các thầy Tỳ-kheo hãy ghi nhận và thực hành như vậy.
Qua những lời Thánh ngôn của Đức Phật và Ananda, chúng ta thấy được hình ảnh thầy trò hợp xướng, cùng nhau hòa tấu khúc nhạc bất tử vô sanh, đầy đạo tình, đạo vị, pháp vị. Nếu là một người thầy bình thường, không phải là một người chứng ngộ; nếu là một người học trò không có sự cung kính thật sự đối với thầy của mình thì có được như vậy không? Ngài Ananda trước và sau khi nói đều mời các thầy Tỳ-kheo đến tìm hỏi Đức Thế Tôn và nghe theo lời Ngài, còn Đức Thế Tôn sau khi nghe các thầy Tỳ-kheo thuật lại lời của Ananda thì xưng tán Ananda là bậc hiền trí, đại tuệ, nói rằng nếu Ngài giải thích thì cũng giống như vậy và dạy các thầy Tỳ-kheo thọ trì như lời Ananda.
Đó chính là bản hòa tấu của Đức Thế Tôn và Tôn giả Ananda, là khúc nhạc bất tử của bậc Đạo sư và đệ tử, là hương vị Chánh Pháp của sư đồ bậc Thánh vào 2.600 năm trước. Bây giờ đọc lại, cảm thọ trong chúng ta thấm đượm tình thầy trò giữa sư phụ và thị giả, pháp hợp pháp, tâm ấn tâm, nghĩa đồng nghĩa là ở chỗ này. Sự tương ái, tương kính, cung kính của học trò đối với thầy và tình thương của thầy đối với trò rất tuyệt vời, ngọt ngào và vi diệu. Pháp vị, đạo tình, đạo vị là như thế, chứ không chỉ là tình cảm thông thường như cho ăn ngon, mặc đẹp, lo lắng những thứ thường tình. Đương nhiên những thứ thông thường cũng có nhưng chỗ thâm sâu của pháp là giúp cho người đệ tử của mình thành tựu trí tuệ. Những lời Ngài Anan xưng tán Đức Như Lai và những lời khen ngợi của Đức Như Lai dành cho Anan là tình cảm giữa thầy và trò, tâm ấn tâm, tương thông, dung thông với nhau về pháp nghĩa.
Chúng ta phải cảm thấy thật hạnh phúc vì giống như được tham dự buổi hòa tấu giữa bậc Đại Đạo sư và Thánh giả Anan, hai thầy và trò cùng nhau hòa tấu về mật mã của thế giới. Như vậy, guồng máy của sanh tử, hệ điều hành tối mật của vũ trụ đã được Thế Tôn mở ra và trình bày một cách sáng tỏ, rõ ràng, tận tường, thấu đáo, triệt để, đầy đủ, viên mãn, rành rành trước mắt. Hãy cảm nhận, ngâm mình vào trong pháp vị này để thấm đượm, thấm nhuần, tẩm ướp, tưới tẩm, tắm gội trong Thánh Pháp tối thượng vi diệu này. Hãy uống dòng sữa này, hấp thu dưỡng chất thiêng liêng, thần vị, pháp vị, thánh vị, trí tuệ vị, giải thoát vị này. Còn gì tuyệt vời hơn trí tuệ về thế giới, đời sống, thân tâm, ngũ uẩn này. Hãy cảm nhận, cảm thọ, cảm xúc, cảm giác, cảm ngộ để lòng ngực tràn ngập cảm thọ sung mãn này.
Cuối cùng, hãy cảm nhận thật sâu sắc hương vị của bất tử qua lời xưng tán của Tôn giả Ananda dành cho Đức Thế Tôn và lời ngợi khen của Đức Thế Tôn dành cho Ngài Ananda:
--Thế Tôn biết những gì cần biết, thấy những gì cần thấy, bậc có mắt, bậc có trí, bậc Pháp giả, bậc Phạm thiên, bậc Thuyết giả, bậc tuyên thuyết, bậc dẫn đến mục đích, bậc đem cho bất tử, bậc Pháp chủ, bậc Như Lai.
-- Hiền trí, này các Tỷ-kheo, là Ananda. Ðại tuệ, này các Tỷ-kheo, là Ananda! Này các Tỷ-kheo, nếu các Ông có hỏi Ta về ý nghĩa này, Ta cũng trả lời như vậy, như Ananda đã trả lời. Ðây là ý nghĩa của lời nói ấy. Hãy thọ trì như vậy.
./.