Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Trà Đạo - Đến Để Mà Thấy

2026-03-03 00:56:15
Kinh Nikāya Giảng Giải

TRÀ ĐẠO

ĐẾN ĐỂ MÀ THẤY

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I.Phật tử chia sẻ PAGEREF _Toc105492292 \h 1

II.Sự thanh tịnh tối thượng PAGEREF _Toc105492293 \h 7

1.Thoát ra căn nhà ngũ thủ uẩn PAGEREF _Toc105492294 \h 8

2.Vượt qua ngoại cảnh PAGEREF _Toc105492295 \h 13

Phật tử chia sẻ

Chúng ta có buổi trà đạo thân mật nói lên cảm nhận tu học cũng như những điều còn khó khăn trong sự thực tập, hành trì. Mời Diệu Ngọc và Thanh mẫu chia sẻ cảm xúc trong giây phút này như thế nào. Cứ nói chuyện một cách thân thiện, thoải mái, tự nhiên.

Phật tử Diệu Ngọc:

Con thấy thật là vui, trong lòng thanh thản lắm thầy. Con thấy cảnh nơi đây như cõi tiên vậy.

Dạ thưa con đã lên đây hết cả tuần lễ vừa rồi. Mới về Sài Gòn được hai ngày lại chạy lên nữa. Như vậy cũng đủ thấy sự yêu thích của con đối với nơi này. Được gặp thầy, được gặp các thiện hữu tri thức. Mỗi ngày được theo thời khóa của các thầy. Được hướng dẫn tu tập. Được nghe giảng, sách tấn, tu học, con rất lấy làm hoan hỷ, và cảm thấy mình rất có phước từ nhiều đời nhiều kiếp mới có duyên lành được lên đây, được đến nơi này. Giống như má con nói nơi tiên cảnh gặp các tiên ông. Nên con thấy rất là an lạc. Hoàn toàn một thế giới khác không có tranh giành đua chen. Một ngày ở nơi đây giống như là bao nhiêu chuyện buồn phiền tiêu tan hết. Hồi đầu con lên đây thì mặt mày ủ rũ, rầu rĩ. Mấy anh đi chung xe nói: Sao cô này cái mặt buồn hiu. Sau khi trở về với thầy thì mấy anh ấy nói: Sao cô ấy lột xác hay sao mà cứ cười hoài. Những cái gì buồn phiền gì con thấy nó cũng tiêu tan hết. Thấy cái gì nó cũng nhỏ không có đáng. Tối mà thầy cho coi những cái phim để nhắc nhở là cuộc đời này vô thường. Tất cả đều là tạm bợ, biến đổi hoại diệt để mà đừng có cảnh tỉnh là mê trong cuộc sống này. Hồi đầu con coi con rất là sợ. Nhưng nhờ như vậy nó cứ nằm trong đầu con. Những việc con nhìn thấy hồi đó nghĩ là nó quan trọng lắm, không có cách gì vượt qua khỏi thì bây giờ thấy nó không có là gì hết. Không có đáng cho mình bận tâm lo lắng nữa. Cuộc sống này nó ngắn ngủi. Con cảm thấy may mắn được làm người, biết Phật pháp, gặp chánh pháp, gặp thầy cắt nghĩa rõ ràng. Thành ra con đang tận dụng hết tối đa những giờ phút mà còn được sống bên cạnh các thầy, các bạn hữu tri thức. Con ráng lo tu và ráng giữ, không có dám hứa là mức độ tu mười hai giờ một ngày nhưng mà chắc cũng vài giờ một ngày khi con trở về Thụy Sỹ, để không uổng công của thầy và của các thầy đã chỉ dạy mấy tuần nay. Con xin hết.

Sư phụ :Chưa hết, Diệu Ngọc có phước duyên sống ở nơi có điệu kiện thuận lợi, tốt đẹp, tiếp xúc với những nền văn hóa phát triển thì cô có thể chia sẻ thêm cho đại chúng và huynh đệ ở đây một vài sự nhận định về đời sống ở nơi cô sinh hoạt tại vì khỏi mất công đi tìm hiểu. Cô ở bên đó rồi cô chia sẻ cuộc sống làm sao, sinh hoạt làm sao, con người bên đó hết tham, sân, si chưa hay khổ giống giống vậy. Cô chia sẻ để các bạn đồng tu, các huynh đệ biết thêm về cuộc sống ở xứ xa.

Thưa thầy, con ở xứ Thụy Sĩ cũng là một trong những xứ êm đềm ở trên thế giới vì một nước chưa bao giờ có chiến tranh. Xứ sở này là một trong những nước có nền kinh tế rất là cao. Người ta đi làm lương không phải lo, có việc làm là đủ sinh sống. Thành ra cuộc sống của họ cao thì họ chỉ nhắm vào vui chơi giải trí. Có hè, có ngày nghỉ thì họ đi chơi thay đổi không khí bằng cách ra biển đi nước này nước kia du lịch, học hỏi. Con người thì theo con nghĩ con người thì ở đâu cũng vậy, cũng đầy rẫy tham, sân, si, nhưng họ không có tìm về đường tâm linh, họ chỉ mong muốn cũng như mọi người vì cuộc sống ngắn ngủi nên họ tận dụng tối đa ăn cho nhiều, ngủ cho nhiều, đi chơi cho nhiều, cái gì thích thì làm. Thành ra con nghĩ là một phần phước báu của họ được hưởng cái đó nữa. Mặt vật chất, nhưng mặt tinh thần thì họ không có nhu cầu, học không có đòi hỏi. Họ không có tìm hiểu để mà phát triển như bên mình. Họ không có biết tham, sân, si là gì, cần phải chuyển đổi nó như thế nào. Tu tập như thế nào. Cái đó là con nói mặt chung chung của những người nước ngoài. Còn người Việt Nam của mình ở bên đó, về đạo Phật cũng rất là ít chùa chiền. Ở xứ Thụy Sĩ họ không cho xây chùa. Vì họ sợ mỗi một nước đem đến nền văn hóa của họ sẽ biến nước Thụy Sĩ thành nước xô bồ giống như là người Hoa họ hay đến các xứ làm thành một khu giống như chợ lớn toàn người Hoa không. Bên Mỹ có một khu phố toàn người Hoa không. Bên Thụy Sĩ họ rất nghiêm ngặt chuyện đó. Người Việt họ không cho tụ họp, không cho xây chùa, cất đền này kia để cho thành nhóm của người Việt. Họ không cho vậy cho nên ở Thụy Sĩ là không có tìm được cái Chinatown như ở các xứ khác. Người Hoa cũng không có được. Thành ra những người Việt mà muốn tập họp lại với nhau hay muốn xây dựng một ngôi chùa thì họ phải mua một khu đất họ xây một cái village, biệt thự, bên trong đó cũng làm như một ngôi chùa. Nhưng chỉ bên trong thôi, bên ngoài nhìn không có biết, hoàn toàn khác. Muốn xây một ngôi chùa như bên mình, không biết thì không thể thấy, tới thăm viếng được.

Sư phụ: Mình đây có chùa là phước báu hơn nhiều. Mà không biết mình đang có phước không?

Con biết ạ. Các vị lên đa số tụng kinh cầu an, cầu siêu. Gia đình có ai chết thì mới lên. Cúng gì đó thì mới lên, còn không thì cũng ít ạ. Tìm các vị sư đến để dạy cũng hiếm hoi vì cũng không biết ai. Các vị ở đó thì chỉ có kinh tụng, niệm phật vậy thôi ạ.

Sư phụ: Cuộc sống trải qua mấy mươi năm cảm nhận như thế nào?

Con xa quê hương cũng hơn ba mươi năm. Con qua bên đó khoảng 28 tuổi. Hồi con đi bên này rất nghèo khổ, Đời sống khó khăn lắm nên khi con qua bên đó xứ người ta văn minh, người ta cung tốt bụng lắm. Con cũng nghĩ do cái duyên đó khiến họ rất là giàu vì họ giúp rất là nhiều người. Trường hợp khó khăn như con, tức là khi qua bên đó thì họ giúp cho đi học, cho tiền mình học, rồi khi con đi làm thì con trả tiền đó lại, tức là mình mượn hồi mình trả và không có lấy lời. Rồi họ cứ rút tiền lương từ từ vậy đó. Rồi con qua đi học có cái nghề đi làm. Hồi đầu thì cũng như mọi người thôi, kiếm công ăn việc làm tự mình nuôi mình, không có phải nhờ cậy ai. Con cũng được cái phước là gia đình con không cần con gửi tiền về nuôi. Con chỉ cần nuôi sống bản thân mình thôi. Lúc đó con không biết đạo, khi yên ổn công ăn việc làm rồi thì tìm người nào đó sống chung cho đỡ buồn. Con cũng không có duyên cầu mong điều gì khác, chỉ tìm người bạn đời sống chung với nhau. Đời sống bên đó thì cứ nhàn nhã, cứ đi làm về lo việc trong nhà rồi cũng đi ăn đi uống cũng giống như người bên đó vậy. Nghỉ hè đi thăm quan chỗ này chỗ kia rồi con gặp cô Toàn ngồi nói chuyện. Cô cũng hay đi. Con thích nhất là đi vô các khóa tu thiền. Ở bên đó hay mở các khóa tu thiền. Con đi rất là nhiều. Những kỳ minh xá Silanka, con khóa tu thiền rà. Nhiều khóa lắm, thích hợp hơn là đi chơi rồi từ từ xui khiến sao con gặp cô Toàn. Cô toàn nới cắt nghĩa, hướng dẫn co con biết kinh Na da. Dạy cách thiền tập. Cho đúng pháp, đúng chánh pháp. Rồi duyên đưa đẩy con mới về đây gặp được thầy.

Sư phụ: Cảm nhận sau khi có mặt trên cuộc đời này?

Con nghĩ con biết Phật pháp sớm hơn thì con không có tìm một người bạn đời. Dạ chắc con đi tu sớm. Hơn năm mươi năm qua con không là cái gì ra hồn. Cho học thì cũng họ được, cho làm thì cũng là được. Cũng không làm gì tội lỗi tầy trời. Làm nghề thì cũng lương thiện như Đức Phật đã dạy. Đường đi năm mươi năm qua thì nó bình thường, không có cái gì đặc biệt. Con cũng được một cái may mắn là không có cái nợ con cái nên con có một thân một mình về thì có người bạn đời chia sẻ những cái buồn vui. Cuộc sống của con về vật chất thì bình thường. Nhưng về mặt tinh thần thì bây giờ con mới phát triển nhiều hơn từ ngày quen với cô Toàn thì học hỏi nhiều hơn, tìm hiểu về kinh sách, đọc kinh sách. Ngày xưa đi học mấy khóa tu thiền tìm sự bình an, từ một cái gì đó nó khác lạ hơn là đi ra bãi biển tắm biển, đi coi cảnh này cảnh kia, đi ăn uống nó cũng không mang đến cho con một cái niềm vui. Ăn ngon, ngủ ngon nằm giường cao mộng đẹp cái đó con không có để ý, không quan trọng. Vậy nên nó không có thu hút con, con không có cần đi xa nhìn này kia nọ. Thành ra cuối cùng con tìm hướng về đạo pháp. Tại vậy con mới lên núi.

Sư phụ: Bây giờ trình pháp thời gian qua đó tu học tới nay đó thực tập được như thế nào rồi. Nó có thay đổi không?

Dạ có, thay đổi rất là nhiều. Con nhìn mọi việc vô thường. Lúc nào trong đầu của con cũng có bộ xương người của thầy để đó. Rồi cái hình mà mỗi đêm thầy cho coi phim trước khi ngủ đó, ám ảnh dữ lắm luôn đó thầy. Lúc đầu khi mà con coi tim con đập dữ thần luôn, khi ngồi thiền rất khó để mà tập trung. Vì những cái hình máu, rồi con nghĩ: Trời ơi trong người sao mà nó dơ bẩn nư vậy. Mình nghe trong kinh đọc trong kinh thì khác. Đọc trong kinh thì mộc thôi không có hình dung ra được. Dầu có hình dung nó cũng nhẹ nhàng hơn nhiều. Trong khi cái này mình thấy rõ ràng như là hồi xưa giờ con thấy những chỗ bán thịt heo, thịt bò mà người ta cắt mình nhìn một cách thờ ơ vậy đó. Coi như chuyện bình thường. Nhưng giờ nhìn lại thấy thân người nó cũng khác gì mấy con thú đâu. Cắt ra thì cũng xương sườn, cũng thịt gan phèo phổi y như vậy thôi. Giờ con thấy con tu tập tiến bộ hơn nhiều. Những lời kinh thấu qua, như là xuyên qua tim nhanh hơn. Như thầy nói là khắc trong tim vậy. Nó in đậm vô hơn, hổi trước chỉ có đọc ngoài miệng thôi. Còn bây giờ mỗi một lời mỗi một chữ nó thấm vô thấm vô. Những người tu ở đây sau mỗi khóa thiền. Hồi đầu con ngủ dữ lắm, con cứ xin với thầy Pháp Từ làm ơn lâu lâu đọc lên chữ gì đó cho tỉnh lại. Chứ không cứ ngồi đó là cái đầu nó đi đi không có kìm lại được, không cách nào kìm lại được mặc dù cố gắng tỉnh thức dữ dội lắm, biết vậy mà không có làm được. Nhưng bây giờ từ từ thì con không có còn bị hôn trầm như hồi trước nữa. Con thấy rất là tiến bộ. Mỗi lần đi kinh hành con cảm thấy rất là hạnh phúc, giống như mình đi theo bước chân của Phật vậy đó. Mỗi bước chân đi con thấy là mình đang đi theo con đường của Phật. Mình đang đi theo những vị Phật tương lai. Thành ra mình cũng đang là một vị Phật tương lai thôi ạ, hạnh phúc lắm ạ.

Phật tử 2:

Con có một bài con thuộc mà con không có hiểu rõ ý nghĩa nhờ thầy chỉ dạy:

Việc này dám hỏi lão chủ ông

Ông thật là có hay vốn không

Nếu có xin chỉ rõ chỗ có

Bằng không phải nói chỗ nào không

Lão ông vô thủy toàn thanh tịnh

Nào có vật gì hỏi có không

Biết được ông rồi đừng hỏi nữa

Chữ không còn chấp cũng chưa thông

Thanh tịnh là sao hử lão ông

Hư thực thế nào xin chỉ bảo

Bản lai thấy được mới an lòng

Đã bảo là thanh tịnh tự xưa nay

Hư thực quái gì cứ hỏi hoài

Sừng thỏ lông rùa ngươi hãy kiếm

Đem cho lão thấy chỉ bài ngay

Chuyện này vốn thuộc hạng sơ cơ

Cảm tạ lão ông dẹp chỗ mờ

Muôn kiếp than phiền nay mới gặp

Như Lai trước mắt thật không ngờ.

Phật tử 3:

Sư phụ: Hơn 87 năm có mặt trên trần thế trải qua bao mùa hoa nở lá rơi, chứng kiến qua bao cảnh thăng trầm vinh nhục, sinh diệt đổi dời tới giờ này bà cụ thấy mình như thế nào? Mời chia sẻ.

Phật tử: Con thấy cuộc đời này là phù du thầy. Không có cái gì thật hết. Có đó là do mình tạo ra, rồi có mất đi cũng đừng có tiếc cái gì hết. Chính bản thân của mình còn không giữ được thì đâu có cái gì để mà tiếc nuối.

Sư phụ: Đó giờ bà cụ đã chứng kiến bao nhiêu người đã ra đi xa? Có nhớ hết không?

Phật tử: Dạ, có biết qua rồi con không nghĩ tới nữa.

Sư phụ: Có nhớ tới khoảnh khắc mà ông ra đi không?

Phật tử: Dạ, rồi cũng bình thường thôi thầy. Biết rồi ai cũng phải đi con đường đó. Thành ra đối với con chuyện đó là chuyện bình thường thôi.

Sư phụ: Rồi bây giờ sắp tới rồi làm sao?

Phật tử: Sắp tới con vẫn sống bình thường hàng ngày vậy thôi ạ. Ngoài ra con giúp đỡ những người thiếu. Mỗi một năm con có bỏ ra một trăm, hia trăm phần giúp những hộ mà người ta thiếu thốn. Gạo mỳ và tiền. Con chỉ sống vậy thôi.

Sư phụ: Bình thường bà cụ tu tập làm sao?

Phật tử: Thanh tịnh thưa thầy. Trước con niệm Phật nhưng con niệm Phật vẫn còn động. Nên con tập theo dõi hơi thở, không biết đúng không thầy?

Sư phụ: Theo dõi hơi thở theo lời Phật dạy là đúng rồi. Trong kinh tứ niệm xứ đó. Theo dõi hơi thở là để thấy được cái gì?

Dạ con không thấy được thầy. Vắng lặng. Tại con không có còn nghĩ cái gì hết đó. Không có nghĩ tới tiền bạc, không có nghĩ tới những cái gì mà vướng bận nữa hết thầy. Không biết như vậy đúng không thầy?

Sự thanh tịnh tối thượng

Minh Thành chia sẻ tuần tự để mà thực tập theo lời Đức Phật dạy để, đạt tới chỗ thanh tịnh, viên mãn. Sự thanh tịnh cũng có nhiều người hiểu nhưng để hiểu theo đúng lời Đức Phật dạy thì phải thực sự chính xác theo Chánh Pháp trong tạng kinh. Nếu không, có khi dù ngồi tại chùa cũng chưa thấy thanh tịnh. Hoặc sự thanh tịnh đó chưa phải là thanh tịnh Đức Phật nói. Sự thanh tịnh Đức Phật nói là sạch hết tất cả cấu nhiễm, nhơ bẩn trong nội tâm, chứ không phải cái thanh tịnh là ngồi yên không nghĩ gì. Hơn nữa nhiều người thực tập thiền cũng ít đạt được trạng thái đó ngồi lại không có nghĩ gì, lòng được nhẹ hơn.

Trước hết Minh Thành nói về thiện pháp, sau đó nói về vượt lên trên thiện pháp. Trong bài kinh “Chất chứa”, Đức Phật có nói, những chúng sanh nào chất chứa những nghiệp não hại tức là phiền não và làm hại người khác, những chúng sanh này chỉ thuần nghiệp não hại như vậy thì khi nhắm mắt sẽ đi tới cảnh giới toàn chịu những cảm giác khốn khổ của não hại chẳng hạn như địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh.

Dạng chúng sanh thứ hai là vừa chất chứa nghiệp não hại và vừa chất chứa nghiệp không có não hại. Dạng chúng sanh này cũng sanh ra làm người nhưng sẽ cảm thọ, cảm giác vừa có khổ mà vừa có vui.

Dạng thứ ba là chúng sanh thuần túy chất chứa những cảm giác không có não hại, không có những những suy nghĩ, những lời nói, những hành động làm tổn hại cho người khác, người này hoàn toàn không có chất chứa cái nghiệp ác đó thì những chúng sanh này sanh ở thế giới hoàn toàn chỉ có niềm vui.

Qua đó chúng ta thấy là có ba dạng của nghiệp: ác, thiện và vừa thiện vừa ác.

(trích Tăng Chi Bộ Kinh I, chương Ba Pháp, bài kinh Chất chứa)

Ở các nước văn minh, phát triển, vật chất thì con người ở đó không có khổ về vật chất nhiều nhưng về tinh thần họ cũng khổ. Có những nơi con người phải khổ cả vật chất lẫn tinh thần. Và ở những cảnh giới cao hơn do họ thuần thiện nên ở được trong những cảnh giới thuần cái vui. Cái vui ở đây cũng là cái vui ở trong sự tương đối, vì cái vui đó cũng vô thường, hoại diệt. Còn chữ thanh tịnh đúng theo Phật dạy thì phải sạch hết tham, sạch hết sân, sạch hết si. Nếu còn tham, sân, si thì tâm người này khác tâm người kia, khác với tánh người kia. Hết tham, hết sân, hết si thì đó là Niết bàn, đồng đẳng nhau. Cho nên Thánh tâm là không có khác biệt nhau, đó là tâm hết tham, sân, si. Cho nên, chúng ta tu làm sao hết tham, sân, si là đúng. Mà muốn hết tham, sân, si thì mình phải biết được tham, sân, si ở đâu; từ đâu nó có và làm sao để cho nó chấm dứt.

Thoát ra căn nhà ngũ thủ uẩn

Trong Tương Ưng Uẩn, Đức Phật nói: “Sắc giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham sắc giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình”. Tương tự, thọ giới, tưởng giới, hành giới, thức giới là nhà của thức, thức bị lòng tham trói cột vào đó, được gọi là du hành có gia đình. (trích Tương Ưng Bộ Kinh III, kinh Hàliddikàni )

Du hành có gia đình tức là khi đi đây đi đó nhưng mình còn bị ràng buộc. Ở đây, Đức Phật dạy, sắc giới là nhà của thức, thức bị lòng tham sắc giới trói buộc. Sắc giới tức là tất cả những hình sắc, từ thân mình cho đến vật chất. Thức an trú được bởi vì nó có lòng tham đối với sắc giới này nên không đi ra được. Nó coi sắc này là nhà của nó nên nó ở trong đó không ra được.

Cũng như khi xem nơi nào đó là nhà thì mình sẽ ở chỗ đó, chứ không ở chỗ khác. Hơn nữa, mình còn nhận sắc thân này là mình, vì thế mình không đi ra được, cứ lẩn quẩn ở trong đó hoài. Ngoài ra, chúng ta còn nhận rằng món đồ đó là món đồ của mình; chiếc xe đó là chiếc xe của mình; mảnh đất là mảnh đất của mình; tài sản là tài sản của mình; thân thể này là thân thể của mình… tất cả những cái đó chính là ngôi nhà cho thức an trú, vì thức nó bị lòng tham sắc trói buộc.

Chữ sắc giới này có nghĩa là phạm vi, giới vực của tất cả những gì thuộc về hình sắc và những thứ đó trở thành căn nhà của thức. Chính vì vậy, chúng sanh không đi ra khỏi sắc giới được. Tâm của mình bị lòng tham đối với sắc giới buộc, không đi ra được, khi đó, nó yêu thích các sắc và đương nhiên nó bị ô nhiễm ở bên trong, không còn thanh tịnh đối với sắc. Vì tham muốn, yêu thích, bị trói buộc vào sắc nên đối với sắc đẹp thì nó tham; sắc xấu thì nó sân; sắc không đẹp không xấu thì nó ở trong si.

Để thấy được bản chất của sắc là không thật thì Đức Phật dạy phải luôn luôn quán chiếu thân bất tịnh, quán chiếu các hành là vô thường, các hành là khổ, các hành chịu sự biến hoại và quán vô thường, khổ, vô ngã ở trong các hành. Hành ở đây là tất cả sự vận hành, tất cả các sắc pháp, tất cả mọi thứ trong cuộc đời này. Chúng ta đừng có để cho cái thức, cái tâm của mình nó bị lòng tham sắc trói buộc. Cho nên, trọng tâm trong giáo pháp của Phật chỉ có hai chữ, đó là “ly tham”.

Ly tham là pháp tối thượng trong tất cả các pháp hữu vi và vô vi. Mà ly tham đối với gì? Ly tham đối với sắc, tức là lìa tham đối với tấm thân này, lìa tham đối với vật chất, nhà cửa, mọi thứ trên cuộc đời này. Lìa tham đối với chúng tức là mình giải thoát, giải thoát khỏi sắc. Cho nên những người giải thoát khỏi sắc là không có ở sắc giới nữa, mà sẽ lên vô sắc giới. Tại vì người ta không còn tham sắc này nữa nên họ không ở thế giới của sắc nữa, mà lên vô sắc giới. Tuy nhiên họ vẫn còn tham đối với vô sắc giới nên họ không ra khỏi vô sắc giới. Khi đó, họ trú ở trong cảnh thiền định, ở trong tâm yên tịnh, rỗng lặng, nên họ ở trong trạng thái là không vô biên, thức vô biên, vô sở hữu xứ. Họ để cho cái tâm trống rỗng, thênh thang, vô biên. Không vô biên, thức vô biên nghĩa là cái biết trùm khắp vô lượng. Vô sở hữu xứ là hoàn toàn không có một cái gì hết, tất cả trống rỗng. Những cái người này lìa sắc nhưng họ không lìa khỏi vô sắc giới, họ thích ở trong trạng thái đó và đó là trạng thái của thọ.

Cho nên Đức Phật dạy: “Thọ giới, này Gia chủ, là nhà của thức. Thức bị lòng tham thọ giới trói buộc, này Gia chủ, được gọi là du hành có gia đình”. Tức là khi có gia đình là mình còn dính mắc, chưa đi ra khỏi nhà, chưa có giải thoát được. Người này dính ở trong cảm thọ, dính trong những cảm giác. Cho nên những người này không muốn tiếp xúc ai hết, chỉ thích thiền định, cứ trụ như thế để được yên ổn, an lạc. Họ không muốn ai đến quấy rối, chỉ muốn tu, không muốn tiếp xúc với ai hết. Cho nên, chỗ nào động là họ lại dời đi chỗ khác để tìm chỗ yên tĩnh. Người này bị thọ giới trói buộc, tâm thức bị sự tham muốn đối với cảm giác đó trói buộc.

Khi không còn dính mắc vào cảm giác, tức là mình bỏ nhà từ bên đây để đi về nhà bên kia. Cũng như các vị từ sài gòn lên núi tu học được một năm, hoặc được năm bảy bữa, một tuần lễ, mười ngày cũng là mình nới lỏng được đôi chút, vì có nhiều người không có đi được dù chỉ một, hai ngày. Tại vì sao? Vì người đó bị cảm giác trói buộc, đầu tiên là bị trói buộc bởi căn nhà, đó là các sắc có hình tướng ở ngoài nên thấy được, ngoài ra còn người này còn bị căn nhà sâu ở cái cảm giác trói buộc. Họ không muốn đổi mất cảm giác đó, họ muốn giữ cái cảm giác đó và như vậy thì không giải thoát được, mà không giải thoát thì không có thanh tịnh.

Sâu sắc hơn, khi không còn ở đó nữa, mình bỏ nhà để đi xuất gia thì không còn quan trọng nhà đó nữa, như vậy là bắt đầu giải thoát khỏi căn nhà. Tiến sâu hơn nữa, lúc bị bệnh, bị khổ hay thậm chí đối diện với cái chết, nhờ bình thường tu tập quán bất tịnh, quán tứ đại, quán chín giai đoạn một tử thi để nhìn sâu sắc bản chất của thân này nên lòng tham trói buộc trong sắc thân này không còn, đồng nghĩa với việc thức không có an trú vào đó nữa, nhờ vậy người này mới có thể giải thoát. Còn nếu người này thấy sắc thân đó là họ, là của họ thì họ sẽ đi tìm một sắc thân mới.

Vì vậy, câu kinh rất quan trọng là “thức bị lòng tham sắc giới trói buộc. Sắc giới là nhà của thức”, vì nhận sắc là nó, là của nó nên nó không đi ra khỏi cái đó. Trong kinh sách có nhiều trường hợp, có những vị nhận cái cây đó là họ, là của họ nên họ ở trong cái cây đó luôn. Ai mà chặt cây đó là sẽ bị bệnh, tai nạn xảy ra. Qua đó, ta thấy rằng, khi tâm chấp thủ vào cái nào thì nó không đi ra khỏi cái đó được. Đây là chỗ rất là quan trọng, chính vì vậy gọi là ngũ thủ uẩn.

Tâm chúng sánh đã bấu chặt vào tổ hợp sắc, thọ, tưởng, hành, thức và không gỡ ra được, thậm chí nó không muốn đi ra, chính vì thế, nó không bao giờ đi ra khỏi ngũ uẩn được. Trừ khi gặp được bậc Chánh Đẳng Giác, chánh tri kiến chỉ cho mình thấy rằng những ngũ uẩn này không phải nhà của mình, mà nó là thứ vô thường, không có sạch sẽ, đầy khổ đau, sớm muộn gì cũng tan hoại làm cho mình khổ. Vậy nên hãy đi ra, đừng có ở trong đó nữa.

Nếu mình hiểu thật sự, thấy biết thật sự và đi ra khỏi ngũ uẩn này thì tâm mới thật sự được thanh tịnh. Còn cứ ở trong thân ngũ uẩn với những cái làm lên nó là bất tịnh thì làm sao mình có thanh tịnh được. Những cái làm nên thân này là những cái không sạch sẽ thì làm sao thân này sạch sẽ. Những cái làm lên thọ, tưởng, hành, thức là những cấu nhiễm, những pháp tham ái, tham chấp, vô minh, chấp thủ thì làm sao ở trong đó có một cái tâm thanh tịnh. Nhờ thấy được bản chất như vậy nên chúng ta từ bỏ, ra khỏi, chấm dứt nó thì lúc đó mới là thanh tịnh thật sự như lời Phật dạy. Còn nếu vẫn thấy thân này là mình, cảm giác là mình, những suy tưởng, nhận thức này là mình, là tôi, là của tôi thì không bao giờ đạt đến chỗ cực tịnh, chí tịnh, cứu cánh tịnh – đây là sự thanh tịnh cứu cánh của bậc A-la-hán.

Vì lẽ đó, chúng ta luôn luôn phải thực tập nhìn lại năm uẩn thường trực. Vì nếu không nhìn thường trực thì sẽ không thấy nó vô thường, dù miệng nói vô thường nhưng thật sự vẫn không thấy được. Chỉ khi nhìn lại ngũ uẩn này thường xuyên, quán chiếu sâu sắc thì mình mới thấy nó thật sự vô thường, đó gọi là đến để mà thấy. Tại sao mình phải nhận diện năm uẩn, tại sao mình phải nhìn lại hoài? Tại sao mình phải kiểm soát nó? Có khi mình mệt mỏi, thấy bực mình, nhìn hoài rất mệt nên nghĩ đừng nhìn nữa, nhìn bên ngoài cho khỏe, nhưng không phải như vậy. Vì khi càng nhìn kỹ thì đối với tất cả những biến động, đổi dời, vận hành; tất cả những thứ xảo trá, manh nha, xảo ngụy, gian trá, lọc lừa đều bị mình thấy được. Khi chúng ta nhìn nó một cách thấu đáo bằng trí huệ thì lúc đó mình nhàm chán chúng.

Cho nên, phải nhìn lại thân tâm liên tục, để ý hoài hoài. Giống như khi mình quen với người đó thì phải tìm hiểu kỹ thật kỹ thì mới dám về ở chung với người đó. Huống chi đây là bản chất chính thân tâm mình mà mình không tìm hiểu, rồi nhận nó là mình thì chẳng khác nào cưới một cô vợ không hợp thì suốt đời khổ, hoặc lấy một ông chồng nhưng không tìm hiểu kỹ thì suốt đời khổ. Hơn nữa, thân này không phải khổ một đời, mà bám vào thân này là vô lượng vô biên kiếp khổ, vì chưa tìm hiểu kỹ thì mình bám vào nó, nhận đó là mình.

Đây là trí huệ rất sâu sắc, là sự nhìn lại sâu sắc để chiếu kiến, soi thấu được bản chất của năm uẩn. Đòi hỏi chúng ta phải có sự kiên trì, quyết tâm, nhiệt tâm, tinh cần, tinh tấn, nỗ lực, chịu khó để nhìn hoài, nhờ vậy các pháp mới hiện ra rõ. Thọ này hiện ra, tưởng này hiện ra, hành này hiện ra, thức này hiện ra, các pháp hiện ra rõ, bản chất nó hiện ra rõ…

Ngày xưa khi được học, mình cứ nói vô thường, khổ, vô ngã ngoài miệng, nhưng khi nhìn thấy rõ được thân tâm, mình mới hiểu rằng, bản chất của thân tâm này thật sự là như thế nào thì phải tự mình thấy được, chứ không phải để nghe, để hiểu, để nói, để suy nghĩ. Cho nên mới nói đến để mà thấy, người trí tự mình giác hiểu. Để được như vậy, đòi hỏi chúng ta phải thường trực nhìn lại để thấy được sắc là gì, thọ là gì, tưởng là gì, hành là gì, thức là gì. Thường thường nhìn thấy năm uẩn hoạt động ra sao và phải tập nhận diện ở trong đó. Nhìn càng sâu, thấy càng rõ, khi thành tựu trí huệ thì mình mới đi sâu chốn thanh tịnh được.

Như vậy, thức bị lòng tham của sắc, thọ, tưởng, hành, thức trói buộc được gọi là du hành có gia đình. Vậy, thế nào là du hành không có gia đình? Đức Phật dạy rằng:

Đối với sắc giới, này Gia chủ, cái gọi là dục, là tham, là hỷ, là khát ái, những gì thuộc chấp thủ, tâm trú trước, thiên chấp tùy miên; Như Lai đoạn tận chúng, cắt đứt tận gốc rễ, làm cho như thân cây ta-la, làm cho không tái sanh, không thể sanh khởi trong tương lai. Do vậy, Như Lai được gọi là du hành không gia đình.

(trích Tương Ưng Bộ Kinh III, kinh Hàliddikàni )

Đối với những ham muốn, vui mừng, thích thú, khao khát, nắm chặt, trú trước, dính mắc, thiên chấp ở trong đó thì Đức Thế Tôn đoạn tận, cắt đứt, tận gốc rễ làm cho chúng không có tái sanh trở lại, không có sanh khởi trong tương lai. Như vậy gọi là du hành không có gia đình, đi đâu cũng được một thân một mình, tự do, tự tại, thanh tịnh, an lạc.

Còn chúng ta đi đâu cũng vác theo rất nhiều. Tuy thấy chỉ một mình nhưng vác theo rất nhiều, đó là chúng ta du hành có gia đình. Như Lai giải thoát là vì Ngài cắt hết những gì là dục tham, hỷ ái, khát ái, chấp thủ trong sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Để nhìn thấy được bản chất thật của ngũ uẩn là một đại công trình, một công trình vĩ đại đạt kỷ lục gọi là siêu thế giới chứ không phải những công trình ở ngoài, những công trình ở ngoài là sắc uẩn vô thường.

Vượt qua ngoại cảnh

Ngoài ra, Đức Phật còn nói thế nào là du hành có trú xứ, thế nào là tác hành hệ lụy trong làng… đây là những chỗ rất hay, cần chiêm nghiệm, quán chiếu sâu sắc.

Như thế nào, này Gia chủ, là du hành có trú xứ?

Bị trói buộc bởi an trú chấp trước ( niketa-visàra ) vào sắc tướng, này Gia chủ, gọi là du hành có trú xứ… vào thanh tướng... vào hương tướng... vào vị tướng... vào xúc tướng. Bị trói buộc bởi an trú chấp trước vào pháp tướng, này Gia chủ, gọi là du hành có trú xứ. Như vậy, này Gia chủ, là du hành có trú xứ.

Như thế nào, này Gia chủ, là tác thành hệ lụy trong làng?

Ở đây, này Gia chủ, có người sống thân mật với gia chủ, cùng vui, cùng buồn. Giữa những người sung sướng, vị ấy sung sướng. Giữa những người buồn khổ, vị ấy buồn khổ. Khi có công việc phải làm khởi lên, tự liên hệ mình vào các công việc ấy. Như vậy, này Gia chủ, là tác thành hệ lụy trong làng.

(trích Tương Ưng Bộ Kinh III, kinh Hàliddikàni )

Tức là mình gắn kết mật thiết quá sâu sắc với những người thân. Người ta vui là mình vui, thấy người ta buồn là mình buồn theo. Lúc đó mình không có an trú cảm giác toàn thân, không có chánh niệm tỉnh giác. Nếu mình buồn thì sao mình giúp người ta hết buồn, như vậy là mình bị ngoại cảnh cuốn đi. Ví dụ, khi thấy một nhóm đông đang vui cười thì mình vui theo; họ buồn thì mình cũng buồn theo. Lúc đó là mình quên cảm giác của mình, quên mất chánh niệm tỉnh giác. Như vậy gọi là tác thành hệ lụy ở trong làng, không làm chủ tâm mình. Trong cuộc sống tu hành cũng vậy, nhất là mấy chú tập sự xuất gia, nhiều khi thân với Phật tử quá nhiều, thấy người ta khổ mình cũng khổ theo. Lúc bình thường mình ở đây ít người, yên tịnh, nay có trăm người lên núi tự dưng mình cũng động theo. Khách người ta lên tự nhiên mình cũng động theo. Đó là tác thành hệ lụy ở trong làng. Thành ra chỗ đó là chỗ mình phải gọi là du hành không có trú xứ. Cảnh là cảnh, mình là mình. Lúc đó là quay trở về với cảm giác của mình, tịnh tâm ở trên thân, thực hành phương pháp của mình chứ không là bị ngoại cảnh tác động, lôi kéo.

“Khi có công việc phải làm khởi lên thì tự liên hệ mình vào các công việc ấy”. Câu này là bí kíp võ công cho những người làm công tác. Khi công việc khởi lên tự liên hệ mình vào các công việc ấy tức là quên mất mình chỉ thấy công việc, không thấy tâm mình, không thấy thọ, tưởng, hành, thức. Người này gọi là người tác thành hệ lụy bị công việc trói buộc, bị khách trói buộc.

Thành ra, người khéo biết tu là người không để cho ngoại cảnh tác động, lôi kéo, cuốn hút, nhấn chìm mình. Trong mọi lúc mọi nơi thường trực nhìn lại cảm giác, nhìn lại năm uẩn. Còn người tâm yếu, không có công phu tu tập thì bên ngoài thế nào là mình thế đó, gặp cảnh bèn duyên, gặp trần liền dính, không có sức làm chủ.

Sự tu tập rất tế nhị, sâu sắc ở trong công phu nhìn sâu trở lại năm uẩn. Đòi hỏi chúng ta phải biết năm uẩn là gì, thường trực nhận diện, phát hiện trong năm uẩn có cái gì để thấy được bản chất của nó và chúng ta sẽ hiểu rành rõ về thân tâm, không còn điều gì mà không rõ được.Ngược lại, nếu không học được pháp năm uẩn theo lời Đức Phật dạy thì trong tâm này là một mớ bòng bong, mình không biết gì hết. Buồn ngủ thì không biết tại sao nó ngủ; vọng tưởng cũng không biết tại sao vọng tưởng; tham cũng không biết tại sao tham; tham hoài thì muốn đừng tham nữa cũng không biết làm sao; sân giận, si mê càng không thấy được thì làm sao nhiếp phục. Và như thế, tâm mình trở thành một mớ hỗn độn.

Chỉ khi thành tựu được trí năm uẩn thì mình sẽ thấy rất rõ từng cái, thấy cái nào cái nào, chúng đang ra sao cũng đều thấy biết rõ ràng. Như vậy nên mình mới có thể nhiếp phục được nó, chuyển hóa được nó và mình khai thác được những thiện pháp ở trong đó. Nếu mà mình chưa cứu cánh thì mình khai thác, trồng hoa, trồng bông, trồng kiểng, làm cảnh đẹp, nhờ vậy mà tâm này được thuần thiện, thuần lương, thuần hậu, hiền thiện. Thành tựu những thiện pháp đó thì đời sống của mình ít nhất cũng sanh ở trong cõi trời, cõi người tốt lành để gặp được Chánh Pháp, từ từ sẽ thành tựu chánh tri kiến. Còn nếu không nắm được trí năm uẩn này là chúng ta sẽ mãi miên man, vô định, bấp bênh, lọt lúc nào không hay, nó rớt lúc nào không hay, trợt xuống vực thẳm lúc nào không biết. Khi nắm được trí tuệ về ngũ uẩn cũng giống như chúng ta có được tay lái vững chắc, có con mắt sáng để biết được đường đi.

Như vậy hôm nay chúng ta có một buổi uống trà chia sẻ pháp. Tuy vài vị bị ho nhưng không khí cũng ấm áp chứ không phải là giá lạnh. Quý vị trở về nhớ thường xuyên thực tập nhận diện năm uẩn. Cố gắng hành trì xuyên suốt để có được sự an lạc, thanh tịnh trong hiện tại và tương lai.

./.