Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

PHÁP ĐÀM NIKAYA - HỌC- TU - CHỨNG PHÁP GÌ_

2026-03-03 00:56:14
Pháp Đàm Nikāya – Học – Tu- Chứng Pháp Gì

Thích Minh Thành

Con cũng muốn giới thiệu cho quý thầy những điều mới mà trước nay chưa từng tiếp xúc, chưa từng nghe, chưa từng thực tập. Đây là những điều rất mới, nhưng cũng rất cũ. Tại vì mình trở về những lời dạy nguyên chất của Đức Phật, cho nên rất cổ xưa. Rất là mới tại vì trước giờ mình chưa tiếp xúc, chưa nghe qua, chưa thực tập.

Câu hỏi thứ nhất: Con xin Thượng Toạ chia sẽ phương pháp tu tập mà đã đưa đến thành công của Thượng Toạ ạ?

Sự tu học của chúng ta là nhìn lại thân tâm của mình để tìm ra lí do tại sao mình khổ. Thấy được nguyên nhân của nó, mình diệt nguyên nhân đó là mình hết khổ, mình bớt khổ, mình hết khổ. Đến lúc đó, mình mới cứu khổ cho người khác.

Đức Thế Tôn nói rằng: Này các Tỷ-kheo, xưa và nay Như Lai chỉ tuyên bố hai điều là khổ và phương pháp diệt khổ.

Thành ra mình có học, có tu cái gì cũng không đi ra ngoài khổ và phương pháp diệt khổ. Nếu sự tu học của mình mà không thấy hai cái này thì sự tu học của mình hoài công vô ích.

Nhưng mà khổ, thì ai khổ? Thì đầu tiên mình phải tìm hiểu chính mình. Muốn tìm hiểu chính mình thì mình phải quay lại mình, muốn quay lại mình thì mình phải diệt cái tâm hướng ngoại.

Tại sao mình phải ngồi thiền? Vì lí do gì mà mình ngồi thiền? Ngồi thiền tức là nhìn lại mình, tìm hiểu lại mình, xem xét lại mình. Nhưng mà nhìn lại mình phải có phương pháp, phải có cách thức, phải có nghệ thuật. Phương pháp, cách thức, nghệ thuật đúng đắng nhất là phương pháp của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Chứ không phải nhìn lại mình, theo cái nhìn của mình được.

Trước nay mình nhìn lại bản thân, thì mình nhìn theo cái nhìn của mình, theo cái hiểu biết của mình và theo người khác nói. Bây giờ mình nhìn lại mình bằng cái nhìn của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Tức là nhận diện ngũ uẩn.

Có những nhà bác học nói rằng: Tôi suy nghĩ đó là tôi, tôi cảm giác cái đó là tôi, tôi nhận thức thì cái đó là tôi. Tất cả những cái nhìn nhận như vậy là phiến diện, là góc cạnh, là thiếu xót, là không đầy đủ.

Cái nhìn đầy đủ toàn diện về thân tâm mình, phải là cái nhìn đẩy đủ được năm uẩn. Tức là thấy được nhóm thứ nhất là nhóm vật chất(sắc uẩn) , nhóm thứ hai là nhóm cảm giác(thọ uẩn), nhóm thứ ba là nhóm hình bóng(tưởng uẩn), nhóm thứ tư là nhóm suy nghĩ(hành uẩn), nhóm thứ năm là nhóm nhận thức rõ biết (thức uẩn).

Khi mình nhìn lại thấy rõ, biết rõ được năm uẩn thì cái đó mới là thấy được chính mình.

Trước giờ mình có thấy được năm uẩn không? Ngay cả khi ngồi thiền mình có nhìn thấy được không? Vô ngồi thiền là mình ngồi thở, mình niệm Phật và sự ngồi thiền thường thường mình mong cầu một cảm giác an tịnh.

Thiền như vậy cũng có kết quả, chứ không phải không có kết quả, đó cũng là thiện pháp. Nhưng mà cái nhìn đó không toàn diện, không đầy đủ, nó không có nhìn hết mọi góc độ, khía cạnh, phương diện của thân tâm. Chính vì vậy, mình không giải quyết được vấn đề mình muốn giải quyết. Mình đâu có muốn nóng giận, mà nóng giận khởi lên thì mình không có cách nào kềm chế hay hoá giải nó.

Mình đâu muốn tham muốn, nhưng tham muốn sanh khởi lên thì mình không có cách hiệu quả nhất để nhiếp phục, chế ngự, đoạn tận.

Mình cũng không biết nó ở đâu, bất thình lình nó đến vậy đó, nó ùa về, nó điều khiển, nó xâm chiếm, nó dẫn dắt mình.

Cho nên bước đầu tiên của sự tu học là phải nhìn nhận mình một cách đầy đủ, chính xác thì đó chính là nhận diện năm uẩn.

Ở đây con muốn nói về tổng cương lĩnh của pháp hành. Tại vì từ trước đến nay chúng ta tu học, chúng ta bị hiểu lầm rất nhiều. Khi mình ngồi thiền thì mình mong muốn được yên định, khi mình tu thì mình muốn đạt được cái gì đó. Nhưng mà khi con bước vào dòng pháp Nikāya này thì sự thật nó phũ phàng, nó trái ngược với cái mình suy tưởng.

Sự thật mà Đức Phật, ngài Xá-lợi-phất, ngài Mục-kiền-liên và các bậc thánh giả. Thì tất cả những lời dạy của ngài là giúp cho mình nhìn thấy cái cấu nhiễm của tâm, cái cấu nhiễm của thân tâm. Chứ không phải nhìn thấy cái gì đó đẹp, nó cao siêu, đó là không phải.

Nhìn lại năm uẩn là bước thứ nhất, bước thứ hai là sau khi nhìn kỹ vô những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức đó, thì mình sẽ thấy rằng trong suốt một ngày ở trong cảm giác của mình có thích hay không thích, muốn hay không muốn, ưa hay không ưa, thương và ghét, đẹp và xấu, vừa lòng và không vừa lòng. Khi mình nhìn vô năm uẩn kỹ rồi, thì dẫn dần mình mới thấy được trong tâm mình có sự vận hành của những cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức là một sự vận hành của cấu nhiễm. Đây là bắt đầu nhìn thấy được khổ tập thánh đế.

Nghe giảng để mình nhận thức là không phải. Mà mình thấy được sự vận hành của cảm giác thúc dục ở bên trong. Những cảm giác thúc dục, đòi hỏi, khát ái, mình nhìn thấy được những cảm giác này bằng con mắt trí huệ của mình. Sau khi một thời gian mình nhận diện, nhìn nhận các cảm giác nghĩ tưởng trong tâm mình sẽ thấy.

Ví dụ: các thầy đến đây lần đầu mà trước đó có nhìn trên hình biết ở đây có cổng trời. Mà đến đây cứ ngồi ở dưới hoài chưa được lên cổng trời, thì bên trong có một cảm giác thúc dục mình đi lên để thấy cổng trời ra làm sao.

Thì cảm giác thúc dục, đó là dục. Nhưng mà nếu thục dục thiện pháp thì là tốt. Còn nó thúc dục ác bất thiện pháp thì mình phải thấy cảm giác đó sanh khởi.

Cho nên bước quan trọng thứ hai là nhìn lại ngũ uẩn để làm gì? Để nhìn thấy được tâm cấu nhiễm lậu quặc. Cái này rất quan trọng, đây là đắc pháp nhãn tịnh, đây là mở mắt trí huệ, đây là thành tựu chánh kiến. Mà mức độ thấy đó, nó tuỳ theo sự siêng năng, tinh tấn, nỗ lực của mình, mình sẽ thấy nhiều hay ít, sâu hay là cạn.

Cho nên người chân tu thì người đó sẽ thấy lậu quặc, cấu nhiễm của mình rất nhiều. Còn người không tu thì không thấy. Họ sống chung với ô nhiễm vì người ta không thấy.

Tại vì các thứ tham dục, cảm giác thúc dục, nóng giận, những cảm giác si mê, những cảm giác ta đây, bản ngã hoạt động một cách hết sức tinh ranh, xảo trá. Mình không nhìn thấy được mới gọi là lậu. Lậu tức là nó vận hành một cách ngấm ngầm, lén lút, nhỏ nhiệm, tinh vi mà mình không nhìn thấy, không phát hiện ra. Chữ hoặc, tức là mê hoặc, mê lầm, sự mê lầm mà nó vận hành, nó hoạt động ngấm ngầm trong tâm thức của mình mà mình không phát giác, không phát hiện, không nhìn thấy.

Lậu hoặc có ba loại. Thứ nhất là sự ham muốn, thứ hai là sự dao động, ưa thích hiện hữu. Thứ ba là sự vô minh, không thấy không biết về ngũ uẩn, về thân tâm của mình.

Cho nên ba cái lậu hoặc này, nó chùm chiếm, nó chi phối hết toàn bộ cảm giác, nghĩ tưởng, nhận thức của mình.

Người mà nỗ lực nhìn lại thân tâm của mình một thời gian dài, thì người đó sẽ phát hiện ra những sự hoạt động ngấm ngầm của những cái tâm cấu nhiễm, những cái tâm đó đưa mình đến khổ đau. Còn người có những phương pháp chặn đứng nó lại, kiểm soát, quản lí, xử lí, nhiếm phục, chế ngự, đoạn tận, triệt hạ, tẩy sạch, bằng những phương pháp cụ thể, thiết thực và rõ ràng, ở trong kinh Đức Phật dạy.

Ví dụ: Dục thì dùng bất tịnh quán, chín giai đoạn của một tử thi, quán tứ đại.

Sân hận thì dùng từ tâm giải thoát.

Si mê thì dùng sự quán chiếu về ánh sáng, chánh niệm tỉnh giác.

Bản ngã thì mình dùng những phương pháp phá ngã, diệt ngã.

Từng tâm cấu nhiễm thì có những phương pháp đối trị, thích ứng phù hợp, chính xác. Thì mình sẽ thấy được nó rõ, nó còn nhiều, nó vừa, còn ít hay nó hết, mình thấy rõ bằng những phương pháp cụ thể, thiết thực.

Đó là Minh Thành nói chung về đạo lộ tu tập, về đường lối của kinh tạng Nikāya. Người tu Nikāya là phải nhìn thấy cái tâm cấu nhiễm, lậu hoặc của mình. Một người đã nhìn thấy tâm cấu nhiễm của mình, thì người này luôn trú ở trong trạng thái hỗ thẹn, sợ hãi, tàm quý. Người này không thể vênh váo, không thể tăng trưởng bản ngã được, vì người này thấy được một cách chính xác về thân tâm.

Cho nên trong kinh Nikāya nói rất nhiều về hạnh tàm quý. Tức là hỗ thẹn và sợ hãi đối với ác bất thiện pháp. Chính vì hỗ thẹn sợ hãi này, thì người này mới lo cố gắng tẩy sạch cấu nhiễm trong tâm. Cho nên từ nhục nhã đi đến thánh quá, từ sự xấu hổ nhục nhã đi đến thánh quả. Đó là nói cái tổng cương lĩnh, khái khát về sự hành trì.

Sự tu học của Minh Thành thì trong thời gian đầu nghe pháp và được sự hướng dẫn của bậc thiện tri thức rất tích cực, xuyên suốt, liên tục trong ba năm.

Một ngày Minh Thành nghe trung bình là tám tiếng. Còn thực hành thì liên tục, liên tục, liên tục, không để cho nó gián đoạn, trừ khi có khi nào xử lí công việc. Xử lí công việc xong là trở về cái pháp ngay lập tức. Phải dùng cái từ là cố gắng để miên mật.

Trong giai đoạn đầu mình phải nghe nhiều. Mà nghe ai? Nghe bậc thành tựu chánh tri kiến, người đã thành tựu pháp này. Mình nghe người đó thì mới có thể thành tựu được chánh kiến, còn mình nghe lung tung hết thì không thành tựu được chánh kiến.

Người mà không biết pháp Nikāya này thì họ nói trong ngũ uẩn, nói trong bản ngã, trong suy tưởng, nghe họ nói mà mình về mình tu không được. Nếu một người thành tựu, người ta nói mình nghe theo, mình làm theo thì mình sẽ tu được, tại vì người đó nói đúng.

Cho nên giai đoạn đầu mình phải nghe, học, tìm hiểu, nhận thức, tu tập về chánh tri kiến. Mình thực tập nhận diện ngũ uẩn liên tục, liên tục, liên tục.

Liên tục nhìn lại nội tâm, những hình bóng, những cảm giác, những nghĩ tưởng, mình phải nhìn lại liên tục.

Mình phải phân biệt, phân loại tâm mình ra. Nếu thiện pháp mình phải biết cái đó là thiện pháp, bất thiện pháp mình phải biết cái đó là bất thiện pháp. Thiện pháp mình phải phát huy. Ví dụ như tâm từ bi, hỉ xả, trong tứ chánh cần, tứ như ý túc, mình cần phát huy, mình cần phải biết.

Mình phải biết lúc đó là nó thuộc về loại nào trong tâm mình, nếu mình không nhận diện ngũ uẩn là mình không biết. Trong lúc đó là khổ thọ hay lạc thọ, hay bất khổ bất lạc thọ.

Trong cảm giác thích thú đó thì tham có mặt, trong cảm giác bực bội thì sân có mặt, trong cảm giác đều đều thì si có mặt. Như vậy mình phải tác ý như thế nào, mình phải dụng tâm như thế nào. Rồi những pháp nào trong tâm mình sanh khởi lên mà tương ứng với ba mươi bảy phẩm trà đạo, mình phải nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển, làm cho nó quảng đại.

Thì lúc đó tâm mình có trong tứ chánh cần hay không, mình phải biết nó thuộc vào chi phần nào, nó có trong tứ như ý túc không. Nếu mình không có thuộc lòng, mình không có nắm mấy pháp này thì mình không vận dụng được. Cho nên mình phải nắm được và nhuần nhuyễn ba mươi phảy phẩm trà đạo.

Bước đầu là mình nhận diện năm uẩn, thực hành ba pháp. Bước kế đó, từ trong năm uẩn mình nhận diện tham sân si và bản ngã, vô minh. Rồi mình có những phương pháp thích ứng để diệt, tẩy, thanh lọc nội tâm. Sau đó mình mới phát huy những thiện pháp, tinh cần, tinh tấn, nhiệt tâm, chánh niệm tỉnh giác. Mình phát duy dục như túc của mình, sự mong muốn tăng thượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Mình phải tha thiết, nỗ lực, để tâm và dùng tất cả mọi cách để mình vận dụng. Đó là tứ như ý túc. Lúc đó mình phải biết bản thân đang sử dụng tứ như ý túc.

Muốn như vậy mình phải có thời gian, có người hướng dẫn, có thực tập một cách nghiêm túc, một cách nỗ lực, một cách siêng năng, tinh cần, tinh tấn, tha thiết, nhiệt huyết, huyết liệt.

Không phải lúc nào mình tu thì cũng chiến thắng hết, có lúc mình cũng thất bại. Có những lúc mình cũng nản, mà khi mình nhận diện được năm uẩn thì mình sẽ vượt qua được, mình đứng lên, mình tiếp tục chiến đấu. Mình không chịu thua, mình cứ kiên trì, trì chí, trường viễn. Mình phát huy ngũ căn, ngũ lực, tinh tấn niệm định huệ. Như vậy thì chắc chắn thiện pháp trong mình phải phát triển, phải lớn mạnh.

Cách giảng pháp

Đầu tiên phải y cứ vào kinh tạng vào Nikāya, tất cả sự tu học về chia sẽ Phật pháp của mình phải y cứ vào kinh tạng Nikāya, không được tự ý mình suy nghĩ ra, suy diễn, suy tưởng ra.

Bây giờ chính vì cái tự ý, cho nên sự tu học của mình càng ngày càng xa với Đức Phật, càng ngày càng xa với chánh pháp thực sự nguyên chất của Đức Phật. Thì hiệu quả của mình càng ngày càng kém, càng ngày không thấy sự hiệu quả trong tự tâm. Đó tại vì mình tự ý. Cho nên phương pháp giảng giải của mình, mình phải căn cứ vào lời của Đức Phật.

Tương Ưng Bộ Kinh Tập 3. Bài kinh Vị Thuyết Pháp.

Tiêu chuẩn của một vị pháp sư là như thế nào? Được Đức Phật định nghĩa, chứ không phải mình muốn giảng sao mình giảng.

Một thầy Tỷ-kheo, bạch Đức Thế Tôn, được nói rằng một vị thuyết pháp, vị thuyết pháp cho đến như thế nào được gọi là một vị thuyết pháp.

Đức Phật trả lời rằng: Nếu Tỷ-kheo thuyết về sự nhàm chán, li tham, đoạn diệt đối với sắc, như vậy vừa đủ được gọi là Tỷ-kheo thuyết pháp.

Nếu một vị Tỷ-kheo nào nói pháp, giảng pháp, thuyết pháp mà nói về sự nhàm chán đối với các sắc pháp, mọi vật chất trên cuộc đời này, thân xác này, tất cả tứ đại này.

Nếu một vị Tỷ-kheo nào mà thuyết pháp về sự không tham muốn nữa đối với mọi vật chất, đối với thân xác này, đối với cuộc đời này.

Nếu vị Tỷ-kheo nào thuyết pháp mà chấp dứt đối với mọi sắc uẩn. Như vậy là vừa đủ được gọi là một vị tỷ-kheo thuyết pháp.

Nếu Tỷ-kheo thuyết pháp về sự nhàm chán, li tham, đoạn diệt đối với những cảm giác, những hình bóng trong tâm, những suy nghĩ, những nhận thức. Như vậy là vừa đủ được gọi là vị Tỷ-kheo thuyết pháp. Đó là pháp sư được Đức Phật trao bằng.

Đức Phật trao bằng cấp trao bằng cấp cho vị pháp sư đó như vậy. Chứ không phải là bằng tiến sĩ Phật học, chứ không phải bằng đại học cử nhân, mà bằng của bậc chánh đẳng chánh giác trao tay.

Đối với vị nào mà thuyết pháp làm cho người nghe nhàm chán, lìa tham, chấm dứt, không còn ưa thích ngũ uẩn nữa, thì vị đó là đại pháp sư. Đó là bậc thuyết pháp chân chánh của Đức Phật.

Nếu Tỷ-kheo đi vào thực hành sự nhàm chán, li tham, đoạn diệt đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo thực hành pháp, tuỳ pháp.

Nếu Tỷ-kheo đi vào sự thực hành nhàm chán, không tham muốn, chấm dứt đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức, như vậy là vừa đủ được gọi là Tỷ-kheo thực hành pháp, tuỳ pháp.

Nếu Tỷ-kheo do nhàm chán, li tham, đoạn diệt đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức được giải thoát không có chấp thủ. Như vậy vừa đủ để được gọi Tỷ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.

Bài kinh này là trả lời cho tất cả những câu hỏi về thuyết pháp, nếu con trả lời là phàm phu thì sao các thầy chứng thánh trí được. Phải trả lời bằng sự trả lời của bậc thánh, thì các thầy mới đi vào con đường thánh đạo.

Như vậy thì chúng ta mới nhìn thấy năm uẩn này bao trùm hết tất thế và xuất thế, thánh phàm, mê ngộ, học hành chứng ở trong năm uẩn này hết.

Bây giờ mình mới hỏi, tại sao mình giảng pháp mà phải giảng về sự nhàm chán, li tham, đoạn diệt đối với năm uẩn. Thì như vậy mới gọi là một vị thuyết pháp, tại sao như vậy?

Đây là câu hỏi lớn, đây là cốt tử của kinh tạng Nikāya.

Tại sao Thái Tử Tất Đạt Đa đi xuất gia? Tại sao?

Khi ngài đòi xuất gia thì phụ vương kêu rằng đừng đi tu, ở nhà làm các công đức đi. Thì ngài nói rằng: Nếu mà phụ vương đáp ứng cho con được những yêu cầu, thì con không đi tu. Làm sao cho con đừng có già, làm sao cho con đừng có bệnh, làm sao cho con đừng có chết.

Như vậy thì vua, không đáp ứng được cho nên ngài mới đi tu.

Thì câu đó với những lời kinh ở trên có cái gì liên hệ?

Đây là một cái hết sức thâm sâu, hết sức là mới mẻ đối với chúng ta học Phật trước nay.

Mình học chung chung bây giờ là mình cứ nghĩ, mình tu là mình chết sau này mình được sanh ở cõi nào đó, hoặc là mình được thế thế thường hành Bồ Tác Đạo, đặng độ. Nhưng mà những tư tưởng đó là sau này, tư tưởng trong kinh Nikāya là sự chứng ngộ Đức Phật không phải như vậy. Trong bài kinh Thánh Cầu, Đức Phật nói rằng: Các ông bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết, các ông lại đi tìm cái bị sanh, bị già, bị bệnh, bị chết. Các ông sầu bi khổ ưu não, các ông lại đi tìm cái sầu bi khổ ưu não. Như Lai bị sanh già bệnh chết, cho nên đi tìm cái không sanh, Như Lai tìm cái không già không bệnh, không chết. Như Lai đi tìm cái không có sầu bi khổ ưu não, rồi Như Lai chứng ngộ.

Như vậy cái gì là cái bị sanh, cái bị già, cái bị bệnh, cái bị chết? Đó là sắc uẩn. Cái gì nó làm cho mình sầu, bi, khổ, ưu, não, đó phải là thọ, tưởng, hành, thức không? Mình khổ là khổ ở đâu? Khổ ở cảm giác, khổ ở trong những suy nghĩ, khổ ở trong những nghĩ tưởng. Khổ ở chỗ con mắt mình nhìn thấy họ liếc, họ kinh khi mình. Mình nghe câu nói đó, mình nhìn thấy hình ảnh đó, mình nhận thức được điều đó. Do mình nhận thức được điều đó, mình rõ biết cái đó cho nên thọ tưởng hành sanh khởi. Cái này là cái hết sức mới và hết sức thâm sâu mà trước giờ mình học mình không biết. Ngũ uẩn này là cái bị sanh già bệnh chết, bị sầu bi khổ ưu não.

Đức Thế Tôn chứng ngộ là gì? Là nhàm chán ngũ uẩn, li tham ngũ uẩn, đoạn diệt chấm dứt ngũ uẩn, xuất li ra khỏi ngũ uẩn.

Giảng được cái đó mới gọi là pháp sư của Đức Phật. Còn giảng cho người ta ưa thích cái sắc thì nó không phải là pháp sư của Đức Phật.

Mà trước nay mình tu học mình có nhàm chán cái sắc không? Hay mình còn thích cái chùa bự. Mình phải nhìn nhận cái thực tế như vậy.

Tuy mình đi tu như vậy mà cái danh lợi mình có thích không? Như vậy là dễ bị dính lắm.

Cho nên học là phải học ngũ uẩn, tu là phải tu ngũ uẩn, chứng là chứng cũng ở ngay ngũ uẩn.

Sự chứng ngộ là gì? Sự thực hành là gì? Là do nhàm chán, li tham, đoạn diệt đối với sắc, thọ, tưởng, hành thức. Và đi vào sự thành đó, thì mới gọi là vị Tỷ-kheo thực hành pháp tuỳ pháp, mới gọi là hành giả của Đức Phật.

Chỗ này là chỗ hết sức sâu sắc, mà phải nói chỗ tổng quát cho quý thầy nắm được.

Mình có ưa thích cái suy nghĩ của mình không? Cái suy nghĩ của mình, mình có thích không? Mình có thấy cái đó là đúng không? Mình có khổ với suy nghĩ đó không? Mà mình không biết pháp duyên sanh, do xúc mới sanh ra thọ tưởng hành. Do tiếp xúc mới sanh ra cảm giác, nghĩ tưởng.

Có khi nào mình có được cảm giác, có được hình bóng, suy nghĩ về cái gì mình chưa từng nghe, chưa từng thấy, chưa từng tiếp xúc không? Tất cả những cái mình suy nghĩ, tưởng tượng đều là do mình tiếp xúc. Tiếp xúc qua rồi mình mới suy nghĩ về người đó, thấy hình bóng của người đó. Chứ mình chưa tiếp xúc, chưa nghe nói, chưa biết gì hết về người đó thì sao mình có thể suy nghĩ về người đó, sao mình có cảm giác về người đó, sao mình tưởng tượng về người đó. Cho nên pháp ngũ uẩn là pháp duyên sanh.

Tỷ-kheo do nhàm chán, li tham, đoạn diệt đối sắc được giải thoát không có chấp thủ. Như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo đã đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.

Chỗ này thâm sâu, đây là gương mặt thật sự của Như Lai. Mà có khi mình ở trong chùa ăn hết tương chao, ăn hết không biết bao nhiêu bao gạo, mình còn chưa biết được thật sự gương mặt thật sự của Như Lai như thế nào. Mình tu từ sáu bảy tuổi cho đến chết, chưa biết thật sự gương mặt thật sự của Như Lai như thế nào, và sự xuất li ra khỏi năm uẩn.

Đức Phật nói quán sắc giống như hòn bọt, quán thọ như bong bóng nước, quán hành như cây chuối, quán tưởng như rắn mặt trời, quán thức như trò ảo thuật vậy.

Chính vì vô minh, không biết được năm uẩn mà cho nó là tôi là của tôi là tự ngã của tôi. Trong suy nghĩ, trong cảm giác, trong hình bóng, trong nhận thức bên trong tâm của mình đều là tôi, là của tôi, là tự ngã của tôi. Đó là vô minh.

Lúc nào mình cũng nhận cái thân này là tôi hết. Có bao giờ mình ngồi thiền, mình nói mấy chục kí lô thịt này không phải là tôi, không phải là của tôi, không phải là tự ngã của tôi.

Nó là tứ đại, nó là vô thường, nó là thứ tan nát, bại hoại, sớm muộn gì nó cũng thành cát bụi thôi. Có khi nào mình ngồi, mình suy nghĩ vậy không? Suy nghĩ đó là tu, là đang thực hành pháp, là đang tuỳ pháp, là đang đi vào pháp.

Mình luôn luôn níu chặt, bám chắc, nắm hết sức là cứng vào trong ngũ uẩn này. Chính vì vậy, một câu nói, một ánh mắt, một hành động là sân đùng đùng lên rồi, là bản ngã lên liền. Tại vì sao? Tại vì mình bám rất chắc vô sắc thủ uẩn, thọ thủ uẩn, tưởng thủ uẩn, hành thủ uẩn, thức thủ uẩn. Sự bám chặt vào ngũ uẩn này là khủng khiếp.

Này các Tỷ-kheo, cái gì không phải của các ông, các ông hãy từ bỏ, các ông từ bỏ các ông sẽ được an lạc, hạnh phúc.

Cái gì không phải của các ông? Sắc này không phải là của các ông, không phải là ông, không phải tự ngã của các ông. Thọ không phải của ông, không phải là ông, không phải là tự ngã của các ông. Tưởng không phải là ông, không phải là của ông, không phải là tự ngã của ông. Hành không phải là ông, không phải của ông, không phải tự ngã của ông. Thức không phải là ông, không phải của ông, không phải tự ngã của ông.

Cái gì không phải của các ông, các ông hãy tự bỏ nó. Tự bỏ nó các ông sẽ được hạnh phúc, an lạc dài lâu.

Này các Tỷ-kheo, nếu có người đem những cành lá, họ gom lại rồi họ đốt. Ông có nghĩ rằng, họ đang tốt tôi, đang tốt tự ngã của tôi, hay là không?

Bạch Thế Tôn: Dạ, không.

Thế Tôn mới hỏi: Tại sao vậy?

Tỷ-kheo: Dạ. Vì cái đó không dính dáng gì tới con hết, cành lá cây trong rừng đâu phải là con.

Thế Tôn mới nói: Cũng vậy sắc không phải của các ông, hình hài mấy chục kí lô thịt này không phải của các ông, nó là tứ đại. Mà sắc do tứ đại tạo thành.

Cho nên mình phải tác ý liên tục, thường xuyên. Mỗi khi mình suy nghĩ, mình cảm giác, mình tưởng tưởng là mình đánh đuổi những cái ăn sâu trong não mình. Cái tôi và của tôi đó, mình phải tẩy, tẩy cho sạch. Mình tẩy sạch là thể nhập thánh trí, chứng ngộ Niết-bàn.

Ví dụ: Ai lấy món đồ của mình, hay làm hư món đồ của mình, mà mình bực lên. Mình nói, cái này đâu phải là mình, cái này không phải của tôi, không phải là tôi.

Mình tác ý như vậy, gọi là như lý tác ý, như vậy là thánh tư duy, chánh tư duy, tuệ lực, như lý tác ý, tác động tâm ý đúng với chân lí.

Mỗi một lần như vậy là mình rửa, mỗi lần là mình chà, mỗi lần là mình quét, mỗi lần là mình lau. Mình lau tẩy quét riết cho đến một lúc nào đó mình chứng nhập sự thật đó đúng thật sự. Thì lúc đó là mình thể nhập thánh trí, đó là đang hành pháp.

Này các Tỷ-kheo, do nhàm chán, li tham, đoạn diệt đối với sắc, thọ, tưởng, hành, thức, được giải thoát không có chấp thủ. Như vậy là vừa đủ để được gọi là Tỷ-kheo đã đật được Niết-bàn ngay trong hiện tại.

Niết-bàn là gì? Là sự dập tắt khát ái đối với ngũ uẩn.

Không còn khao khát sắc nữa, không còn đi tìm kiếm những cảm giác khoang khoái nữa, không còn chấp thủ những nghĩ tưởng trong tâm, không còn bám chặt vô nhận thức rõ biết này nữa. Mà biết chúng là vô thường, là duyên sanh, là trống rỗng, vô ngã. Đó là Niết-bàn.

Phá được vô minh, tức là mình nhìn thấy nó là ngũ uẩn, chứ không phải tôi, không phải của tôi. Từ chỗ thấy nó không phải tôi, không phải của tôi, thì khát ái đó bắt đầu bị đoạn tận. Mình phá vô minh và khát ái đối với ngũ uẩn, thì xuất li ngũ uẩn, giải thoát khỏi ngũ uẩn. Cho nên mới gọi là đạt được Niết-bàn ngay trong hiện tại.

Khi Đức Phật nói với vị Tỷ-kheo, ông đi qua sứ đó, mấy người bên đó hung dữ lắm.

Bạch Thế Tôn: Chửi mắng con vậy họ còn dỡ, họ chưa đánh con.

Thế Tôn: Họ đánh ông thì sao?

Tỷ-kheo: Họ đánh con thì thân này, tứ đại này duyên sanh vô thường này, không có gì là con, không có gì là của con.

Thế Tôn: Họ giết ông chết thì sao?

Tỷ-kheo: Vậy con giải thoát khỏi sắc uẩn bất tịnh, dơ bẩn, tan nát, hoạt diệt.

Thế Tôn nói: Vậy ông qua đó giảng pháp đi.

Như vậy là chứng nhập thánh trí tuệ rồi. Như vậy ngài qua bên đó giảng, ngài hoá độ nguyên vùng đó, rồi ngài nhập Niết-bàn ngay vùng đó luôn. Ngài là bậc thánh Alahan.

Như vậy mà bây giờ xuất gia được ba năm là muốn ra giảng pháp rồi, muốn ra làm thầy rồi.

Thành ra mình phải tu học, phải tìm về cội nguồn gốc của Đức Phật dạy. Những gì Đức Phật đã chứng, đã giảng thuyết. Phải học cái đó, phải hành cái đó, phải truyền bá điều đó. Như vậy là mình thừa tự pháp của Đức Phật.

Hiện tại chúng ta nhìn thấy rất là khó nói pháp này, và thực hành pháp này. Con biết rất khó, rất ít nhưng mà con vẫn nói, tại vì đó là lời của Phật, không thể nói khác. Mình là con Phật không thể nói lời của ma được. Lời nói của ma là khuyến kích tham đắm vô trong ngũ uẩn. Lời nói của Phật là yểm li, ly tham, nhàm chán, chấm dứt, đoạn diệt, xuất li, xả li đối với ngũ uẩn.

Chỉ có con đường đó mới hết khổ, mới giải thoát sanh tử, chấp dứt luân hồi. Tại vì còn ưa thích sắc, thọ, tưởng, hành thức thì đời sau lại còn nhảy vô năm cục đó nữa, không thể đi ra cái nào khác. Khi đã nhàm chán tận cùng, muốn từ bỏ, không ưa thích nó nữa, thì đời sau đi theo vòng không còn vô minh khát ái. Nói đơn giản là tham ái đối vối ngũ uẩn đã hết. Không ưa, không thích, không muốn nữa, thì không còn đi vào ngũ uẩn nữa. Thì như vậy đạt tới cảnh giới bất tử.

Tại sao Đức Phật kêu mình cần nhàm chán đối với năm uẩn?

Bản chất của năm uẩn là khổ. Mình không muốn khổ, cho nên mình phải nhàm chán những cái thứ làm cho nó khổ. Mình phải xa lìa, viễn li, rời xa nó.

Mình không muốn khổ, mà những thứ sanh ra khổ mà mình ưa thích, thì làm sao mình hết khổ được.

Ví dụ: Con rất ưa thích Linh Quy Pháp Ấn, mà vài bữa có lệnh của giáo hội ban xuống, bổ nhiệm người khác trụ gì. Như vậy con khổ không? Nếu như vậy đương nhiên phải khổ rồi.

Bây giờ nếu như hằng ngày con tu tập, nhàm chán, li tham, đoạt diệt đối với sắc uẩn. Tới lúc đó, lỡ chuyện đó có xảy ra thì khổ rất ít, hoặc không khổ. Như vậy đó là diệt khổ chi đạo.

Bây giờ con không ưa thích thân xác này, không ái luyến, không đam mê, không ưa thích. Mà chán nó, nó dơ bẩn, bẩn thỉu, bệnh hoạn, mệt mỏi, máu huyết tanh hôi. Bao tử, lá lách, tim, gan, ruột, thận, tuỷ, bao nhiêu những thứ trong này nhơ nhớp bẩn thỉu, bệnh hoạn. Thật chán ngán.

Như vậy tới lúc thân xác này rã ra thì có khổ không? Chán quá thì giờ khoẻ rồi, bây giờ giải thoát rồi. Cái xe chạy bảy chục năm đã riệu rã rồi, thôi bây giờ bỏ đi. Như vậy mình cười rồi ra đi thôi.

Tại sao mình được như vậy? Là do hằng ngày mình tu tập sự nhàm chán, li tham, đoạn diệt, từ bỏ, chấm dứt, xuất li, đoạn li, xả li đối với sắc. Như vậy mình thấy rõ vấn đề không? Rất là rõ ràng, đâu có cái gì không rõ ràng. Nhưng mà mình không chịu cái rõ ràng, mà mình muốn cái gì không rõ. Mình thích cái gì xa xôi, tưởng tượng ở đâu mà cái trước mắt không chịu tu.

Dù cho mình hiểu tới, mình chưa đạt tới, mình chưa hướng tới nhiều mà mình phải biết Phật pháp chân chánh là như vậy.

Nội pháp học mà được, cũng là tuyệt vời rồi. Trong lứa tuổi tăng sinh tu tập, cần nhận thức về pháp có một cái nhìn chính xác đã là cực kì quý báu rồi.

Tại vì cái này hồi xưa con đi học là chưa từng được nghe. Học mười năm ở trường Phật học mà chưa có ai giảng như vậy hết. Đi tu gần ba chục năm mà chưa có ai giảng như vậy hết, nên chưa từng được nghe. Cho nên mình cố gắng, mình có một cái nhận định chính xác về giáo pháp của Đức Phật. Dù mình chưa hướng tâm nhiều hoặc mình chưa thực hành được, mình càng chưa chứng đắc nhưng mình biết Phật pháp nguyên chất là như vậy, cốt lõi là như vậy, cốt tuỷ là như vậy, tinh tuý là như vậy, tinh hoa là như vậy. Để mình không hiểu lầm lạc, để mình không có hướng dẫn chia sẽ cho Phật tử về sau một cách lầm lạc.