Tinh Hoa Nikaya - Xuất Gia Phản Tỉnh 1
Tinh Hoa Nikāya
XUẤT GIA PHẢN TỈNH 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Những lo lắng của người xuất gia PAGEREF _Toc114057460 \h 1
II. Tàm quý PAGEREF _Toc114057461 \h 6
III. Dặn dò trong đời tu PAGEREF _Toc114057462 \h 26
IV. Tâm hiền PAGEREF _Toc114057463 \h 33
I. Những lo lắng của người xuất gia
Người xuất gia phải gánh một gánh rất nặng, đó là gánh nặng của thiện pháp. Trong kinh tạng Nikāya Đức Phật nói, có những thiện gia, nam tử hay những người nữ nhân vì để thành tựu thiện pháp mà nước mắt đầm đìa, đấm ngực, đau khổ, tinh tấn, nỗ lực và sợ hãi để tu học. Nhiều vị chưa tiếp xúc với kinh Nikāya khi nghe điều này sẽ thấy rất lạ, thắc mắc tại sao người xuất gia là người được rảnh rang, được an nhàn mà lại là nước mắt đầy mặt, đầm đìa, đấm ngực, đau khổ, lo lắng, sợ hãi, xấu hổ? Thông thường, người ta quan niệm rằng người xuất gia là người bỏ được những bụi đời, bỏ hết những công việc thế tục, vào chùa sẽ được an thân, có cuộc sống an nhàn, không cần lo lắng cơmn áo, gạo tiền… nhưng đó là một nhìn nhận không đầy đủ, có khi còn sai trái.
Người xuất gia bỏ việc kinh doanh, buôn bán, làm ăn, những việc nhà cửa thế tục để làm một công việc hết sức thiêng liêng, cao cả, thánh thiện. Công việc đó là một công việc siêu phàm, siêu việt phàm tình, vượt qua thế gian. Một công việc mà người xưa gọi là “xuất gia giả phi tướng tướng chi sở năng vi”, nghĩa là những việc làm của người xuất gia ngay cả thừa tướng hay đại tướng thống lãnh quân trận không thể làm được.
Vậy, người xuất gia làm việc gì mà tướng văn, tướng võ cũng không thể làm được? Người xuất gia chỉ có làm một việc, đó là diệt tận tất cả tham sân si, vô minh, bản ngã, phiền não và lậu hoặc. Nói một cách khác là người xuất gia luôn luôn thăng tấn, tăng thượng, nâng cao giới hạnh, thiền định và trí tuệ. Để thực hiện được những điều này là một sự khó khăn, khó khăn, cực kì khó khăn; cay đắng, cay đắng, cực kì cay đắng; nỗ lực, nỗ lực, cực kì nỗ lực; tinh tấn, tinh tấn, cực kì tinh tấn.
Thật sự Minh Thành rất là xót xa, rất là đau lòng, rất là lo lắng và sợ hãi cho người xuất gia. Nhưng cái lo lắng, sợ hãi nhất là cho tự thân chính mình. Hết sức lo lắng và sợ hãi! Hết sức hỗ thẹn và nhục nhã! Người xuất gia bây giờ buông lung phóng dật, thả lỏng các căn, không tôn kính giới hạnh, thiền định, không tôn kính đạo sư, không tôn kính pháp, không tôn kính bậc đạo sư, không tôn kính Chánh pháp là kinh tạng Nikāya, không tôn kính bậc giới đức tu hành chân chánh, không tôn kính thiền định, không kính tiếp đón bậc tưởng thượng. Đây là những nguyên nhân làm cho diệu pháp mai một và chấm dứt trên thế gian này, khiến Phật pháp dần dần đi đến chỗ hoại diệt.
Người xuất gia thực sự luôn ý thức một cách sâu sắc về sự tu hành của mình. Trong lòng luôn luôn nơm nớp, lo sợ, lo lắng và sợ hãi. Lo lắng dục tham ái vẫn còn sanh khởi, xâm chiếm, áp đảo trong thân tâm. Sự sân hận, tức giận vẫn còn thiêu đốt trong cảm giác, trong cảm thọ. Những si ám và vô minh bao trùm trong sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ. Đó là những điều cần lo lắng.
Đầy rẫy trong tâm này là một bóng đêm trùm phủ, vô minh phong tỏa hết ngũ uẩn. Chúng ta nhìn không rõ sắc uẩn, đui mù không thấy được những cảm giác. Sự tập khởi của các cảm giác, sự hoại diệt của các cảm giác cũng không thấy. Những hình bóng bên trong tưởng uẩn càng không biết. Bên cạnh đó còn biết bao nhiêu những suy nghĩ dồn dập kéo về liên tục, đầy ắp trong tâm là ác bất thiện pháp. Nếu không cố gắng nỗ lực, chặn đứng, nhiếp phục, tẩy sạch và diệt tận những thọ, tưởng, hành đó thì đừng nói chi đến sự sâu xa của thức uẩn, càng mù tịt hơn nữa.
Như vậy cái lo lắng tiếp theo là lo lắng mình đang ở trong bóng đêm của si ám, vô minh. Mỗi khi mình tiếp xúc mà cái ta đây, cao ngạo, xem mình hơn người ta trong lời nói, hành động, muốn thể hiện mình, muốn phô trương mình, dù cho là nói pháp mình cũng phải lo sợ. Vì đó là bản ngã đang vận hành, không phải là pháp thật sự. Chúng ta phải lo lắng, sợ hãi bản ngã và sự chấp thủ. Người tu có rất nhiều mối lo chứ không phải thọ giới, khoác y rồi cho rằng là ta đây là Tỷ-kheo, là giới lớn. Hãy nhớ, tu không phải tính mình ở chùa được bao nhiêu năm, không phải biết được một chút là mình khoe khoang, không phải tu được một chút là mình tự mãn với những thiện pháp nhỏ nhặt, vì như vậy là mình đứng lại trong thiện pháp.
Khi thấy những giới đàn ba ngàn, năm ngàn người xuất gia thọ giới, Minh Thành rất run sợ. Những người này rồi đi về đâu? Ai là người giáo dục, đào tào, huấn luyện và dạy dỗ cho họ thành tựu được chánh tri kiến. Hay là chỉ có hình thức chiếc áo và cái đầu. Nếu không khéo vào tu mà còn phá hư đạo pháp. Thật sự là lo lắng vô cùng, sợ hãi vô cùng, xấu hổ và nhục nhã vô cùng.
Khi quay trở lại nhìn nội tâm mình, cũng đầy rẫy rác bẩn, toàn những dục, tham, ái, sân hận, bực bội, hơn thua, ganh tỵ, đố kỵ, ích kỷ, khoe khoang, phô trương, ta đây, thể hiện. Hết sức là nguy hiểm cho người tu của chúng ta. Chúng hãy nhìn những người chung chùa, học chung lớp, những người ra đi trước mình. Hãy nhìn thật sâu sắc bằng tất cả trái tim. Có bao nhiêu người thật sự dấn thân trên con đường ly tham, nhàm chám, từ bỏ và chấm dứt những dục, tham, ái đối với ngũ uẩn, đối với thân thể, đối với tài sản, đối với chùa chiềng, đối với những cảm giác tham sân si, bản ngã. Bao nhiêu người quyết liệt với tâm bóng bỏng, nhiệt huyết để hướng thực hiện điều đó.
Chúng ta phải thực sự lo lắng cho đời tu của mình, bằng không, lớp áo cà sa này là đại họa, là thảm họa, là tai họa, hiểm họa. Một khi cái áo này rớt xuống thì có thể chúng ra có thể rơi tự do xuống những vực sâu của cùng tận đen tối. Luôn quán chiếu những hình ảnh đó để phát sanh những cảm thọ run sợ, khiếp sợ đối với những dục ái khởi lên trong người mình. Đối với sân, tham, si mê, bản ngã khởi lên phải thấy khiếp sợ. Khi thấy những người tu theo danh tài, lợi sắc thì cũng thấy run sợ, khiếp sợ, hãi sợ. Phải thấy đó là con đường đưa đến cánh cửa của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh ở trong tương lai.
Người tu chúng ta không cần phải làm gì hết, chỉ làm một việc duy nhất là diệt tận tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Làm điều đó là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Nếu không làm được điều này, dù cho có làm cái gì đi nữa, mình cũng là kẻ mang nợ. Món nợ này rất là lớn, nợ khủng khiếp, nợ kinh hãi, món nợ vĩnh viễn không trả nổi, bắt buộc phải trả trong ba đường ác.
Thử nghĩ, một người nọ nuôi nấng mình suốt cuộc đời, cho mình ăn học, đến khi nhắm mắt, mình trả ơn người đó bằng cách nào? Dễ hay khó trả? Trả ơn cho những vị này rất là khó. Mà bây giờ những người cúng dường, chăm sóc cho chúng ta là những người đáng tuổi cha, đáng tuổi mẹ, đáng tuổi ông, tuổi bà của mình. Hơn nữa, người ta còn quỳ xuống lạy dưới chân mình để cho, để cúng. Người ta nghĩ mình là người thanh tinh, ly dục, là người giới hạnh, thiền định, trí tuệ, là bậc tôn kính đáng đảnh lễ, đáng chắp tay, đáng cúng dường. Chúng ta nhận những phẩm vật đó, nếu không có giới đức, không có đạo hạnh, không có thiền định, không có chánh tri kiến, không có trí tuệ thì hậu quả như thế nào. Vậy mà cứ ngồi lên đó cho người ta lạy và nuôi nấng mình suốt cuộc đời, đến khi nhắm mắt, mình đi về đâu? Khi quán chiếu những điều này thật sự thấy kinh sợ, hoảng sợ, khiếp sợ.
Mặt khác, cha mẹ sanh mình ra, nuôi mình lớn lên, rồi mình bỏ đi tu. Ở nhà cha mẹ bệnh hoạn không có ai chăm sóc. Mình nói cha mẹ mình đi tu, mình giải thoát về mình độ nhưng sự thật khi vào chùa thì ẩn dương nương Phật, qua ngày đoạn tháng, ăn chơi cười nói buông lung, không nhớ đến mục tiêu, không nhớ đến tăng tượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Càng ngày ở trong chùa lâu chừng nào thì bản ngã càng to, thậm chí là xem thầy không ra gì. Xem huynh trưởng, sư tỷ, sư thúc không ra gì. Ngoài mặt thì cung kính bằng hình thức cho có, còn trong bụng là một cái ta ngút trời, cao ngạo.
Như vậy thì đời tu này sẽ đi đâu? Mình đi đâu với một nội tâm đầy rẫy dục tham, với một nội tâm đầy rẫy sân hận, tức giận, ai đụng nhẹ là sừng sộ, khó chịu. Ví dụ đơn giản, ngày xưa huynh đệ chưa đi tu, người ta kêu mình bằng “con”, bây giờ đi tu người ta kêu mình bằng “cô”. Bỗng có một bà già nào đó không biết nghi thức trong chùa, bà kêu “con lấy giùm bà cái này” thì thử xem bản ngã lúc đó thế nào.
Cho nên, hình thức xuất gia là cao thượng, là thánh thiện, là tốt đẹp, nhưng cũng là vực thẳm và hố than hừng. Nếu tu không đúng là mối đại họa tìm ẩn trong lớp áo cà sa. Mỗi một ngày phải lo lắng giới hạnh chưa viên mãn, thiền định chưa thành tựu, trí huệ chưa rực sáng. Cần phải nỗ lực, cần phải tinh tấn, cần phải có sự quyết tâm và kiên trì liên tục. Bằng không, leo lên núi thì khó, còn muốn rơi xuống thì chỉ cần buông tay là rơi xuống liền.
II. Tàm quý
Khi Minh Thành nhập thất, tu học trong cảm giác tàm quý, lo lắng và sợ hãi, Minh Thành đã viết bài “Nhục ơi nhà nhục” để nhắc nhở cho chính mình và những huynh đệ đồng hành.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Đam mê dục lạc thoát không ra
Sắc thinh chạy đuổi không mệt mỏi
Kết quả đường tu địa ngục sa.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Trang nghiêm, tướng hảo khoác cà sa
Bên trong xú uế, tham, sân, ngã
Cái tôi, cái ta càng vươn cao.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Đầu tròn áo vuông dáng tịnh thanh
Lợi danh, quyền chức mãi tranh giành
Đến gần bốc mùi quá hôi tanh.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Chạy theo cấp bằng học vị hoài
Trách nhiệm bổn phận người tu sĩ
Chẳng hay chẳng biết đó là gì.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Trụ trì tự viện quát tháo la
Nhìn vào chẳng giống hàng tăng sĩ
Thua người cư sĩ ở tại nhà.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Nghêu ngao phố phường suốt ngày đêm
Lang thang, vất vưởng như ma đói
Giới hạnh luật nghi đã suy đồi.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia
Ta đây, vênh váo lên mặt thầy
Dạy đời phô trương thèm thể hiện
Đâu hay trí thức thấy tránh xa.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Chạy đôn chạy đáo khắp mọi nhà
Tìm cầu danh lợi không mỏi mệt
Thình lình tai biến thật xót xa.
Nhục ơi là nhục bậc tu hành!
Giới hạnh không gìn, chẳng tịnh thanh
Nội tâm rác bẩn, đầy ô uế
Chẳng hay chẳng biết mùi hôi tanh.
Nhục ơi là nhục bậc tu hành!
Suốt ngày giảng nói chẳng thực hành
Nói tới nói lui trên chữ nghĩa
Ba hoa, rỗng tuếch phiền não sanh.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Quyết tâm quyết chí bỏ mẹ cha
Bỏ nhà bỏ cửa đi cầu đạo
Tìm không thấy đạo tìm ái hà.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Theo thầy cầu pháp để thoát ra
Xuất ly không thấy thêm ràng buộc
Chùa chiềng bổn đạo bề bộn nha.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Quyết lòng giải thoát thật thanh cao
Cớ sao trần tục không vứt bỏ
Sa đà thối đọa quá xót xa.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Bỏ căn nhà nhỏ bước vào chùa
Đam mê dính chặt ngôi tự viện
Keo sơn ràn rịt lòng chẳng yên.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Hai thời khóa tụng Tàu đặt ra
Tưởng đâu vậy đủ không lo âu
Nào hay giết chết đường đạo mầu.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Nội tâm liên tục dục tham sân
Không lo diệt tận và tẩy sạch
Hướng ngoại rong ruổi bao giờ an.
Nhục ơi là nhục kiếp tu hành!
Chùa chiềng bổn đạo mãi tranh giành
Ô uế cửa thiền thêm xấu hổ
Trùng quang ấn tổ bằng đua ganh.
Nhục ơi là nhục kiếp tu hành!
Cơm cháo muối dưa thoát tử sanh
Không lo tu tập thành Phạm hạnh
Sắc dục đắm chìm rơi hỏa khanh.
Nhục ơi là nhục kiếp tu hành!
Lao vào công việc chẳng thiền tư
Ngày đêm xuôi ngược trong hữu lậu
Thân tàn ma dại đến bạc đầu.
Nhục ơi là nhục kiếp tu hành!
Toan tính suy tư mãi không thôi
Chưa khoác y lên than bận rộn
Đã đắp y rồi việc càng hơn.
Nhục ơi là nhục kiếp tu hành!
Suốt đời loanh quanh đám ma chay
Làm nghề thầy cúng không biết chán
Kinh doanh kiếm tiền ngao ngán thay.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Bản ngã chình ình gớm quá thay
Dương dương tự đắc không xấu hổ
Khoe khoang phô trương như thây sình.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Buồn thương vô hạn kiếp muối dưa
Bản ngã vươn cao tâm ngạo nghễ
Bôi tro trét trấu vậy đủ chưa?
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Suốt ngày phố phường cứ la cà
Buông lung phóng túng theo ngũ dục
Sao còn đáng mặt con Thích Ca.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Vô nhân vô nghĩa vô lễ kính
Thả lỏng các căn chẳng tàm quý
Làm sao ăn nói với đàn na.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Ngày đêm gom góp tài sắc hoài
Chùa to tượng lớn càng mang nợ
Hoang phí đời tu hủ bại đầy.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Sao không nhận ra mình là ai
Nâu sòng đầu trọc không biết thẹn
Dối gian trục lợi quá đắng cay.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Trong lòng buồn đau thật xót xa
Cả đời bỏ hết mùi tục lụy
Tại sao cái ta chẳng thoát ra.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Đạo hạnh tu hành dần phôi pha
Tâm đầu đẹp tựa hiền thánh vậy
Vậy nay ma quỷ cũng chạy xa.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Một lòng quyết chí giải thoát mau
Ở lâu trong chùa đã úa màu
Tham sân ngã mạn càng thêm lớn.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Không gieo không gặt không tìm cầu
An nhàn hưởng thụ không nỗ lực
Ăn trên ngồi trước ta đây cao.
Buông lung phóng túng không nhiếp phục
Không hộ trì căn chẳng công phu.
Không biết trách nhiệm mình trọng đại
Chẳng hay bổn phận rất lớn lao
Nào hay Phạm hạnh này gánh nặng
Đâu ngờ nghiệp quả như núi đè
Đâu ngờ lợi dưỡng lưỡi câu bén
Đâu ngờ cúng dường mồi ác mà
Đâu ngờ cung kính như vực thẳm
Đâu ngờ đảnh lễ hố than hừng
Đâu ngờ chắp tay không cườm chắc
Đâu ngờ cúi đầu đau phủ chờ
Đâu ngờ tôn kính tiềm ẩn họa
Đâu ngờ quỳ mọp địa ngục dành
Đâu ngờ tán thán nước đồng sôi
Đâu ngờ vỗ tay miếng mồi say
Đâu ngờ thực phẩm ngon giòi phẫn
Đâu ngờ y đẹp cột đồng cháy
Đâu ngờ phòng sang tù ngục chặt
Đâu ngờ thuốc bổ độc dược kinh
Đâu ngờ sắc thinh là mầm bệnh
Đâu ngờ dục ái nhận chìm mình
Đâu ngờ sân hận biển lửa dữ
Đâu ngờ si mê trói buộc mình
Đâu ngờ nghi ngờ thành mê lộ
Đâu ngờ lăng xăng kiếp nô lệ
Đâu ngờ hôn trầm cảnh tù đày
Năm tháng hửng hờ tu lấy lệ.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Hãy nhắm đầu trọc chiếc áo nâu
Giới hạnh không lo sao xứng đáng
Lửng lờ năm tháng phí cả đời.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Thiền định không hành tâm chẳng yên
Hữu lậu hướng ngoại khởi triền miên
Ngày đêm năm tháng rong ruổi mãi
Làm sao an tịnh vào bốn thiền.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Chẳng tu Thánh tuệ mãi đam mê
Tư duy quán chiếu không liên tục
Ngũ dục hạ gục giết chết mình.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Chánh trí không hành trú vô minh
Chẳng hay chẳng biết thọ tưởng hành
Tâm mê mờ mịt khi đối cảnh
Làm sao tiếp xúc phiền không sanh.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Ngày đêm phố phường chẳng ở nhà
Nội soi chẳng rõ tâm hướng ngoại
Cả đời si dại thật xót xa.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Bỏ cha bỏ mẹ bỏ ông bà
Bỏ anh bỏ chị bỏ cô chú
Bỏ nhà bỏ cửa bỏ gần xa
Bỏ tài bỏ sắc bỏ danh lợi
Bỏ chức bỏ quyền bỏ đua ganh
Bỏ tóc bỏ luôn cả vóc hình
Bỏ lòng tham luyến gia đình mình
Bỏ hết hồng trần và tục lụy
Sao không xét kỹ bỏ ta đi.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Ở lâu trong chùa quên mình là
“Người tu” hai tiếng thiêng liêng quá
Chớ để tu lâu biến thành ma.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Không lo tu tập chính tự thân
Vong ơn bội nghĩa bậc chân nhân
Sáu trần đeo đuổi trong tâm trí
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Không lo tinh tấn liền sa đà
Vướng vào tiền bạc và sắc đẹp
Vết nhơ muôn thở tội hằng sa.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Hai từ khất sĩ phải khắc ghi
Ăn xin thực phẩm người thí chủ
Hành trì Phạm hạnh phải thực thi
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Rày đây mai đó khắp gần xa
Chạy đôn chạy đáo không xấu hổ
Tưởng đâu là tu khổ lắm nha
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Từ sang tới chiều làm cái gì
Tối đến nằm xuống ngủ ly bì
Tuệ quán thiền định chẳng hành trì.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Nơi nào cũng thấy ảnh bước qua
Hội chợ nhà hàng sân vận động
Thách thức danh hài thấy xót xa.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Xách chuông với mỏ chạy mọi nhà
Ê a tụng niệm tang lễ thỉnh
Tưởng đâu như vậy là công trình.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Ăn trên ngồi trước vui đó nha
Vương vương tự đắc thêm ngạo mạn
Lên mặt hống hách lại ngang tàn.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Kêu cha gọi mẹ với ông bà
Là con là trò là đồ đệ
Hỗn hào bất hiếu tội nghịch sa.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Dạy dỗ không khéo trở thành hư
Ăn bám xã hội còn ngạo nghễ
Lòng này đau xót quá ê chề.
Nhục ơi là nhục người xuất gia1
Nhàn nhã buông lung chẳng chịu tu
Mượn đạo tạo đời mang tiếng Phật
Đến khi bỏ mạng cảnh ngục tù.
Nhục ơi là nhục kẻ tu hành!
Bản ngã vươn cao cứ chình ình
Ta đây vênh váo còn lên mặt
Vào chùa như vậy chỉ bị khinh.
Nhục ơi là nhục kẻ tu hành!
Suốt ngày suốt tháng tìm lợi danh
Tranh giành chức vị không xấu hổ
Xuất gia đầu tư đường súc sanh.
Nhục ơi là nhục kẻ tu hành!
Suốt năm suốt đời chạy kiếm tìm
Xem ngày bói toán xem phong thủy
Bắt ma bắt quỷ quá mê si.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Sao không tỉnh ngộ để thoát ra
Năm dục trưởng dưỡng lò lửa rực
Rơi vào nó đốt cháy thịt da.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Chùa chiếng tiền bạc của đàn na
Trao truyền Thánh pháp cho hậu học
Đến già đầu bạc chẳng nhận ra.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Hãy lo phản tỉnh thân tâm mình
Quán sâu xét kỹ toàn ngũ uẩn
Diệt cho sạch hết ái vô minh.
Nhục ơi là nhục người xuất gia
Tu hành tới nay tuổi đã già
Sao không diệt tận tham dục ái
Khiến cho chấm dứt chẳng tái sanh.
Nhục ơi là nhục người xuất gia
Trải qua vô lượng kiếp hằng sa
Dục ái tham sân đã quá nhiều
Giờ đây thấy rõ phải triệt tiêu.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Suốt năm suốt tháng cứ chắt chiu
Góm gom chất chứa thêm tham ái
Túi không có đáy đựng bao nhiêu.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Không tu ô uế lớp cà sa
Đàn na tín thí thương vô hạn
Trọng trách tăng sĩ phải nhận ra.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Nhận tiền cúng dường phải sợ lo
Người nhân khó khổ bằng huyết lệ
Gieo vào ruộng phước chẳng xin cho.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Nhận tiền cúng dường phải thẹn thùng
Mồ hôi xương máu người tín thí
Chắt chiu để dành để cúng dường.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Nhận tiền cúng dường phải e dè
Cân lường đo đếm mình đức hạnh
Nếu không khoai nóng trả khó xong.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Nhận tiền cúng dường hãy suy lường
Nhận rồi phụng sự đường đạo pháp
Nếu không ngạ quỷ đọa miên trường.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Nhận tiền cúng dường hãy xét soi
Đức mỏng tuệ cạn phải vun bồi
Sử dụng đồng tiền cho chánh đáng
Nếu không địa ngục mãi vòng xoay.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Hãy tu hãy quán hãy tỉnh ra
Trong ngoài các pháp như mộng huyễn
Tham lam dục ái mau thoát ra.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Phước điền vô thượng ở trên đời
Bốn đôi tám chúng chư hiền thánh
Giữ lòng chân chánh quyết Dự lưu!
III. Dặn dò trong đời tu
Giới hạnh trong kinh Nikāya tóm tắt lại gồm: giữ giới, sống hộ trì với sự hộ trì của giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học giới (học pháp). Thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh, giới hạnh đầy đủ, thủ hộ các căn, chánh niệm tỉnh giác và biết tri túc. Đó là phần giới của kinh Nikāya, chứ không phải thọ giới rồi giữ theo đó là xong, như vậy chưa đủ.
Ngoài việc giữ giới, còn có oai nghi chánh hạnh. Oai nghi là cách đi, đứng, ngồi, nằm của người xuất gia, dựa trên một phần Niệm thân trong kinh Tứ Niệm Xứ, gồm niệm oai nghi, niệm hành động, niệm hơi thở. Thân thể sử dụng như thế nào mình phải biết.
Phần hết sức quan trọng là phần thủ hộ các căn, phần này ở trong kinh Nikāya nhắc rất kỹ nhưng bây giờ người tu không quan trọng cái này nhiều. Thủ hộ các căn là giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình. Chẳng hạn là sư cô không được săn tay áo, cười giỡn, nói cười lớn tiếng. Những điều này là cái hết sức quan trọng, mà bây giờ người xuất gia ít để ý đến. Chính vì bỏ những điều nhỏ nhỏ đó nên nền tảng giới hạnh không có, khi ngồi thiền không bao giờ định được.
Do không phòng hộ các căn, không thủ hộ các căn, không giữ gìn mắt tai nên cái gì cũng nhìn, tiếng nào cũng nghe. Khi cái gì cũng nhìn thì mình sẽ chạy theo sắc pháp. Cái gì cũng nghe hết thì mình chạy theo thanh trần. Cho nên, điều quan trọng ở đây là thực hành ba pháp, cảm giác toàn thân, nhận diện năm uẩn. Nắm vững pháp hành này thì chúng ta mới đi theo dòng pháp này được. Vì không có cảm giác toàn thân, không thực hành ba pháp thì thân mình giống như người lang thang, vất vơ vất vưởng. Nếu không có cảm giác toàn thân thì tâm không có chỗ trú, gặp cái gì là phóng theo cái nấy.
Khi có sự chánh niệm trước mặt, trở về hơi thở, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác thì chúng ta có sự trú vững chắc, định tâm ở trên thân. Còn bằng không, tâm mình giống như kẻ vô gia cư, không có nhà, không có chỗ trú. Cho nên an trú nơi cảm giác toàn thân, chánh niệm trước mặt, nội tâm tỉnh giác mới giúp mình thủ hộ các căn. Thủ hộ các căn mới giúp mình được hoàn thành ba pháp. Khi thực hành pháp này nhuần nhuyễn thì sự tu của mình sẽ được vững chắc, dù ở chỗ nào cũng vững chắc, ít bị ngoại cảnh dao động, không bị phóng tâm.
Bên cạnh đó, thấy sợ hãi trong lỗi nhỏ nhặt là hết sức quan trọng. Lỗi nhỏ mà phạm phải thì cũng thấy sợ hãi, vì như vậy là không giữ giới. Ví dụ, mình nói chơi, nói giỡn rồi nói sai sự thật, sau khi phát hiện mình nói dối thì phải sám hối trước bàn Phật. Đó gọi là sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt.
Chẳng hạn, trong sự tiếp xúc giữa nam và nữ, vô tình đưa đồ mà xúc chạm vào tay, hoặc đi xe vô tình xúc chạm với nhau, nếu lúc đó thọ sanh khởi lên có ái, có dục trong đó mình phải thấy được và thấy sợ hãi những cảm giác, cái dục, cái ái, cái ham, cái thích đó. Sau đó đánh đuổi cảm giác đó. Dùng như lý tác ý, làm cho cảm giác tan biến ra, không cho nó tồn chỉ, tồn động, tồn kho, lưu trú trong thân tâm của mình. Với một người tu kỹ lưỡng như vậy thì ngồi thiền mới định, mới vào được các tầng sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền.
Ngược lại, nếu không chăm sóc, không phòng hộ, không thấy sợ hãi các lỗi nhỏ nhặt thì chúng ta sẽ thọ nhận những cảm giác của dục, của sân, của bản ngã, của ái. Sau khi thọ nhận, đến lúc ở một mình thì những hình ảnh, sự tiếp xúc, cảm giác đó hiện ra trở lại. Cho nên, khi vừa dính một xíu bụi mình rửa liền ngay lập tức thì mới sạch. Còn thấy dính một chút bụi mình nghĩ là không sao, đến khi “nhiều chút” là nó bôi tro trét trấu. Khi trở về đối diện với nội tâm là mình đối diện không nổi, vì trong này đầy rẫy những dục, tham, ái. Ở một mình là nhớ huynh đệ, nhớ bạn, nhớ gối nằm, nhớ chiếc xe… tất cả những cái đó là ái, chúng khiến mình rời xa không được. Chẳng hạn, quý cô ở chùa có phòng quen rồi. Còn ở đây cho nằm trên gác sập sệ trong am tranh, lâu lâu trong bụng nghĩ “nhanh nhanh về mình ngủ bù, ở đây ngủ không có yên giấc, chỗ này không êm ái như chỗ của mình”.
Cho nên, chúng ta phải thấy rằng, ái không chỉ có ái giữa nam nữ. Trong kinh Đại Niệm Xứ Đức Phật dạy rất sâu sắc, trong lỗ mũi, lỗ tai, con mắt, cái miệng… có ái an trú trong đó. Ái an trú ở những chỗ mình tiếp xúc, ưa thích, dễ chịu, khả lạc, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục hấp dẫn. Những gì vừa lòng, thích ý, vui hấp dẫn liên hệ đến dục gọi là gai nhọn trong giới luật của bậc Thánh. Tất cả những gì tiếp xúc mà nó làm cho mình cảm thấy êm ái, dễ chịu, thích thú, hấp dẫn thì phải coi chừng, phải chánh niệm tỉnh giác. Không may thọ nhận cảm giác đó, nó vào chiếm ngự trong tâm, mai mốt tâm này sẽ muốn đi kiếm cái đó nữa. Đây là chỗ hết sức thâm sâu, nhỏ nhiệm. Nếu có sự nhận diện năm uẩn mình sẽ thấy các pháp rất rõ ràng trong tâm.
Nhờ có thủ hộ các căn, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, nên đối với “hàng mới” (cảm thọ mới) mình không nhập vào tâm nữa, mình chỉ cần xử lí hàng tồn kho, tích tụ trong tâm. Nếu không xử lý trong kho thì tâm mình toàn những thứ nhơ quế, cấu nhiễm, hôi hám. Dơ như vậy mà không dọn, lại còn đem thêm những cấu uế vào tâm nữa thì chừng nào kho mới sạch, chừng nào kho mới trống. Cho nên tu hoài thì tâm cũng không được thanh tịnh. Tại vì sao? Tại mình không nhìn thấy được cái dục, cái ái, chấp thủ sanh khởi. Vì không phát giác, không phát hiện nên mình không đánh phá, không triệt hạ, không tẩy sạch và sẽ không đưa đến chỗ chấm dứt, đoạn tận những dục, tham, ái đó. Nếu không thấy thân tâm chính xác bằng trí huệ năm uẩn thì vô tình mình tu mà lại càng nuôi lớn vô minh, chấp thủ và tham ái. Đây là điều hết sức xót xa và cay đắng của người tu. Nếu không thành tựu chánh tri kiến thì mình đang nuôi dục, nuôi tham, nuôi ái, nuôi vô minh, nuôi chấp thủ với ngũ uẩn mà mình không biết và cũng không ai nói cho mình biết.
Ví dụ, một sư cô đang mặc y, đang lễ Phật, bỗng có người bất thình lình đến nói “con thích cái y của cô quá, con muốn cái y của cô quá, con ao ước cả cuộc đời, con thích loại vải này quá, sư cô cho con nha”. Lúc đó sư cô này như thế nào? Chẳng những không cho mà cảm giác lại khó chịu, sân giận sanh khởi. những không cho mà còn sân, không thấy đó là cơ hội để mình xả đi cái ái. Đó là bài tập, đó là cơ hội, đó là bài kiểm tra, đó là bài thi. Hơn nữa, mình không phải chỉ có một cái y, mà có đến vài cái, nhưng mình không thấy cơ hội để xả ái, xả sự ưa thích món đồ, cái áo mình mặc. Như vậy, mình không niệm pháp “đây không phải là tôi, không phải của tôi”.
Ví dụ khác, chiếc đơn mình ngủ đã sáu tháng, bữa nay có người mới đến, bề trên cho lệnh đem cái đơn đó cho người bên kia, còn mình ngủ miếng trải dưới đất vậy thôi. Những lúc này là những bài kiểm tra cho mình. Khoan hãy nói những gì cao siêu, là móc mắt, cắt tay cho người ta. Chỉ là chiếc đơn thì ngay lúc đó mình tu như thế nào, mình có dụng tâm tri túc không? Đối với người thường trực niệm pháp ly tham đối với sắc uẩn, người đó có thể cho một cách nhẹ nhàng. Lúc đó, nếu trong tâm có hơi buồn buồn một chút thì có thể tác ý là Đức Phật ngày xưa chỉ ngủ dưới gốc cây, giờ mình có tấm trải là quý rồi. Đây là bài kiểm tra lòng dục, lòng tham, lòng ái, lòng chấp thủ đối với những thứ tứ đại vô thường. Để xem cái dục ái, cái tham của mình như thế nào, có xả được chưa? Xem mình có mở được cái chấp chưa? Xem mình có tri túc biết đủ với những gì đang hiện có hay không? Cái đơn đó trước khi mình đến nó không phải của ai, giờ mình đến tu học rồi lại dính mắc, xem chiếc đơn đó là của mình hay sao!
Cho nên, chúng ta phải tập bỏ nhiều cái bên ngoài, rồi mới tới những những cái trên người, rồi từ từ mới phá được những chấp thủ sâu xa trong tứ đại. Mắt, mũi, tai, thân, ý này không phải của mình, hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ chúng sẽ được hạnh phúc an lạc lâu dài. Đây là chỗ thâm sâu của pháp. Thực tập như vậy mới là giới hạnh, là tri túc, là chánh niệm tỉnh giác, là thủ hộ các căn, là chấp nhận học tập trong các học pháp. Người tu chúng ta đang tu tập để thực tập xả ly, viễn ly, xuất ly, thoát ly đối với sắc uẩn, vậy sao người ta lấy cái đơn đó mình không thấy vui.
Giờ sư cô ngồi đây có mang mắt kính, lát sau trở về ngủ đến sáng dậy tìm thì không thấy mắt kính. Lúc đó cảm giác sanh khởi thì mình nhắc tâm lắng dịu, tâm dễ dịu, từ từ bình tĩnh tìm, lỡ mất rồi thì mua cái khác. Những sự tu đơn giản như vậy mình đã làm được chưa? Khi niệm tâm lắng dịu một lần, mình thấy cảm thọ được lắng xuống, dịu xuống. Niệm thêm lần thứ hai mình thấy ngọt ngào, dễ chịu “không sao hết, mắt kính này là đồ vô thường, đâu phải của mình đâu. Giờ ai cần lấy thì mình mua cái khác, tất cả cũng toàn người ta cho mình, chứ đâu có cái nào của mình đâu”. Sau đó cứ niệm tâm lắng dịu, tâm dễ chịu để cảm thọ lắng xuống, dịu xuống, dễ chịu xuống.
Thực hành như vậy mình tu tập được tâm lắng dịu, tâm dễ chịu, hiền từ, hiền lương, hiền hòa, hiền lành, hiền đức. Đó là giới hạnh, là giới đức, là đạo hạnh của người xuất gia. Chứ không phải phát hiện mất mắt kính là la lên, sốc đồ lên tìm. Làm như vậy so với người đời có khác gì đâu, so với kẻ vô văn phàm phu đâu có khác gì. Cho nên việc người thực tập thiền tâm hiền là hết sức quan trọng. Phải tập mỗi ngày, làm cho cảm thọ được lắng dịu, thân xác được lắng dịu, các tưởng, các hành lắng dịu và thức được an tịnh.
Thường xuyên thực tập như vậy, khi gặp chuyện gì cũng có cảm giác lắng dịu, dễ chịu, nhẹ nhàng. Những cảm giác hung hăng, hung tợn, hung dữ được lắng xuống, được dập tắt. Đó là công phu của sự tu, đó là giới hạnh, là sự chánh niệm tỉnh giác, có sự hộ trì căn, làm cho thân miệng ý được trong sạch, có oai nghi chánh hạnh của người xuất gia.
Minh Thành ví dụ những chuyện bình thường như vậy để các cô các thầy xem đó là bài kiểm tra, bài tập. Chẳng hạn, sáng mai bếp nấu phở ngon tuyệt vời, đến phần mình lại hết nên cho mình một gói mì. Khi đó, phải ngồi nhìn cảm giác mình, những lúc như vậy là cơ hội để mình tu học, rèn luyện. Đừng nghĩ lên chánh điện mới tu, ngay chỗ ăn không có tu. Mà ở mọi chỗ, mọi nơi đều là chỗ rèn luyện giới hạnh, đạo hạnh, giới đức, oai nghi chánh hạnh, thủ hộ các căn, giữ gìn chánh niệm tỉnh giác, thực tập sự tri túc của người tu.
Tri túc là bí kíp, bí quyết của sự bình an. Hạnh phúc tối thượng trên thế gian này là biết đủ. Biết đủ là sao? Trong mọi hoàn cảnh, có cái gì mình cũng thấy ổn, không có vấn đề, không có đòi hỏi, không có bắt buộc “phải như vầy, phải như khác”. Không đưa ra tiêu chuẩn “ăn phải như vầy, ngủ phải như vầy”. Học tới đúng giờ là phải xuống sao nay nói lâu vậy, đó là không chấp nhận học pháp thì làm sao mình tiến bộ. Chấp nhận và học tập trong cách học pháp.
Học đi mình mới thấy được vi diệu lắm, pháp hỉ mới sung mãn. Hoàn cảnh nào cũng có thể nở nụ cười, hoàn cảnh nào cũng có thể nhiếp phục, chiến đấu bên trong.
Mình tu đến một lúc là mình không cần cái gì nữa hết trơn. Trên cuộc đời không còn cái gì để mình ưa, mình thích, mình mê, mình muốn nữa hết. Mình ở bất cứ chỗ nào cũng bình an. Đó là gì? Đó là kết quả của sự ly tham. Đó là công đức của giới hạnh đó.
Cho nên phải thực tập tâm hiền.
Ví dụ: Mình thấy mình đi nhanh quá mình thực tập lại. Cảm giác lắng dịu, cảm giác dễ chịu. Niệm câu đó cho mình đi chậm lại. Nó muốn đi nhanh mình kêu lắng dịu, dễ chịu, đi chậm lại.
Nó muốn la lối, mình niệm lắng dịu, dễ chịu. Mình người tu không có la, người ta nhìn kì lắm, mình là sư cô, mình người xuất gia. Mỗi lần sanh khởi lên cái gì mình nói nhục lắm nha, cái này nhục, cái này nhục lắm.
Người ta nhìn hai cô gây lộn, cãi lộn, đánh lộn người ta thấy bình thường thôi. Mà người ta nhìn hai sư cô mặt nhỏ, mặt lớn, trừng trợn thì thấy cái này bất bình thường. Tại sao vậy? Vì hình ảnh của người tu là nó phải như vậy, nó không được như vậy.
IV. Tâm hiền
Cho nên mỗi khi mình có cái đó là mình nói nhục nha, nhục nhiều lắm.
Mình là người tu đó nha,
Luôn luôn phải nhớ khắc ghi lòng
Bản ngã ta đây thêm nhục nhã
Dù tu suốt đời cũng như không.
Mình là người tu đó nghe không?
Sao không lắng nghe góp ý hay
Học hỏi sửa đổi thành toàn diện
Tự ái làm chi cái ngã điên.
Mình là người tu đó nghe không?
Giờ giờ phút phút nhìn vào trong
Kiểm tra dò xét cho thật kỹ
Đừng cho suy nghĩ dẫn lòng vòng.
Nhập thất mới có hai tháng mà ra một bộ một ngàn trang. Kì sau nhập thất sáu tháng cho nó ra một bộ ba ngàn trang Thánh Chiến Hùng Ca.
Phải nhớ mình người tu, luôn luôn phải nhớ khắc ghi lòng, bản ngã ta đây thêm nhục nhã, dù tu suốt đời cũng như không.
Cho nên trong sự tu tập này, đầu tiên phải tu tâm hiền. Minh Thành xuất gia ba chục năm rồi cũng đang tu tâm hiền, vì mình cũng còn dữ. Khi dữ lên là nhục vô cùng. Dữ lên là vô đóng của thất lại nhìn cái gương xem cái mặt có giống người tu không? Nhìn cái bản mặt coi.
Nổi sân, bản ngã đó nổi lên. Soi gương nhìn cái mặt của mình, nhìn cái mặt của mình có phải cái mặt của người tu không. Con mà sân lên, con bực lên, bản ngã con lên, con đóng cửa lại không thèm làm gì nữa, kệ công việc gì cũng không quan trọng. Mình phải giải quyết cái trong này, diệt cho cái bản ngã nó tan ra thì làm cái gì thì làm. Còn cái này không làm cái gì hết, làm cái gì? Không có làm cái gì bằng làm cái này hết. Phải có một thái độ như vậy, cái đó gọi là chánh tri kiến đối với thân tâm của mình.
Cho nên khi mình nổi sân lên, nổi bản ngã lên, nổi dục, tham, ái lên là đóng của lại, nghĩ, bệnh. Mình thưa với sư phụ, với huynh đệ con bệnh rồi. Cái đó bệnh, bệnh thiệt là không chịu lo. Đợi chừng nào mà lết không nổi thì mới nằm.
Mỗi lần con có dục, tham, ái, sân si, bản ngã là con nói bệnh rồi, vô dưỡng bệnh, vô đóng cửa bóp chìa khóa lại. Vô dưỡng bệnh hết rồi đi ra. Nhưng bây giờ mình chất chứa cấu nhiễm nó giống như ống cống, nó bốc mùi giống như cái thây sình, bản ngã và vô minh mà mình không thấy cái gì hết. Thì tu như vậy thì tới chừng nào, tu mù, tu ở trong vô minh, tu ở trong cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc, khen mình chê người. Đi đâu cũng kênh kiệu, xếp sòng, nói chuyện ra là tỏ vẻ mình là trên, trước. Mình là người xuất gia, cư sĩ phải thấp hơn mình. Cái đó là sai lầm, tu vậy là vô tù mau lắm, tù địa ngục ngạ quỷ súc sanh.
Cho nên mình phải tập cái tâm hiền mọi lúc mọi nơi. Khi ăn, khi đi, khi nói, khi làm việc. Phải tập lắng dịu, tâm lắng dịu, tâm dễ chịu. Niệm câu đó, cái này còn hơn đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú. Đây là gì? Đây là huấn luyện cảm giác, huấn luyện cảm xúc.
Làm cho mình hết sức bình an trong mọi hoàn cảnh. Mình nhìn cái đó thấy bực mình khó chịu rồi đó. Là mình nói với bản thân tâm lắng dịu, tâm dễ chịu, đừng có đốt lên, đừng có cháy, cháy lên một cái rồi là cháy lên, chùa cổ ba trăm năm là tiêu hết nha. Mình nói với cảm giác trong này là mày muốn đốt hả, máy muốn cháy hả, mày muốn thiêu phải không? Thôi lắng xuống đi, dịu xuống đi, tan đi, biến đi, mát mẻ thanh lương đi.
Bản ngã sanh khởi cũng vậy. Phải nhìn thấy, phải luôn luôn kiểm tra, phải biết rằng việc duy nhất của người tu là diệt tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Muốn diệt nó là phải thấy nó, muốn thấy nó phải nhìn lại ngũ uẩn. Bằng phương pháp an trú cảm giác toàn thân. Còn bằng không là cả cuộc đời tu của mình là mang nợ đó. Mà vay nóng chứ không phải nợ thường. Đó là nợ của xã hội đen, tức là một ngày như vậy là năm chục phầm trăm. Lúc đầu nợ có một trăm triệu về sau là lên tới mười tỉ. Ngày ngày càng tăng cho đến khi nhắm mắt vô hòm là lúc đó khủng khiếp, mình đã nhận tiền rồi mà người ta quỳ người ta lạy nữa. Nếu mà mình không vào tối thiểu là hướng dự lưu cho đến nhập lưu, thành tựu chánh tri kiến và thân tâm. Còn không là cuộc đời tu của mình là thảm hại, thảm bại, thê thảm, thảm não, bi thảm, sầu thảm, thê thảm.
Chết bất cứ lúc nào, đang ngồi như vậy ngã ra là chết. Thành ra hãy để tâm, nhất định là mình phải để tâm vào sự nghiệp tu hành của mình. Ngày nào tối mình cũng kiểm tra hết, một ngày mình làm được thiện pháp gì, mình nhiếp phục được bao nhiêu tham, sân, si, bản ngã ? Tối ngồi thiền là phải kiểm tra, kiểm toán, kiểm kê, kiểm soát. Kiểm soát thân tâm mình từng chút một. Đức Phật dạy La-hầu-la, trước khi ông nói cái gì ông phải soi xét nhiều lần, coi nói cái này có lợi hay là có hại. Thiện pháp hay là ác pháp. Khi ông đang nói, ông phải soi xét tới lui, coi lời nói này là thiện pháp hay là bất thiện pháp. Khi ông nói xong rồi, ông xem xét, dò xét tới lui là cái ông nói đó là thiện pháp hay là bất thiện pháp. Thế Tôn dạy cho con cưng của ngài như vậy đó.
Còn mình bây giờ muốn nói là nói, nói là cứ nói, không nhần suy xét gì hết. Nói trong vô minh, nó dục nói là nói. Nói cho đã đời, nói xong rồi về hối hận, nói xong rồi coi như là rạn nứt huynh đệ, tan thương.
Khi ông suy nghĩ cái gì đó, ông phải xét tới xét lui, suy nghĩ này thiện pháp hay là bất thiện pháp. Nếu mà bất thiện ông phải diệt nó,tẩy sạch nó. Nếu thiện thì ông cho nó phát triển, sanh khởi. Đây là phương pháp làm cho thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh.
Sau khi ông suy nghĩ xong ông phải dò xét nhiều lần. Đó là pháp soi gương Đức Phật dạy cho La-hầu-la.
Rồi khi ông hành động, trước khi ông hành động suy nghĩ tới lui nhiều lần coi việc làm này thiện hay là bất thiện. Khi đang làm, ông cũng phải xét tới lui nhiều lần coi việc này là thiện nay là bất thiện. Khi làm xong rồi, hoàn thành công việc rồi, ông cũng phải xét tới lui nhiều lần xem việc làm này là thiện hay là bất thiện.
Quý vị thấy Đức Chánh Đẳng Chánh Giác dạy cho pháp dương tử. Ngài La-hầu-la tu tập một thời gian như vậy là chứng quả Alahan. Tại vì dò xét, kiểm soát hết tất cả những cái ý hành, khẩu hành, thân hành. Những cái năm uẩn, những cái cảm giác nghĩ tưởng. Là luôn luôn kiểm tra, kiểm kê, kiểm soát, kiểm duyệt. Không cho một chút xíu lậu quặc nào lọt qua, rơi xuống, rò rỉ qua. Không đi hàng lậu được đối với bậc đi trên con đường thánh trí. Thánh trí nó soi thấu hết, không có cái nào bị sót. Mình thì một ngày thì đồ lậu đi qua biết bao nhiêu, nó đi qua mà mình không biết. Không biết mà còn nói tôi đúng, người kia sai, dành phần đúng cho mình mà mình đúng trong vô minh.
Cho nên một khi mình chưa thành tựu chánh tri kiến, chưa nhìn thấy được năm uẩn, chưa nhìn thấy được lậu quặc thì có tin. Phải dập đầu lạy Phật xám hối, phải nhìn thấy chân nhân nhìn cho mình. Còn bằng không cuộc đời tu của mình đừng nói là con số không, mà là âm một tỉ, âm một ngàn tỉ. Đó là nợ mình phải trả đó, chứ không phải số không đâu, số không là quá dễ dàng. Ăn bao nhiêu dạ gạo? Bao nhiêu gói mì? Bao nhiêu ký tàu hủ? Ở bao nhiêu chùa? Đổ bao nhiêu tiềng xăng? Đi bao nhiêu cái xe? Tính ra hết, tính sổ hết. Là làm trâu làm bò, làm ngựa, đời sau đi trả nợ cho người ta. Ăn cười đi, chụp hình đi, đăng face đi, tu gì mà tối ngày đi chỗ này chỗ kia rồi đăng lên. Đó là không biết lo, không biết sợ, điếc không sợ súng.
Người ta tín thí, người ta cúng dường, người ta quỳ lại mình. Cha mẹ ở nhà nhớ mình, ông bà cô bác hi vọng đợi chờ mình mà mình đi vô mà mình làm vậy. Mình không có ngồi mình chiêm nghiệm, mình chẻ cái đầu trọc này ra, đập cho vỡ cái não ra, đập cho nó bể cái đầu vô minh ra. Mình chửi nó khốn nạn. Những cái chạy theo dục, theo sân, theo ái mình chửi nó khốn nạn, súc vật. Mày muốn đi theo địa ngục, ngạ quỷ súc sanh phải không? Lên dập đầu xám hối.
Tác ý mãnh liệt như vậy nó mới nhiếp phục được. Còn mình nhẹ nhàng mới nó là không bao giờ được. Dục khởi lên là mình nói súc vật, thú vật. Tham nó sanh khởi lên mình nói súc sanh, những cái thứ này là đưa đến súc sanh. Sân khởi lên mình nói đây là thú tánh, mình đi theo cái thứ này là mình làm thú vật. Bản ngã khởi lên mình cũng chửi vậy đó. Phải dùng như lý tác ý như trời dán, như sấm, như búa bổ cho nó bể cái đầu vô minh ra, tham ái tan vỡ hết. Đó là tuệ lự, tinh tấn lực, tinh tấn niệm định uệ. Uy dũng, sức mạnh của thánh tuệ.
Mình ngồi đó trơ trơ, đơ đơ. Buồn ngủ mình ngủ luôn là coi như đời tu mình coi như xong. Mình tu thêm ba chục năm nữa cũng không có gì hết. Ở trong tham, sân, si, vô minh, bản ngã không. Phải dùng những đòn mạnh mẽ, búa tạ đập xuống, vô những cảm thọ, cảm giác lì lợm đứng đầu. Mà nó vô minh, dục ái trong đó mình phải sử nó. Dùng cây kiếm thánh tuệ, thánh trí năm uẩn chém sắt như chém bùn, nhất đao lưỡng đoạn, chặt nó. Mình quán chiếu là mình cầm cái gươm sắt bén mình chặt nó, chặt cái vô minh, bản ngã, băm ra. Phải quán chiếu vậy đó. Bằm cái tham, dục, ái, bản ngã, bằm ra cho nó mục nát. Chứ không phải tu giống như mình nghĩ đâu, không phải.
Bài kinh Đức Phật dạy đây. Cắn rang trợn mắt, dùng tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm. Đức Phật dạy phương pháp chế ngự phiền não đó, chứ không phải ngồi đó ngủ gục. Cho nên cái tu bây giờ không thể đi đến thánh đạo được, không y theo thánh điển Nikaya. Dùng tâm chế ngự tâm, dùng tâm nhiếp phục tâm, cắn răng đưa lưỡi lên vòng họng. Mình không chế, mình nhiếp phục và diệt tận. Đó là trong bài kinh song tầm, phải đọc mới biết được.
Phải dùng tuệ lực, tinh tấn lực, mãnh hỗ lực, hung hãn lực. Mà tu với một tinh thần chiến sĩ, dũng sĩ, liệt sĩ cũng không sao hết, chết luôn. Đại trượng phu là không có nam nữ gì hết. Không phải ông này tăng là trượng phu còn tôi ni là không phải. Đó là không phải. Đại trượng tru là cái tâm hùng liệt, mạnh mẽ, quyết liệt, chết thì bỏ không sao hết. Đó gọi là bậc đại trượng phu.
Có một ý chí mãnh liệt như vậy, mình mới có khả năng đánh gục những thứ ác độc trong nội tâm của mình là dục, tham, ái, vô minh. Còn nếu mà mình lơ lơ, là là thì một triệu kiếp cũng vô minh.
Phải có tinh thần mạnh mẽ, hùng lực.
./.
XUẤT GIA PHẢN TỈNH 1
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Những lo lắng của người xuất gia PAGEREF _Toc114057460 \h 1
II. Tàm quý PAGEREF _Toc114057461 \h 6
III. Dặn dò trong đời tu PAGEREF _Toc114057462 \h 26
IV. Tâm hiền PAGEREF _Toc114057463 \h 33
I. Những lo lắng của người xuất gia
Người xuất gia phải gánh một gánh rất nặng, đó là gánh nặng của thiện pháp. Trong kinh tạng Nikāya Đức Phật nói, có những thiện gia, nam tử hay những người nữ nhân vì để thành tựu thiện pháp mà nước mắt đầm đìa, đấm ngực, đau khổ, tinh tấn, nỗ lực và sợ hãi để tu học. Nhiều vị chưa tiếp xúc với kinh Nikāya khi nghe điều này sẽ thấy rất lạ, thắc mắc tại sao người xuất gia là người được rảnh rang, được an nhàn mà lại là nước mắt đầy mặt, đầm đìa, đấm ngực, đau khổ, lo lắng, sợ hãi, xấu hổ? Thông thường, người ta quan niệm rằng người xuất gia là người bỏ được những bụi đời, bỏ hết những công việc thế tục, vào chùa sẽ được an thân, có cuộc sống an nhàn, không cần lo lắng cơmn áo, gạo tiền… nhưng đó là một nhìn nhận không đầy đủ, có khi còn sai trái.
Người xuất gia bỏ việc kinh doanh, buôn bán, làm ăn, những việc nhà cửa thế tục để làm một công việc hết sức thiêng liêng, cao cả, thánh thiện. Công việc đó là một công việc siêu phàm, siêu việt phàm tình, vượt qua thế gian. Một công việc mà người xưa gọi là “xuất gia giả phi tướng tướng chi sở năng vi”, nghĩa là những việc làm của người xuất gia ngay cả thừa tướng hay đại tướng thống lãnh quân trận không thể làm được.
Vậy, người xuất gia làm việc gì mà tướng văn, tướng võ cũng không thể làm được? Người xuất gia chỉ có làm một việc, đó là diệt tận tất cả tham sân si, vô minh, bản ngã, phiền não và lậu hoặc. Nói một cách khác là người xuất gia luôn luôn thăng tấn, tăng thượng, nâng cao giới hạnh, thiền định và trí tuệ. Để thực hiện được những điều này là một sự khó khăn, khó khăn, cực kì khó khăn; cay đắng, cay đắng, cực kì cay đắng; nỗ lực, nỗ lực, cực kì nỗ lực; tinh tấn, tinh tấn, cực kì tinh tấn.
Thật sự Minh Thành rất là xót xa, rất là đau lòng, rất là lo lắng và sợ hãi cho người xuất gia. Nhưng cái lo lắng, sợ hãi nhất là cho tự thân chính mình. Hết sức lo lắng và sợ hãi! Hết sức hỗ thẹn và nhục nhã! Người xuất gia bây giờ buông lung phóng dật, thả lỏng các căn, không tôn kính giới hạnh, thiền định, không tôn kính đạo sư, không tôn kính pháp, không tôn kính bậc đạo sư, không tôn kính Chánh pháp là kinh tạng Nikāya, không tôn kính bậc giới đức tu hành chân chánh, không tôn kính thiền định, không kính tiếp đón bậc tưởng thượng. Đây là những nguyên nhân làm cho diệu pháp mai một và chấm dứt trên thế gian này, khiến Phật pháp dần dần đi đến chỗ hoại diệt.
Người xuất gia thực sự luôn ý thức một cách sâu sắc về sự tu hành của mình. Trong lòng luôn luôn nơm nớp, lo sợ, lo lắng và sợ hãi. Lo lắng dục tham ái vẫn còn sanh khởi, xâm chiếm, áp đảo trong thân tâm. Sự sân hận, tức giận vẫn còn thiêu đốt trong cảm giác, trong cảm thọ. Những si ám và vô minh bao trùm trong sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ, sáu tưởng, sáu tư, sáu tầm, sáu tứ. Đó là những điều cần lo lắng.
Đầy rẫy trong tâm này là một bóng đêm trùm phủ, vô minh phong tỏa hết ngũ uẩn. Chúng ta nhìn không rõ sắc uẩn, đui mù không thấy được những cảm giác. Sự tập khởi của các cảm giác, sự hoại diệt của các cảm giác cũng không thấy. Những hình bóng bên trong tưởng uẩn càng không biết. Bên cạnh đó còn biết bao nhiêu những suy nghĩ dồn dập kéo về liên tục, đầy ắp trong tâm là ác bất thiện pháp. Nếu không cố gắng nỗ lực, chặn đứng, nhiếp phục, tẩy sạch và diệt tận những thọ, tưởng, hành đó thì đừng nói chi đến sự sâu xa của thức uẩn, càng mù tịt hơn nữa.
Như vậy cái lo lắng tiếp theo là lo lắng mình đang ở trong bóng đêm của si ám, vô minh. Mỗi khi mình tiếp xúc mà cái ta đây, cao ngạo, xem mình hơn người ta trong lời nói, hành động, muốn thể hiện mình, muốn phô trương mình, dù cho là nói pháp mình cũng phải lo sợ. Vì đó là bản ngã đang vận hành, không phải là pháp thật sự. Chúng ta phải lo lắng, sợ hãi bản ngã và sự chấp thủ. Người tu có rất nhiều mối lo chứ không phải thọ giới, khoác y rồi cho rằng là ta đây là Tỷ-kheo, là giới lớn. Hãy nhớ, tu không phải tính mình ở chùa được bao nhiêu năm, không phải biết được một chút là mình khoe khoang, không phải tu được một chút là mình tự mãn với những thiện pháp nhỏ nhặt, vì như vậy là mình đứng lại trong thiện pháp.
Khi thấy những giới đàn ba ngàn, năm ngàn người xuất gia thọ giới, Minh Thành rất run sợ. Những người này rồi đi về đâu? Ai là người giáo dục, đào tào, huấn luyện và dạy dỗ cho họ thành tựu được chánh tri kiến. Hay là chỉ có hình thức chiếc áo và cái đầu. Nếu không khéo vào tu mà còn phá hư đạo pháp. Thật sự là lo lắng vô cùng, sợ hãi vô cùng, xấu hổ và nhục nhã vô cùng.
Khi quay trở lại nhìn nội tâm mình, cũng đầy rẫy rác bẩn, toàn những dục, tham, ái, sân hận, bực bội, hơn thua, ganh tỵ, đố kỵ, ích kỷ, khoe khoang, phô trương, ta đây, thể hiện. Hết sức là nguy hiểm cho người tu của chúng ta. Chúng hãy nhìn những người chung chùa, học chung lớp, những người ra đi trước mình. Hãy nhìn thật sâu sắc bằng tất cả trái tim. Có bao nhiêu người thật sự dấn thân trên con đường ly tham, nhàm chám, từ bỏ và chấm dứt những dục, tham, ái đối với ngũ uẩn, đối với thân thể, đối với tài sản, đối với chùa chiềng, đối với những cảm giác tham sân si, bản ngã. Bao nhiêu người quyết liệt với tâm bóng bỏng, nhiệt huyết để hướng thực hiện điều đó.
Chúng ta phải thực sự lo lắng cho đời tu của mình, bằng không, lớp áo cà sa này là đại họa, là thảm họa, là tai họa, hiểm họa. Một khi cái áo này rớt xuống thì có thể chúng ra có thể rơi tự do xuống những vực sâu của cùng tận đen tối. Luôn quán chiếu những hình ảnh đó để phát sanh những cảm thọ run sợ, khiếp sợ đối với những dục ái khởi lên trong người mình. Đối với sân, tham, si mê, bản ngã khởi lên phải thấy khiếp sợ. Khi thấy những người tu theo danh tài, lợi sắc thì cũng thấy run sợ, khiếp sợ, hãi sợ. Phải thấy đó là con đường đưa đến cánh cửa của địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh ở trong tương lai.
Người tu chúng ta không cần phải làm gì hết, chỉ làm một việc duy nhất là diệt tận tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Làm điều đó là ruộng phước vô thượng ở trên đời. Nếu không làm được điều này, dù cho có làm cái gì đi nữa, mình cũng là kẻ mang nợ. Món nợ này rất là lớn, nợ khủng khiếp, nợ kinh hãi, món nợ vĩnh viễn không trả nổi, bắt buộc phải trả trong ba đường ác.
Thử nghĩ, một người nọ nuôi nấng mình suốt cuộc đời, cho mình ăn học, đến khi nhắm mắt, mình trả ơn người đó bằng cách nào? Dễ hay khó trả? Trả ơn cho những vị này rất là khó. Mà bây giờ những người cúng dường, chăm sóc cho chúng ta là những người đáng tuổi cha, đáng tuổi mẹ, đáng tuổi ông, tuổi bà của mình. Hơn nữa, người ta còn quỳ xuống lạy dưới chân mình để cho, để cúng. Người ta nghĩ mình là người thanh tinh, ly dục, là người giới hạnh, thiền định, trí tuệ, là bậc tôn kính đáng đảnh lễ, đáng chắp tay, đáng cúng dường. Chúng ta nhận những phẩm vật đó, nếu không có giới đức, không có đạo hạnh, không có thiền định, không có chánh tri kiến, không có trí tuệ thì hậu quả như thế nào. Vậy mà cứ ngồi lên đó cho người ta lạy và nuôi nấng mình suốt cuộc đời, đến khi nhắm mắt, mình đi về đâu? Khi quán chiếu những điều này thật sự thấy kinh sợ, hoảng sợ, khiếp sợ.
Mặt khác, cha mẹ sanh mình ra, nuôi mình lớn lên, rồi mình bỏ đi tu. Ở nhà cha mẹ bệnh hoạn không có ai chăm sóc. Mình nói cha mẹ mình đi tu, mình giải thoát về mình độ nhưng sự thật khi vào chùa thì ẩn dương nương Phật, qua ngày đoạn tháng, ăn chơi cười nói buông lung, không nhớ đến mục tiêu, không nhớ đến tăng tượng giới học, tăng thượng tâm học, tăng thượng tuệ học. Càng ngày ở trong chùa lâu chừng nào thì bản ngã càng to, thậm chí là xem thầy không ra gì. Xem huynh trưởng, sư tỷ, sư thúc không ra gì. Ngoài mặt thì cung kính bằng hình thức cho có, còn trong bụng là một cái ta ngút trời, cao ngạo.
Như vậy thì đời tu này sẽ đi đâu? Mình đi đâu với một nội tâm đầy rẫy dục tham, với một nội tâm đầy rẫy sân hận, tức giận, ai đụng nhẹ là sừng sộ, khó chịu. Ví dụ đơn giản, ngày xưa huynh đệ chưa đi tu, người ta kêu mình bằng “con”, bây giờ đi tu người ta kêu mình bằng “cô”. Bỗng có một bà già nào đó không biết nghi thức trong chùa, bà kêu “con lấy giùm bà cái này” thì thử xem bản ngã lúc đó thế nào.
Cho nên, hình thức xuất gia là cao thượng, là thánh thiện, là tốt đẹp, nhưng cũng là vực thẳm và hố than hừng. Nếu tu không đúng là mối đại họa tìm ẩn trong lớp áo cà sa. Mỗi một ngày phải lo lắng giới hạnh chưa viên mãn, thiền định chưa thành tựu, trí huệ chưa rực sáng. Cần phải nỗ lực, cần phải tinh tấn, cần phải có sự quyết tâm và kiên trì liên tục. Bằng không, leo lên núi thì khó, còn muốn rơi xuống thì chỉ cần buông tay là rơi xuống liền.
II. Tàm quý
Khi Minh Thành nhập thất, tu học trong cảm giác tàm quý, lo lắng và sợ hãi, Minh Thành đã viết bài “Nhục ơi nhà nhục” để nhắc nhở cho chính mình và những huynh đệ đồng hành.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Đam mê dục lạc thoát không ra
Sắc thinh chạy đuổi không mệt mỏi
Kết quả đường tu địa ngục sa.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Trang nghiêm, tướng hảo khoác cà sa
Bên trong xú uế, tham, sân, ngã
Cái tôi, cái ta càng vươn cao.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Đầu tròn áo vuông dáng tịnh thanh
Lợi danh, quyền chức mãi tranh giành
Đến gần bốc mùi quá hôi tanh.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Chạy theo cấp bằng học vị hoài
Trách nhiệm bổn phận người tu sĩ
Chẳng hay chẳng biết đó là gì.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Trụ trì tự viện quát tháo la
Nhìn vào chẳng giống hàng tăng sĩ
Thua người cư sĩ ở tại nhà.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Nghêu ngao phố phường suốt ngày đêm
Lang thang, vất vưởng như ma đói
Giới hạnh luật nghi đã suy đồi.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia
Ta đây, vênh váo lên mặt thầy
Dạy đời phô trương thèm thể hiện
Đâu hay trí thức thấy tránh xa.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Chạy đôn chạy đáo khắp mọi nhà
Tìm cầu danh lợi không mỏi mệt
Thình lình tai biến thật xót xa.
Nhục ơi là nhục bậc tu hành!
Giới hạnh không gìn, chẳng tịnh thanh
Nội tâm rác bẩn, đầy ô uế
Chẳng hay chẳng biết mùi hôi tanh.
Nhục ơi là nhục bậc tu hành!
Suốt ngày giảng nói chẳng thực hành
Nói tới nói lui trên chữ nghĩa
Ba hoa, rỗng tuếch phiền não sanh.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Quyết tâm quyết chí bỏ mẹ cha
Bỏ nhà bỏ cửa đi cầu đạo
Tìm không thấy đạo tìm ái hà.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Theo thầy cầu pháp để thoát ra
Xuất ly không thấy thêm ràng buộc
Chùa chiềng bổn đạo bề bộn nha.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Quyết lòng giải thoát thật thanh cao
Cớ sao trần tục không vứt bỏ
Sa đà thối đọa quá xót xa.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Bỏ căn nhà nhỏ bước vào chùa
Đam mê dính chặt ngôi tự viện
Keo sơn ràn rịt lòng chẳng yên.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Hai thời khóa tụng Tàu đặt ra
Tưởng đâu vậy đủ không lo âu
Nào hay giết chết đường đạo mầu.
Nhục ơi là nhục kẻ xuất gia!
Nội tâm liên tục dục tham sân
Không lo diệt tận và tẩy sạch
Hướng ngoại rong ruổi bao giờ an.
Nhục ơi là nhục kiếp tu hành!
Chùa chiềng bổn đạo mãi tranh giành
Ô uế cửa thiền thêm xấu hổ
Trùng quang ấn tổ bằng đua ganh.
Nhục ơi là nhục kiếp tu hành!
Cơm cháo muối dưa thoát tử sanh
Không lo tu tập thành Phạm hạnh
Sắc dục đắm chìm rơi hỏa khanh.
Nhục ơi là nhục kiếp tu hành!
Lao vào công việc chẳng thiền tư
Ngày đêm xuôi ngược trong hữu lậu
Thân tàn ma dại đến bạc đầu.
Nhục ơi là nhục kiếp tu hành!
Toan tính suy tư mãi không thôi
Chưa khoác y lên than bận rộn
Đã đắp y rồi việc càng hơn.
Nhục ơi là nhục kiếp tu hành!
Suốt đời loanh quanh đám ma chay
Làm nghề thầy cúng không biết chán
Kinh doanh kiếm tiền ngao ngán thay.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Bản ngã chình ình gớm quá thay
Dương dương tự đắc không xấu hổ
Khoe khoang phô trương như thây sình.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Buồn thương vô hạn kiếp muối dưa
Bản ngã vươn cao tâm ngạo nghễ
Bôi tro trét trấu vậy đủ chưa?
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Suốt ngày phố phường cứ la cà
Buông lung phóng túng theo ngũ dục
Sao còn đáng mặt con Thích Ca.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Vô nhân vô nghĩa vô lễ kính
Thả lỏng các căn chẳng tàm quý
Làm sao ăn nói với đàn na.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Ngày đêm gom góp tài sắc hoài
Chùa to tượng lớn càng mang nợ
Hoang phí đời tu hủ bại đầy.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Sao không nhận ra mình là ai
Nâu sòng đầu trọc không biết thẹn
Dối gian trục lợi quá đắng cay.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Trong lòng buồn đau thật xót xa
Cả đời bỏ hết mùi tục lụy
Tại sao cái ta chẳng thoát ra.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Đạo hạnh tu hành dần phôi pha
Tâm đầu đẹp tựa hiền thánh vậy
Vậy nay ma quỷ cũng chạy xa.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Một lòng quyết chí giải thoát mau
Ở lâu trong chùa đã úa màu
Tham sân ngã mạn càng thêm lớn.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Không gieo không gặt không tìm cầu
An nhàn hưởng thụ không nỗ lực
Ăn trên ngồi trước ta đây cao.
Buông lung phóng túng không nhiếp phục
Không hộ trì căn chẳng công phu.
Không biết trách nhiệm mình trọng đại
Chẳng hay bổn phận rất lớn lao
Nào hay Phạm hạnh này gánh nặng
Đâu ngờ nghiệp quả như núi đè
Đâu ngờ lợi dưỡng lưỡi câu bén
Đâu ngờ cúng dường mồi ác mà
Đâu ngờ cung kính như vực thẳm
Đâu ngờ đảnh lễ hố than hừng
Đâu ngờ chắp tay không cườm chắc
Đâu ngờ cúi đầu đau phủ chờ
Đâu ngờ tôn kính tiềm ẩn họa
Đâu ngờ quỳ mọp địa ngục dành
Đâu ngờ tán thán nước đồng sôi
Đâu ngờ vỗ tay miếng mồi say
Đâu ngờ thực phẩm ngon giòi phẫn
Đâu ngờ y đẹp cột đồng cháy
Đâu ngờ phòng sang tù ngục chặt
Đâu ngờ thuốc bổ độc dược kinh
Đâu ngờ sắc thinh là mầm bệnh
Đâu ngờ dục ái nhận chìm mình
Đâu ngờ sân hận biển lửa dữ
Đâu ngờ si mê trói buộc mình
Đâu ngờ nghi ngờ thành mê lộ
Đâu ngờ lăng xăng kiếp nô lệ
Đâu ngờ hôn trầm cảnh tù đày
Năm tháng hửng hờ tu lấy lệ.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Hãy nhắm đầu trọc chiếc áo nâu
Giới hạnh không lo sao xứng đáng
Lửng lờ năm tháng phí cả đời.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Thiền định không hành tâm chẳng yên
Hữu lậu hướng ngoại khởi triền miên
Ngày đêm năm tháng rong ruổi mãi
Làm sao an tịnh vào bốn thiền.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Chẳng tu Thánh tuệ mãi đam mê
Tư duy quán chiếu không liên tục
Ngũ dục hạ gục giết chết mình.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Chánh trí không hành trú vô minh
Chẳng hay chẳng biết thọ tưởng hành
Tâm mê mờ mịt khi đối cảnh
Làm sao tiếp xúc phiền không sanh.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Ngày đêm phố phường chẳng ở nhà
Nội soi chẳng rõ tâm hướng ngoại
Cả đời si dại thật xót xa.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Bỏ cha bỏ mẹ bỏ ông bà
Bỏ anh bỏ chị bỏ cô chú
Bỏ nhà bỏ cửa bỏ gần xa
Bỏ tài bỏ sắc bỏ danh lợi
Bỏ chức bỏ quyền bỏ đua ganh
Bỏ tóc bỏ luôn cả vóc hình
Bỏ lòng tham luyến gia đình mình
Bỏ hết hồng trần và tục lụy
Sao không xét kỹ bỏ ta đi.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Ở lâu trong chùa quên mình là
“Người tu” hai tiếng thiêng liêng quá
Chớ để tu lâu biến thành ma.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Không lo tu tập chính tự thân
Vong ơn bội nghĩa bậc chân nhân
Sáu trần đeo đuổi trong tâm trí
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Không lo tinh tấn liền sa đà
Vướng vào tiền bạc và sắc đẹp
Vết nhơ muôn thở tội hằng sa.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Hai từ khất sĩ phải khắc ghi
Ăn xin thực phẩm người thí chủ
Hành trì Phạm hạnh phải thực thi
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Rày đây mai đó khắp gần xa
Chạy đôn chạy đáo không xấu hổ
Tưởng đâu là tu khổ lắm nha
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Từ sang tới chiều làm cái gì
Tối đến nằm xuống ngủ ly bì
Tuệ quán thiền định chẳng hành trì.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Nơi nào cũng thấy ảnh bước qua
Hội chợ nhà hàng sân vận động
Thách thức danh hài thấy xót xa.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Xách chuông với mỏ chạy mọi nhà
Ê a tụng niệm tang lễ thỉnh
Tưởng đâu như vậy là công trình.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Ăn trên ngồi trước vui đó nha
Vương vương tự đắc thêm ngạo mạn
Lên mặt hống hách lại ngang tàn.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Kêu cha gọi mẹ với ông bà
Là con là trò là đồ đệ
Hỗn hào bất hiếu tội nghịch sa.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Dạy dỗ không khéo trở thành hư
Ăn bám xã hội còn ngạo nghễ
Lòng này đau xót quá ê chề.
Nhục ơi là nhục người xuất gia1
Nhàn nhã buông lung chẳng chịu tu
Mượn đạo tạo đời mang tiếng Phật
Đến khi bỏ mạng cảnh ngục tù.
Nhục ơi là nhục kẻ tu hành!
Bản ngã vươn cao cứ chình ình
Ta đây vênh váo còn lên mặt
Vào chùa như vậy chỉ bị khinh.
Nhục ơi là nhục kẻ tu hành!
Suốt ngày suốt tháng tìm lợi danh
Tranh giành chức vị không xấu hổ
Xuất gia đầu tư đường súc sanh.
Nhục ơi là nhục kẻ tu hành!
Suốt năm suốt đời chạy kiếm tìm
Xem ngày bói toán xem phong thủy
Bắt ma bắt quỷ quá mê si.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Sao không tỉnh ngộ để thoát ra
Năm dục trưởng dưỡng lò lửa rực
Rơi vào nó đốt cháy thịt da.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Chùa chiếng tiền bạc của đàn na
Trao truyền Thánh pháp cho hậu học
Đến già đầu bạc chẳng nhận ra.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Hãy lo phản tỉnh thân tâm mình
Quán sâu xét kỹ toàn ngũ uẩn
Diệt cho sạch hết ái vô minh.
Nhục ơi là nhục người xuất gia
Tu hành tới nay tuổi đã già
Sao không diệt tận tham dục ái
Khiến cho chấm dứt chẳng tái sanh.
Nhục ơi là nhục người xuất gia
Trải qua vô lượng kiếp hằng sa
Dục ái tham sân đã quá nhiều
Giờ đây thấy rõ phải triệt tiêu.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Suốt năm suốt tháng cứ chắt chiu
Góm gom chất chứa thêm tham ái
Túi không có đáy đựng bao nhiêu.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Không tu ô uế lớp cà sa
Đàn na tín thí thương vô hạn
Trọng trách tăng sĩ phải nhận ra.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Nhận tiền cúng dường phải sợ lo
Người nhân khó khổ bằng huyết lệ
Gieo vào ruộng phước chẳng xin cho.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Nhận tiền cúng dường phải thẹn thùng
Mồ hôi xương máu người tín thí
Chắt chiu để dành để cúng dường.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Nhận tiền cúng dường phải e dè
Cân lường đo đếm mình đức hạnh
Nếu không khoai nóng trả khó xong.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Nhận tiền cúng dường hãy suy lường
Nhận rồi phụng sự đường đạo pháp
Nếu không ngạ quỷ đọa miên trường.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Nhận tiền cúng dường hãy xét soi
Đức mỏng tuệ cạn phải vun bồi
Sử dụng đồng tiền cho chánh đáng
Nếu không địa ngục mãi vòng xoay.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Hãy tu hãy quán hãy tỉnh ra
Trong ngoài các pháp như mộng huyễn
Tham lam dục ái mau thoát ra.
Nhục ơi là nhục người xuất gia!
Phước điền vô thượng ở trên đời
Bốn đôi tám chúng chư hiền thánh
Giữ lòng chân chánh quyết Dự lưu!
III. Dặn dò trong đời tu
Giới hạnh trong kinh Nikāya tóm tắt lại gồm: giữ giới, sống hộ trì với sự hộ trì của giới bổn, đầy đủ uy nghi chánh hạnh, thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập trong các học giới (học pháp). Thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh, giới hạnh đầy đủ, thủ hộ các căn, chánh niệm tỉnh giác và biết tri túc. Đó là phần giới của kinh Nikāya, chứ không phải thọ giới rồi giữ theo đó là xong, như vậy chưa đủ.
Ngoài việc giữ giới, còn có oai nghi chánh hạnh. Oai nghi là cách đi, đứng, ngồi, nằm của người xuất gia, dựa trên một phần Niệm thân trong kinh Tứ Niệm Xứ, gồm niệm oai nghi, niệm hành động, niệm hơi thở. Thân thể sử dụng như thế nào mình phải biết.
Phần hết sức quan trọng là phần thủ hộ các căn, phần này ở trong kinh Nikāya nhắc rất kỹ nhưng bây giờ người tu không quan trọng cái này nhiều. Thủ hộ các căn là giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý của mình. Chẳng hạn là sư cô không được săn tay áo, cười giỡn, nói cười lớn tiếng. Những điều này là cái hết sức quan trọng, mà bây giờ người xuất gia ít để ý đến. Chính vì bỏ những điều nhỏ nhỏ đó nên nền tảng giới hạnh không có, khi ngồi thiền không bao giờ định được.
Do không phòng hộ các căn, không thủ hộ các căn, không giữ gìn mắt tai nên cái gì cũng nhìn, tiếng nào cũng nghe. Khi cái gì cũng nhìn thì mình sẽ chạy theo sắc pháp. Cái gì cũng nghe hết thì mình chạy theo thanh trần. Cho nên, điều quan trọng ở đây là thực hành ba pháp, cảm giác toàn thân, nhận diện năm uẩn. Nắm vững pháp hành này thì chúng ta mới đi theo dòng pháp này được. Vì không có cảm giác toàn thân, không thực hành ba pháp thì thân mình giống như người lang thang, vất vơ vất vưởng. Nếu không có cảm giác toàn thân thì tâm không có chỗ trú, gặp cái gì là phóng theo cái nấy.
Khi có sự chánh niệm trước mặt, trở về hơi thở, cảm giác toàn thân và nội tâm tỉnh giác thì chúng ta có sự trú vững chắc, định tâm ở trên thân. Còn bằng không, tâm mình giống như kẻ vô gia cư, không có nhà, không có chỗ trú. Cho nên an trú nơi cảm giác toàn thân, chánh niệm trước mặt, nội tâm tỉnh giác mới giúp mình thủ hộ các căn. Thủ hộ các căn mới giúp mình được hoàn thành ba pháp. Khi thực hành pháp này nhuần nhuyễn thì sự tu của mình sẽ được vững chắc, dù ở chỗ nào cũng vững chắc, ít bị ngoại cảnh dao động, không bị phóng tâm.
Bên cạnh đó, thấy sợ hãi trong lỗi nhỏ nhặt là hết sức quan trọng. Lỗi nhỏ mà phạm phải thì cũng thấy sợ hãi, vì như vậy là không giữ giới. Ví dụ, mình nói chơi, nói giỡn rồi nói sai sự thật, sau khi phát hiện mình nói dối thì phải sám hối trước bàn Phật. Đó gọi là sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt.
Chẳng hạn, trong sự tiếp xúc giữa nam và nữ, vô tình đưa đồ mà xúc chạm vào tay, hoặc đi xe vô tình xúc chạm với nhau, nếu lúc đó thọ sanh khởi lên có ái, có dục trong đó mình phải thấy được và thấy sợ hãi những cảm giác, cái dục, cái ái, cái ham, cái thích đó. Sau đó đánh đuổi cảm giác đó. Dùng như lý tác ý, làm cho cảm giác tan biến ra, không cho nó tồn chỉ, tồn động, tồn kho, lưu trú trong thân tâm của mình. Với một người tu kỹ lưỡng như vậy thì ngồi thiền mới định, mới vào được các tầng sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, tứ thiền.
Ngược lại, nếu không chăm sóc, không phòng hộ, không thấy sợ hãi các lỗi nhỏ nhặt thì chúng ta sẽ thọ nhận những cảm giác của dục, của sân, của bản ngã, của ái. Sau khi thọ nhận, đến lúc ở một mình thì những hình ảnh, sự tiếp xúc, cảm giác đó hiện ra trở lại. Cho nên, khi vừa dính một xíu bụi mình rửa liền ngay lập tức thì mới sạch. Còn thấy dính một chút bụi mình nghĩ là không sao, đến khi “nhiều chút” là nó bôi tro trét trấu. Khi trở về đối diện với nội tâm là mình đối diện không nổi, vì trong này đầy rẫy những dục, tham, ái. Ở một mình là nhớ huynh đệ, nhớ bạn, nhớ gối nằm, nhớ chiếc xe… tất cả những cái đó là ái, chúng khiến mình rời xa không được. Chẳng hạn, quý cô ở chùa có phòng quen rồi. Còn ở đây cho nằm trên gác sập sệ trong am tranh, lâu lâu trong bụng nghĩ “nhanh nhanh về mình ngủ bù, ở đây ngủ không có yên giấc, chỗ này không êm ái như chỗ của mình”.
Cho nên, chúng ta phải thấy rằng, ái không chỉ có ái giữa nam nữ. Trong kinh Đại Niệm Xứ Đức Phật dạy rất sâu sắc, trong lỗ mũi, lỗ tai, con mắt, cái miệng… có ái an trú trong đó. Ái an trú ở những chỗ mình tiếp xúc, ưa thích, dễ chịu, khả lạc, khả ý, khả ái, liên hệ đến dục hấp dẫn. Những gì vừa lòng, thích ý, vui hấp dẫn liên hệ đến dục gọi là gai nhọn trong giới luật của bậc Thánh. Tất cả những gì tiếp xúc mà nó làm cho mình cảm thấy êm ái, dễ chịu, thích thú, hấp dẫn thì phải coi chừng, phải chánh niệm tỉnh giác. Không may thọ nhận cảm giác đó, nó vào chiếm ngự trong tâm, mai mốt tâm này sẽ muốn đi kiếm cái đó nữa. Đây là chỗ hết sức thâm sâu, nhỏ nhiệm. Nếu có sự nhận diện năm uẩn mình sẽ thấy các pháp rất rõ ràng trong tâm.
Nhờ có thủ hộ các căn, thấy sợ hãi trong các lỗi nhỏ nhặt, nên đối với “hàng mới” (cảm thọ mới) mình không nhập vào tâm nữa, mình chỉ cần xử lí hàng tồn kho, tích tụ trong tâm. Nếu không xử lý trong kho thì tâm mình toàn những thứ nhơ quế, cấu nhiễm, hôi hám. Dơ như vậy mà không dọn, lại còn đem thêm những cấu uế vào tâm nữa thì chừng nào kho mới sạch, chừng nào kho mới trống. Cho nên tu hoài thì tâm cũng không được thanh tịnh. Tại vì sao? Tại mình không nhìn thấy được cái dục, cái ái, chấp thủ sanh khởi. Vì không phát giác, không phát hiện nên mình không đánh phá, không triệt hạ, không tẩy sạch và sẽ không đưa đến chỗ chấm dứt, đoạn tận những dục, tham, ái đó. Nếu không thấy thân tâm chính xác bằng trí huệ năm uẩn thì vô tình mình tu mà lại càng nuôi lớn vô minh, chấp thủ và tham ái. Đây là điều hết sức xót xa và cay đắng của người tu. Nếu không thành tựu chánh tri kiến thì mình đang nuôi dục, nuôi tham, nuôi ái, nuôi vô minh, nuôi chấp thủ với ngũ uẩn mà mình không biết và cũng không ai nói cho mình biết.
Ví dụ, một sư cô đang mặc y, đang lễ Phật, bỗng có người bất thình lình đến nói “con thích cái y của cô quá, con muốn cái y của cô quá, con ao ước cả cuộc đời, con thích loại vải này quá, sư cô cho con nha”. Lúc đó sư cô này như thế nào? Chẳng những không cho mà cảm giác lại khó chịu, sân giận sanh khởi. những không cho mà còn sân, không thấy đó là cơ hội để mình xả đi cái ái. Đó là bài tập, đó là cơ hội, đó là bài kiểm tra, đó là bài thi. Hơn nữa, mình không phải chỉ có một cái y, mà có đến vài cái, nhưng mình không thấy cơ hội để xả ái, xả sự ưa thích món đồ, cái áo mình mặc. Như vậy, mình không niệm pháp “đây không phải là tôi, không phải của tôi”.
Ví dụ khác, chiếc đơn mình ngủ đã sáu tháng, bữa nay có người mới đến, bề trên cho lệnh đem cái đơn đó cho người bên kia, còn mình ngủ miếng trải dưới đất vậy thôi. Những lúc này là những bài kiểm tra cho mình. Khoan hãy nói những gì cao siêu, là móc mắt, cắt tay cho người ta. Chỉ là chiếc đơn thì ngay lúc đó mình tu như thế nào, mình có dụng tâm tri túc không? Đối với người thường trực niệm pháp ly tham đối với sắc uẩn, người đó có thể cho một cách nhẹ nhàng. Lúc đó, nếu trong tâm có hơi buồn buồn một chút thì có thể tác ý là Đức Phật ngày xưa chỉ ngủ dưới gốc cây, giờ mình có tấm trải là quý rồi. Đây là bài kiểm tra lòng dục, lòng tham, lòng ái, lòng chấp thủ đối với những thứ tứ đại vô thường. Để xem cái dục ái, cái tham của mình như thế nào, có xả được chưa? Xem mình có mở được cái chấp chưa? Xem mình có tri túc biết đủ với những gì đang hiện có hay không? Cái đơn đó trước khi mình đến nó không phải của ai, giờ mình đến tu học rồi lại dính mắc, xem chiếc đơn đó là của mình hay sao!
Cho nên, chúng ta phải tập bỏ nhiều cái bên ngoài, rồi mới tới những những cái trên người, rồi từ từ mới phá được những chấp thủ sâu xa trong tứ đại. Mắt, mũi, tai, thân, ý này không phải của mình, hãy từ bỏ chúng. Từ bỏ chúng sẽ được hạnh phúc an lạc lâu dài. Đây là chỗ thâm sâu của pháp. Thực tập như vậy mới là giới hạnh, là tri túc, là chánh niệm tỉnh giác, là thủ hộ các căn, là chấp nhận học tập trong các học pháp. Người tu chúng ta đang tu tập để thực tập xả ly, viễn ly, xuất ly, thoát ly đối với sắc uẩn, vậy sao người ta lấy cái đơn đó mình không thấy vui.
Giờ sư cô ngồi đây có mang mắt kính, lát sau trở về ngủ đến sáng dậy tìm thì không thấy mắt kính. Lúc đó cảm giác sanh khởi thì mình nhắc tâm lắng dịu, tâm dễ dịu, từ từ bình tĩnh tìm, lỡ mất rồi thì mua cái khác. Những sự tu đơn giản như vậy mình đã làm được chưa? Khi niệm tâm lắng dịu một lần, mình thấy cảm thọ được lắng xuống, dịu xuống. Niệm thêm lần thứ hai mình thấy ngọt ngào, dễ chịu “không sao hết, mắt kính này là đồ vô thường, đâu phải của mình đâu. Giờ ai cần lấy thì mình mua cái khác, tất cả cũng toàn người ta cho mình, chứ đâu có cái nào của mình đâu”. Sau đó cứ niệm tâm lắng dịu, tâm dễ chịu để cảm thọ lắng xuống, dịu xuống, dễ chịu xuống.
Thực hành như vậy mình tu tập được tâm lắng dịu, tâm dễ chịu, hiền từ, hiền lương, hiền hòa, hiền lành, hiền đức. Đó là giới hạnh, là giới đức, là đạo hạnh của người xuất gia. Chứ không phải phát hiện mất mắt kính là la lên, sốc đồ lên tìm. Làm như vậy so với người đời có khác gì đâu, so với kẻ vô văn phàm phu đâu có khác gì. Cho nên việc người thực tập thiền tâm hiền là hết sức quan trọng. Phải tập mỗi ngày, làm cho cảm thọ được lắng dịu, thân xác được lắng dịu, các tưởng, các hành lắng dịu và thức được an tịnh.
Thường xuyên thực tập như vậy, khi gặp chuyện gì cũng có cảm giác lắng dịu, dễ chịu, nhẹ nhàng. Những cảm giác hung hăng, hung tợn, hung dữ được lắng xuống, được dập tắt. Đó là công phu của sự tu, đó là giới hạnh, là sự chánh niệm tỉnh giác, có sự hộ trì căn, làm cho thân miệng ý được trong sạch, có oai nghi chánh hạnh của người xuất gia.
Minh Thành ví dụ những chuyện bình thường như vậy để các cô các thầy xem đó là bài kiểm tra, bài tập. Chẳng hạn, sáng mai bếp nấu phở ngon tuyệt vời, đến phần mình lại hết nên cho mình một gói mì. Khi đó, phải ngồi nhìn cảm giác mình, những lúc như vậy là cơ hội để mình tu học, rèn luyện. Đừng nghĩ lên chánh điện mới tu, ngay chỗ ăn không có tu. Mà ở mọi chỗ, mọi nơi đều là chỗ rèn luyện giới hạnh, đạo hạnh, giới đức, oai nghi chánh hạnh, thủ hộ các căn, giữ gìn chánh niệm tỉnh giác, thực tập sự tri túc của người tu.
Tri túc là bí kíp, bí quyết của sự bình an. Hạnh phúc tối thượng trên thế gian này là biết đủ. Biết đủ là sao? Trong mọi hoàn cảnh, có cái gì mình cũng thấy ổn, không có vấn đề, không có đòi hỏi, không có bắt buộc “phải như vầy, phải như khác”. Không đưa ra tiêu chuẩn “ăn phải như vầy, ngủ phải như vầy”. Học tới đúng giờ là phải xuống sao nay nói lâu vậy, đó là không chấp nhận học pháp thì làm sao mình tiến bộ. Chấp nhận và học tập trong cách học pháp.
Học đi mình mới thấy được vi diệu lắm, pháp hỉ mới sung mãn. Hoàn cảnh nào cũng có thể nở nụ cười, hoàn cảnh nào cũng có thể nhiếp phục, chiến đấu bên trong.
Mình tu đến một lúc là mình không cần cái gì nữa hết trơn. Trên cuộc đời không còn cái gì để mình ưa, mình thích, mình mê, mình muốn nữa hết. Mình ở bất cứ chỗ nào cũng bình an. Đó là gì? Đó là kết quả của sự ly tham. Đó là công đức của giới hạnh đó.
Cho nên phải thực tập tâm hiền.
Ví dụ: Mình thấy mình đi nhanh quá mình thực tập lại. Cảm giác lắng dịu, cảm giác dễ chịu. Niệm câu đó cho mình đi chậm lại. Nó muốn đi nhanh mình kêu lắng dịu, dễ chịu, đi chậm lại.
Nó muốn la lối, mình niệm lắng dịu, dễ chịu. Mình người tu không có la, người ta nhìn kì lắm, mình là sư cô, mình người xuất gia. Mỗi lần sanh khởi lên cái gì mình nói nhục lắm nha, cái này nhục, cái này nhục lắm.
Người ta nhìn hai cô gây lộn, cãi lộn, đánh lộn người ta thấy bình thường thôi. Mà người ta nhìn hai sư cô mặt nhỏ, mặt lớn, trừng trợn thì thấy cái này bất bình thường. Tại sao vậy? Vì hình ảnh của người tu là nó phải như vậy, nó không được như vậy.
IV. Tâm hiền
Cho nên mỗi khi mình có cái đó là mình nói nhục nha, nhục nhiều lắm.
Mình là người tu đó nha,
Luôn luôn phải nhớ khắc ghi lòng
Bản ngã ta đây thêm nhục nhã
Dù tu suốt đời cũng như không.
Mình là người tu đó nghe không?
Sao không lắng nghe góp ý hay
Học hỏi sửa đổi thành toàn diện
Tự ái làm chi cái ngã điên.
Mình là người tu đó nghe không?
Giờ giờ phút phút nhìn vào trong
Kiểm tra dò xét cho thật kỹ
Đừng cho suy nghĩ dẫn lòng vòng.
Nhập thất mới có hai tháng mà ra một bộ một ngàn trang. Kì sau nhập thất sáu tháng cho nó ra một bộ ba ngàn trang Thánh Chiến Hùng Ca.
Phải nhớ mình người tu, luôn luôn phải nhớ khắc ghi lòng, bản ngã ta đây thêm nhục nhã, dù tu suốt đời cũng như không.
Cho nên trong sự tu tập này, đầu tiên phải tu tâm hiền. Minh Thành xuất gia ba chục năm rồi cũng đang tu tâm hiền, vì mình cũng còn dữ. Khi dữ lên là nhục vô cùng. Dữ lên là vô đóng của thất lại nhìn cái gương xem cái mặt có giống người tu không? Nhìn cái bản mặt coi.
Nổi sân, bản ngã đó nổi lên. Soi gương nhìn cái mặt của mình, nhìn cái mặt của mình có phải cái mặt của người tu không. Con mà sân lên, con bực lên, bản ngã con lên, con đóng cửa lại không thèm làm gì nữa, kệ công việc gì cũng không quan trọng. Mình phải giải quyết cái trong này, diệt cho cái bản ngã nó tan ra thì làm cái gì thì làm. Còn cái này không làm cái gì hết, làm cái gì? Không có làm cái gì bằng làm cái này hết. Phải có một thái độ như vậy, cái đó gọi là chánh tri kiến đối với thân tâm của mình.
Cho nên khi mình nổi sân lên, nổi bản ngã lên, nổi dục, tham, ái lên là đóng của lại, nghĩ, bệnh. Mình thưa với sư phụ, với huynh đệ con bệnh rồi. Cái đó bệnh, bệnh thiệt là không chịu lo. Đợi chừng nào mà lết không nổi thì mới nằm.
Mỗi lần con có dục, tham, ái, sân si, bản ngã là con nói bệnh rồi, vô dưỡng bệnh, vô đóng cửa bóp chìa khóa lại. Vô dưỡng bệnh hết rồi đi ra. Nhưng bây giờ mình chất chứa cấu nhiễm nó giống như ống cống, nó bốc mùi giống như cái thây sình, bản ngã và vô minh mà mình không thấy cái gì hết. Thì tu như vậy thì tới chừng nào, tu mù, tu ở trong vô minh, tu ở trong cống cao ngã mạn, dương dương tự đắc, khen mình chê người. Đi đâu cũng kênh kiệu, xếp sòng, nói chuyện ra là tỏ vẻ mình là trên, trước. Mình là người xuất gia, cư sĩ phải thấp hơn mình. Cái đó là sai lầm, tu vậy là vô tù mau lắm, tù địa ngục ngạ quỷ súc sanh.
Cho nên mình phải tập cái tâm hiền mọi lúc mọi nơi. Khi ăn, khi đi, khi nói, khi làm việc. Phải tập lắng dịu, tâm lắng dịu, tâm dễ chịu. Niệm câu đó, cái này còn hơn đại minh chú, vô thượng chú, vô đẳng đẳng chú. Đây là gì? Đây là huấn luyện cảm giác, huấn luyện cảm xúc.
Làm cho mình hết sức bình an trong mọi hoàn cảnh. Mình nhìn cái đó thấy bực mình khó chịu rồi đó. Là mình nói với bản thân tâm lắng dịu, tâm dễ chịu, đừng có đốt lên, đừng có cháy, cháy lên một cái rồi là cháy lên, chùa cổ ba trăm năm là tiêu hết nha. Mình nói với cảm giác trong này là mày muốn đốt hả, máy muốn cháy hả, mày muốn thiêu phải không? Thôi lắng xuống đi, dịu xuống đi, tan đi, biến đi, mát mẻ thanh lương đi.
Bản ngã sanh khởi cũng vậy. Phải nhìn thấy, phải luôn luôn kiểm tra, phải biết rằng việc duy nhất của người tu là diệt tham, sân, si, vô minh và bản ngã. Muốn diệt nó là phải thấy nó, muốn thấy nó phải nhìn lại ngũ uẩn. Bằng phương pháp an trú cảm giác toàn thân. Còn bằng không là cả cuộc đời tu của mình là mang nợ đó. Mà vay nóng chứ không phải nợ thường. Đó là nợ của xã hội đen, tức là một ngày như vậy là năm chục phầm trăm. Lúc đầu nợ có một trăm triệu về sau là lên tới mười tỉ. Ngày ngày càng tăng cho đến khi nhắm mắt vô hòm là lúc đó khủng khiếp, mình đã nhận tiền rồi mà người ta quỳ người ta lạy nữa. Nếu mà mình không vào tối thiểu là hướng dự lưu cho đến nhập lưu, thành tựu chánh tri kiến và thân tâm. Còn không là cuộc đời tu của mình là thảm hại, thảm bại, thê thảm, thảm não, bi thảm, sầu thảm, thê thảm.
Chết bất cứ lúc nào, đang ngồi như vậy ngã ra là chết. Thành ra hãy để tâm, nhất định là mình phải để tâm vào sự nghiệp tu hành của mình. Ngày nào tối mình cũng kiểm tra hết, một ngày mình làm được thiện pháp gì, mình nhiếp phục được bao nhiêu tham, sân, si, bản ngã ? Tối ngồi thiền là phải kiểm tra, kiểm toán, kiểm kê, kiểm soát. Kiểm soát thân tâm mình từng chút một. Đức Phật dạy La-hầu-la, trước khi ông nói cái gì ông phải soi xét nhiều lần, coi nói cái này có lợi hay là có hại. Thiện pháp hay là ác pháp. Khi ông đang nói, ông phải soi xét tới lui, coi lời nói này là thiện pháp hay là bất thiện pháp. Khi ông nói xong rồi, ông xem xét, dò xét tới lui là cái ông nói đó là thiện pháp hay là bất thiện pháp. Thế Tôn dạy cho con cưng của ngài như vậy đó.
Còn mình bây giờ muốn nói là nói, nói là cứ nói, không nhần suy xét gì hết. Nói trong vô minh, nó dục nói là nói. Nói cho đã đời, nói xong rồi về hối hận, nói xong rồi coi như là rạn nứt huynh đệ, tan thương.
Khi ông suy nghĩ cái gì đó, ông phải xét tới xét lui, suy nghĩ này thiện pháp hay là bất thiện pháp. Nếu mà bất thiện ông phải diệt nó,tẩy sạch nó. Nếu thiện thì ông cho nó phát triển, sanh khởi. Đây là phương pháp làm cho thân nghiệp, ngữ nghiệp thanh tịnh.
Sau khi ông suy nghĩ xong ông phải dò xét nhiều lần. Đó là pháp soi gương Đức Phật dạy cho La-hầu-la.
Rồi khi ông hành động, trước khi ông hành động suy nghĩ tới lui nhiều lần coi việc làm này thiện hay là bất thiện. Khi đang làm, ông cũng phải xét tới lui nhiều lần coi việc này là thiện nay là bất thiện. Khi làm xong rồi, hoàn thành công việc rồi, ông cũng phải xét tới lui nhiều lần xem việc làm này là thiện hay là bất thiện.
Quý vị thấy Đức Chánh Đẳng Chánh Giác dạy cho pháp dương tử. Ngài La-hầu-la tu tập một thời gian như vậy là chứng quả Alahan. Tại vì dò xét, kiểm soát hết tất cả những cái ý hành, khẩu hành, thân hành. Những cái năm uẩn, những cái cảm giác nghĩ tưởng. Là luôn luôn kiểm tra, kiểm kê, kiểm soát, kiểm duyệt. Không cho một chút xíu lậu quặc nào lọt qua, rơi xuống, rò rỉ qua. Không đi hàng lậu được đối với bậc đi trên con đường thánh trí. Thánh trí nó soi thấu hết, không có cái nào bị sót. Mình thì một ngày thì đồ lậu đi qua biết bao nhiêu, nó đi qua mà mình không biết. Không biết mà còn nói tôi đúng, người kia sai, dành phần đúng cho mình mà mình đúng trong vô minh.
Cho nên một khi mình chưa thành tựu chánh tri kiến, chưa nhìn thấy được năm uẩn, chưa nhìn thấy được lậu quặc thì có tin. Phải dập đầu lạy Phật xám hối, phải nhìn thấy chân nhân nhìn cho mình. Còn bằng không cuộc đời tu của mình đừng nói là con số không, mà là âm một tỉ, âm một ngàn tỉ. Đó là nợ mình phải trả đó, chứ không phải số không đâu, số không là quá dễ dàng. Ăn bao nhiêu dạ gạo? Bao nhiêu gói mì? Bao nhiêu ký tàu hủ? Ở bao nhiêu chùa? Đổ bao nhiêu tiềng xăng? Đi bao nhiêu cái xe? Tính ra hết, tính sổ hết. Là làm trâu làm bò, làm ngựa, đời sau đi trả nợ cho người ta. Ăn cười đi, chụp hình đi, đăng face đi, tu gì mà tối ngày đi chỗ này chỗ kia rồi đăng lên. Đó là không biết lo, không biết sợ, điếc không sợ súng.
Người ta tín thí, người ta cúng dường, người ta quỳ lại mình. Cha mẹ ở nhà nhớ mình, ông bà cô bác hi vọng đợi chờ mình mà mình đi vô mà mình làm vậy. Mình không có ngồi mình chiêm nghiệm, mình chẻ cái đầu trọc này ra, đập cho vỡ cái não ra, đập cho nó bể cái đầu vô minh ra. Mình chửi nó khốn nạn. Những cái chạy theo dục, theo sân, theo ái mình chửi nó khốn nạn, súc vật. Mày muốn đi theo địa ngục, ngạ quỷ súc sanh phải không? Lên dập đầu xám hối.
Tác ý mãnh liệt như vậy nó mới nhiếp phục được. Còn mình nhẹ nhàng mới nó là không bao giờ được. Dục khởi lên là mình nói súc vật, thú vật. Tham nó sanh khởi lên mình nói súc sanh, những cái thứ này là đưa đến súc sanh. Sân khởi lên mình nói đây là thú tánh, mình đi theo cái thứ này là mình làm thú vật. Bản ngã khởi lên mình cũng chửi vậy đó. Phải dùng như lý tác ý như trời dán, như sấm, như búa bổ cho nó bể cái đầu vô minh ra, tham ái tan vỡ hết. Đó là tuệ lự, tinh tấn lực, tinh tấn niệm định uệ. Uy dũng, sức mạnh của thánh tuệ.
Mình ngồi đó trơ trơ, đơ đơ. Buồn ngủ mình ngủ luôn là coi như đời tu mình coi như xong. Mình tu thêm ba chục năm nữa cũng không có gì hết. Ở trong tham, sân, si, vô minh, bản ngã không. Phải dùng những đòn mạnh mẽ, búa tạ đập xuống, vô những cảm thọ, cảm giác lì lợm đứng đầu. Mà nó vô minh, dục ái trong đó mình phải sử nó. Dùng cây kiếm thánh tuệ, thánh trí năm uẩn chém sắt như chém bùn, nhất đao lưỡng đoạn, chặt nó. Mình quán chiếu là mình cầm cái gươm sắt bén mình chặt nó, chặt cái vô minh, bản ngã, băm ra. Phải quán chiếu vậy đó. Bằm cái tham, dục, ái, bản ngã, bằm ra cho nó mục nát. Chứ không phải tu giống như mình nghĩ đâu, không phải.
Bài kinh Đức Phật dạy đây. Cắn rang trợn mắt, dùng tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm. Đức Phật dạy phương pháp chế ngự phiền não đó, chứ không phải ngồi đó ngủ gục. Cho nên cái tu bây giờ không thể đi đến thánh đạo được, không y theo thánh điển Nikaya. Dùng tâm chế ngự tâm, dùng tâm nhiếp phục tâm, cắn răng đưa lưỡi lên vòng họng. Mình không chế, mình nhiếp phục và diệt tận. Đó là trong bài kinh song tầm, phải đọc mới biết được.
Phải dùng tuệ lực, tinh tấn lực, mãnh hỗ lực, hung hãn lực. Mà tu với một tinh thần chiến sĩ, dũng sĩ, liệt sĩ cũng không sao hết, chết luôn. Đại trượng phu là không có nam nữ gì hết. Không phải ông này tăng là trượng phu còn tôi ni là không phải. Đó là không phải. Đại trượng tru là cái tâm hùng liệt, mạnh mẽ, quyết liệt, chết thì bỏ không sao hết. Đó gọi là bậc đại trượng phu.
Có một ý chí mãnh liệt như vậy, mình mới có khả năng đánh gục những thứ ác độc trong nội tâm của mình là dục, tham, ái, vô minh. Còn nếu mà mình lơ lơ, là là thì một triệu kiếp cũng vô minh.
Phải có tinh thần mạnh mẽ, hùng lực.
./.