TÁC Ý LÀ CHỔI QUÉT NỘI TÂM
TÁC Ý LÀ CHỔI QUÉT NỘI TÂM
-Thích Minh Thành-
Con xin thưa đại chúng, người xuất gia chúng ta rất gian nan, sự tu của chúng ta đã là việc phi thường, làm việc ngược đời, trái hẳn với thế gian. Dùng từ “ngược đời” theo dân gian là rất chính xác. Chúng ta đang ở trong một trận chiến gian khổ, và trận chiến này không phải đánh 1 ngày 1 bữa, 1 tuần, 1 tháng, không phải 1 năm hay 3 năm, mà trận chiến của chúng ta là suốt đời. Nếu nhìn xa hơn, một đời này, mình tu là xong. Cho nên, chiến đấu nhiều kiếp, mỗi người tu là một người chiến sĩ, một dũng sĩ, phải có tinh thần võ sĩ đạo.
Bản thân của con đã ở trong chùa 30 năm, từng thấy, từng nghe rất nhiều những việc trong chùa, chứng kiến rất nhiều những huynh đệ, những hàng tiền bối của mình trong sự tu. Không phải đời tu của ai cũng suôn sẻ hết, tất cả chúng ta đều phải trải qua sóng gió, chướng ngại, vấp ngã; không phải người tu nào cũng yên yên lặng lặng, nhẹ nhẹ nhàng nhàng lên tới sư ông. Không phải! Cần biết rằng, đời tu của mình phải nhìn xa trông rộng, tầm nhìn của mình phải xa, đi ra trận không phải lúc nào cũng đánh thắng. Người đi đánh giặc, có phải lúc nào ra trận cũng đánh thắng hết không, hay cũng có lúc thua? Như vậy, thắng bại là chuyện thường tình của nhà binh, vấp ngã là chuyện bình thường của một đứa trẻ tập đi. Khi mình tập chạy xe honda, có phải mình lên chạy, là chạy được không? Có lúc cũng phải té trầy trụa, đầu gối chảy máu, v.v.. thì sau đó mình mới biết chạy. Khi đã biết chạy, cũng không biết chắc chắn rằng mình sẽ không còn té nữa không. Có khi cũng bị té. Một người tập chạy xe honda bị té, họ nói “tôi không tập nữa”, vậy người đó có biết chạy xe không? Họ nói “tập mà té thì tôi không tập, không té mới tập nữa”; hay người ra trận đánh giặc, họ nói “thắng tôi mới đánh, bại thì tôi không đánh”, vậy người này có thành dũng sĩ, kiện tướng được không? Người muốn thành dũng sĩ, kiện tướng, muốn lái xe giỏi thì phải làm sao? Thua, nhưng hãy đợi đấy, người đó tiếp tục về luyện binh, đánh lần sau phải thắng. Nếu đánh lần sau thua nữa thì về luyện binh tiếp, cho đến khi nào thuần thục trong quân trận, trong kỹ thuật, chiến thuật.., để lần sau nữa sẽ thắng, người đó sau này sẽ trở thành dũng tướng, kiện tướng, đại tướng.
Điều quan trọng trong ngũ căn, ngũ lực của mình, chữ gì đầu tiên, pháp nào đầu tiên? Tín lực. Không có tín lực thì không thể tấn lực được. Tín không có thì không có nền, không có rễ. Tín thì mới tấn. Cho nên, niềm tin ở chính mình mới là quan trọng. Khi đã tin pháp, tin Tam bảo, thì mình phải tin mình. Có nhiều người quán bất tịnh, “thầy ơi con ngồi quán, con thấy con tịnh rồi, nên con không quán nữa”, vậy người này có chứng đạt được trí bất tịnh, có thành tựu được pháp quán không? Phải kiên trì, tập tới, tập lui, tập đến khi nào được mới thôi. Ngoài đời gọi là gan lỳ, trong đạo gọi là ý chí, lập chí, tín lực, niềm tin mạnh mẽ, có gốc rễ, sau đó nó có sức mạnh, biến tín căn thành tín lực. Mình phải làm được, chắc chắn phải làm được. "Thua keo này mình bày keo khác", té ngay chỗ đó thì phải đứng lên ngay chỗ đó. Đánh trận, vừa ra trận, bị đánh gục ngã, chẳng lẽ mình nằm đó mãi, không đứng lên? Nếu vậy thì mình chết. Phải đứng dậy đánh tiếp. Nếu đánh không nổi, biết thế giặc mạnh quá thì mình lùi về rèn luyện, chứ không phải đánh thua thì nằm luôn đó. Nếu vậy, tức là người đó không có tín. Nhưng có khi, không phải cứ đi tới, đi tới mới gọi là tấn, có khi lùi lại cũng là tiến. Cũng như, có một sư cô trong chúng, đang học đại học Phật giáo năm thứ 3 ở Đài Loan, nhưng khi đi vào được dòng pháp này thì quyết định nghỉ, bỏ. Học ở trong nước đã khó, đi qua nước ngoài, học tới đó đâu phải dễ, rất khó và nhiều thủ tục. Nếu nhìn bằng con mắt thông thường bên ngoài thì giống như lùi, bỏ giữa chừng, đang đi học lại bỏ dở..; nhưng ở đây, lùi về lại là tiến, tiến trong Thánh pháp, tiến trong Thánh đạo, tiến tới Thánh quả, Thánh trí. Vì thế, nhìn ở hình thức là không đúng, phải thâm sâu bên trong.
Bản thân Minh Thành ở trong chùa lâu, xin chia sẻ kinh nghiệm cho các thầy, các cô trẻ mới tập tu, mới xuất gia hay xuất gia vài năm. Đời tu của mình đâu phải lúc nào cũng thuận lợi, êm xuôi, phải có những chướng ngại, và mình phải vượt qua những chướng ngại đó thì mới tạo thành sức mạnh. Sự vượt qua chướng ngại đó đòi hỏi tín căn, tín lực, tín tấn, phải vượt qua, mình mới có thể tiến lên, mình đạp đổ, chinh phục, té xuống thì phải đứng lên ngay chỗ đó, chứ không phải té là nằm luôn ngay chỗ té. Đứng lên một cách mạnh mẽ, bước tới về phía trước, đi vài hôm té nữa, cũng vẫn phải đứng dậy và mạnh mẽ tiến về phía trước. Mình nhớ, học pháp hay thấy những tấm gương của chiến sĩ anh hùng ngày xưa, chết thì chết chứ không thoái lui. Trong sự tu của mình, phải có tâm gan dạ, kiên trì, vững trí. Quán bất tịnh 1-2 lần, dục khởi lên, và nói “thôi, con quán thấy tịnh, con không quán nữa”, quán bất tịnh mà chỉ thấy tịnh, nhiếp phục dục mà dục khởi, đó là chuyện bình thường, không có gì lạ hết. Bởi vì mình đi theo tịnh tướng đã bao nhiêu kiếp, còn bất tịnh tướng, mình chỉ mới tiếp xúc.
Cái sân giận mình nhiếp phục nhưng không được, cũng là chuyện bình thường, vì mình ở trong cái sân này đã bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp. Bây giờ mình mới bắt đầu có vài giọt nước, mới nhìn thấy được cái sân thôi, nên đang nhiếp phục sân mà sân khởi lên thì cũng là bình thường. Chứ không phải vì vậy mà nản, “giờ tôi nhiếp phục sân mà nhiếp phục không được, nên tôi bỏ, không nhiếp phục nữa.” Không phải. Càng phải tiếp tục, càng trải tâm từ nữa, vì tâm từ mình chưa đủ. Lần sau nếu vẫn chưa được, chưa đủ thì mình càng phải làm cho đầy đủ, chứ không phải làm không được là bỏ, thì điều đó dở lắm, uổng lắm, là thất bại. Lâu lâu, trong quá trình tu, mình có ý nghĩ như thế này không: “quán bất tịnh hoài mà con thấy tịnh thôi, nên con không quán nữa.” Không được, phải quán tiếp. Trải tâm từ cũng vậy, trải tâm từ mà sao vẫn thấy còn bực người đó, phải tiếp tục trải tiếp. Tại vì tâm từ của mình chưa đủ thì phải làm cho đầy đủ.
Phá si mê, hôn trầm cũng vậy. Không phải thấy buồn ngủ quá thì mình buông xuống luôn. Không phải! Ngồi thiền mà cứ ngáp mãi, cái nghiệp chướng biểu hiện ra thì mình phải nhiếp phục từ từ, không phải nhiếp phục một lần là được, không phải 1 năm, 2 năm, 3 năm, 5 năm là mình có thể diệt tận được hết các lậu hoặc. Phải kiên trì hoài, mình phải làm hoài. Ăn cơm một lần có no không? Mình ăn 30 năm rồi mà sao vẫn còn đói , sao ngày nào mình cũng phải ăn hết? Đi tu cũng giống như ăn cơm, đói thì ăn. Chưa nhiếp phục được thì thực tập nhiếp phục, chưa vượt qua được thì cố gắng thực tập vượt qua. Cũng giống như mỗi ngày ăn cơm, mình không đòi ăn một lần là no luôn, mình không đòi tu 3 năm, 5 năm là chứng thánh quả A-la-hán, mà ít nhất, nhìn lại trước khi tu và bây giờ, mình có tiến không, có tốt hơn không, có được nhiếp phục không?
Như vậy, mình thấy hoan hỉ với những cái mình đang có, và cũng chấp nhận với những lậu hoặc mà mình chưa dứt được. Phải biết không chấp nhận và biết chấp nhận, điều này rất quan trọng. Phải biết lúc nào mình không chấp nhận và lúc nào mình chấp nhận. Khi chiến đấu là mình không chấp nhận, nhưng nếu đã dùng hết năng lực của mình rồi mà vẫn không chiến thắng được thì mình chấp nhận. Bây giờ, kiềm hết sức rồi, tu tập quán chiếu, cảm thọ rồi, nhưng vẫn nổi sân thì phải biết mình chỉ tới đây, và trở về tiếp tục tu tâm từ, tiếp tục nhiếp phục, cảm thọ. “Tôi đã cố gắng nhiếp phục cảm thọ mà cứ sân lên thì thôi, nghỉ, không thèm nhiếp phục cảm thọ nữa, không thèm trải tâm từ nữa, trải tâm từ ba tháng mà vẫn còn sân.” Phải biết cái nào mình không chấp nhận, cái nào chấp nhận, chứ không phải mình nói lý thì vậy mà thực tế thì khác, không phải lúc nào cũng nói tu là thành tựu hết, lúc nào cũng chiến thắng. Lúc nào cũng nghĩ vậy nhưng khi thực tế không như vậy, lúc đó mình lại không chấp nhận thực tế, không chấp nhận trạng thái tâm thực sự của mình lúc bấy giờ, trong trường hợp đó, trong hoàn cảnh đó. Cho nên, mình phải tập không chấp nhận và tập chấp nhận. Chấp nhận không phải để cho mình buông lung phóng dật, không phải để cho mình thoái đọa, mà chấp nhận là để cho mình tiến lên. Mấy hôm nay, từ lúc lên núi tới giờ, đại chúng mình có chấp nhận và không chấp nhận không? Có không? Trong thiền quán, trong cách dụng tâm của mình có nhiều phương diện, ví dụ, đọc bài Thân trống rỗng, thấy ngồi thiền có khác không? Đọc thơ từng câu da diết, tha thiết, có khi mình phải hỏi tâm mình, mình kêu tâm mình tỉnh đi. Mình hỏi tâm mình “đã rõ chưa, thông tỏ chưa? Dại gì chui vào trong chỗ tối tăm.”, giống như mình tâm sự với tâm của mình, tự nhủ với lòng của mình. Nhưng hôm nay nghe Như lý tác ý thì sao? Mời những cô mới phát biểu vì mới nghe lần đầu tiên. Hình như có ba vị này là mới nghe lần đầu tiên. Mấy vị mới nghe lần đầu tiên cảm nhận như thế nào, tại sao phải tu nhiều vậy?
Sư cô 1:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con xin thưa, hôm nay bài pháp tác ý của sư phụ con thấy thật mạnh mẽ, những từ rất mạnh tác động trong tâm trí của con, giống như cụm từ “chửi cái tâm của mình”, làm cho mình cảm thấy xấu hổ, cảm thấy tàm quý, cảm thấy tỉnh thức để mình bắt buộc cái tâm của mình giác ngộ, tỉnh thức và thực hành. Và sau phép quán thân, tuy rằng con thấy trong đó cũng hơi buồn cười một chút, nhưng thật thâm sâu.
Sư phụ: Đâu có buồn ngủ, phải không? Lúc nào buồn ngủ cũng dùng phương pháp này.
Sư cô 2:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên sư phụ, hôm qua, con có trình với sư phụ những điều con thắc mắc trong lòng, không thể bày tỏ được. Hôm nay sư phụ tác ý rất mạnh mẽ những lời dạy để con tác ý mạnh vào tâm thức của con, con cũng có tỉnh giác, còn một, hai phần gì đó chưa thức tỉnh được, nhưng con cũng có tác ý mạnh như lời sư phụ đã dạy. Con xin chân thành cảm niệm những lời khuyến dụ của sư phụ đối với con.
Sư cô 3:
Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Lúc nãy, trong lúc ngồi thiền, con được nghe bài tác ý của sư phụ, những câu tác ý của sư phụ chửi rất mạnh. Trước giờ thì con chưa thực hiện được những câu tác ý như vậy, thì con nghe được những câu tác ý của sư phụ thì con cảm thấy mình phải thực hành tác ý mạnh hơn để cho nghiệp lực và những chấp ngã, nghiệp lực tham sân si, hoài nghi ở trong con; những sự chấp thủ vào thân này, bản ngã này đã rất sâu dày, kiên cố, con cần phải thực hiện sự tác ý mạnh thì mới giúp cho mình có một ý chí mạnh, tỉnh thức để diệt trừ nó. Con xin thành kính tri ân sư phụ đã chia sẻ bài tác ý rất ý nghĩa.
Sư phụ: Có nhận diện ngũ uẩn trong khi nghe những lời Như lý tác ý không?
Sư cô 3: Về sắc thì con biết thân con đang ngồi thiền, về thọ thì lúc đó thân con có cảm thọ mệt; tâm con cảm thấy hoan hỉ khi nghe những câu tác ý của sư phụ và con có cảm thấy mình hổ thẹn, xấu hổ, nhục nhã vì sự tu tậpcủa con chưa mạnh mẽ để tác ý, đẩy lui được những sự chấp thủ, con còn chấp thủ, bản ngã còn nghiệp lực tham sân si vẹn nguyên nên tâm con có khởi lên sự xấu hổ, tàm quý. Về tưởng thì trong tâm con nghe được những lời, âm thanh trong những câu tác ý của sư phụ.
Sư phụ: Có hình bóng gì trong tâm? Có nhìn thấy mặt con dữ dằn lên?
Sư cô 3: Lúc đó con không khởi hình bóng. Hành thì trong ý của con có suy nghĩ những ý niệm về sự tàm quý, xấu hổ trong sự tu tập của mình.
Sư phụ: Về thức?
Sư cô 3: Về thức thì lúc đó con biết rõ suy nghĩ mình, biết rõ con đang lắng nghe những câu tác ý trong bài chia sẻ của sư phụ.
Sư phụ: Thức thì biết được gì?
Sư cô 3: Thức thì biết được thọ, tưởng, hành.
Sư phụ: Được rồi, cảm ơn con.
Sư cô 3: Dạ, con xin tri ân sư phụ.
Sư phụ: Mời người mới. Ai nhận diện được ngũ uẩn khi đang ngồi nghe tác ý?
Phật tử 1: Nam Mô A Di Đà Phật. Con kính bạch thầy, con kính bạch quý thầy, quý sư cô và các bạn đồng tu. Con xin nhận diện ngũ uẩn khi nghe thầy tác ý.Sắc thì con biết con đang ngồi, thọ thân của con có cảm giác thọ khổ vì muỗi cứ bay vo ve; thọ tâm thì tâm con có hoan hỉ vì được nghe những lời tác ý rất mạnh của thầy; tưởng con lúc đó hiện lên hình bóng thầy đang la mắng con, như là con đang quỳ trước mặt thầy, thầy la mắng con. Cái hành suy nghĩ là con luôn nhớ những lời này, để những lúc dễ duôi thì phải nhớ để mình la mắng mình mạnh hơn. Cái thức là con nhận biết được cái thọ, tưởng, hành.
Sư phụ: Cảm nhận như thế nào về Như lý tác ý đó?
Phật tử 1: Thưa thầy, cảm nhận của con lúc nghe những lời Như lý tác ý đó sanh khởi lên sự xấu hổ, sự tàm quý vì mình thấy được những lời tác ý của thầy mạnh mẽ, nó chửi, la mắng.. mà hầu như con chưa được nghe. Cảm giác lúc đó rất xấu hổ trong bản thân con.
Sư phụ: Mời người tiếp theo.
Phật tử 2: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con xin trình bày về nhận diện ngũ uẩn. Sắc thân của con thì đang ngồi thiền, cảm thọ thân thì chân con có đau một chút nên hơi khó chịu; cảm thọ tâm thì con rất hoan hỉ, khi được nghe những lời dạy, những câu tác ý của thầy thì mình bỏ được sự chấp thủ của thân năm uẩn này. Hành của con là suy nghĩ phải cố gắng ghi nhận những điều này, thường xuyên nhớ đến những cấu uế của thân thể, những điều chấp thủ, bám chấp vào để mình nuôi dưỡng cái dục và làm nô lệ cho nó. Thức của con thì nhận rõ ba pháp thọ, tưởng, hành. Mô Phật, con xin tri ân thầy.
Sư phụ: Mời người tiếp theo.
Phật tử 3: Con kính bạch thầy. Trong lúc ngồi thiền, nghe bài giảng của thầy, thì con đang chiến đấu với cái ngã của mình. Sắc thì con cảm thấy con đang ngồi thiền, cảm thọ thì con đang chiến đấu với tâm ngã mạn của con, lúc nào cũng phải chiến đấu với nó.
Sự phụ: Nhận diện ngũ uẩn được chưa? Thọ tưởng hành lúc đó thì sao?
Phật tử 3: Thọ của con lúc đó là thọ lạc và thọ khổ. Con tưởng những hình bóng thân của con bị những vết thương hành hạ nhưng không biết những vết thương đó từ đâu ra, trên thân con tại sao có những vết thương ấy..
Sư phụ: Hành như thế nào ngay lúc đó?
Phật tử 3: Hành thì con đang niệm.
Sư phụ: Chú Trí Hòa, chú hướng dẫn chú này nhận diện ngũ uẩn được chưa? Phải hướng dẫn thêm nữa. Con mời thầy.
Sư thầy 1: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch sư phụ, kính bạch quý thầy, quý sư cô và các huynh đệ đồng tu. Con xin được phép trình bày về nhận diện ngũ uẩn. Sắc uẩn là tứ đại hợp thành, là những hình tướng về thân và cảnh vật. Thọ là những cảm thọ, thọ khổ, thọ lạc, thọ không khổ không lạc. Tưởng là hình bóng của các trần trong tâm thức. Hành là những suy nghĩ về sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Thức là rõ biết.
Sư phụ: Trong khi thầy ngồi thiền, nghe Như lý tác ý, lúc đó thầy có cảm giác, nghĩ tưởng gì?
Sư thầy 1: Khi nghe sư phụ giảng lúc con ngồi thiền, nghe những câu pháp ngữ của sư phụ dạy thì cảm thọ trong con có một sự chấn động sâu sắc.Có những vị tu nhập thất mười mấy năm mà còn đi ra ngoài làm, có những vị tu hành bốn mươi năm nhập thất nhưng sân si vẫn còn, cho nên tâm con bị chấn động mạnh, phản tỉnh về đời sống tu học của mình. Lúc đó con cũng khởi một ý niệm, dè chừng đối với lỗi của mình.
Sư phụ: Đó là gì trong ngũ uẩn của thầy?
Sư thầy 1: Nó thuộc về hành uẩn.
Sư phụ: Thầy có tưởng uẩn gì không?
Sư thầy 1: Tưởng uẩn là bóng dáng về lời sư phụ vừa mới nói, hình bóng của một người tu, đó là bóng dáng. Cho nên khi nhận diện về bóng dáng, con cũng không chấp thủ về bóng dáng, chỉ quay lại những hành uẩn, là những suy nghiệm về Như lý tác ý để loại trừ những lỗi lầm trong tâm.
Sư phụ: Cảm giác, cảm thọ của thầy lúc đó như thế nào?
Sư thầy 1: Con có sự chấn động mạnh, rất phấn khởi khi nghe. Đó là thọ lạc.
***
Chúng ta thực tập nhìn lại cảm giác nghĩ tưởng của mình thường xuyên. Chỗ nào mình không rõ thì hỏi quý thầy, quý sư huynh. Mình phải lấy một chữ để tiến tu, tàm quý - đó là chữ nhục nhã. Mình trú ở trong tâm tàm quý, xấu hổ và sợ hãi, thì cái ngã của mình sẽ bị co rút, hạ thấp xuống. Mình thường trú ở trong sự xấu hổ và nhục nhã, mỗi khi mình khởi dục, khởi sân, mỗi khi khởi bản ngã lên.., mình thấy nhục. Lúc nãy con dùng những từ xem như là nặng nhất, mình phải lựa những từ nặng nhất thì mới sanh ra thọ. Nếu dùng từ thường thường thì cái thọ không đủ. Ví dụ, khi muốn hơn thua với huynh đệ thì mình hỏi “mày nhục chưa, mày có nhục không? Mày bỏ cha bỏ mẹ để vào đây hơn thua, mày có nhục không, tồi không? Mày hèn hạ vừa thôi.” Nó khởi lên những gì về dục, tham, ái, sân si, ganh tỵ, bản ngã, hơn thua.., là mình đánh thẳng vào chỗ nhục đó.
Đó là cây chổi quét rác. Hôm nay con đưa cây chổi cho đại chúng. Khi khởi lên những lậu hoặc, những cấu nhiễm là cứ diệt, cầm cây chổi đó quét thì tự nhiên lúc đó sẽ lắng dịu xuống, không phừng phừng lên nữa, không tăng trưởng, phát triển, quảng đại lên nữa. Mỗi lần khởi lên sân, huynh đệ khó chịu một câu nói hay hành động, việc làm hay cử chỉ gì là mình thấy được cảm giác khác liền, cái thọ thấy liền, “mày nhục nhã vừa vừa, bỏ cha bỏ mẹ vô đây để hơn thua, để đi phân biệt đúng sai với người ta, để mày dòm ngó người ta, nhục không? Tồi không? Hèn hạ, thối tha, bẩn thỉu, xấu xa.” Phải dùng những từ nào nặng nhất để mình làm cho nó sanh khởi lên một cái cảm giác thì tự nhiên cái sân lúc đó sẽ lắng dịu xuống, cái tham, bản ngã lắng dịu xuống, cái si cũng phải tan. Vào ngồi mà cứ đơ đơ, mình nói “mày nhục không, tồi bại không, đi lên đây để tu hay để ngủ? Tại sao giờ tu mà mày lại ngủ, mày có thấy tồi bại, thấp hèn không, thối tha không?” Mình cứ tác ý, đó là mình dùng pháp tàm quý, mình sẽ đánh được hết tất cả lũ giặc kia. Về căn bản là mình làm cho nó lắng dịu. Đó là cây chổi quét rác. Nó trú trong tâm tàm quý, mỗi lần muốn hơn thua, muốn tranh phần đúng, hễ có chuyện gì là bắt đầu ngụy biện, nói đủ thứ để giành phần đúng cho nó. Thấy vậy thì mình phải nhục và phải nhìn thấy được cái tính ác độc của nó, của tâm lậu hoặc, mình kêu “mày ác độc vừa thôi, mày là thức ác nhất trong cuộc đời này.”
Tất cả lấy tác ý làm sanh khởi. Mình không tác ý thì pháp không sanh, mình tu hoài không tiến, thiện pháp không tăng trưởng, tu hoài trí huệ không phát sanh; sự thiện xảo, khéo léo, sắc bén của mình cứ trơ trơ, ù lỳ, vì mình không tác ý, không biết tác ý, và mình không chịu siêng năng tác ý, không để ý để mình tác ý, không chịu khó để mình tác ý. Tác ý như thế thì các pháp mới sanh khởi. Tâm mình càng ngày càng nắm bắt, sắc bén, thiện xảo, khéo léo, linh hoạt, linh động… là do sự tác ý. Pháp, nói pháp, chia sẻ đều là tác ý. Tác ý thường là mình thiện xảo, tinh tấn, khéo léo. Không có gì hết, chỉ cần tác ý thôi. Bây giờ tác ý, muốn xuống núi đi chơi, “mày đi xuống rồi đi kiếm con dịch về, rồi mắc dịch. Người ta đang chết thống khổ mà mày đi chơi. Đi chơi mấy chục năm nay rồi có cái được gì đâu, mất thời gian, mệt mỏi, tốn kém tiền bạc; không có tăng thượng giới định tuệ. Ở đây tu.”
Đó là tác ý nhẹ, còn tác ý mạnh hơn nữa. Tu mệt quá, nó sanh khởi bên trong là sao tu mệt quá. Mình phải tác ý, “nhìn ra đi, trời mưa gió người ta phải đi hái trà, môi tím ngắt, đi vô rẫy cafe, cơ thể bị sâu bắn đầy hết. Mày mới bị dính có chút xíu lông bụi thôi là đã chịu không nổi rồi. Người ta đi ngày đêm, suốt nhiều năm, suốt cuộc đời bên cây cafe đó, da người ta sần sùi hết, riết không còn biết ngứa nữa. Tu một chút đã than mệt, tu một chút đã nói không khỏe. Mày có nhục không? Mày còn thua người nông dân ở ngoài kia, vậy tu cái gì? Tồi bại vừa thôi, làm biếng và nhục nhã vừa thôi.” Tác ý, rồi phấn chấn tu lại. Mình tác ý là nó tan hết, vì nó vô thường, cái thọ tưởng hành đó vô thường. Mình tác ý, mình đánh đuổi nó là hết. Còn đằng này, nó khởi lên, mình để nó xâm chiếm thân tâm hết, rồi mình đi theo nó.
Tác ý thì mới sanh khởi lên pháp. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Cứ việc tác ý, siêng năng tác ý, lúc nào thấy động quá, cần thiết cho nó quân bình, lúc nào thấy cần thì mình chỉ trú trong cảm giác toàn thân cho yên định, cho thanh tịnh, lắng dịu.. Cũng giống như đang nóng trong cơ thể thì kiếm đồ mát uống vào, làm cho quân bình. Khi mình tu cũng giống vậy, thấy tâm động quá, đầu căng quá, lúc đó mình thiền chỉ, an trú ba pháp, cảm giác toàn thân. Lúc nào mình thấy trì trệ, làm biếng, các lậu hoặc sanh khởi, bản ngã, tham dục sân hận, lúc đó mình tác ý càng mạnh càng tốt. Tác ý là mình đánh cho tan, bứng gốc rễ của nó lên. Khi khó chịu với một người nào, mình phải tác ý cho tới lúc bứng luôn gốc rễ, nhìn người đó bình thường thì lúc đó mới được. Chứ bằng mặt mà không bằng lòng, nói ngoài miệng nhưng trong lòng lại suy nghĩ, những cảm giác khó chịu nhẹ nhẹ, những suy nghĩ, hình bóng sanh khởi.., còn trong đó là không được. Phải tác ý cho đến sạch sành sanh, cho đến khi gặp người mình giận, thấy bình thường. Thậm chí mình thực hành pháp sám hối, quỳ lạy. Chỉ có như vậy mới đánh tan, bứng hết gốc rễ. Mình tu là từ từ đào xới gốc rễ để bứng lên, bằm ra thành từng mảnh, đốt thành tro bụi. Sau đó, tro đó bốn phương tám hướng bị gió thổi bay hết hoặc đem đổ xuống sông xuống biển. Thấy Đức Phật ví dụ pháp tu không? Thành ra cái tu của mình nó tuyệt vời lắm.
Phải nhớ Như lý tác ý, muốn diệt thì phải luôn Như lý tác ý liên tục, sáng, trưa, chiều, tối, nửa đêm thức giấc, thình lình thức dậy lúc nào là tác ý. Nó sẽ bị diệt, không thể nào không nhiếp phục được, ít nhất cũng phải được lắng dịu, phải được nhiếp phục. Nó không bị diệt, không nhiếp phục mới là lạ. Ví dụ, ngồi thiền mà buồn ngủ, chửi từ đầu giờ cho tới lúc xả thiền, không sao hết, vậy thì làm sao ngủ được. Làm vậy ba lần là nó mất luôn. Từ đầu vô ngồi thiền là nhìn vào thọ buồn ngủ tác ý vô, xoáy vô…, cứ đánh hoài, thì làm sao ngủ? Cái si, cái sân cũng vậy. Nó khó chịu, bực mình thì cứ từ sáng tới trưa, chiều, tối, tới khuya, nửa đêm ngồi thiền..., bất cứ lúc nào cũng tác ý vô cái sân đó. Quên thì thôi, nhớ là quay lại tác ý. Tác ý liên tục như vậy là phải nhiếp phục thôi, phải hạ gục, phải giảm bớt. Cái dục cũng vậy, nặng vậy đó, mình cứ quán bất tịnh, tác ý liên tục một định tướng đó, một chủ đề đó, cứ nhắm thẳng vô, bệnh nào nặng thì mình trị trước, cho nó lắng dịu xuống. Phải có kết quả, không thể không có kết quả. Nếu không có kết quả thì không có Đức Phật. Đức Phật đã làm như vậy nên mới có thành tựu, nên Đức Phật dạy mình Như lý tác ý.
Như lý tác ý quán chiếu, đó là tuệ lực. Những câu la hét mãnh liệt là sức mạnh trí tuệ, cũng còn gọi là thiền quán, là Như lý tác ý, là huấn luyện năm uẩn, dạy dỗ cảm giác, cũng còn gọi là tự chiến thắng chính mình. Chứ không phải tu là trơ trơ, lúc nào cũng như cục bột, cục đất, mà tham sân si nằm đầy dẫy bên trong. Không phải. Hiền ở bên ngoài, nhưng bên trong phải là chiến sĩ, dũng sĩ, hùng dũng, mạnh mẽ, còn nếu không mạnh, ngồi sụp hai con mắt xuống. Hôm qua có đưa chú Sĩ xem hình khóa tu thiền, nhìn những khuôn mặt từ trên xuống dưới, thảm, ngồi há họng, nhắm mắt lại ngồi thiền. Thiền vậy là chết rồi! Mắt mở trao tráo như vậy mà còn tham, sân, si, bản ngã, dục còn khống chế, còn áp đảo, còn há họng.. Cho nên phải hùng dũng. Khi tác ý có nhiều cung bậc, không phải tác ý cái nào cũng la hết. Có lúc mình dùng bi, có lúc dùng hùng. Có lúc mình đánh, có lúc dỗ. Có nhiều cung bậc lắm. Trong tác ý, y như mình dạy con vậy, không phải lúc nào dạy con lúc nào cũng đánh, kêu vào, nói nhỏ nhẹ phân tích cho thấy. Bài Thân trống rỗng đó là bài nhẹ nhàng, phân tích cho thấy, còn bài sáng nay là bài đánh, cũng là phương pháp dạy tâm mình. Cho nên, có khi mình phải nói nhẹ nhàng cho nó cảm động, “nhìn đi, mê ngủ hoài, mê chơi hoài, thả trôi, rồi cuối cùng mày tu được cái gì? Mày nhớ cha mẹ mày không, nhớ người thân, nhớ ông bà không? Bao nhiêu người đang hy vọng, chờ đợi mày, đang mong ngóng, đang tin tưởng, đang hướng về, mày có thấy không? Mày có thấy bao nhiêu Phật tử, người ta lạy, cung kính, cúng dường, người ta tôn trọng không? Tại sao lại có những suy nghĩ như vậy, tại sao lại có những suy nghĩ xấu hổ, nhục nhã, suy nghĩ buông bỏ, chịu thua như vậy? Mày có xứng đáng không? Xem thử lại đi, những suy nghĩ này sẽ đưa tới đâu? Chỉ đưa đến sụp đổ, tan rã, đưa tới thoái đọa, đưa xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Những suy nghĩ này là ác độc, ác ma, là quỷ.”
Cho nên, tâm mình phải thiện xảo lắm. Tu là học như vậy, nhưng khi vào thực tế, vận dụng thì lúc đó khác nhiều lắm. Từ trên căn bản đó, mình vận dụng khi huấn luyện cái tâm mình. Có lúc thì bi, lúc thì hùng, lúc trầm, lúc bổng, có lúc thì giống như lửa bốc cháy lên, lúc thì như nước thấm nhuần, lúc thì như mây trôi đi tự tại không dính mắc, lúc thì lạnh cắt da, lúc thì giống như sa mạc khô cằn... Tùy theo những lúc mình xử trí, mình đưa nó theo những lời giáo dục, dạy dỗ tâm, chứ không phải chỉ là thực hành ba pháp là ngồi vậy, rồi một hồi nó đi đâu mình không biết không hay. Trong sự tu, chúng ta phải khéo léo, biết rằng trên con đường tu của mình rất khó, không phải chuyện dễ, người tu mình làm một việc cực kỳ khó khăn, đại tướng làm không được, người tu mình đi ngược với thế gian, làm những chuyện phi thường, phi phàm. Vì thế, mình cần trang bị cho mình trí tuệ, trang bị tầm nhìn, niềm tin, sự kiên trì, vững mạnh, vững bước. Phải biết cái nào là chấp nhận, cái nào là không chấp nhận. Có những lúc mình phải chấp nhận mình, mình còn những lậu hoặc, mình hứa sẽ cố gắng tiến lên; chứ mình không chấp nhận, cứ sống với cái lý tưởng cao sâu thì mình rất khó tu, mà cứ chấp nhận với cấu uế thì mình tu cũng không được. Lúc nào là lúc chấp nhận và lúc nào là lúc không chấp nhận, phải dùng Chánh tri kiến dẫn đường cho mình, dùng tính chất vô thường, vô ngã, khổ, trống rỗng, tan hoại của các pháp để giúp cho tâm mình thoát ra, lìa tham, đi ra khỏi cá chậu chim lồng, lẩn quẩn loanh quanh trong cái khổ.
Mong là tất cả chúng ta sẽ cùng nhau tương trợ, tương thân,tương ái, để cùng tiến trên bước đường dài xa, cao thượng, và tốt đẹp này.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo./.
-Thích Minh Thành-
Con xin thưa đại chúng, người xuất gia chúng ta rất gian nan, sự tu của chúng ta đã là việc phi thường, làm việc ngược đời, trái hẳn với thế gian. Dùng từ “ngược đời” theo dân gian là rất chính xác. Chúng ta đang ở trong một trận chiến gian khổ, và trận chiến này không phải đánh 1 ngày 1 bữa, 1 tuần, 1 tháng, không phải 1 năm hay 3 năm, mà trận chiến của chúng ta là suốt đời. Nếu nhìn xa hơn, một đời này, mình tu là xong. Cho nên, chiến đấu nhiều kiếp, mỗi người tu là một người chiến sĩ, một dũng sĩ, phải có tinh thần võ sĩ đạo.
Bản thân của con đã ở trong chùa 30 năm, từng thấy, từng nghe rất nhiều những việc trong chùa, chứng kiến rất nhiều những huynh đệ, những hàng tiền bối của mình trong sự tu. Không phải đời tu của ai cũng suôn sẻ hết, tất cả chúng ta đều phải trải qua sóng gió, chướng ngại, vấp ngã; không phải người tu nào cũng yên yên lặng lặng, nhẹ nhẹ nhàng nhàng lên tới sư ông. Không phải! Cần biết rằng, đời tu của mình phải nhìn xa trông rộng, tầm nhìn của mình phải xa, đi ra trận không phải lúc nào cũng đánh thắng. Người đi đánh giặc, có phải lúc nào ra trận cũng đánh thắng hết không, hay cũng có lúc thua? Như vậy, thắng bại là chuyện thường tình của nhà binh, vấp ngã là chuyện bình thường của một đứa trẻ tập đi. Khi mình tập chạy xe honda, có phải mình lên chạy, là chạy được không? Có lúc cũng phải té trầy trụa, đầu gối chảy máu, v.v.. thì sau đó mình mới biết chạy. Khi đã biết chạy, cũng không biết chắc chắn rằng mình sẽ không còn té nữa không. Có khi cũng bị té. Một người tập chạy xe honda bị té, họ nói “tôi không tập nữa”, vậy người đó có biết chạy xe không? Họ nói “tập mà té thì tôi không tập, không té mới tập nữa”; hay người ra trận đánh giặc, họ nói “thắng tôi mới đánh, bại thì tôi không đánh”, vậy người này có thành dũng sĩ, kiện tướng được không? Người muốn thành dũng sĩ, kiện tướng, muốn lái xe giỏi thì phải làm sao? Thua, nhưng hãy đợi đấy, người đó tiếp tục về luyện binh, đánh lần sau phải thắng. Nếu đánh lần sau thua nữa thì về luyện binh tiếp, cho đến khi nào thuần thục trong quân trận, trong kỹ thuật, chiến thuật.., để lần sau nữa sẽ thắng, người đó sau này sẽ trở thành dũng tướng, kiện tướng, đại tướng.
Điều quan trọng trong ngũ căn, ngũ lực của mình, chữ gì đầu tiên, pháp nào đầu tiên? Tín lực. Không có tín lực thì không thể tấn lực được. Tín không có thì không có nền, không có rễ. Tín thì mới tấn. Cho nên, niềm tin ở chính mình mới là quan trọng. Khi đã tin pháp, tin Tam bảo, thì mình phải tin mình. Có nhiều người quán bất tịnh, “thầy ơi con ngồi quán, con thấy con tịnh rồi, nên con không quán nữa”, vậy người này có chứng đạt được trí bất tịnh, có thành tựu được pháp quán không? Phải kiên trì, tập tới, tập lui, tập đến khi nào được mới thôi. Ngoài đời gọi là gan lỳ, trong đạo gọi là ý chí, lập chí, tín lực, niềm tin mạnh mẽ, có gốc rễ, sau đó nó có sức mạnh, biến tín căn thành tín lực. Mình phải làm được, chắc chắn phải làm được. "Thua keo này mình bày keo khác", té ngay chỗ đó thì phải đứng lên ngay chỗ đó. Đánh trận, vừa ra trận, bị đánh gục ngã, chẳng lẽ mình nằm đó mãi, không đứng lên? Nếu vậy thì mình chết. Phải đứng dậy đánh tiếp. Nếu đánh không nổi, biết thế giặc mạnh quá thì mình lùi về rèn luyện, chứ không phải đánh thua thì nằm luôn đó. Nếu vậy, tức là người đó không có tín. Nhưng có khi, không phải cứ đi tới, đi tới mới gọi là tấn, có khi lùi lại cũng là tiến. Cũng như, có một sư cô trong chúng, đang học đại học Phật giáo năm thứ 3 ở Đài Loan, nhưng khi đi vào được dòng pháp này thì quyết định nghỉ, bỏ. Học ở trong nước đã khó, đi qua nước ngoài, học tới đó đâu phải dễ, rất khó và nhiều thủ tục. Nếu nhìn bằng con mắt thông thường bên ngoài thì giống như lùi, bỏ giữa chừng, đang đi học lại bỏ dở..; nhưng ở đây, lùi về lại là tiến, tiến trong Thánh pháp, tiến trong Thánh đạo, tiến tới Thánh quả, Thánh trí. Vì thế, nhìn ở hình thức là không đúng, phải thâm sâu bên trong.
Bản thân Minh Thành ở trong chùa lâu, xin chia sẻ kinh nghiệm cho các thầy, các cô trẻ mới tập tu, mới xuất gia hay xuất gia vài năm. Đời tu của mình đâu phải lúc nào cũng thuận lợi, êm xuôi, phải có những chướng ngại, và mình phải vượt qua những chướng ngại đó thì mới tạo thành sức mạnh. Sự vượt qua chướng ngại đó đòi hỏi tín căn, tín lực, tín tấn, phải vượt qua, mình mới có thể tiến lên, mình đạp đổ, chinh phục, té xuống thì phải đứng lên ngay chỗ đó, chứ không phải té là nằm luôn ngay chỗ té. Đứng lên một cách mạnh mẽ, bước tới về phía trước, đi vài hôm té nữa, cũng vẫn phải đứng dậy và mạnh mẽ tiến về phía trước. Mình nhớ, học pháp hay thấy những tấm gương của chiến sĩ anh hùng ngày xưa, chết thì chết chứ không thoái lui. Trong sự tu của mình, phải có tâm gan dạ, kiên trì, vững trí. Quán bất tịnh 1-2 lần, dục khởi lên, và nói “thôi, con quán thấy tịnh, con không quán nữa”, quán bất tịnh mà chỉ thấy tịnh, nhiếp phục dục mà dục khởi, đó là chuyện bình thường, không có gì lạ hết. Bởi vì mình đi theo tịnh tướng đã bao nhiêu kiếp, còn bất tịnh tướng, mình chỉ mới tiếp xúc.
Cái sân giận mình nhiếp phục nhưng không được, cũng là chuyện bình thường, vì mình ở trong cái sân này đã bao nhiêu đời, bao nhiêu kiếp. Bây giờ mình mới bắt đầu có vài giọt nước, mới nhìn thấy được cái sân thôi, nên đang nhiếp phục sân mà sân khởi lên thì cũng là bình thường. Chứ không phải vì vậy mà nản, “giờ tôi nhiếp phục sân mà nhiếp phục không được, nên tôi bỏ, không nhiếp phục nữa.” Không phải. Càng phải tiếp tục, càng trải tâm từ nữa, vì tâm từ mình chưa đủ. Lần sau nếu vẫn chưa được, chưa đủ thì mình càng phải làm cho đầy đủ, chứ không phải làm không được là bỏ, thì điều đó dở lắm, uổng lắm, là thất bại. Lâu lâu, trong quá trình tu, mình có ý nghĩ như thế này không: “quán bất tịnh hoài mà con thấy tịnh thôi, nên con không quán nữa.” Không được, phải quán tiếp. Trải tâm từ cũng vậy, trải tâm từ mà sao vẫn thấy còn bực người đó, phải tiếp tục trải tiếp. Tại vì tâm từ của mình chưa đủ thì phải làm cho đầy đủ.
Phá si mê, hôn trầm cũng vậy. Không phải thấy buồn ngủ quá thì mình buông xuống luôn. Không phải! Ngồi thiền mà cứ ngáp mãi, cái nghiệp chướng biểu hiện ra thì mình phải nhiếp phục từ từ, không phải nhiếp phục một lần là được, không phải 1 năm, 2 năm, 3 năm, 5 năm là mình có thể diệt tận được hết các lậu hoặc. Phải kiên trì hoài, mình phải làm hoài. Ăn cơm một lần có no không? Mình ăn 30 năm rồi mà sao vẫn còn đói , sao ngày nào mình cũng phải ăn hết? Đi tu cũng giống như ăn cơm, đói thì ăn. Chưa nhiếp phục được thì thực tập nhiếp phục, chưa vượt qua được thì cố gắng thực tập vượt qua. Cũng giống như mỗi ngày ăn cơm, mình không đòi ăn một lần là no luôn, mình không đòi tu 3 năm, 5 năm là chứng thánh quả A-la-hán, mà ít nhất, nhìn lại trước khi tu và bây giờ, mình có tiến không, có tốt hơn không, có được nhiếp phục không?
Như vậy, mình thấy hoan hỉ với những cái mình đang có, và cũng chấp nhận với những lậu hoặc mà mình chưa dứt được. Phải biết không chấp nhận và biết chấp nhận, điều này rất quan trọng. Phải biết lúc nào mình không chấp nhận và lúc nào mình chấp nhận. Khi chiến đấu là mình không chấp nhận, nhưng nếu đã dùng hết năng lực của mình rồi mà vẫn không chiến thắng được thì mình chấp nhận. Bây giờ, kiềm hết sức rồi, tu tập quán chiếu, cảm thọ rồi, nhưng vẫn nổi sân thì phải biết mình chỉ tới đây, và trở về tiếp tục tu tâm từ, tiếp tục nhiếp phục, cảm thọ. “Tôi đã cố gắng nhiếp phục cảm thọ mà cứ sân lên thì thôi, nghỉ, không thèm nhiếp phục cảm thọ nữa, không thèm trải tâm từ nữa, trải tâm từ ba tháng mà vẫn còn sân.” Phải biết cái nào mình không chấp nhận, cái nào chấp nhận, chứ không phải mình nói lý thì vậy mà thực tế thì khác, không phải lúc nào cũng nói tu là thành tựu hết, lúc nào cũng chiến thắng. Lúc nào cũng nghĩ vậy nhưng khi thực tế không như vậy, lúc đó mình lại không chấp nhận thực tế, không chấp nhận trạng thái tâm thực sự của mình lúc bấy giờ, trong trường hợp đó, trong hoàn cảnh đó. Cho nên, mình phải tập không chấp nhận và tập chấp nhận. Chấp nhận không phải để cho mình buông lung phóng dật, không phải để cho mình thoái đọa, mà chấp nhận là để cho mình tiến lên. Mấy hôm nay, từ lúc lên núi tới giờ, đại chúng mình có chấp nhận và không chấp nhận không? Có không? Trong thiền quán, trong cách dụng tâm của mình có nhiều phương diện, ví dụ, đọc bài Thân trống rỗng, thấy ngồi thiền có khác không? Đọc thơ từng câu da diết, tha thiết, có khi mình phải hỏi tâm mình, mình kêu tâm mình tỉnh đi. Mình hỏi tâm mình “đã rõ chưa, thông tỏ chưa? Dại gì chui vào trong chỗ tối tăm.”, giống như mình tâm sự với tâm của mình, tự nhủ với lòng của mình. Nhưng hôm nay nghe Như lý tác ý thì sao? Mời những cô mới phát biểu vì mới nghe lần đầu tiên. Hình như có ba vị này là mới nghe lần đầu tiên. Mấy vị mới nghe lần đầu tiên cảm nhận như thế nào, tại sao phải tu nhiều vậy?
Sư cô 1:
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con xin thưa, hôm nay bài pháp tác ý của sư phụ con thấy thật mạnh mẽ, những từ rất mạnh tác động trong tâm trí của con, giống như cụm từ “chửi cái tâm của mình”, làm cho mình cảm thấy xấu hổ, cảm thấy tàm quý, cảm thấy tỉnh thức để mình bắt buộc cái tâm của mình giác ngộ, tỉnh thức và thực hành. Và sau phép quán thân, tuy rằng con thấy trong đó cũng hơi buồn cười một chút, nhưng thật thâm sâu.
Sư phụ: Đâu có buồn ngủ, phải không? Lúc nào buồn ngủ cũng dùng phương pháp này.
Sư cô 2:
Nam Mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch trên sư phụ, hôm qua, con có trình với sư phụ những điều con thắc mắc trong lòng, không thể bày tỏ được. Hôm nay sư phụ tác ý rất mạnh mẽ những lời dạy để con tác ý mạnh vào tâm thức của con, con cũng có tỉnh giác, còn một, hai phần gì đó chưa thức tỉnh được, nhưng con cũng có tác ý mạnh như lời sư phụ đã dạy. Con xin chân thành cảm niệm những lời khuyến dụ của sư phụ đối với con.
Sư cô 3:
Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Lúc nãy, trong lúc ngồi thiền, con được nghe bài tác ý của sư phụ, những câu tác ý của sư phụ chửi rất mạnh. Trước giờ thì con chưa thực hiện được những câu tác ý như vậy, thì con nghe được những câu tác ý của sư phụ thì con cảm thấy mình phải thực hành tác ý mạnh hơn để cho nghiệp lực và những chấp ngã, nghiệp lực tham sân si, hoài nghi ở trong con; những sự chấp thủ vào thân này, bản ngã này đã rất sâu dày, kiên cố, con cần phải thực hiện sự tác ý mạnh thì mới giúp cho mình có một ý chí mạnh, tỉnh thức để diệt trừ nó. Con xin thành kính tri ân sư phụ đã chia sẻ bài tác ý rất ý nghĩa.
Sư phụ: Có nhận diện ngũ uẩn trong khi nghe những lời Như lý tác ý không?
Sư cô 3: Về sắc thì con biết thân con đang ngồi thiền, về thọ thì lúc đó thân con có cảm thọ mệt; tâm con cảm thấy hoan hỉ khi nghe những câu tác ý của sư phụ và con có cảm thấy mình hổ thẹn, xấu hổ, nhục nhã vì sự tu tậpcủa con chưa mạnh mẽ để tác ý, đẩy lui được những sự chấp thủ, con còn chấp thủ, bản ngã còn nghiệp lực tham sân si vẹn nguyên nên tâm con có khởi lên sự xấu hổ, tàm quý. Về tưởng thì trong tâm con nghe được những lời, âm thanh trong những câu tác ý của sư phụ.
Sư phụ: Có hình bóng gì trong tâm? Có nhìn thấy mặt con dữ dằn lên?
Sư cô 3: Lúc đó con không khởi hình bóng. Hành thì trong ý của con có suy nghĩ những ý niệm về sự tàm quý, xấu hổ trong sự tu tập của mình.
Sư phụ: Về thức?
Sư cô 3: Về thức thì lúc đó con biết rõ suy nghĩ mình, biết rõ con đang lắng nghe những câu tác ý trong bài chia sẻ của sư phụ.
Sư phụ: Thức thì biết được gì?
Sư cô 3: Thức thì biết được thọ, tưởng, hành.
Sư phụ: Được rồi, cảm ơn con.
Sư cô 3: Dạ, con xin tri ân sư phụ.
Sư phụ: Mời người mới. Ai nhận diện được ngũ uẩn khi đang ngồi nghe tác ý?
Phật tử 1: Nam Mô A Di Đà Phật. Con kính bạch thầy, con kính bạch quý thầy, quý sư cô và các bạn đồng tu. Con xin nhận diện ngũ uẩn khi nghe thầy tác ý.Sắc thì con biết con đang ngồi, thọ thân của con có cảm giác thọ khổ vì muỗi cứ bay vo ve; thọ tâm thì tâm con có hoan hỉ vì được nghe những lời tác ý rất mạnh của thầy; tưởng con lúc đó hiện lên hình bóng thầy đang la mắng con, như là con đang quỳ trước mặt thầy, thầy la mắng con. Cái hành suy nghĩ là con luôn nhớ những lời này, để những lúc dễ duôi thì phải nhớ để mình la mắng mình mạnh hơn. Cái thức là con nhận biết được cái thọ, tưởng, hành.
Sư phụ: Cảm nhận như thế nào về Như lý tác ý đó?
Phật tử 1: Thưa thầy, cảm nhận của con lúc nghe những lời Như lý tác ý đó sanh khởi lên sự xấu hổ, sự tàm quý vì mình thấy được những lời tác ý của thầy mạnh mẽ, nó chửi, la mắng.. mà hầu như con chưa được nghe. Cảm giác lúc đó rất xấu hổ trong bản thân con.
Sư phụ: Mời người tiếp theo.
Phật tử 2: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch quý thầy, quý sư cô và toàn thể đại chúng. Con xin trình bày về nhận diện ngũ uẩn. Sắc thân của con thì đang ngồi thiền, cảm thọ thân thì chân con có đau một chút nên hơi khó chịu; cảm thọ tâm thì con rất hoan hỉ, khi được nghe những lời dạy, những câu tác ý của thầy thì mình bỏ được sự chấp thủ của thân năm uẩn này. Hành của con là suy nghĩ phải cố gắng ghi nhận những điều này, thường xuyên nhớ đến những cấu uế của thân thể, những điều chấp thủ, bám chấp vào để mình nuôi dưỡng cái dục và làm nô lệ cho nó. Thức của con thì nhận rõ ba pháp thọ, tưởng, hành. Mô Phật, con xin tri ân thầy.
Sư phụ: Mời người tiếp theo.
Phật tử 3: Con kính bạch thầy. Trong lúc ngồi thiền, nghe bài giảng của thầy, thì con đang chiến đấu với cái ngã của mình. Sắc thì con cảm thấy con đang ngồi thiền, cảm thọ thì con đang chiến đấu với tâm ngã mạn của con, lúc nào cũng phải chiến đấu với nó.
Sự phụ: Nhận diện ngũ uẩn được chưa? Thọ tưởng hành lúc đó thì sao?
Phật tử 3: Thọ của con lúc đó là thọ lạc và thọ khổ. Con tưởng những hình bóng thân của con bị những vết thương hành hạ nhưng không biết những vết thương đó từ đâu ra, trên thân con tại sao có những vết thương ấy..
Sư phụ: Hành như thế nào ngay lúc đó?
Phật tử 3: Hành thì con đang niệm.
Sư phụ: Chú Trí Hòa, chú hướng dẫn chú này nhận diện ngũ uẩn được chưa? Phải hướng dẫn thêm nữa. Con mời thầy.
Sư thầy 1: Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật. Kính bạch sư phụ, kính bạch quý thầy, quý sư cô và các huynh đệ đồng tu. Con xin được phép trình bày về nhận diện ngũ uẩn. Sắc uẩn là tứ đại hợp thành, là những hình tướng về thân và cảnh vật. Thọ là những cảm thọ, thọ khổ, thọ lạc, thọ không khổ không lạc. Tưởng là hình bóng của các trần trong tâm thức. Hành là những suy nghĩ về sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp. Thức là rõ biết.
Sư phụ: Trong khi thầy ngồi thiền, nghe Như lý tác ý, lúc đó thầy có cảm giác, nghĩ tưởng gì?
Sư thầy 1: Khi nghe sư phụ giảng lúc con ngồi thiền, nghe những câu pháp ngữ của sư phụ dạy thì cảm thọ trong con có một sự chấn động sâu sắc.Có những vị tu nhập thất mười mấy năm mà còn đi ra ngoài làm, có những vị tu hành bốn mươi năm nhập thất nhưng sân si vẫn còn, cho nên tâm con bị chấn động mạnh, phản tỉnh về đời sống tu học của mình. Lúc đó con cũng khởi một ý niệm, dè chừng đối với lỗi của mình.
Sư phụ: Đó là gì trong ngũ uẩn của thầy?
Sư thầy 1: Nó thuộc về hành uẩn.
Sư phụ: Thầy có tưởng uẩn gì không?
Sư thầy 1: Tưởng uẩn là bóng dáng về lời sư phụ vừa mới nói, hình bóng của một người tu, đó là bóng dáng. Cho nên khi nhận diện về bóng dáng, con cũng không chấp thủ về bóng dáng, chỉ quay lại những hành uẩn, là những suy nghiệm về Như lý tác ý để loại trừ những lỗi lầm trong tâm.
Sư phụ: Cảm giác, cảm thọ của thầy lúc đó như thế nào?
Sư thầy 1: Con có sự chấn động mạnh, rất phấn khởi khi nghe. Đó là thọ lạc.
***
Chúng ta thực tập nhìn lại cảm giác nghĩ tưởng của mình thường xuyên. Chỗ nào mình không rõ thì hỏi quý thầy, quý sư huynh. Mình phải lấy một chữ để tiến tu, tàm quý - đó là chữ nhục nhã. Mình trú ở trong tâm tàm quý, xấu hổ và sợ hãi, thì cái ngã của mình sẽ bị co rút, hạ thấp xuống. Mình thường trú ở trong sự xấu hổ và nhục nhã, mỗi khi mình khởi dục, khởi sân, mỗi khi khởi bản ngã lên.., mình thấy nhục. Lúc nãy con dùng những từ xem như là nặng nhất, mình phải lựa những từ nặng nhất thì mới sanh ra thọ. Nếu dùng từ thường thường thì cái thọ không đủ. Ví dụ, khi muốn hơn thua với huynh đệ thì mình hỏi “mày nhục chưa, mày có nhục không? Mày bỏ cha bỏ mẹ để vào đây hơn thua, mày có nhục không, tồi không? Mày hèn hạ vừa thôi.” Nó khởi lên những gì về dục, tham, ái, sân si, ganh tỵ, bản ngã, hơn thua.., là mình đánh thẳng vào chỗ nhục đó.
Đó là cây chổi quét rác. Hôm nay con đưa cây chổi cho đại chúng. Khi khởi lên những lậu hoặc, những cấu nhiễm là cứ diệt, cầm cây chổi đó quét thì tự nhiên lúc đó sẽ lắng dịu xuống, không phừng phừng lên nữa, không tăng trưởng, phát triển, quảng đại lên nữa. Mỗi lần khởi lên sân, huynh đệ khó chịu một câu nói hay hành động, việc làm hay cử chỉ gì là mình thấy được cảm giác khác liền, cái thọ thấy liền, “mày nhục nhã vừa vừa, bỏ cha bỏ mẹ vô đây để hơn thua, để đi phân biệt đúng sai với người ta, để mày dòm ngó người ta, nhục không? Tồi không? Hèn hạ, thối tha, bẩn thỉu, xấu xa.” Phải dùng những từ nào nặng nhất để mình làm cho nó sanh khởi lên một cái cảm giác thì tự nhiên cái sân lúc đó sẽ lắng dịu xuống, cái tham, bản ngã lắng dịu xuống, cái si cũng phải tan. Vào ngồi mà cứ đơ đơ, mình nói “mày nhục không, tồi bại không, đi lên đây để tu hay để ngủ? Tại sao giờ tu mà mày lại ngủ, mày có thấy tồi bại, thấp hèn không, thối tha không?” Mình cứ tác ý, đó là mình dùng pháp tàm quý, mình sẽ đánh được hết tất cả lũ giặc kia. Về căn bản là mình làm cho nó lắng dịu. Đó là cây chổi quét rác. Nó trú trong tâm tàm quý, mỗi lần muốn hơn thua, muốn tranh phần đúng, hễ có chuyện gì là bắt đầu ngụy biện, nói đủ thứ để giành phần đúng cho nó. Thấy vậy thì mình phải nhục và phải nhìn thấy được cái tính ác độc của nó, của tâm lậu hoặc, mình kêu “mày ác độc vừa thôi, mày là thức ác nhất trong cuộc đời này.”
Tất cả lấy tác ý làm sanh khởi. Mình không tác ý thì pháp không sanh, mình tu hoài không tiến, thiện pháp không tăng trưởng, tu hoài trí huệ không phát sanh; sự thiện xảo, khéo léo, sắc bén của mình cứ trơ trơ, ù lỳ, vì mình không tác ý, không biết tác ý, và mình không chịu siêng năng tác ý, không để ý để mình tác ý, không chịu khó để mình tác ý. Tác ý như thế thì các pháp mới sanh khởi. Tâm mình càng ngày càng nắm bắt, sắc bén, thiện xảo, khéo léo, linh hoạt, linh động… là do sự tác ý. Pháp, nói pháp, chia sẻ đều là tác ý. Tác ý thường là mình thiện xảo, tinh tấn, khéo léo. Không có gì hết, chỉ cần tác ý thôi. Bây giờ tác ý, muốn xuống núi đi chơi, “mày đi xuống rồi đi kiếm con dịch về, rồi mắc dịch. Người ta đang chết thống khổ mà mày đi chơi. Đi chơi mấy chục năm nay rồi có cái được gì đâu, mất thời gian, mệt mỏi, tốn kém tiền bạc; không có tăng thượng giới định tuệ. Ở đây tu.”
Đó là tác ý nhẹ, còn tác ý mạnh hơn nữa. Tu mệt quá, nó sanh khởi bên trong là sao tu mệt quá. Mình phải tác ý, “nhìn ra đi, trời mưa gió người ta phải đi hái trà, môi tím ngắt, đi vô rẫy cafe, cơ thể bị sâu bắn đầy hết. Mày mới bị dính có chút xíu lông bụi thôi là đã chịu không nổi rồi. Người ta đi ngày đêm, suốt nhiều năm, suốt cuộc đời bên cây cafe đó, da người ta sần sùi hết, riết không còn biết ngứa nữa. Tu một chút đã than mệt, tu một chút đã nói không khỏe. Mày có nhục không? Mày còn thua người nông dân ở ngoài kia, vậy tu cái gì? Tồi bại vừa thôi, làm biếng và nhục nhã vừa thôi.” Tác ý, rồi phấn chấn tu lại. Mình tác ý là nó tan hết, vì nó vô thường, cái thọ tưởng hành đó vô thường. Mình tác ý, mình đánh đuổi nó là hết. Còn đằng này, nó khởi lên, mình để nó xâm chiếm thân tâm hết, rồi mình đi theo nó.
Tác ý thì mới sanh khởi lên pháp. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Cứ việc tác ý, siêng năng tác ý, lúc nào thấy động quá, cần thiết cho nó quân bình, lúc nào thấy cần thì mình chỉ trú trong cảm giác toàn thân cho yên định, cho thanh tịnh, lắng dịu.. Cũng giống như đang nóng trong cơ thể thì kiếm đồ mát uống vào, làm cho quân bình. Khi mình tu cũng giống vậy, thấy tâm động quá, đầu căng quá, lúc đó mình thiền chỉ, an trú ba pháp, cảm giác toàn thân. Lúc nào mình thấy trì trệ, làm biếng, các lậu hoặc sanh khởi, bản ngã, tham dục sân hận, lúc đó mình tác ý càng mạnh càng tốt. Tác ý là mình đánh cho tan, bứng gốc rễ của nó lên. Khi khó chịu với một người nào, mình phải tác ý cho tới lúc bứng luôn gốc rễ, nhìn người đó bình thường thì lúc đó mới được. Chứ bằng mặt mà không bằng lòng, nói ngoài miệng nhưng trong lòng lại suy nghĩ, những cảm giác khó chịu nhẹ nhẹ, những suy nghĩ, hình bóng sanh khởi.., còn trong đó là không được. Phải tác ý cho đến sạch sành sanh, cho đến khi gặp người mình giận, thấy bình thường. Thậm chí mình thực hành pháp sám hối, quỳ lạy. Chỉ có như vậy mới đánh tan, bứng hết gốc rễ. Mình tu là từ từ đào xới gốc rễ để bứng lên, bằm ra thành từng mảnh, đốt thành tro bụi. Sau đó, tro đó bốn phương tám hướng bị gió thổi bay hết hoặc đem đổ xuống sông xuống biển. Thấy Đức Phật ví dụ pháp tu không? Thành ra cái tu của mình nó tuyệt vời lắm.
Phải nhớ Như lý tác ý, muốn diệt thì phải luôn Như lý tác ý liên tục, sáng, trưa, chiều, tối, nửa đêm thức giấc, thình lình thức dậy lúc nào là tác ý. Nó sẽ bị diệt, không thể nào không nhiếp phục được, ít nhất cũng phải được lắng dịu, phải được nhiếp phục. Nó không bị diệt, không nhiếp phục mới là lạ. Ví dụ, ngồi thiền mà buồn ngủ, chửi từ đầu giờ cho tới lúc xả thiền, không sao hết, vậy thì làm sao ngủ được. Làm vậy ba lần là nó mất luôn. Từ đầu vô ngồi thiền là nhìn vào thọ buồn ngủ tác ý vô, xoáy vô…, cứ đánh hoài, thì làm sao ngủ? Cái si, cái sân cũng vậy. Nó khó chịu, bực mình thì cứ từ sáng tới trưa, chiều, tối, tới khuya, nửa đêm ngồi thiền..., bất cứ lúc nào cũng tác ý vô cái sân đó. Quên thì thôi, nhớ là quay lại tác ý. Tác ý liên tục như vậy là phải nhiếp phục thôi, phải hạ gục, phải giảm bớt. Cái dục cũng vậy, nặng vậy đó, mình cứ quán bất tịnh, tác ý liên tục một định tướng đó, một chủ đề đó, cứ nhắm thẳng vô, bệnh nào nặng thì mình trị trước, cho nó lắng dịu xuống. Phải có kết quả, không thể không có kết quả. Nếu không có kết quả thì không có Đức Phật. Đức Phật đã làm như vậy nên mới có thành tựu, nên Đức Phật dạy mình Như lý tác ý.
Như lý tác ý quán chiếu, đó là tuệ lực. Những câu la hét mãnh liệt là sức mạnh trí tuệ, cũng còn gọi là thiền quán, là Như lý tác ý, là huấn luyện năm uẩn, dạy dỗ cảm giác, cũng còn gọi là tự chiến thắng chính mình. Chứ không phải tu là trơ trơ, lúc nào cũng như cục bột, cục đất, mà tham sân si nằm đầy dẫy bên trong. Không phải. Hiền ở bên ngoài, nhưng bên trong phải là chiến sĩ, dũng sĩ, hùng dũng, mạnh mẽ, còn nếu không mạnh, ngồi sụp hai con mắt xuống. Hôm qua có đưa chú Sĩ xem hình khóa tu thiền, nhìn những khuôn mặt từ trên xuống dưới, thảm, ngồi há họng, nhắm mắt lại ngồi thiền. Thiền vậy là chết rồi! Mắt mở trao tráo như vậy mà còn tham, sân, si, bản ngã, dục còn khống chế, còn áp đảo, còn há họng.. Cho nên phải hùng dũng. Khi tác ý có nhiều cung bậc, không phải tác ý cái nào cũng la hết. Có lúc mình dùng bi, có lúc dùng hùng. Có lúc mình đánh, có lúc dỗ. Có nhiều cung bậc lắm. Trong tác ý, y như mình dạy con vậy, không phải lúc nào dạy con lúc nào cũng đánh, kêu vào, nói nhỏ nhẹ phân tích cho thấy. Bài Thân trống rỗng đó là bài nhẹ nhàng, phân tích cho thấy, còn bài sáng nay là bài đánh, cũng là phương pháp dạy tâm mình. Cho nên, có khi mình phải nói nhẹ nhàng cho nó cảm động, “nhìn đi, mê ngủ hoài, mê chơi hoài, thả trôi, rồi cuối cùng mày tu được cái gì? Mày nhớ cha mẹ mày không, nhớ người thân, nhớ ông bà không? Bao nhiêu người đang hy vọng, chờ đợi mày, đang mong ngóng, đang tin tưởng, đang hướng về, mày có thấy không? Mày có thấy bao nhiêu Phật tử, người ta lạy, cung kính, cúng dường, người ta tôn trọng không? Tại sao lại có những suy nghĩ như vậy, tại sao lại có những suy nghĩ xấu hổ, nhục nhã, suy nghĩ buông bỏ, chịu thua như vậy? Mày có xứng đáng không? Xem thử lại đi, những suy nghĩ này sẽ đưa tới đâu? Chỉ đưa đến sụp đổ, tan rã, đưa tới thoái đọa, đưa xuống địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh. Những suy nghĩ này là ác độc, ác ma, là quỷ.”
Cho nên, tâm mình phải thiện xảo lắm. Tu là học như vậy, nhưng khi vào thực tế, vận dụng thì lúc đó khác nhiều lắm. Từ trên căn bản đó, mình vận dụng khi huấn luyện cái tâm mình. Có lúc thì bi, lúc thì hùng, lúc trầm, lúc bổng, có lúc thì giống như lửa bốc cháy lên, lúc thì như nước thấm nhuần, lúc thì như mây trôi đi tự tại không dính mắc, lúc thì lạnh cắt da, lúc thì giống như sa mạc khô cằn... Tùy theo những lúc mình xử trí, mình đưa nó theo những lời giáo dục, dạy dỗ tâm, chứ không phải chỉ là thực hành ba pháp là ngồi vậy, rồi một hồi nó đi đâu mình không biết không hay. Trong sự tu, chúng ta phải khéo léo, biết rằng trên con đường tu của mình rất khó, không phải chuyện dễ, người tu mình làm một việc cực kỳ khó khăn, đại tướng làm không được, người tu mình đi ngược với thế gian, làm những chuyện phi thường, phi phàm. Vì thế, mình cần trang bị cho mình trí tuệ, trang bị tầm nhìn, niềm tin, sự kiên trì, vững mạnh, vững bước. Phải biết cái nào là chấp nhận, cái nào là không chấp nhận. Có những lúc mình phải chấp nhận mình, mình còn những lậu hoặc, mình hứa sẽ cố gắng tiến lên; chứ mình không chấp nhận, cứ sống với cái lý tưởng cao sâu thì mình rất khó tu, mà cứ chấp nhận với cấu uế thì mình tu cũng không được. Lúc nào là lúc chấp nhận và lúc nào là lúc không chấp nhận, phải dùng Chánh tri kiến dẫn đường cho mình, dùng tính chất vô thường, vô ngã, khổ, trống rỗng, tan hoại của các pháp để giúp cho tâm mình thoát ra, lìa tham, đi ra khỏi cá chậu chim lồng, lẩn quẩn loanh quanh trong cái khổ.
Mong là tất cả chúng ta sẽ cùng nhau tương trợ, tương thân,tương ái, để cùng tiến trên bước đường dài xa, cao thượng, và tốt đẹp này.
Nguyện đem công đức này
Hướng về khắp tất cả
Đệ tử và chúng sanh
Đều trọn thành Phật đạo./.