Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh Cung Kính

2026-03-03 00:52:32
Kinh Cung Kính

(Văn bản. Diệu Quang)

“Cung kính và khéo quán sát nếu Tỳ-kheo nào không thực hành tâm cung kính không khéo quán sát không kính trọng các vị phạm hạnh và bắt oai nghi đầy đủ …oai nghi không đầy đủ mà phật pháp không …( âm thanh không nghe rõ phút thứ 3) nếu Tỳ-kheo nào thực hạnh cung kính khéo quán sát kính trọng phạm hạnh phát oai nghi đầy đủ điều đó không xảy ra phát oai nghi đầy đủ điều đó chắc chắc xảy ra, giới thân đầy đủ điều đó chắc chắc xảy ra …

Ở trong kinh có hai bài kinh cung kính, chúng ta nghe một bài nhưng khi học hai bài chúng ta gộp lại phần nội dung. Chúng ta thấy ở đây nói đại ý là đức Phật dạy nên thục hành hạnh cung kính, tại sao hạnh cung kính sẽ đưa mình tới Niết bàn, mình nghĩ muốn đạt đươc Niết bàn phải làm những gì cho cao siêu cho màu nhiệm thâm sâu nhưng ở đây đức Phật dạy từ bước căn bản rất gần gủi bình dị đó là phải đi từ sự cung kính, cung kính là điểm xuất phát đầu tiên để dẫn đến Niết bàn.

Tại sao cung kính là điểm đầu tiên xuất phát để dẫn mình đến Niết bàn?, Niết bàn là vô ngã, Hòa thượng viện trưởng học viện có viết một cuốn sách tựa đề ‘Vô ngã là Niết bàn’ như vậy không còn có cái ta thì sẽ đạt đến Niết bàn, cung kính có phá được cái ta nhiều hay ít? hành động cung kính ngay khi mình thực hành phá được cái ta cho nên trong kinh và luận giải thích rất kỹ, giải thích chữ cung kính là tự mình khiêm nhường mà tôn trọng lễ kính đối với người khác, cung kính cả ba nghiệp. Trong luận thập tự tỳ bà xa giải thích cung kính là nhớ nghĩ tới công đức của người và tôn trọng mọi người, nhớ nghĩ công đức của mọi người tôn trọng người khác đó là nói cung kính ở nơi tâm niệm, ví dụ mình ngồi lại mình nghĩ nhớ công đức của Phật, đức Phật đã hy sinh cả một cuộc đời chịu bao nhiêu gian khổ hiểm nguy khó nhọc, thậm chí đánh đổi cả thân mạng để tìm ra đạo lý giác ngộ. Chúng ta ngồi ngẫm nghĩ nhớ lại những việc làm của đức Phật đó là chúng ta cung kính tôn trọng Ngài, cung kính tôn trọng ở trong tâm niệm đó là cung kính tâm niệm ý niệm. Cung kính phải bày tỏa ra cả thân cả miệng cho nên khi chúng ta niệm Phật hay lên chùa tụng kinh thường có những bài kệ tán dương công đức của Phật,

“Đấng pháp vương vô thượng

Ba cõi chẳng ai bằng

Thầy dạy khắp trời người

Cha lành chung bốn loại

…….”

Chúng ta chỉ nói gọi ý, tán thán ca ngợi công đức của đức Phật đó là khẩu nghiệp cung kính, dùng miệng mình để bày tỏa cung kính đối với Phật, khi thân mình nghiêm trang ngay ngắn đứng chấp tay đãnh lễ thành kính năm góc sát đất đó là thân nghiệp cung kính, từ nơi tâm cung kính biểu hiện ra ngôn ngữ tới hành động biểu hiện cung kính cả ba nghiệp nên huynh đệ nhớ mình tụng kinh có bài sám nhất giả lễ kính Chư Phật, nhất giả cung kính lễ Phật bài sám trong kinh Hoa nghiêm như vậy nguyện thứ nhất của Ngài là lễ kính tất cả Chư Phật mà huynh đệ để ý Phật có ba đời, Phật quá khứ, Phật hiện tại, Phật dị lai, Phật quá khứ là A di Đà, Phật Dược Sư, Phật Tỳ bà Thi, Phật Thi Khí, Phật Tỳ Xa, Phập Na-hàm, Ngài Ca-Diếp v.v… đó là cung kính đãnh lễ Phật, Phật hiện tại là Phật Bổn Sư Phật Vị lai là Phật Di-lạc như vậy mình đãnh lễ cung kính lạy Phật nhưng mấy Phật đó hơi xa mình không thấy chỉ thấy tượng thấy hình còn có những Phật vị lai xung quanh mình cũng lễ kính Thầy tổ cha mẹ Sư trưởng ông bà và tất cả chúng sanh nói gần là những người ngồi bên cạnh mình đều là Phật thành ra kính lễ tôn trọng các vị Phật, nhiều khi chúng ta thường lễ Phật chết nhiều hơn lễ Phật sống, tượng Phật vô lạy thiết tha thành kính, ra mấy người xung quanh gần gủi mình không cung kính được chỉ có Phật trên chánh điện là tôn kính nhưng thật ra Phật vị lai là tất cả chúng sanh đều có khả năng giác ngộ, đều có tâm sáng suốt dù, đều có tánh thanh tịnh như vậy chúng ta nhìn thấy được chỗ cao quý nhất chỗ sâu xa nhất của mọi người, chúng ta luôn luôn học lòng tôn kính chẳng những tôn kính với bậc trưởng thượng Thầy tổ cha mẹ thân quyết mà chúng ta còn tôn kính những người huynh đệ ngang hàng với mình, thậm chí chúng ta còn tôn kính đối với người nhỏ hơn mình cho đến những người nghèo khổ, những người khó khăn thậm chí tất cả chúng sanh.

Tại sao chúng ta có thể tôn kính được như vậy?

Tại vì chúng ta học đạo, chúng ta hiểu tất cả chúng sanh đều cùng một thể giáo cùng có một cái biết, có loài chúng sanh đều có giống như nhau cho nên chúng ta tôn trọng cái biết gọi là vạn vật đồng nhất thể là muôn loài cùng một thể tánh, thể tánh đó là cái sáng suốt như nhau, chẳng qua các loài xúc sanh do nghiệp thức mê lầm theo cái vô minh phiền não tạo nghiệp nên rơi đọa vào như thế nhưng mà khi nào đủ duyên được gặp những bậc thiện tri thức đều có cơ hội tỉnh ngộ, mình đọc trong sử sách như đọc bộ mấy điệu sen xanh thấy trong đó có mấy con chim con ngỗng cũng biết niệm Phật và khi nó chết rồi nó cũng có những điềm lành cổ họng nó mọc lên hoa sen loài vật cũng có tánh Phật nên chúng ta tôn trọng quý kính mà không phải phàm phu mới tôn trọng quý kính, quý huynh đệ nhìn lại gương của đức Phật, Ngài là một bậc đạo sư của ba cõi là Thầy của chính pháp giới là chúa tể của vạn loài nhưng đức Phật sỏ kim cho một Thầy Tỳ-kheo già, một hôm có một ông Thầy Tỳ-kheo già nọ ông bị rách y, ông già không thấy đường ông cầm kim với chỉ mới kêu có ai làm phước xỏ chỉ dùm tôi, lúc đó đức Phật nghe mới đi đến ông đi đây để ta xỏ dùm cho, lúc đó ông già nhìn lên thấy đức Phật mới kinh hoàng bạch đức Thế Tôn Ngài là lưỡng Túc tôn tức là bậc đầy đủ cả hai thứ phước đức và trí huệ nếu cả phước đức vô cùng đại dương, trí tuệ vô tận viên mãn lục độ vạn hạnh mà Ngài còn làm này sao được, con nhờ là nhờ Tỳ-kheo trẻ chứ đâu dám nhờ đức Thế Tôn, lúc đó đức Thế Tôn mới nói ông đừng nói như thế, ta sở sĩ được gọi là Lưỡng Túc tôn đầy đủ hai biển phước đức trí huệ là do ta không có chán nản từ bỏ một cái phước nhỏ hạnh lành nào cả mới đạt tới Lưỡng Túc Tôn. Chúng ta thấy đối với một ông cụ già xuất gia muộn đức Phật vẫn quý trọng, phước Ngài vẫn bòn mót phước, có những lúc đức Phật chăm sóc cho những vị Tỳ-kheo bệnh, Thầy Tỳ-kheo này bệnh mà những Thầy khác chăm sóc cho ông ông thấy bất tiện nên ông không cho ai lại chăm sóc ông nói ông khỏe rồi ai lại cũng không cho, để một thời gian như vậy dơ bẩn hôi hám, một hôm đức Phật đi mới nhìn thấy tình cảnh như vậy mới đích thân Ngài giặt giũ y Tỳ-kheo dọn dẹp phòng xá cho Tỳ-kheo bệnh này lúc đó Ngài A-nan thị giả đức Phật hay xin đức Phật giặt dùm cho nhưng đức Phật tự tay giặt và chùi mình cho vị Tỳ-kheo đó và dọn dẹp phòng ốc khi mà đức Phật làm xong việc đó rồi Ngài kêu A nan đánh kiền trì tập chúng lại hết, Ngài nói các Thầy đã xuất gia không còn có người thân không có cha mẹ để chăm sóc, cũng không có vợ chồng để quan tâm, không có anh em bà con chỉ có huynh đệ là coi sóc lẫn nhau mà bệnh hoạn không biết lo lắng cho nhau để như vậy là phạm tội, đức Phật dạy trong tất cả phước điền, chăm sóc cho người bệnh là phước điền bậc nhất. Quý huynh đệ thấy đối với một Thầy Tỳ-kheo bệnh lâu ngày dơ bẩn nhưng đức Phật tự tay chăm sóc, đức Phật vẫn quý kính tôn trọng đệ tử của Phật, thậm chí những em bé nhỏ, một hôm đức Phật đi trên đường khất thực du hóa có những em bé lấy đất lấy cát chơi nhà chòi làm những hạt gạo hạt cát giã bằng đất gặp đức Phật tới chúng quý kính Phật không biết làm sao lấy gì cúng dường Phật, hốt ba đất cát nhà chòi gạo lúa thóc giã đem lại cúng dường đức Phật, lúc đó Ngài A nan lại ngăn nhưng đức Phật ngăn Ngài A-nan để cho đứa bé cúng đất cát vào bát của đức Phật khi về đức Phật kêu Ngài A-nan trét lên hương thất của Phật, có những đứa bé nhỏ tâm Phật vẫn bình đẳng quý trọng, quý trọng tâm hướng thiện, tâm lành tốt hướng về đạo pháp, thậm chí suy rộng ra chúng ta học đạo hiểu kỹ không phải mình quý trọng hữu tình chúng sanh mà chúng ta còn quý trọng cả vô tình chúng sanh, cả cây cỏ vạn vật vì tất cả cùng một hệ, ngày xưa Minh Thành còn nhỏ chưa biết gì còn ở dưới quê mỗi lần mình đi chơi trong vườn thấy cây lá trong vườn hay bứt chơi, nhiều lần như vậy trở về suy nghĩ thấy làm như vậy không đúng làm như vậy tại sao không đúng nhưng không biết tại sao hành động đó không đúng không giải thích được, đến khi xuất gia thọ giới Tỳ-kheo sau đó thọ giới Bồ-tát giới nói rằng Bồ-tát không nỡ đạp lên trên cỏ xanh để đi vì tất cả muôn loài đều có sự sống nó đang tươi tốt đạp lên cho nó bầm cướp đi sự sống của nó, đối với tất cả muôn loài tâm tôn kính quý trọng với tất cả muôn loài nếu mình được tâm tôn kính quý trọng đó thì ở giữa thế gian này rất ít phiền não đến với mình đến chỗ trọn vẹn không còn phiền não tại vì mình cung kính quý trọng mọi người khác thì người khác đối với mình cũng cung kính quý trọng lại đó là nhân quả, ví dụ người nào giận ghét mình mà mình không giận ghét lại coi chừng đây là Bồ-tát thử mình mình phải cung kính những vị đó, những người hay giúp đỡ cho mình tốt là Bồ-tát thuận hạnh Bồ-tát, còn những người đối với mình chướng ngại khó khăn đủ thứ là nghịch hạnh Bồ-tát. Thấy người ta tâm ma như vậy phiền não hoài cung kính đối với tất cả, tội chướng bao nhiêu cũng tan, phước đức càng ngày càng tăng, trí huệ càng ngày càng tỏa tại vì nếu mình cung kính được vậy mình phá cái ngã phá mòn cái ngã rất nhiều, vô ngã là không còn cái ta chấp nhỏ hẹp mà thành tựu cái đại ngã là cái ta trùm khắp vạn vật hợp với tâm thể thanh tịnh sáng suốt rỗng lặng mênh mong, cái bản tánh tột cùng của nhân nhân sanh chỗ một đời đức Phật trong kinh Pháp hoa nói, sự cung kính xét tận cùng là đi tới tột cùng, mình tu được hạnh đó thì cuộc đời mình rất an vui, hạnh phúc, giải thoát không có gì ràng buộc nên cả cuộc đời của Ngài Ấn Quang lấy hai chữ làm cốt lõi của sự tu hành căn bản là thành kính, chân thành kính trọng đối với tất cả mọi người, chúng ta về thực tập từ những người gần với mình từ từ tới những người xa khi thực tập được mới thấy kỳ lạ màu nhiệm của nó.

Thực hành cung kính thân thiện, kính trọng các bậc phạm hạnh, bậc phạm hạnh là huynh đệ của mình tu tập chung với nhau, mình thực hành cung kính mình sẽ có cái nhìn thân thiện đối với mọi người, người nào mình thấy cũng tốt cũng quý thấy cũng hay bởi vì mình có một thói quen cái hay của người ta có được bảy phần dở có ba phần nhưng mình cứ nhìn ba phần còn bảy phần hay mình không có thấy, cái hay cái tốt không nhìn toàn nhìn cái xấu cái dở như vậy là có chuyện cho nên phải có cái nhìn thân thiện khéo quán sát nhìn được cái hay cái tốt đẹp của mọi người như vậy chúng ta có những oai nghi, khi mình nhìn mọi người bằng thân thiện mình sẽ có pháp oai nghi đầy đủ, đi, đứng, ngồi, nằm, nói, nín động tĩnh đều phù hợp với giới hạnh mẫu mực nề nếp của người tu, tại vì tâm mình lúc nào cũng nhẹ nhàng cũng thanh tịnh nên lời nói mình êm ái từ hòa, hành động của mình ở trong chánh niệm, tâm của mình cũng tỉnh sáng, mỗi cử chỉ hành động đều tôn kính như vậy không nhớ oai nghi mà tự nhiên oai nghi cũng đầy đủ vì bắt nguồn từ tâm mà ra. Oai nghi đầy đủ học pháp cho được đầy đủ, học pháp là những pháp mình học về hỷ xả, học về từ bi, bố thí ,nhẫn nhục, tinh tấn v.v…đều được đầy đủ, ví dụ mình giận người đó quá chừng người đó nói câu gì tức rất giận nhưng lúc đó mình nhớ lời nói gió bay không có thật, người đó Phật Bồ-tát thử mình xem tâm mình như thế nào lời nói giả mà sân si phiền não như vậy quý trọng tôn kính người đó thì tự nhiên tâm sân si phiền não hết, hạnh nhẫn nhục tròn, chỉ cần cung kính là phiền não hết, rất khó nhưng phải làm cho được chứ không phải làm không được, chỗ quan trọng nhìn được cái hay cái tốt mới cung kính người ta được. Giới được đầy đủ bao nhiêu giới luật từ từ được đầy đủ, giới đầy đủ thì định được đầy đủ tuệ được đầy đủ, giải thoát được đầy đủ, chư kiến giải thoát được đầy đủ thì Niết bàn được đầy đủ.

Giữ gìn các căn, mình có tâm cung kính các học pháp được đầy đủ tự nhiên sáu căn của mình sẽ được sự giữ gìn giờ thấy người đó làm gì giận nhớ đó là Phật, Bồ-tát trong tương lại mình phải cung kính thì giận sẽ hết như vậy là được giữ gìn các căn, đức Phật thường Bất khinh nói tôi không dám khinh các Ngài các Ngài đều sẽ thành Phật, không tụng kinh nhưng đi đâu cũng nói như vậy, người ta lấy gạch đá ném cây nện mà không nói gì hết chạy xa xa và nói con không dám khinh Quý Ngài Quý ngài sẽ thành Phật. Bằng tâm chân thành cung kính hết lòng hết dạ chứ không nói ngoài miệng không, bằng tâm thật nên bị đánh đị đập tu như vậy mai mốt thành Phật thấy được cái quý nhất của người ta, mắt Phật nào cũng nhìn xuống hồi quang phản chiếu, nhìn trở lại mình đối với lời nói cũng vậy hành động cũng vậy nếu mình giữ được thì nó trọn vẹn giới hạnh của mình mà mình giữ được giới hạnh mình sẽ không hối hận, ai bị phạm giới sẽ hối hận hoài suốt đời có khi tới chết, mỗi nửa tháng đọc lần nếu mình phạm nhất là những giới quan trọng lúc đó thấy xấu hổ hối hận cho nên giữ giới là không hối hận

Như người tự soi gương đẹp xấu vui buồn, tụng giới cũng như thế vẹn hạnh sanh lo mừng, mình lại mình soi gương thì mình thấy mình đẹp mình vui nếu này nhìn thấy mặt nổi mụn bọc lúc đó buồn, đẹp vui xấu buồn như người tự soi gương tụng giới cũng như thế vẹn hạnh sanh lo nếu như giới mình tròn vẹn thì mình vui, giới mình phạm thì buồn lo sợ, mà lo sợ cho đến ngày chết nếu giới hạnh trọn vẹn buồn chánh niệm tròn sáng nếu thấy mình phạm đủ thứ hoảng hốt lo sợ cho nên giữ được giới là không hối hận, không hối hận thì thân hoan hỷ rõ ràng, không hối hận thì vui vẻ vui vì thấy mình đẹp nên vui, đẹp ở đây không phải chân mày rồng phượng mà đẹp giới hạnh thanh tịnh trong sạch của mình nên mình rất hân hoan vui vẻ, hân hoan vui vẻ do giới hạnh thanh tịnh đó mình sẽ được lặng lẽ cái tâm tĩnh chỉ, tĩnh là lặng, chỉ là dừng, dừng lặng, tâm mình được dừng lặng, có những lỗi lầm có những sai sót mình luôn ray rứt nhớ những lỗi đó, nhớ những điều lầm sai phạm tâm mình không được lặng nếu không phạm những lỗi lầm tâm mình sẽ dừng lặng, tâm dừng lặng sẽ được an vui.

Tĩnh chỉ tới lạc an vui, an vui nhẹ nhàng sẽ đi tới chỗ định tâm, yên định khi tâm yên định điều vô cùng quan trọng thấy biết như thật là trí tuệ sanh là minh sanh là giác sanh thấy biết như thật, chỉ có tâm định mới thấy biết như thật còn tâm loạn không thấy biết như thật được, tâm loạn thấy nghiêng lệch sai lầm, nó thấy góc cạnh mà không thấy được toàn diện không thấy được toàn thể chỉ tâm định mới thấy được toàn thể, ví dụ mình đang ngồi đây mình hay tin một người thân nào của mình xảy ra tai nạn lúc đó không thể ngồi yên nghe pháp vì lúc đó tâm loạn, tâm loạn sẽ mờ tối không còn thấy như thật được những gì xung quanh mình âm thanh hình sắc không còn nhìn thấy mà chỉ biết chuyện đó, hoặc là mình ngồi trong giảng đường mình không để ý riêng một người nào mình nhìn chung năm sáu chục người mà một người nào đó mình ghét mình để ý người mình ghét thì trong mấy chục người đó mình thấy có người ghét, đi cũng thấy ghét, nói chuyện cũng nghe thấy ghét, ngồi tướng cũng thấy ghét như vậy bị kẹt vô một đối tượng nên tâm lúc đó nhìn một phương diện một góc cạnh tâm nhỏ bị cuộc vào tâm sanh. Tâm tham cũng vậy nhìn thấy cái gì đẹp về cũng muốn có nên ngồi nhìn hoài cái đó ngồi pháp âm vang rần nhưng không nghe chỉ thấy chuông này không, thích cái gì bị cái đó giới hạn bị cái đó nó trói buộc cho nên định mới thấy được như thật nhất là trong kinh A-hàm đức Phật luôn luôn nhấn mạnh chỉ có tâm yên định mới thấy được lẽ thật, nhà Nho cũng có nói thường thường con người ta bị nghiêng lệch người thương hoặc những người mình ghét, khi thương trái ấu cũng tròn, lúc ghét bồ hòn cũng méo, trái ấu không tròn nhưng thương nhìn ra tròn, khi ghét bồ hòn tròn nhưng nhìn méo, thương nhau cau sáu bự ba, ghét nhau cau sáu bử ra làm mười, thương đúng ra cau đó phải chẻ ra sáu mới đúng nhưng thương chẻ ba để cho ăn nhiều chút, ghét đáng ra chẻ làm sáu nhưng chẻ làm mười ghét cho ăn ít, tâm thương ghét nó đậm nên là đều không thấy được lẽ thật, nhiều khi người ta tốt những điều tốt của người ta nhìn không ra vì mình ghét người ta, người nào mình thương dở xấu đủ thứ mà nhìn cái xấu hồi cũng thành tốt không thấy được lẽ thật, đối với những người khách quan thấy rất rõ không bị vướng vào thương ghét đó nhìn thấy rất rõ minh bạch, cái nào đúng cái nào sai đó thấy rất rõ, bình thường định là cái tâm lắng động thanh tịnh không còn chạy theo lục trần, thấy được lẽ thật, trong giáo lý căn bản của chúng ta thấy ba pháp ấn nói rõ ràng

Chư hành vô thường

Chư pháp vô ngã

Niết bàn tịch tĩnh

- Chư hành là mọi sự vận hành, tất cả sự vật hiện tượng đều là biến đổi, muôn vật luôn biến đổi, tất cả sự vật trên thế gian không có sự vật nào đứng yên, sanh diệt từng sát na từng giây từng phút, từng tích tắc mình nhìn thấy như vậy nhưng đang sanh diệt bên trong, sanh diệt một cách vi tế mình không thấy được khi mình thấy được đã thô biểu hiện ra ngoài, giống như trong cơ thể của mình mình thấy bình thường nhưng thật ra máu chảy, tim đập mạch nhảy bao nhiêu sự tuần hoàn vận chuyển tế bào không ngừng chính như vậy từ từ đi tới sự già rồi chết luôn luôn vận chuyển sanh diệt nhưng mình không thấy mình chỉ thấy cái thô phù bên ngoài biến đổi. Tất cả mọi sự vật luôn vận động luôn biến đổi, mình kiên định nhìn thấy rất rõ.

Sự vật biến đổi bên ngoài, thân mình biến đổi, thậm chí ngồi yên thấy tâm mình cũng biến đổi sanh diệt, muôn vật luôn biến đổi đó là lẽ thật muôn đời không thay đổi nên vô thường là thường là luôn biến đổi vạn vật nó là thường hằng bậc nhất, quá khứ cũng biến đổi vô thường, hiện tại cũng vô thường biến đổi, tương lai cũng biến đổi vô thường mãi mãi về sau đều như vậy. Nghe nói như vậy vô thường nhưng đó chỉ là từ ngữ nếu chúng ta thấy cho được lẽ thật vô thường, thấu suốt được là thành Phật, Huyền Giác trong chứng đạo ca nói

“Chư hành vô thường nhất thiết không

Tức thị như Lai đại viên giác”

Người nào thấu suốt được tất cả sự vật ở thế gian đều biến đổi vô thường rỗng không đều không có bản chất thật sự, người đó là người đạt được trí huệ giác ngộ viên mãn của Như lai nên Pháp ấn đầu tiên đặc biệt quan trọng là vô thường.

- Chư pháp vô ngã là không có gì là một thứ mà nhiều thứ hợp lại thành không có chủ bên trong, mình nhìn cái gì mình cũng tưởng có một cái trọn vẹn như vậy nhưng thật ra cái nào cũng hợp nhiều thứ lại, mình nhìn lên cái bảng gọi là cái bảng nhưng thật ra có bao nhiêu thứ hợp lại gỗ, sơn, bào, đục, cư, người làm, đinh,… câu chữ trên bảng mình nhìn như vậy nếu một chữ không thành bài, bao nhiêu chữ hợp lại thành ra câu, rồi nhiều câu mới thành đoạn, nhiều đoạn mới thành bài bao nhiêu thứ mới hợp lại nhưng không biết nói có cái bảng, mình nhìn sâu sắc thấy cho rõ nhiều thứ hợp lại đó là có được con mắt pháp, pháp nhãn. Tại vì mình nhìn đó là thấy đúng sự thật không có ngã không có một cái duy nhất tạo thành nếu mình nhìn thấy được vậy là chúng ta không còn mê lầm cho cái bảng này là một thứ nhìn thấy được vậy là đạt được cội gốc của pháp nên trong kinh đức Phật thường nhắc “ai mà thấy được pháp thì người đó thấy được Phật”, pháp đó là pháp duyên khởi, ai thấy được pháp duyên khởi người đó thấy được Như Lai, tại vì Như lai tỏa ngộ pháp duyên khởi đó mà thành Phật ,chúng ta thấy được pháp là thấy được chỗ đức Phật giác ngộ, thấy được chỗ đức Phật giác ngộ là mình giác ngộ giống Phật nên gọi là thấy Phật từ cái bảng đó mình nhìn lại thân mình nhiều thứ hợp lại, mình luôn luôn trong sự vay mượn, pháp ấn thứ hai là chư pháp vô ngã không có một cái chủ ở trong.

- Niết bàn tịch tĩnh khi chúng ta thấy nhiều thứ kết hợp lại mà thành không thật thì tâm mình không còn rong đuổi chạy đuổi bên ngoài, khi không còn rong ruổi chạy đuổi nữa thì lặng lẽ thanh tịnh, cái lặng lẽ thanh tịnh đó chính là Niết bàn nên ở đây nói rất rõ, chúng ta thấy biết như thật thì chán lìa, thấy biết như thật thì giả dối nhiều thứ hợp lại luôn luôn biến đổi không thật thì mình không chạy theo bám chấp chán nản xa lìa không ham muốn, không ham muốn tức là được giải thoát đầy đủ, không ràng buộc đạt đến Niết bàn, tâm yên tịnh đầy đủ đó là điều chắc chắn xảy ra.

Chúng ta thấy rõ từ sự cung kính, thân thiện, kính trọng các bậc phạm hạnh huynh đệ của mình chứ đừng nói chi Thầy tổ, từ sự cung kính đó mới đi tới chỗ đầy đủ các pháp oai nghi, lời nói, cử chỉ, hành động của mình mới hợp với đạo lý với người tu, khi đầy đủ oai nghi chúng ta mới đầy đủ học pháp, khi đầy đủ những học pháp đó chúng ta mới giữ gìn được các căn, giữ gìn được mắt, tai, mũi, lưỡi thân, ý của mình, giữ gìn được các căn giới được gìn giữ, giới được gìn giữ thì không được hối hận, không còn hối hận thì được thân quang, thân quang thì tâm mình được dừng lặng, tâm mình được lặng thì được định, định thấy được lẽ thật, thấy rõ lẽ thật thì chán lìa, chán lìa thì không còn ham muốn, không còn ham muốn giải thoát, giải thoát thì đi vào Niết bàn.

Huynh đệ để ý sự học đạo của chúng ta nó quan trọng nhất là đức hạnh, không có nền tảng của đức hạnh thì không nói đến sự giác ngộ, đạo đức căn bản của người tu chứ không phải học để cho kiến thức cho rộng, bằng cấp cho cao hoặc nói cho hay, đức hạnh làm nền tảng, đức hạnh đó được thể hiện từ sự mài rửa từ sự sửa đổi ở nơi ba nghiệp của mình, từ nơi tâm niệm, từ nơi lời nói, từ nơi hành động. Bài học này để dọng cái nền cho mình vững chắc mình mới xây lên nhiều tầng lầu được nền không vững dù có xây bao nhiêu phút giây cũng sụp đổ, chúng ta sẽ học những điều căn bản học để thực hành trong cuộc sống của mình. Trong đạo Phật chúng ta dùng từ hành giả là như vậy là người hành giả tu hành. Giáo lý của đạo Phật là từ nơi thể nghiệm mà thành lập chứ không giống như học thuyết của thế gian là viết ra mới thí nghiệm làm theo, đức Phật đã tu tập gian khổ thành tựu cái đạo quả chứng ngộ sau đó Ngài mới nói phương pháp để đạt sự chứng ngộ đó, chúng ta trú trọng phần thực hành mong rằng tất cả chúng ta đều thực hành được tâm cung kính đối với tất cả mọi người, không chỉ cung kính với những người lớn mà người ngang mình, thậm chí những người nhỏ hơn mình, tất cả những loài vật cho đến những vật được thừa hưởng xung quanh mình từ cái bàn mình ngồi viết bài từ cuốn tập mình học từ cây viết cái áo mình mắc từ cái đơn mình nằm đến miếng gạch đều tỏa thái độ biết ơn, không có bàn này sao mình có chỗ cho mình ngồi học, không có ghế này làm sao mình ngồi học, không có manh áo này làm sao mình có để bận, không có chén cơm đàn na tín thí làm sao mình có ăn nên tất cả sự vật đều biểu lộ tâm biết ơn, nhờ tất cả những sự vật này mình mới có đủ điều kiện phương tiện tu học, nhờ Quý thầy quan tâm dạy dỗ chỉ dẫn cho mình, mình mới nên, mình mới thành được người có đạo đức sau này mới thành thế tố hoàng dương chánh pháp làm lợi lạc cho chúng sanh.

Huynh đệ nên nhớ trong kinh Pháp hoa Bồ tát Trí tích nói rằng “ta xem trong cõi tam thiên đại thiên thế giới này không có một chỗ nào nhỏ bằng hạt cải mà không có thân cũ của đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã bỏ để cầu đạo, cầu sự giác ngộ chân chánh” nên mình đạp trúng chỗ nào cũng đạp trúng thân Phật Thích Ca, đức Phật trãi qua ba đại A tăng kỳ kiếp, bao nhiêu hạnh khổ khó làm nếu học kinh Hiền ngu, … mình rơi lệ, có khi Ngài phải đóng cả ngàn cây đinh vào người để cầu một bài kệ, có khi nhảy xuống hố để cầu nửa câu kinh, có khi Ngài phải gieo mình xuống vực lửa đốt hoặc đi trên núi đao để cầu đạo pháp, hôm nay chúng ta mới có để học. Đối với Phật, Pháp Tăng nói chung đối với Tam bảo phải có thiết tha chân thành quý kính hết mực mới mong sau này mình mới dự phận trong Tam bảo.