Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Thứ Tự Hành Trì - Truyền Thống Chánh Pháp Của Chư Phật

2026-03-03 00:56:15
Tinh Hoa Nikāya - Thứ Tự Hành Trì

Truyền Thống Chánh Pháp Của Chư Phật

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Tâm hiền – tâm từ PAGEREF _Toc179396490 \h 1

II. Truyền thống Chánh Pháp PAGEREF _Toc179396491 \h 5

I. Tâm hiền – tâm từ

Kính bạch các bậc hiền trí Tăng Ni và quý Phật tử. Càng ngày Minh Thành càng thấy được giá trị tuyệt đối của sự tu tập tâm hiền và sự tác ý diệt bản ngã, hai pháp này là hai pháp quyết định để chúng ta bước vào dòng pháp Nikāya tối thượng này. Phương pháp tu tập tâm hiền hoặc là nhiếp phục bản ngã và những phương pháp khác đều đặt nền tảng trên sự nhận diện ngũ uẩn, nếu không thấy ngũ uẩn thì không thể tu tập được tâm hiền đúng mức, nếu không thấy ngũ uẩn thì không thấy bản ngã thì huống hồ gì nhiếp phục, chế ngự và diệt tận nó cho nên người không chịu nhận diện ngũ uẩn là người này đứng tại chỗ và sẽ lùi lại, thối đọa.

Với người không nhìn thấy năm uẩn, không tu tập những cảm giác hiền thiện, hiền lành, hiền kính, với một người không có tâm khiêm cung nhìn thấy bản ngã xấu xa, ác độc, nguy hiểm và tác hại thì người này không thể nào tu tập một cách sâu sắc trong pháp này được. Ngày xưa khi mới tu tập về tâm hiền thì mình thấy bình thường, mình đi tu đã hiền rồi mà sao giờ còn tu tâm hiền nhưng đến giờ mới thấy cái thấy biết trước kia hoàn toàn sai lầm.

Ngày xưa khi chưa nhận diện ngũ uẩn, chưa đi vào dòng pháp này thì mình thấy bản thân được rồi, tốt rồi, những người xung quanh mình cũng tốt lắm, đến khi nhận diện ngũ uẩn được thì sốc hoàn toàn. Có ai thấy giống như vậy không? Mình thấy mình chưa hiền, mình thấy bất ngờ, mình thấy kinh hãi với cái tâm này. Khi mình được mở con mắt pháp, con mắt trí, con mắt tuệ thì mình nhìn thấy thật sự khác hoàn toàn với những gì xưa nay mình đã thấy, đã nghe, đã cảm nhận, thức tri, rõ biết, bây giờ mình sẽ nghe những điều chưa nghe, sẽ thấy những điều chưa thấy, cảm nhận những điều mà trước nay mình chưa từng cảm nhận, mình biết những điều mà trước nay mình chưa từng biết.

Nếu một người không nhận diện ngũ uẩn thì làm sao tu? Cho nên mình không thể trách được những người khác, mình phải thương họ, dù họ có lầm lỗi đến mức độ nào thì mình chỉ có một tình thương thôi. Nếu không nhận diện ngũ uẩn thì làm sao họ biết được tâm của họ? Làm sao họ biết được tham, sân, si, về bản ngã? Cho nên mình càng nhìn được tâm nhiều chừng nào, mình càng thấy được nhiều rác bẩn, cấu nhiễm, lậu hoặc, những thứ xấu xa, thấp hèn, phàm phu chừng nào thì tâm đại bi càng lớn, từ tâm càng lớn chừng đó, tình thương của mình đối với mình càng tăng trưởng nhiều, tình thương của mình đối với chúng sanh cũng được tăng trưởng nhiều. Sự biết ơn của mình đối với bậc ân sư, tôn sư của mình không gì trên thế giới có thể so sánh được, mình sẽ thành tựu được sự bất động tuyệt đối. Mình càng khổ đau, càng nhìn thấy các lậu hoặc thì trí tuệ mình càng sáng, lòng tin càng vững chắc, sự biết ơn càng vững mạnh và đi đến tuyệt đối.

Tự động khi các pháp vận hành thì tâm mình sẽ nghiêng về viễn ly, xuôi về viễn ly, thuận về viễn ly, nhập về viễn ly, tâm mình không hòa nhập với thế gian nữa, không cùng làm việc với những người bình thường nữa, những người không tu là không thể sống chung với họ nữa, không cùng ở chung được nữa, vì công việc giao tiếp thì xã giao chứ không thể ở chung với những tâm thức đầy tham, sân, si, bản ngã. Tự động tâm mình sẽ nghiêng về viễn ly, xuôi về viễn ly, nhập về viễn ly và mình sẽ yêu thích núi rừng, yêu thích chỗ xa vắng, yêu thích sự độc cư, yêu thích pháp, yêu thích suy tư, quán chiếu, thẩm thấu. Những cái tâm này sẽ lớn lên, tăng trưởng theo công phu tu thành tinh tấn đến mức độ nào, càng tu tâm hiền nhiều chừng nào thì mình càng lắng dịu, dễ chịu chừng đó, dù là chuyện khó chịu đến thì mình cũng dễ chịu, càng tu tâm hiền nhiều chừng nào thì công năng, tác dụng của nùi giẻ rách càng phát huy chừng đó.

Một nùi giẻ rách đang có mặt ở đây, một kẻ thấp hèn nhất của xã hội đang có mặt ở đây, một kẻ ăn sinh, một kẻ hạ liệt, thấp hèn, một kẻ nghèo đói, một kẻ khất sĩ đang có mặt ở đây. Một cái thân lủng lỗ, rỉ chảy tanh hôi suốt cả ngày đang có mặt ở đây, nhìn vào là thấy xấu hổ, tủi hổ, nhìn vào là thấy gớm ghê, chán chê, ngao ngán và tâm mình sẽ bắt đầu quay lưng lại với cuộc đời này, hướng đến sự rời xa, sự từ bỏ, sự thoát ra, đó là sự vận hành theo trình tự của pháp, tự động nó sẽ như vậy. Tâm mình không còn muốn tranh đua với ai nữa, không còn muốn hơn thua với ai nữa, không còn muốn tranh giành với bất cứ một ai nữa, tâm này nguyện không dự phần vào tất cả thế giới, tâm này quay lưng với cuộc đời, tâm này hướng đến sự nhàm chán, lìa xa, hướng đến sự thoát ra, từ bỏ, tâm này sẽ nhìn thấy mọi ngõ ngách trong ngũ uẩn toàn là khổ đau, không có chút nào vui dù bằng hạt bụi dính trong móng tay. Mọi cái thấy, nghe, thức tri, ngửi, nếm, tiếp xúc và biết đều thấy thuần túy là một đống khổ đau.

Khổ Thánh Trí sẽ được thành tựu từ từ trong thân tâm của một người chánh kiến, vô thường Thánh trí sẽ được thành tựu từ từ trong cái nhìn của một người an trú trong pháp, vô ngã Thánh trí sẽ khai phát trong cái tuệ của người minh kiến, của người thấy rõ về ngũ uẩn này. Tất cả những trí tuệ về biến hoại, về tan vỡ, về tan nát, hoại diệt sẽ được thành tựu, sẽ được chói sáng, bừng sáng, rực sáng trong tâm trí người tùy pháp, hành pháp, an trú trong pháp. Người này nhìn trên cuộc đời này chỉ là vô tình, vô nghĩa, vô ngã, vô thường, không có tình nghĩa nào bền lâu, tất cả sẽ đổi thay trừ những bậc chân nhân, những bậc đã thấy pháp, những bậc đó sẽ sống với tâm nhớ ơn, biết ơn bất động tuyệt đối, còn người chưa thành tựu tâm biết ơn, nhớ ơn thì những người này sẽ thay đổi và sự thay đổi đó là tự nhiên, là bình thường, thấy rõ thế gian này là vô tình, vô nghĩa, vô thường, vô ngã.

Đó là bản chất của thế giới này, có chăng cũng là tạm thời, không có gì chắc chắn, trong cái thương, cái ghét đó, trong cái thân, cái sơ đó không có gì chắc chắn, trong tích tắc sẽ thay đổi hoàn toàn cho nên tâm hiền thiện này sẽ cứu hành tinh, cứu chúng sanh, cứu chính mình, cứu hữu tình, tâm hiền thiện này sẽ cứu lấy thế gian, bao bọc mình, bảo vệ mình, che chở cho mình, tâm hiền thiện này sẽ chắn gió sương, phong ba bão táp cho mình, tâm hiền thiện này là bến đỗ bình an cho chúng sanh.

Mỗi ngày đều phải thường xuyên tác ý tâm hiền thiện chứ không phải đợi đến giờ tu mới tác ý. Thầy nói làm cái này mà mình làm cái khác thì đó không phải là tâm hiền, thầy vừa nói đã trả lời thì đó không phải là tâm hiền nhưng mình lại không biết, nếu không nhận diện ngũ uẩn là mình không nhìn ra được điều này, mình chỉ thấy những cái thô của phàm phu thôi. Người ta nói một tiếng mình trả lời hai tiếng là không có tâm hiền, người ta làm cái này thì mình lại muốn làm ngược lại cho khác mọi người thì bên trong đó là một cái tâm ngược ngạo, cứng cỏi, khó dạy khó bảo, không tu được, sớm muộn cũng ra đi thôi.

Tâm đó là tâm của sừng trâu, sừng bò, tâm đó không tu được nếu không sửa đổi, tâm ăn thua cho được là tâm của những người hàng tôm, hàng cái, tâm đấu đá, tâm buôn bán. Phải diệt trừ những cái tâm đó, phải hoàn toàn chế ngự, đoạn tận và diệt tận. Ngài Phú-lâu-na đã nói nếu người khác chửi ông thì họ vẫn còn hiền thiện vì chưa đánh ông, bài kinh giáo giới này không phải học để kể lại cho người khác nghe mà học để khắc ghi vào tâm, vào tim. Nếu họ đánh ông thì họ vẫn còn tốt vì họ chưa chém ông, nếu họ chém ông thì họ còn hiền thiện vì họ chưa giết ông, nếu họ giết ông thì ông được giải thoát khỏi thân năm uẩn này, từ bỏ nùi giẻ này, từ bỏ bao máu mủ này, từ bỏ cái thứ phiền não, xấu xa này, tâm được giải thoát. Phải tu tâm hiền thiện đến mức độ này là thành công, còn đằng này mới góp ý thôi đã phùng mang trợn mắt, tìm cách trả đũa, như vậy thì làm sao tu?

Mới nói nhẹ thôi đã phản ứng "con đâu có đâu", đổ thừa người này người kia, đó là mình không nhìn thấy ngũ uẩn. Nhiều người tự nguyện bỏ cha bỏ mẹ theo mình để tu, họ tự động lạy dưới chân mình khóc lóc xin sư phụ giúp giùm con, mình mới chỉ cho cái nào đúng cái nào sai thôi mà đã sân si, cái tâm như vậy thì không thể nào thể nhập vào dòng pháp này được, đó là mình hướng dẫn bằng tâm hiền, tâm từ vậy mà họ cũng giận. Cho nên tâm hiền và sự nhiếp phục bản ngã là cửa ngõ để vào dòng pháp Nikāya, hai cái này chưa tu được thì không thể vào dòng pháp này được, có chăng chỉ là nghiên cứu tri thức để hiểu biết thôi. Phải tu tâm hiền thuần thục, phải là người luôn an trú trong cảm thọ khiêm hạ, khiêm cung, nhất là khi được chỉ lỗi, được hướng dẫn.

Tu tập tâm hiền và chánh kiến nhận diện ngũ uẩn thôi cũng đủ để đưa mình vào cõi nhân thiên. Trong bài kinh Sau khi an cư của Tăng Chi Bộ, để tu tập tâm hiền cần đến chín pháp an trú tâm của tôn giả trí tuệ bậc nhất trong Thánh chúng Xá-lợi-phất, cho nên khi không hạ gục được bản ngã thì sớm muộn chúng ta cũng sẽ rớt ra khỏi dòng pháp này. Khi nhận diện ngũ uẩn thì mình sẽ bị nội tâm lừa gạt, đây là sự sâu sắc trong tu học, lúc nhận diện ngũ uẩn có chiều sâu thì không còn "thân này là sắc, cảm giác là thọ, hình bóng là tưởng, suy nghĩ là hành" nữa, đi sâu vào thì những ý hành của bản ngã mình không nhìn ra, những cái tưởng của bản ngã mình không nhìn ra, những cảm giác nghĩ tưởng của tham ái mình cũng không nhìn ra. Cho đến khi nào mình nhiếp phục, chế ngự, diệt tận năm triền cái thì lúc đó các pháp mới trung thực, hiện rõ ra như nó đang là.

Khi trong tâm mình có tham muốn mà không nhận diện ngũ uẩn sâu sắc, công minh thì mình bị tham muốn đó che mờ. Ví dụ mình thích làm cái đó mà có người nói làm không được là mình buồn giận, mình thích chưng cây tùng mà bị thầy la rầy thì mình buồn, nghĩ thầy khó mà mình không thấy đó là cái thích, cái ái, mình không thấy được tâm mình, vậy là không tu được. Cái nhỏ như vậy còn không thấy, không tu được thì đến khi nhìn sâu vào tâm những cái nhỏ nhiệm làm sao mình thấy, làm sao nhiếp phục được?

Những pháp vi tế nằm trong pháp trần, pháp tưởng, pháp tư, khi ở một mình nhưng những hình bóng mà mình đã thấy thì mình hồi tưởng lại, những cảm giác mình trải qua bây giờ mình hồi tưởng lại thì mình có chiến đấu nổi với nó không? Đó là nội công tấn công mình bên trong tâm, còn ngoại kích là những thứ bên ngoài đã kích mình. Mình yêu thích hình bóng, cảm giác đó rồi mình nhập cuộc chung với nó, ngồi thiền một lúc sau mới biết mình đi theo nó cho nên sự tu này rất tuyệt vời, sâu sắc.

II. Truyền thống Chánh Pháp

Công phu nằm thêm một bước nữa là nhiếp phục và đoạn tận năm triền cái, tất cả chư Phật đều phải đi qua con đường này, diệt tận năm triền cái, an trú tâm trong Bốn Niệm Xứ. Khi ngài Xá-lợi-phất khen ngợi Thế Tôn thì Thế Tôn nói đó là đại ngôn.

"Một thời, Thế Tôn ở tại Nàlandà, trong rừng Pàvàrikambavana. Lúc bấy giờ, tôn giả Sàriputta (Xá-lợi-phất) đến tại chỗ Thế Tôn ở, đảnh lễ Thế Tôn và ngồi xuống một bên. Khi ngồi xuống một bên, tôn giả Sàriputta bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại, không thể có một vị Sa môn, một vị Bà-la-môn khác nào có thể vĩ đại hơn Thế Tôn, sáng suốt hơn Thế Tôn, về phương diện giác ngộ.

- Này Sàriputta, lời nói của Ngươi thật là đại ngôn, thật là gan dạ. Ngươi thật là rống tiếng rống con sư tử khi Ngươi nói: 'Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại, không thể có một vị Sa môn, một vị Bà-la-môn nào có thể vĩ đại hơn Thế Tôn, sáng suốt hơn Thế Tôn, về phương diện giác ngộ'. Này Sàriputta, có phải Ngươi đã được biết, trong quá khứ, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, với tâm của Ngươi biết được tâm của tất cả các vị Thế Tôn - Giới đức chư vị Thế Tôn là như vậy, Pháp chư vị Thế Tôn là như vậy, Trí tuệ chư vị Thế Tôn là như vậy, An trú chư vị Thế Tôn là như vậy, Giải thoát chư vị Thế Tôn là như vậy?

- Bạch Thế Tôn, không!" (Trường Bộ Kinh, 28. Kinh Tự hoan hỷ)

Ngài Xá-lợi-phất thưa với Đức Phật ngài tin tưởng Phật đến nỗi dù trong thuở xưa hay trong hiện tại thì không có bất cứ một người tu hành nào có thể vĩ đại hơn Thế Tôn, sáng suốt hơn Thế Tôn về phương diện giác ngộ. Thế Tôn hỏi lại có phải có phải ngài Xá-lợi-phất thấy hết tâm tư, trí tuệ, sự giải thoát của các bậc A-la-hán Chánh Đẳng Chánh Giác trong quá khứ, trong tương lai hay trong hiện tại không thì ngài Xá-lợi-phất trả lời rằng ngài không biết.

"- Này Sàriputta, có phải Ngươi đã được biết, trong tương lai, các vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, với tâm của Ngươi biết được tâm của tất cả các vị Thế Tôn - Giới đức chư vị Thế Tôn là như vậy, Pháp chư vị Thế Tôn là như vậy, Trí tuệ chư vị Thế Tôn là như vậy, An trú chư vị Thế Tôn là như vậy, Giải thoát chư vị Thế Tôn là như vậy?

- Bạch Thế Tôn, không!

- Này Sàriputta, có phải Ngươi đã được biết, trong hiện tại Ta là vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác, với tâm của Ngươi biết được tâm của Thế Tôn - Giới đức chư vị Thế Tôn là như vậy, Pháp chư vị Thế Tôn là như vậy, Trí tuệ chư vị Thế Tôn là như vậy, An trú chư vị Thế Tôn là như vậy, Giải thoát Thế Tôn là như vậy?

- Bạch Thế Tôn, không!

- Này Sàriputta, hãy xem! Ngươi không có trí tuệ biết được tâm tư của chư vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác ở quá khứ, ở hiện tại và ở tương lai! Vậy sao, này Sàriputta, lời nói của Ngươi tuyên bố thật là đại ngôn, thật là gan dạ. Ngươi thật đã rống tiếng rống con sư tử khi Ngươi nói: 'Bạch Thế Tôn, con tin tưởng Thế Tôn đến nỗi con nghĩ rằng, ở quá khứ, ở tương lai cũng như ở hiện tại, không thể có một vị Sa môn, vị Bà-la-môn khác nào có thể vĩ đại hơn Thế Tôn, sáng suốt hơn Thế Tôn, về phương diện giác ngộ'

Bạch Thế Tôn, con không có trí tuệ để được biết tâm tư của chư vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong quá khứ, hiện tại và vị lai. Bạch Thế Tôn, nhưng con biết truyền thống về Chánh pháp. Bạch Thế Tôn, như vị vua có một thành trì ở biên cảnh, có hào lũy kiên cố, có thành quách tháp canh kiên cố và chỉ có một cửa thành ra vào. Cửa thành có vị giữ cửa thông minh, biệt tài và giàu kinh nghiệm, ngăn chận những người lạ, chỉ cho vào những ai quen biết. Người này, trong khi đi tuần tiểu xung quanh thành, có thể không thấy hết các chắp nối và khe hở của tường, nhỏ cho đến một con mèo thể đi qua được. Nhưng người ấy chỉ cần biết rằng các sinh vật to lớn hơn muốn đi vào hay đi ra thành này, tất cả đều phải đi vào hay đi ra cửa này. Bạch Thế Tôn, cũng vậy con biết truyền thống về Chánh pháp". (Trường Bộ Kinh, 28. Kinh Tự hoan hỷ)

Ngôi thành trì chỉ có một cửa, muốn đi vào hay đi ra đều phải qua cái cửa đó, cũng vậy, ngài Xá-lợi-phất biết truyền thống về chánh pháp chỉ có duy nhất một con đường, một cánh cửa, không thể có con đường khác,

"Tất cả những vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời quá khứ, tất cả những bậc Thế Tôn này đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến trí tuệ yếu ớt, đã khéo an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã như thật tu hạnh Bảy Giác chi, đã chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác". (Trường Bộ Kinh, 28. Kinh Tự hoan hỷ)

Thứ nhất là diệt trừ năm triền cái, thứ hai là khéo an trú tâm vào Tứ Niệm Xứ, thứ ba là tu hạnh Bảy Giác Chi.

"Tất cả những vị A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác trong thời vị lai, tất cả những bậc Thế Tôn này sẽ diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến trí tuệ yếu ớt, sẽ khéo an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, sẽ như thật tu hạnh Bảy Giác chi và sẽ chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác. Bạch Thế Tôn, và nay Thế Tôn, bậc A-la-hán, Chánh Ðẳng Giác đã diệt trừ Năm Triền cái, những nhiễm tâm khiến trí tuệ yếu ớt, sẽ khéo an trú tâm vào Bốn Niệm xứ, đã như thật tu hạnh Bảy Giác chi, đã chứng ngộ vô thượng Chánh Ðẳng Giác". (Trường Bộ Kinh, 28. Kinh Tự hoan hỷ)

Chúng ta đang nói đến tầm quan trọng của việc đoạn trừ năm triền cái, khi có năm triền cái thì nhận diện ngũ uẩn không trong sáng. Đang giận lên, đang có cảm thọ tức giận một người nào đó thì không thể nhận diện ngũ uẩn được, nếu cái giận đó mạnh thì nó sẽ xâm chiếm và áp đảo luôn ngũ uẩn cho nên khi còn năm triền cái thì trí tuệ sẽ yếu ớt, lu mờ. Mình học kinh hay quên là do còn năm triền cái, ngài Ananda không có năm triền cái khi nghe pháp cho nên ngài trùng tiên lại tất cả tạng kinh cho nên khi tâm trong sáng, thuần tịnh thì những lời Đức Phật nói sẽ rót hết tất cả vào tâm ngài Ananda. Tâm mình còn rất nhiều tham, sân, hoài nghi, trạo cử, hôn trầm thụy miên mà mình không quyết tâm đoạn năm triền cái đó thì trí tuệ của mình sẽ không tăng trưởng vì thế cần tập trung tâm ý đoạn trừ năm triền cái.

Mình thích trồng hoa nên khi nhập thích thì hình ảnh của những bông hoa ngoài kia hiện ra, có suy nghĩ về bông hoa, có cảm giác về bông hoa đó, nó cứ ám ảnh trong tâm. Nếu không nhận diện để biết những cái này là ái, cần phải tác ý "khi nào trồng thì trồng, còn bây giờ tu là không có trồng, bây giờ đang trong thất chứ không phải đang trồng hoa", đuổi những cảm giác, nghĩ tưởng đó ra khỏi tâm thì sự tu mới sâu sắc, nếu không nó cứ ám ảnh mình, vào nhập thất nhưng trong tâm là một vườn hoa, hết bông này đến hoa nọ, đến khi vừa ra khỏi thất chưa kịp chào ai đã chạy thẳng ra vườn hoa xem nó thế nào, có ai tưới không, như vậy tâm có tham ái thì trí tuệ sẽ bị lu mờ, yếu ớt, những hình bóng, suy nghĩ, cảm giác đó cứ chập chờn ám ảnh trong đó. Đối với con người hay món đồ cũng giống như vậy.

Đối với tâm của người đã tu hành thuần thục thì giờ này việc nấy, tức là khi tiếp xúc với cái nào thì pháp đó mới có, còn khi trở về thì trú trong đề mục, thiền quán, thiền định của mình, những cái khác không xâm lấn được mình, đó là nội lực, là sức mạnh từ bên trong. Khi tâm có hoài nghi sẽ nghi ngờ không biết ngoài ngũ uẩn này còn gì nữa không, nghi ngờ không biết có phải Đức Phật tu cái này không, những ý hành đó cứ ám ảnh mình nên tâm mình không xác quyết, không nhất hướng, không có lòng tin tuyệt đối vào pháp thì lúc đó trí tuệ không tỏa rạng, không có sự tinh cần, tinh tấn để tâm vào pháp.

Cho nên cái pháp đó không phát huy được toàn bộ sức mạnh của nó hoặc là tâm dao động giống như mặt hồ cứ gợn sóng, những hình bóng bên ngoài không soi được cũng không thấy dưới đáy hồ có gì, khi tâm bị triền cái nhiều thì pháp bên trong không thấy rõ mà pháp bên ngoài cũng chẳng nhận ra, mình nhìn sai hết những pháp đang diễn ra vì bị triền cái che mờ. Mặt hồ cứ dao động thì bóng người hay trời mây đều không thấy rõ, vì không trong nên cũng không thể nhìn sâu dưới đáy hồ có cá hay rác bẩn dưới đó cho nên đầu tiên là phải đoạn tận năm triền cái, sau đó mới là khéo an trú tâm vào Bốn Niệm Xứ và cuối cùng là tu tập Bảy Giác Chi, đó là truyền thống chánh pháp mà tất cả các Đức Như Lai đều phải đi qua để thành Chánh Đẳng Giác.

Ví dụ khi nghe pháp mà cảm thấy khó chịu trong người, mình để cái khó chịu đó xâm chiếm thân tâm thì pháp sẽ không vào đầu được, nếu có vô thì cũng chỉ được một nửa thôi, sự bực bội đó sẽ che mờ tâm mình đối với pháp, nếu mình tác ý dẹp trừ sự bực mình, khó chịu về sự nhức mỏi, không khí lạnh lẽo, làm lắng dịu sự khó chịu đó xuống thì mình có thể tiếp nhận pháp nhiều hơn. Mỗi ngày chúng ta đều nghe pháp để cái pháp thấm vào thân tâm, từ da đi vào thịt, từ thịt đi vào xương, từ xương vào tủy não, cho đến một lúc là nó trở thành cái thấy biết của mình, thể nhập được thì Nhập Lưu, tham dự vào dòng trí tuệ, còn muốn ngồi im để một ngày nào đó hoát nhiên đại ngộ là không có, Thế Tôn nói trong giáo pháp của ngài không có chuyện tự nhiên chứng ngộ mà phải tu tập từ từ, tác ý từ từ, quán chiếu từ từ, tư sát, quán chiếu, nghiền ngẫm, tư duy, thẩm thấu, thể nhập.

"Ví như, này Pahàràda, biển lớn tuần tự thuận xuôi, tuần tự thuận hướng, tuần tự sâu dần, không có thình lình như một vực thẳm. Cũng vậy, này Pahàràda, trong Pháp và Luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình. Này Pahàràda, vì rằng trong pháp và luật này, các học pháp là tuần tự, các quả dị thục là tuần tự, các con đường là tuần tự, không có sự thể nhập chánh trí thình lình, nên này Pahàràda, đây là vi diệu chưa từng có thứ nhất mà do thấy vậy, các Tỳ-kheo thích thú trong Pháp và Luật này". (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX) A-Tu-La Pahàràda)

Mình cứ muốn những cái cao siêu còn những điều bình dị lại không muốn, cứ nghĩ rằng ngồi thiền hoài, nghe pháp hoài, tụng bài này hoài, tìm bài khác để tụng. Đó là tâm vô minh, tâm không thấy không biết sự vận hành của pháp, không biết nhân quả hệ, nhân duyên sanh. Nếu bảy ngày không nghe pháp trực tiếp cũng như gián tiếp thì mình sẽ thấy sự khác biệt trong thân tâm mình cho nên nghe pháp một giờ là một giờ được giác ngộ, ngồi thiền một giờ là một giờ mình tỉnh thức, càng trú trong pháp nhiều chừng nào thì càng tốt nhiều chừng đó, trú trong Thánh pháp, trong thiện pháp, trong Thánh pháp. Đó là lý do suốt tám tháng dịch đều phải an trú trong pháp, có vậy tâm mới bình an, mới bớt lo lắng, sợ hãi, trí huệ mới tăng trưởng sâu sắc.

Trở lại vấn đề là tập trung diệt tận năm triền cái, phải thường xuyên để tâm vào đó để kiểm tra xem nội tâm có tham hay không, nội tâm có yêu thích hay không có yêu thích, nội tâm có muốn hay không muốn, muốn cái thiện hay bất thiện và khi mình bực bội, khó chịu thì mình phải biết làm như thế nào, xem thân tâm lúc đó dao động, có trạo cử không hay là an tịnh, yên định, lúc đó là hôn trầm hay tỉnh táo, sáng tỏ, lúc đó có hoài nghi không hay xác quyết với pháp. Phải chăm sóc tâm mình và phải xử lý những pháp làm chướng ngại bước tiến của mình, năm triền cái còn gọi là chướng ngại pháp, là pháp chặn lối đi của mình, làm trở ngại trên bước đường tiến đạo của mình.

Chúng ta cần nhớ tâm hiền tuyệt đối quan trọng, các vị cư sĩ cần nhớ điều này vì nó làm tâm mình an ổn, cuộc sống được bình yên, nhiếp phục bản ngã để có sự hòa hợp, hòa kính, gia hòa vạn sự hưng, trong nhà được hòa hợp thì mọi việc đều hưng thịnh, phát triển. Cái hòa này có từ tâm hiền và sự sống khiêm hạ, diệt bản ngã, khi đi sâu vào sự hành trì thì nó sẽ tự động phát huy ra đường hướng rời xa những sự tranh giành tham, sân, si của thế gian, tự động pháp vận hành trong con người mình, mình không còn tranh giành, hơn thua với bất kì ai, ai muốn giành phần hơn, phần thắng thì kệ người ta, mình chỉ lo quay lại an trú tâm trong sự thật của bậc Thánh. Thân tâm mình sẽ ưa thích viễn ly, rời xa, yêu thích cảnh xa vắng, an tịnh. Chỉ lo tẩy sạch chướng ngại pháp, diệt trừ năm triền cái, thường xuyên an trú trong Bốn Niệm Xứ, nỗ lực thực hành Bảy Giác Chi, đi đúng đạo lộ tu hành của các bậc Chánh Đẳng Giác thuở quá khứ, hiện tại và tương lai.

Ngày nào chúng ta cũng có được buổi sáng tốt lành, có biết bao chúng sanh sáng nào cũng được nghe truyền thống chánh pháp của chư Như Lai. Học ở trường mình sẽ học được lý thuyết, kiến thức sách vở, còn về núi là thời gian quý báu để nhìn nhận thân tâm thật nhiều. Ở các trường Phật học, học viện Phật giáo ở Thái Lan, Sri Lanka, Đài Loan, Myanmar, nhất là những nước Phật giáo nguyên thủy có những chương trình đi hành thiền có khi một tháng hoặc đến ba tháng, trong đó có lý thuyết lẫn thực hành, còn ở Việt Nam mình chưa có. Minh Thành có trình thưa lên các bậc tôn đức nhưng cái ngài thấy chưa đủ duyên, nếu sau này đủ duyên thì mình sẽ kết nối với với trường Phật học, các học viện Phật giáo để các Tăng Ni sinh trở về núi rừng có thời gian tối thiểu cũng là một tuần hoặc là ba tháng trong mùa an cư để có sự thực hành nhìn lại thân tâm sâu sắc, chính xác.

Chúng ta học lý thuyết nhiều mà không thực hành thì mình sẽ không có lòng tin thâm sâu với pháo, mình cũng không thành tựu chánh kiến cho nên trong thời gian các Tăng Ni sinh về đây thì hãy cố gắng để tâm thật nhiều để nhận diện ngũ uẩn, nghe kĩ những bài thứ tự tu tập, đạo lộ hành trì, cố gắng thực hành thật nhiều giống như ngày mai không còn được thực hành nữa, có như vậy trong giời gian ngắn ngủi về đây mới lấy được bí kíp để sau này trở về trường thì mình còn vốn liếng, còn sự cốt lõi làm sức sống, làm kim chỉ nam, làm mục tiêu đời sống tu hành.

Các vị có dịp xuống núi cũng nhớ thật kĩ những gì đã học để thực hành, nếu có duyên lành và tâm mạnh mẽ thì đi thật ngắn và trở về để tu ít nhất tám năm cho đến mười năm trong dòng pháp này bằng sự tinh cần, tinh tấn thì sau này gió thổi mình cũng không bay, bão táp không làm gì được mình, thậm chí cái chết xảy ra trước mặt thì mình cũng có bình an. Đó là lợi ích cho chính mình nên mình phải tự quyết định, quý thầy chỉ có vài lời chia sẻ, lên đây để tu cho biết, để ngắm cảnh thì rất uổng phí, ngoài thời khóa tu tập cần phải tự tu cho mình thêm nhiều nữa, trong mọi lúc mọi nơi đều phải thực tập pháp chứ đừng đợi đúng giờ lên thiền đường mới thực tập, ngoài ra cần nhớ tác ý tâm hiền, tác ý diệt ngã, tác ý tâm từ, thường xuyên soi rọi thân tâm xem lúc đó tâm mình đang ở trạng thái gì, có thọ gì.

Phải có tâm nóng bỏng, rực cháy, quyết liệt trong sự học và hành pháp này để lỡ dịch bệnh đến, cái chết đến, tai nạn đến hoặc xuống núi thì mình cũng có vốn liếng để sống. Minh Thành mới hay tin một vị ở núi xuống dưới thành phố đã bị nhiễm dịch bệnh, cho nên đời sống này không có gì chắc chắn, bảo đảm nên cần nhớ thật kĩ pháp để hành trì, đừng bao giờ quên điều này.

./.