Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

TẠNG KINH NIKAYA QUÝ BÁU! TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ - THÂU NHIẾP - QUẢN GIÁO THÂN TÂM - NIỆM OAI NGHI HÀNH ĐỘNG

2026-03-03 00:56:15
TẠNG KINH NIKAYA QUÝ BÁU!

TƯƠNG ƯNG SÁU XỨ

THÂU NHIẾP – QUẢN GIÁO THÂN TÂM

NIỆM OAI NGHI HÀNH ĐỘNG

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài Kinh “Thâu Nhiếp” PAGEREF _Toc94086028 \h 1

II.Quản giáo thân tâm PAGEREF _Toc94086029 \h 6

III.Niệm oai nghi, hành động PAGEREF _Toc94086030 \h 10

Bài Kinh “Thâu Nhiếp”

Trong bài kinh “Thâu Nhiếp”, Tương Ưng Bộ Kinh IV, Đức Phật có dạy:

Có sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ. Thế nào là sáu?

Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ...

Tai... Mũi... Lưỡi... Thân...

Ý xúc xứ, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

Có sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc. Thế nào là sáu?

Mắt xúc xứ, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc...

Tai... Mũi... Lưỡi... Thân...

Ý xúc xứ, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.

Sáu xúc xứ này, này các Tỷ-kheo, khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.

Đức Phật tuyên bố rằng, khi mắt tiếp xúc với sắc; khi lỗ tai tiếp xúc với âm thanh; khi lỗ mũi với mùi hương; khi lưỡi tiếp xúc với vị, với thức ăn; khi thân tiếp xúc với sự đụng chạm; khi ý tiếp xúc với những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ bên trong mà không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp thì sẽ đem lại khổ đau. Như vậy, khi sáu xúc xứ này không nhiếp phục, không phòng hộ, không bảo vệ, không thâu nhiếp, đem lại đau khổ.

Ngược lại, khi mắt thấy; tai nghe; mũi ngửi; lưỡi nếm; thân xúc chạm; ý nhận thức các pháp với sự khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp thì đem lại sự an lạc, an ổn, an vui. Cho nên, khi sáu xúc xứ này khéo nhiếp phục, khéo phòng hộ, khéo bảo vệ, khéo thâu nhiếp, đem lại an lạc.

Nói như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Hỡi các vị Tỳ Kheo.

Chính sáu xúc xứ này,

Chỗ nào không thâu nhiếp,

Chỗ ấy có đau khổ.

Những ai học biết được,

Chế ngự, phòng hộ chúng,

Với lòng tin làm bạn,

Sống thoát ly dục vọng.

Thấy sắc pháp khả ái,

Thấy sắc không khả ái,

Hãy nhiếp phục đường tham,

Ðối các sắc khả ái,

Chớ khiến ý nhiễm ô:

“Ðối sắc, ta không thích”.

Sau khi nghe các tiếng,

Khả ái, không khả ái,

Chớ để tâm say mê,

Với các tiếng khả ái.

Hãy nhiếp phục lòng sân,

Với tiếng không khả ái,

Chớ khiến ý nhiễm ô:

“Ðối tiếng, ta không thích”.

Sau khi ngửi các hương,

Thơm dịu, thật khả ái,

Sau khi ngửi các hương,

Bất tịnh, thật đáng ghét.

Hãy nhiếp phục lòng sân,

Ðối các hương đáng ghét,

Còn đối hương khả ái,

Chớ để dục chi phối.

Nếm xong vị ngon ngọt,

Và nếm vị không ngon,

Chớ có sanh tham luyến,

Khi hưởng nếm vị ngon,

Chớ nói lời chống đối,

Khi nếm vị không ngon.

Khi cảm thọ lạc xúc,

Chớ đắm say tham luyến,

Khi cảm thọ khổ xúc,

Chớ bị xúc động mạnh.

Ðối với cả hai xúc,

Lạc, khổ đều niệm xả,

Không thích, không chống đối,

Bất cứ loại xúc nào.

Ðối với các người khác,

Mê theo hý luận tưởng,

Họ mê theo hý luận,

Họ hành theo hư tưởng.

Hãy đoạn trừ tất cả,

Gia sự do ý tạo,

Hãy nhiếp các hành động,

Hướng đến hạnh viễn ly.

Như vậy đối sáu xứ,

Khi ý khéo tu tập,

Nếu có cảm xúc gì,

Tâm không bị dao động.

Tỳ Kheo hãy nhiếp phục,

Cả hai tham sân ấy,

Hãy đến bờ bên kia,

Vượt buộc ràng sanh tử.

(Tương Ưng Bộ Kinh IV, Chương I. Tương Ưng Sáu Xứ (a) – Phần I. Năm Mươi Kinh Thứ Nhất, V. Phẩm Từ Bỏ, bài kinh Thâu Nhiếp)

Nhờ mắt thấy; tai nghe; mũi ngửi; lưỡi nếm; thân xúc chạm; ý nhận thức các pháp thọ, tưởng, hành bằng sự để tâm, để ý, quán sát sâu sắc, cẩn thận, cùng với sự khéo léo trong việc tu tập nên khi có bất cứ cảm giác sanh khởi gì thì tâm cũng không dao động. Cho nên, người tu phải nhiếp phục đối với cả tham và sân, tức là phải nhiếp phục, thâu nhiếp, chế phục đối với những cái thích và không thích, ưa và không ưa, muốn và không muốn, thương và ghét, dễ chịu và khó chịu, dễ thương và dễ ghét. Nhờ đó có thể đến được bờ của Niết-bàn, vượt qua mọi buộc ràng của sống chết.

Qua bài kinh này, Đức Thế Tôn tuyên bố rằng có sáu sự tiếp xúc, sáu chỗ xúc chạm, người nào không biết thâu nhiếp, chế ngự sáu xúc này thì sẽ đem lại khổ đau. Ở đây, “thâu” có nghĩa là “thu”, là gom lại, không cho phóng ra ngoài, cho nên, “thu” đối nghĩa với chữ “phóng”, “thu vào” đối nghĩa với “phóng ra”, “thả lỏng ra”. Như vậy, nếu không biết thâu vào, không biết đề phòng, bảo hộ, giữ gìn, bảo vệ sáu xúc xứ thì sẽ đem lại khổ đau.

Quản giáo thân tâm

Trong giai đoạn này, chúng ta phải thực hành sự thâu nhiếp, quản giáo thân tâm của mình tốt hơn nữa. Đại chúng nơi đây có chất hiền thiện, chịu tu, chịu học nhưng cần phải rèn luyện thật nhiều về phương diện đức hạnh, oai nghi, tế hạnh.

Khi ngồi trên thiền đường hay ở giảng đường thì đa số mọi người đều thực hành tốt phần thâu nhiếp nhưng vừa ra ngoài là Minh Thành thấy mọi người bắt đầu không có sự thâu nhiếp. Trong khi đó, chúng ta không chỉ thiền tập ở giảng đường, thiền đường là xong mà phải thực tập ở mọi lúc mọi nơi để mình không hối hận. Chúng ta phải cẩn trọng trong việc quản giáo sáu căn, đây là thành tích, thành công của mình, người ta nhìn vào sẽ thấy được. Sự tu học rất thực tế, không phải chỉ có tu tâm mà còn phải tu tâm. Cụ thể hơn, Đức Phật dạy tu thân, tu giới, tu tâm, tu tuệ. Nếu không có sự để tâm vào sự tu này thì chúng ta cứ phải sám hối hoài, thậm chí có người còn không biết lỗi ở đâu để sám hối.

Đại chúng không nên chỉ giữ oai nghi lúc có Minh Thành, còn lúc không có mặt Minh Thành thì khác, vì sự tu này không phải tu cho thầy nhìn mà phải tu cho tự thân mình. Cho nên, hãy để tâm vào sự quản giáo thân, miệng, ý; dạy dỗ mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Nhìn vào những bậc hiền trí, bạn đạo, thiện hữu, hiền giả xung quanh để học hỏi và thấy xấu hổ. Tâm tâm niệm niệm ghi nhớ rằng tu không phải để người khác nhìn, tu không phải chỉ tạo dáng, làm người mẫu, mà chúng ta tu là vì sự đau khổ, khốn khổ, thống khổ của chính mình trong hiện tại và vô lượng sanh tử đã trải qua, chúng ta tu là để nhiếp phục và chế ngự được những ngôn ngữ, hành vi và ý nghĩ của mình. Thế nên, nếu không có sự thận trọng, làm tới đâu thì rớt bể tới đó, xuất hiện ở đâu là ồn ào, dao động ở đó thì chứng tỏ người này không có sự thâu nhiếp, như vậy thì không thể đi sâu vào trong pháp. Chúng ta suốt ngày cứ đòi những thứ cao siêu trong khi những thứ hết sức nhỏ nhặt, dễ dàng bên ngoài lại không thực tập được.

Mỗi khi quý Phật tử khi thấy quý thầy, quý cô đi xa về là phải đứng chắp tay xá chào đàng hoàng và tuyệt đối không có chuyện vui đùa giống như người thế gian. Lúc đầu chúng ta chỉ thấy đây là chuyện nhỏ nhưng về sau có thể thành chuyện trọng đại vì nó phá vỡ hết mọi thứ bậc, tôn ti, không còn ranh giới giữa người xuất gia và cư sĩ, dẫn đến sanh khởi ác, bất thiện pháp và các lậu hoặc. Từ những việc nhỏ mà mình không cẩn thận thì chuyện lớn chắc chắn sẽ xảy ra. Cho nên, chúng ta phải để tâm vào những oai nghi, tế hạnh, chánh niệm và tỉnh thức để thâu nhiếp, chế ngự những cái thô nhất, vì nếu ngay cả những cái có thể thấy được mà mình không làm được thì những cái nằm trong thọ, tưởng, hành không nhìn thấy được thì làm sao mình đoạn tận. Nếu chúng ta cẩu thả, xem thường những điều nhỏ nhặt thì không thể nào tu tiến được. Chính tâm xem thường, tâm cẩu thả từ trong những hành vi, công việc bình thường sẽ dẫn đến việc chúng ta cũng sẽ đem tâm cẩu thả, xem thường đó vào trong sự học pháp và sự nhận diện ngũ uẩn, soi rọi các tập khí, tập tính, lậu hoặc, phiền não cũng sẽ cẩu thả, qua loa, xem thường, tu như vậy thì uổng công tu. Những rác bẩn khác mình nhìn ra được nhưng những thói quen nếu nhìn không ra được thì mình sẽ nuôi dưỡng, chấp nhận nó và điều này có thể dẫn đến những hệ luỵ không ngờ.

Chính vì vậy, chúng ta phải chú trọng thực tập theo những lời dạy của Đức Phật trong Tứ Niệm Xứ chứ không phải chỉ để tụng đọc. Ví dụ: “Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi, tuệ tri: "Tôi đi", hay đứng, tuệ tri: "Tôi đứng", hay ngồi, tuệ tri: "Tôi ngồi", hay nằm, tuệ tri: "Tôi nằm". Thân thể được sử dụng như thế nào, vị ấy tuệ tri thân như thế ấy” là những câu không phải chỉ để tụng rồi trả bài cho Phật mà đây là những khẩu quyết để chúng ta thực hành, vận dụng, hành trì trong đời sống hàng ngày. Chúng ta không được bước ra khỏi thiền đường là giống như cá gặp nước, diều gặp gió, thả lỏng các dục, muốn nói thì nói, muốn ồn ào thì ồn ào, muốn la lối thì la lối, tu như vậy thì uổng phí vô cùng. Nếu cứ tu học một cách cẩu thả, không thận trọng, không cẩn trọng như vậy thì cuộc đời tu của mình sẽ đi về đâu? Mặc dù đã có sư phụ và các bậc thiện tri thức, bạn đạo kề bên chỉ dẫn mà nhiều khi mình vẫn không nhận lỗi, hoặc đã thấy lỗi rồi nhưng vẫn để đó, không cố gắng sửa lỗi thì tu đến bao giờ mới có kết quả?

Mỗi ngày phải viết nhật ký tu học, liệt kê ra những lỗi đã phạm trong ngày và viết cách tác ý, chưởi mắng để rầy la, dạy dỗ, huấn luyện, giáo dục, quản giáo, cải tạo thân tâm. Sau đó đề ra những chiến thuật, chiến lược để tác chiến với những rác bẩn, cấu uế này. Mỗi ngày đọc lại những điều đó để nhắc nhở bản thân và dành thời gian để sám hối. Như vậy, một mặt là viết ra những tội đã phạm phải và đưa ra những chiến lược tác chiến với những lỗi lầm đó; một mặt là sám hối đối với những sai phạm của bản thân (có thể sám hối trong tâm); một mặt là đọc tụng lại để nhớ những lỗi lầm đã phạm và cách tác ý, sửa chữa lỗi sai; một mặt là kiểm tra, kiểm soát, quản giáo, giáo dục, dạy dỗ thân tâm này và sau một tuần phải thấy có kết quả. Tu là phải quyết tâm như vậy, bằng không, cứ trơ trơ không để tâm quyết liệt vào sự tu học là không thể nào tiến bộ. Chỉ riêng phần oai nghi là Minh Thành đã phải nhắc nhở rất nhiều lần, chúng ta học để hiểu biết thật nhiều nhưng những điều nhỏ như vậy còn không làm thì tu sao được.

Cho nên, người có tâm tu thật sự là phải viết nhật ký tu học cho tự thân mình, không cần đưa ai xem, cứ giấu thật kỹ, sau đó viết ra tất cả những tật xấu của mình và tìm cách đối trị nó. Mỗi ngày phải vạch tội, hài tội, kể tội mình trong từng những ngôn ngữ, hành vi, suy nghĩ và xử tội chính mình trong từng ý hành, đọc lên bằng khẩu hành, vận dụng qua thân hành để sửa lỗi. Sự tu này sẽ đi dần dần vào trong cảm thọ và nhắc mình nhớ để đề phòng, phòng hộ, bảo vệ bản thân khỏi những lỗi lầm, nhờ vậy chúng ta sẽ ít phạm lỗi hoặc hoặc nếu phạm lỗi sẽ thấy xấu hổ, lo sợ. Ngược lại, dù phạm lỗi nhưng mình cứ cho qua, rồi nghĩ mình còn nhỏ, còn trẻ, còn trong tuổi ăn, tuổi chơi thì đó là tà tư duy, tà kiến, suy nghĩ như vậy thì đi tu làm gì, đây là những suy nghĩ bào chữa, suy nghĩ này là ma.

Thế nên, mỗi tối nhớ ghi ra những lỗi mình đã phạm phải trong ngày và ngày hôm sau dùng cách gì để đối trị cũng phải đề ra. Sau đó có quên thì phải mở ra đọc lại để nhắc nhở mình mỗi ngày. Về sau, quyển ghi chép đó sẽ trở thành bí kiếp võ công, trở thành báu vật, trở thành pháp sống trong cuộc đời tu học của mình, gọi là “nhật ký hành trì”, “nhật ký tu học”, đây là cuốn sách tự giáo huấn, tự rèn luyện bản thân mỗi người, đây là tác phẩm vi diệu nhất trong cuộc đời mình. Hoặc mình đọc lên và ghi âm vào điện thoại, mỗi tuần, mỗi tháng phải nghe lại để xem lỗi của mình có giảm thiểu không và sau đó chúng ta sẽ thấy những lỗi thô sẽ giảm bớt, kế đến là nhiếp phục được phần nào những lỗi vi tế hơn và cuối cùng là gạn lọc từ từ tất cả những lỗi lầm để đi đến chỗ hết lỗi. Giống như rửa chén, quét nhà, không phải mình cứ rửa hoài, quét hoà mà sẽ có ngày sạch hết chén và nhà không còn bụi bẩn. Tâm mình cũng vậy, chùi rửa hoài thì tâm này sẽ sạch, khi sạch rồi thì mình rất khoẻ, vì thân tâm này trở nên ngoan hiền, răm rắp nghe lời mình. Còn cứ để cho thân này tự tung tự tác, tung hoành ngang dọc thì mình sẽ chịu khổ với nó, vì nó sẽ giết hại mình trong vô lượng kiếp tử sanh.

Vì vậy, phải nghiêm khắc với bản thân mình từng chút, từng chút ngay cả đối với những hành động nhỏ. Khi nhập thất tu học, mình chánh niệm trong từng hành động, cử chỉ nhỏ và thấy rất an lạc nhưng khi ra thất thì mình có giữ được như vậy không? Ra thất chúng ta cũng phải ghi nhớ để giữ gìn oai nghi, dù không được trọn vẹn nhưng ít nhất cũng tốt hơn lúc trước, chứ không phải trở ra là trở lại như bình thường, như vậy là công sức nhập thất tu tập mất hết. Cũng vậy, trong thiền đường mình giữ được oai nghi trong từng cử chỉ, hành động nhưng tại sao bước ra khỏi thiền đường là không còn nữa? Chúng ta hãy tự hỏi tâm của mình và vạch tội, hài tội nó ra. Mỗi một phút giây luôn luôn phải để tâm, tha thiết, dày vò, thao thức, trăn trở, ưu tư, nước mắt đầm đìa đầy mặt vì những thiện pháp mà mình chưa nhiếp phục được. Vì vậy, chúng ta không thể lơ là, sống qua ngày như lục bình trôi sông trong khi mình đã học được Thánh Pháp.

Cho nên, trong sự tu học này chúng ta phải luôn luôn quản giáo thân tâm và cẩn thận, cẩn trọng đối với từng điều nhỏ nhiệm nhất trong mọi hành động của thân. Kế đến là cẩn trọng đối với những lời nói của miệng, không phải muốn nói là nói, không phải được hỏi là trả lời ngay lập tức mà cần suy nghĩ thật kỹ, dùng trí tuệ để soi xét thật sâu sắc rồi mới trả lời. Sau cùng là đi sâu vào những ý nghĩ trong thọ, tưởng, hành của mình.

Mỗi ngày, chúng ta không ngừng ra sức dạy dỗ cái tâm ngu bền vững, lâu dài này. Cái tâm này nghe Thánh Pháp thì gật gù ra vẻ hiểu biết nhưng nghe xong thì quăng qua một bên. Vì vậy, cần phải ghi chép lại từng lỗi lầm để nhắc nhở, rầy la, quở trách, tác ý, sám hối thường xuyên để mình không được tái phạm và hết hẳn những lỗi sai đó, hoặc ít nhất cũng được giảm thiểu. Còn tu mà không có sự để tâm thì lỗi vẫn y nguyên, tu hoài cũng không tiến bộ, hoặc tiến được một chút thì lại tự mãn, hài lòng, chấp nhận hiện tại. Ý nghĩ như vậy là ác ma, nó ác hơn cả tham dục, bản ngã, vì chính ý nghĩ đó làm chúng ta không chịu tu và nó giết chết mình dần dần, làm mình không có khả năng hướng thượng, chỉ nghe cho hiểu mà không muốn thực hành.

Niệm oai nghi, hành động

Trong Tứ Niệm Xứ, Đức Phật có dạy:

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo đi, tuệ tri: "Tôi đi", hay đứng, tuệ tri: "Tôi đứng", hay ngồi, tuệ tri: "Tôi ngồi", hay nằm, tuệ tri: "Tôi nằm".

Trong khi đi, đứng, ngồi, nằm phải rõ biết từng cử chỉ, đồng thời nhắc nhở mình rằng “thân đang ngồi, đang đi, đang đứng, đang nằm”, chúng ta phải niệm từng hành động như vậy. Tương tự, trong khi ăn uống, chúng ta cũng phải niệm để nhắc mình trong từng hành động, ví dụ: “tôi đang nhai”, “tôi đang gắp”, “tôi đang nuốt”. Nghe qua thì đơn giản nhưng đây là cả một công phu tu tập, vì Niệm Thân chính là hương vị bất tử. Cụ thể, khi đi thì nhắc rằng “thân đang đi”, đồng thời xem mình đi như thế nào và dạy thân này như dạy con: “Sắc này đang đi, phải đi cho đàng hoàng, đi cho nhẹ nhàng, đi cho chánh niệm. Cái sắc ngu si, buông lung phóng dật này phải được thâu nhiếp lại, an tịnh lại”, vừa đi phải vừa tác ý như vậy. Đó chính là quản giáo sắc pháp, quản giáo thân này. Khi sắc thân này muốn buông lung phóng dật, muốn cười đùa, muốn giỡn hớt, muốn buông thả thì phải tác ý ngay lập tức: “Này sắc pháp buông lung, buông thả kia, mày phải thâu nhiếp lại, thu thúc lại, phòng hộ lại, nhiếp phục lại, chế ngự lại, không được buông thả như vậy nữa! Này thân ngu kia, ngươi cứ muốn buông lung phóng dật, trôi nổi hoài phải không? Sao ngươi lại ưa thích cái hèn hạ, hạ liệt, phàm phu, phàm tục này? Ta sẽ đưa người vào Thượng Nhân Pháp, Thánh Pháp và ngươi phải đi vào Thánh đạo, ngươi phải đi vào oai nghi, tế hạnh, tỉnh giác, tỉnh thức thân tâm cho ta. Ngươi có nghe không hỡi cái sắc thân ngu si kia!”. Chúng ta phải tác ý và dỗ thân này từng chút như vậy, đó chính là sự quản thúc, quản giáo thân này.

Mỗi khi muốn đi nhanh thì lập tức tác ý: “Này, sắc pháp, thân ngu kia, hãy đi chậm lại, từ từ lại, an tịnh lại, chánh niệm lại”. Chúng ta phải dạy thân này từng chút một như bảo mẫu dạy trẻ con, như cha mẹ dạy con cái, như thầy dạy trò. Phải quản giáo, quản lý, dạy dỗ, giáo huấn sắc, thọ, tưởng, hành, thức, đây gọi là huấn luyện, đào luyện, tôi luyện, khổ luyện ngũ uẩn. Cứ dạy dỗ ngũ uẩn này trong từng giờ, từng phút, từng hành động để xem chúng có nghe lời và trở nên ngoan hiền không?

Lại nữa, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo, khi bước tới bước lui, biết rõ việc mình đang làm…

Chúng ta phải huấn luyện từng chút một đối với cái thân ngu và cái tâm mê này, nếu không dạy dỗ thì trăm năm sau vẫn ngu si, ngàn năm sau vẫn vô minh, triệu năm sau vẫn khát ái, tỷ năm sau vẫn bản ngã. Mỗi khi bước tới bước lui phải dạy dỗ thân này:“Sắc à, thân ngu à, ngươi phải bước cho đàng hoàng, ngươi phải bước cho chánh niệm. Ngươi có biết là mình đang bước không?”. Khi bước tới, bước lui như thế nào thì phải nghe theo lời chỉ dạy của Đức Thế Tôn, mỗi bước chân không được hấp tấp, vội vàng mà phải luôn quản giáo thân tâm.

Khi ngó tới ngó lui, biết rõ việc mình đang làm…

Đức Phật dạy khi ngó tới ngó lui phải biết rõ việc đang làm, tức là trong cái nhìn cũng phải dạy dỗ con mắt của mình: “Con mắt buông lung phóng dật, hướng ngoại này, mỗi khi ngó tới ngó lui thì ngươi phải biết thâu nhiếp, phải biết phòng hộ, phải biết chế ngự”. Cho nên, nhìn như thế nào phải dạy dỗ con mắt này, chứ không phải muốn nhìn là nhìn, muốn ngó là ngó, nếu không dạy thì nó sẽ trở thành “mất dạy”. Ngũ uẩn này từ vô lượng kiếp không được dạy dỗ, như vậy, sắc, thọ, tưởng, hành, thức này đều bị “mất dạy”. Vì vậy, bây giờ chúng ta phải dạy dỗ chúng từng chút một. Khi đi thì phải dạy ngũ uẩn này đi sao cho ra dáng người tu, đi phải có oai nghi, đi phải tỉnh thức, đi phải chánh niệm, đi phải có sự phòng hộ. Khi nhìn phải dạy ngũ uẩn này nhìn trong sự chánh niệm, thâu nhiếp và phòng hộ.

Từ vô lượng kiếp đến nay chúng ta không biết dạy dỗ năm uẩn này bởi vì không biết đến sự nhận diện năm uẩn và bây giờ chúng ta phải bắt đầu dạy dỗ nó, tức là mình khởi động sự quản giáo, quản lý, giáo dục, huấn luyện và dạy dỗ sắc, thọ, tưởng, hành, thức này. Dạy từng chút như vậy thì sau này ngũ uẩn mới trở nên ngoan hiền.

Khi co tay, khi duỗi tay, biết rõ việc mình đang làm…

Chẳng hạn muốn lấy một ly nước để uống thì phải biết rõ việc mình đang làm, biết mình nên lấy vào lúc nào, lấy như thế nào và để nắp của ly nước xuống không được phát ra tiếng động. Mỗi khi Minh Thành ngồi trên pháp toà mà muốn uống nước thì phải như vậy. Minh Thành phải dạy các sắc ngu này từng chút một mà đến hiện tại ngũ uẩn này còn chưa ngoan, chưa hiền thật sự như ý mình muốn. Cho nên, trong bất cứ cử chỉ, hành động nào thì chúng ta phải dạy dỗ ngũ uẩn này, tại vì từ vô lượng kiếp đến nay nó không được dạy, nó bị mất đi sự dạy dỗ, ngoài đời dùng từ “mất dạy” nghe rất nặng nhưng thật sự phải dùng từ này mỗi khi ngũ uẩn không nghe lời: “Cái thọ thúc giục, cái thọ vô minh, cái thọ tham, sân, si này là cái thọ mất dạy. Ta phải dạy dỗ ngươi”. Khi co tay, khi duỗi tay, khi lấy cái tô, cái chén, cái muỗng, khi bưng một món để dọn lên bàn thì phải biết rõ việc mình đang làm, không được làm trong sự thất niệm, không được làm trong sự lãng quên, không được làm trong sự mất mình, không được làm trong sự không nhận thấy, không thấy biết việc mình đang làm. Ngược lại, chúng ta phải làm trong sự thấy biết, làm trong sự quản giáo, làm trong sự chánh niệm và tỉnh thức trong nhất cử nhất động. Trong sự tu học này, chúng ta phải tập đem tâm trở về thân, tập thân đâu tâm đó, tập làm cái gì thì biết cái nấy và để tâm vào đó. Chúng ta làm việc bị sơ thất, ồn ào, rớt bể là bởi vì tâm mình luôn lang thang, vất vơ vất vưởng, thân ở đó mà tâm không có ở đó, cứ suy nghĩ lung tung ở đâu đâu, thế nên bưng đồ thì bị rớt bể, cắt gọt thì bị đứt tay… Đó là tâm lậu hoặc, lang thang cho nên mới phạm nhiều lỗi lầm, còn nếu làm việc mà chịu đặt tâm vào thì không thể có chuyện làm rớt bể chén tô. Và sau khi biết rõ việc mình đang làm thì chúng ta bắt đầu tác ý dạy dỗ thân tâm mình.

Như vậy, Kinh Tứ Niệm Xứ là những lời dạy siêu việt của Đức Phật, đây là toàn bộ hệ thống giáo dục của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Chúng ta không nên đọc tụng một lần là xong mà phải đọc tới đọc lui, nhắc tới nhắc lui, nghe tới nghe lui, sau đó ghi chép, rút gọn ý lại và làm sao cho những lời đó phải thuộc lòng trong tâm để hàng ngày phải đem ra thực tập. Những điều này không phải là dễ dàng, dù chúng ta ở chùa vài năm nhưng có khi oai nghi cũng chưa học được, chỉ cần lơ là, xem thường một chút là trở về vị trí trí buông lung phóng dật. Trừ những lúc thâu nhiếp, chế ngự các căn là mình sống trong chánh niệm, trái lại, chỉ cần buông lơi một chút là oai nghi, tế hạnh gì cũng không còn nữa.

Khi mang áo Sanghati (Tăng già lê), mang bát, mang y, biết rõ việc mình đang làm…

Khi mặc áo thì mình phải biết nên mặc ở đâu, mặc như thế nào, mặc có nhẹ nhàng, trang nghiêm, ngay thẳng không. Khi bước vào thiền đường thì phải xác định được chỗ đứng, chỗ ngồi của mình như thế nào, chứ không phải vào đến thiền đường mà còn lăng xăng, lao xao, tụ họp rộn ràng. Một khi đã bước vào nơi gọi là “Thiền Đường” thì nơi đó là để mọi người thiền tập; bước vào “Pháp Đường” là nơi để mọi người hành pháp, trì pháp, chứ không phải nơi mà mình thấy đông nên đến để tụ họp cho đông vui, làm náo nhiệt tùng lâm.

Như vậy, mỗi khi mặc áo phải dạy dỗ ngũ uẩn này xem nó mặt có tề chỉnh chưa. Một lần, Ngài Xá Lợi Phất lỡ làm chiếc y của mình chấm xuống đất nên Ngài cảm thấy rất xấu hổ. Mặc dù chiếc y Nam tông rất là dài, rất dễ vô ý làm chấm đất nhưng Ngài tàm quý vô cùng. Qua đó chúng ta thấy được sự thực hành Tứ Niệm Xứ của Ngài đến mức độ nào nên Ngài mới có sự tàm quý đến thế. Chúng ta cần học thật nhiều trong những điều nhỏ như vậy.

Khi ăn, uống, nhai, nếm, biết rõ việc mình đang làm…

Khi ăn phải dạy dỗ ngũ uẩn này ăn như thế nào, khi nuốt, khi nhai cũng phải biết cách nhai như thế này. Mỗi ngày chúng ta thực hành Chánh Quán Thọ Thực là để dạy dỗ thân tâm này, điều đó rất tuyệt vời. Hơn nữa, không phải chỉ lúc ngồi chánh quán thì mình mới thực hành, còn lúc ăn uống ở chỗ khác mình không thực hành, như vậy là không đúng. Mà chúng ta phải dạy dỗ sắc uẩn này cách ăn, uống, nuốt, nhai; dạy tâm này cách nhiếp phục tham muốn, sân giận trong khi ăn, tức là nhiếp phục cái ngon với không ngon, thích với không thích, ưa với không ưa, muốn với không muốn. Khi học những lời dạy của Đức Phật và quản giáo được thân tâm của chính mình như vậy thì chúng ta thấy tuyệt vời vô cùng.

Khi đại tiện, tiểu tiện, biết rõ việc mình đang làm…

Vào nơi đi đại tiện, tiểu tiện thì cũng phải chánh niệm tỉnh giác chứ không được buông lung phóng dật. Vì trong đó có một mình mình, nếu còn buông lung phóng dật thì dục tham dễ sanh khởi, những tư niệm về dục cũng sẽ sanh khởi nếu không chánh niệm tỉnh giác. Đồng thời, lúc đó cũng phải giáo dục, dạy dỗ thân này phải chánh niệm như thế nào. Trong khi tắm chúng ta cũng không quên dạy dỗ ngũ uẩn này, mình không được xối ào ào, mà mình phải tập nhận diện từ trong những cảm thọ vi tế này, vì khi nghe tiếng xối nước thì có thể biết được người đó có chánh niệm tỉnh giác không và lúc đó cái gì đang vận hành. Một người xối ào ào là đang chạy theo cảm giác, vì đang nóng nực mà gặp nước mát thì bên trong có sự thúc giục xối cho nhanh, xối cho lẹ, xối cho nhiều. Cho nên, chúng ta vào tắm ào ào, ầm ầm chứng tỏ là dục đang hoạt động, mình đang tham muốn cảm giác lạc thọ đó. Còn người có sự chánh niệm, nhiếp phục được cảm thọ thì tiếng xối nước sẽ nghe rất nhẹ nhàng, hoặc thậm chí người khác không nghe được. Trong khi tắm cũng dạy dỗ như vậy, đó chính là Thân Hành Niệm.

Như vậy, trong từng hành động như nhai, nuốt, gắp, uống, bưng ly, hạ ly, trong khi múc nước, xối nước, dội nước, trong mỗi bước chân, trong từng cử chỉ ra dấu thì chúng ta đều phải dạy dỗ, giáo dục, quản giáo từng li từng tí, từng chút như mẹ dạy con. Minh Thành đã dạy thân tâm này từ chút như vậy suốt ba chục năm, từ ngày mới xuất gia đến bây giờ nhưng có khi nó còn không nghe lời. Cho nên, chúng ta phải dạy dỗ, huấn luyện, quản lý thân tâm trong từng oai nghi, cử chỉ.

Khi đi, đứng, ngồi, ngủ, thức, nói, im lặng, biết rõ việc mình đang làm.

Phải nhắc nhở thân tâm này từng chút một: “Sắc pháp này, ngươi ưa thích buông lung, buông thả, thả lỏng để đau khổ, trôi lăn, chìm đắm rồi tạo nghiệp phải không? Thôi, trôi nổi như vậy là đủ rồi, buông thar như vậy là đủ rồi, chìm đắm như vậy là vừa rồi, bây giờ hãy thâu nhiếp đi”. Chúng ta phải vừa đấm vừa xoa, dùng đủ cách để dạy dỗ thân này giống như dạy bảo một đứa con nít vậy. Lúc nào cần đánh là mình đánh, lúc nào cần la là mình la, lúc nào cần xoa là mình xoa: “Thôi, cái sắc ngu ngày. Ngươi chìm nổi, ngươi trôi lăn, ngươi lặn hụp trong địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh vô lượng kiếp rồi. Ngươi thả lỏng, ngươi phóng túng, ngươi buông lung, ngươi phóng dật như vậy là đủ rồi. Bây giờ hãy nghe lời đi, hãy ngoan ngoãn thâu nhiếp, phòng hộ, bảo vệ đi để đừng khổ nữa. Ngươi hãy nghe lời đi, đừng cứng cỏi, ương ngạnh nữa, hãy chịu sự huấn luyện để mà hiền ngoan”. Đây là chỗ chúng ta đưa tâm hiền vào để giáo dục thân tâm mình. Cho nên, các pháp có sự liên quan, kết hợp với nhau: thâu nhiếp, tâm hiền và diệt ngã – ba pháp này có sự mắt xích, liên hệ rất chặt chẽ. Khi sự thâu nhiếp, phòng hộ, chế ngự các căn có chân đứng thì mình bắt đầu tu tập tâm hiền, khi tâm hiền đã huân tập thì mình sẽ có được sự nhiếp phục và diệt ngã. Ba pháp này chính là đỉnh ba chân, nếu không có sự thâu nhiếp thì không thể nào hiền được và một khi không hiền thì không thể nhiếp phục và hạ gục bản ngã.

Như vậy, vị ấy sống quán thân trên nội thân; hay sống quán thân trên ngoại thân; hay sống quán thân trên cả nội thân, ngoại thân…

Chúng ta chỉ mới nói về những cử chỉ, oai nghi, hành động bên ngoài của ngoại thân. Còn nội thân là chúng ta vận dụng những gì đã học như Quán Tứ Đại, Quán Ba Mươi Hai Thể Trược, Quán Chín Giai Đoạn Tử Thi để quán chiếu về những bộ phận bên trong thân. Còn những hành vi, cử chỉ, hành động bên ngoài của ngoại thân là một phần của Thân Hành Niệm, thực hành được phần này thì hết sức tuyệt vời. Vì một người dù chỉ mới có sự thâu nhiếp, chế ngự, phòng hộ, bảo vệ ở oai nghi, hành động bên ngoài nhưng người ta nhìn vào đã thấy vô cùng cao đẹp và đáng kính. Chỉ mới nói đến phần ngoại thân nhưng sự giáo dục của Đức Phật trong Kinh Tứ Niệm Xứ là hết sức tuyệt vời và siêu việt. Thế nên không có gì lạ khi Phật giáo Nguyên Thủy lấy Tứ Niệm Xứ làm đại biểu cho Pháp bảo. Vì trong Tứ Niệm Xứ chứa đựng tất cả những tinh hoa, tinh tuý và đạo lộ sâu rộng của Chánh Pháp. Thế nhưng chúng ta đọc xong rồi bỏ qua là bởi vì tâm này là tâm xem thường, tâm cạn cợt, tâm thiển cận, tâm qua loa, tâm dễ dàng, dễ dãi, không để tâm vào pháp. Khi tu được riêng phần oai nghi, hành động đã giúp mình trở thành một người đáng kính, đáng trọng từ phong thái đến uy nghi. Mỗi một cử chỉ, mỗi một hành động, mỗi sự đi, đứng, co, duỗi, cúi, ngước, mặc áo, đắp y, nói, im, thậm chí đi đại, tiểu tiện đều được soi rọi, giáo dục, huấn luyện, dạy dỗ cho thật an tịnh, lắng dịu. Chúng ta phải thực tập cho được Thân Hành Niệm, quán thân trên thân và an trú vào sự thâu nhiếp, phòng hộ, bảo vệ các căn xuyên suốt.

Sau khi có sự biết rõ việc mình đang làm, đồng thời có được sự thâu nhiếp, phòng hộ, bảo vệ, an trú, quản giáo như trên thì lúc bình thường chúng ta đã có sự chánh niệm tỉnh thức, đến khi hữu sự, tham sân sanh khởi thì mình mới có đủ sức mạnh để chế ngự chúng. Trái lại, lúc bình thường mà thân tâm này không nghe lời, lúc nào cũng ương ngạnh, cứng cỏi, ngông nghênh thì khi hữu sự đến chúng sẽ hung tàn, nổi loạn đến mức độ nào. Nhờ lúc bình thường chúng ta có sự huấn luyện, giáo dục, dạy dỗ, thâu nhiếp và quản giáo để sắc thân, sắc pháp, mắt, tai, mũi, lưỡi, thân này nghe lời nên khi hữu sự đến, nổi lên những tham muốn, nóng giận, bản ngã thì mình có thể nhiếp phục và chế ngự chúng ngay lúc đó. Còn bình thường đã ngông nghênh, ngông cuồng thì khi hữu sự đến sẽ như sóng thần, không thể ngăn cản được.

Chính vì vậy, trong bài kinh “Thâu Nhiếp”, Đức Thế Tôn mới nói người không chế ngự, không phòng hộ sẽ đem lại đau khổ. Những người thế gian không biết thu nhiếp, không biết thu thúc lục căn, không biết thanh tịnh giới, cho nên họ cứ thả lỏng trong những khi thấy, khi nghe, khi ngửi, khi nếm, khi xúc, khi biết và một khi thân tâm này nổi loạn thì có thể xảy ra những chuyện không thể tưởng tượng nổi. Cũng vì bình thường không có sự phòng hộ, quản giáo thân này nên khi có nổi loạn khởi lên thì mọi thứ xung quanh bị tan tành, tan nát, huỷ diệt. Như vậy, người tu tập những pháp này là người có tầm nhìn rất xa, ngoài đời có câu “người không lo xa, ắt có buồn gần” là như vậy. Chính nhờ huấn luyện thân này từ những việc nhỏ nên đến khi hữu sự thì chúng ta có thể chế ngự và dần dần có khả năng diệt tận. Đây là Minh Thành mới chia sẻ về phần giáo dục, dạy dỗ sắc uẩn, huấn luyện oai nghi, tế hạnh, cử chỉ ở ngoài thân. Khi làm được những điều này thì hình ảnh người tu trở nên rất cao đẹp, đáng kính trọng, không uổng cơm gạo của đàn na tín thí cúng dường. Chính vì vậy, chúng ta phải thành tựu được vỏ ngoài của phạm hạnh, chỉ cần để tâm vào là mình sẽ làm được.

./.