Vận Dụng Vào Đời Sống - Chói Sáng Núi Rừng - Đại Kinh Rừng Sừng Bò 4
Kinh Nikāya Giảng Giải
Vận Dụng Vào Đời Sống
Chói Sáng Núi Rừng
Đại Kinh Rừng Sừng Bò 4
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chói sáng núi rừng PAGEREF _Toc157711645 \h 1
II. Trình pháp PAGEREF _Toc157711646 \h 4
III. Đại kinh rừng sừng bò PAGEREF _Toc157711647 \h 5
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc157711648 \h 14
I. Chói sáng núi rừng
Ở núi mình ngồi ngắm bình minh,
Sương mây bao phủ khắp thân hình.
Núi đồi trắng xóa thần tiên cảnh,
Tuệ nhật vừa lên tâm an bình.
Ở núi chuyên tu thật là hăng,
Trong lòng hừng hực ngọn lửa Tăng.
Tham, sân sinh khởi đều cháy sạch,
Thân tâm mát lạnh như giá băng.
Ở núi chuyên tu thật uy hùng,
Ngày đêm ra trận đánh tận cùng.
Diệt tan, diệt sạch, cùng diệt tận,
Diệt hết vô minh, minh tương phùng.
Ở núi không gian lặng như tờ,
Thiền hành quanh thất dường trong mơ.
Bao năm xuôi ngược theo trần cảnh,
Giờ đây mình ngồi vui vô bờ.
Ở núi không gian tự thiên nhiên,
Thánh tri kiến hiện tại mục tiền.
Vận hành tư sát tiêu lậu hoặc,
Buổi sáng diệu kỳ thật bình yên.
Ở núi không gian thoát trần gian,
Trời mây, non nước rộng thênh thang.
Quán nhìn Tam giới tuồng mộng ảo,
Tình thương dào dạt khắp chứa chan.
Ở núi không gian quá diệu kỳ,
Bức tranh vĩ đại khó đâu bì.
Mênh mông một cõi tâm vô lượng,
Hạnh nguyện xuất trần nhập Vô vi.
Ở núi không gian cảnh Phạm thiên,
Vô dục. không tham, chẳng lụy phiền
An nhiên ly dục, sanh hỷ lạc,
Nhẹ nhàng thể nhập vào Sơ thiền.
Ở núi không gian một mình ta,.
Dục trần nay đã vượt thoát xa
Tâm bình, thế giới đều bình đẳng,
Công đức, phước báu số Hằng sa.
Ở núi không gian lặng như tờ,
Quán sâu ngũ dục, đời mộng mơ.
Vở tuồng sầu, bi, khổ, ưu, não,
Hết rồi, vượt qua đến bến bờ.
Ở núi không gian đẹp vô vàn,
Trải tâm trùm khắp cả ba ngàn.
Xét cho tường tận bản tánh Sắc,
Bọt nước nguy nan, đầy bất an.
Ở núi không gian chẳng rộn ràng,
Bình tâm diệt dục, trị tham sân.
Hằng giờ nhiếp phục tên bản ngã,
Lợi danh, hướng ngoại thảy biến tan.
Ở núi không gian thật chứa chan,
Nếu ai có đến để cúng vàng.
Thọ yên, tâm chẳng hề dao động
Phá tan ái luyến chẳng buộc ràng.
Ở núi trao dồi đức hạnh cao,
Chớ cho cấu nhiễm cùng kiêu ngạo.
Khiêm cung, khiêm tốn, luôn khiêm hạ,
Khiêm nhường, khiêm nhã đẹp biết bao!
Ở núi trau dồi thiền định mau,
Chớ cho lười biếng được nhuốm vào.
Nhiếp phục thân tâm theo khuôn phép,
Thả lỏng, buông lung phải cúi đầu.
Ở núi trau dồi tuệ quán sâu,
Ngũ uẩn tinh ranh bị soi thấu.
Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu
Diệt sạch không còn, hết lo âu.
Ở núi trau dồi giải thoát trí,
Thoát ra khổ, ưu, não, sầu, bi.
Vượt ngoài cảnh sanh, già, bệnh, chết,
Thể nhập bất tử, dứt ái si.
II. Trình pháp
Cô Hiền Hằng: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch tên quý thầy, quý Ni, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Kính bạch sư phụ, pháp danh con là Hiền Hằng, chỉ còn vài giờ nữa chúng con lại rời xa nơi đây, ngôi nhà Linh Quy đã cho chúng con nhiều lắm. Lần trở về Linh Quy này là lần thứ hai của con, được trở về Linh Quy lần này con cảm nhận được tình thương, lòng bi mẫn của sư phụ cũng như quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các hiền trí nơi đây thật ấm áp, thật dịu ngọt, thật thanh cao và chưa đâu con có được trong suốt cả kiếp người, trong cuộc đời này thậm chí trong ngôi nhà con đang sống cũng không có được, vậy mà nơi ngôi nhà Linh Quy này sư phụ, quý thầy, quý sư cô, quý Ni sư đã cho con được điều đó, con thấy thật linh thiêng vô cùng tận.
Con nghĩ đây cũng là dấu ấn để con mang theo trong cuộc đời tu hành. Kính thưa sư phụ, dẫu biết rằng con nói bao nhiêu ngôn từ cũng không thể nói hết được lời tri ân, biết ơn đối với Đức Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã trao truyền dòng chánh pháp này để cứu vớt những chúng sanh đau khổ như con. Dòng chánh pháp này được sự chỉ dạy truyền trao của sư phụ, con thấy sư phụ như mẹ hiền của con, tâm con đã rất rung động.
Kính thưa sư phụ, con biết ơn Đức Thế Tôn, con biết ơn sư phụ. đến cuối đời con đã thấy được tâm của mình, điều này đúng là không tưởng, trước đây khi chưa được gặp chánh pháp của Đức Thế Tôn, chưa được nghe những lời chỉ dạy của sư phụ thì con rất tăm tối, con nghĩ thân này, tâm này là con để rồi con sống trong đau khổ trong thời gian quá dài, con đau khổ rồi con làm cho những người sống chung cũng khổ đau.
Giờ đây con thật hạnh phúc, những lời pháp mà sư phụ cho con như thấm đẫm vào tâm con. Con chúc sư phụ, chúc quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng đại chúng sẽ lan tỏa thánh pháp này, trước tiên với gia đình con, với những người có duyên với con sẽ lan tỏa, con thương mọi người vì họ đang bị vô minh bao trùm, đang bị nó sai sử, sai khiến, nó hành hạ, chỉ nghĩ đến đây thôi là tình thương trong con đã trào dâng, con chỉ thấy thương, thấy xót xa cho tất cả. Con xin cung kính tri ân Đức Thế Tôn, con xin cung kính tri ân sư phụ, xin cung kính tri ân quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí nơi đây đã cho con một mùa xuân thật đáng nhớ, không bao giờ con có thể quên. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
III. Đại kinh rừng sừng bò
Sư Phụ: Hôm trước chúng ta nghe bài kinh rừng sừng bò, đức hạnh của các bậc Thánh Tăng, hôm nay chúng ta chia sẻ thêm về đức hạnh của các bậc Thánh chúng, về hạnh của ngài Revata (Ly-bà-đa), ngài Maha Moggallana (Ðại Mục-kiền-liên), ngài Maha Kassapa (Ðại Ca-diếp), ngài Anuruddha (A-na-luật-đà), ngài Sariputta (Xá-lợi-phất).
"Này Hiền giả Revata, hạng Tỳ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?
-- Ở đây, này Hiền giả Sariputta, Tỳ-kheo ưa thích đời sống tịnh cư, vui thú đời sống tịnh cư, nội tâm tu pháp, tịnh chỉ, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch" (Trung Bộ Kinh, 32. Ðại kinh Rừng sừng bò)
"Này Hiền giả Kassapa, hạng Tỳ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?
-- Ở đây, này Hiền giả Sariputta, Tỳ-kheo, tự mình sống ở rừng núi và tán thán đời sống ở rừng núi, tự mình sống khất thực, và tán thán đời sống khất thực, tự mình mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo, tự mình sống với ba y và tán thán hạnh ba y, tự mình sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, tự mình sống biết đủ và tán thán hạnh biết đủ, tự mình sống độc cư và tán thán hạnh sống độc cư, tự mình sống không nhiễm thế tục và tán thán hạnh không nhiễm thế tục, tự mình tinh cần, tinh tấn và tán thán hạn tinh cần, tinh tấn, tự mình thành tựu giới hạnh và tán thán sự thành tựu giới hạnh, tự mình thành tựu Thiền định và tán thán sự thành tựu thiền định, tự mình thành tựu trí tuệ và tán thán sự thành tựu trí tuệ, tự mình thành tựu giải thoát và tán thán sự thành tựu giải thoát, tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và tán thán sự thành tựu giải thoát tri kiến" (Trung Bộ Kinh, 32. Ðại kinh Rừng sừng bò)
Mỗi một vị Thánh Tăng cho chúng ta một bài học, chúng ta không chỉ nghe đức hạnh của các ngài mà còn lấy đó làm tấm gương để học tập. Ví dụ nếu chúng ta biết thực tập theo hạnh của ngài Revata sẽ rất hay, có những trường hợp mình ở một mình không có ai cả mà không biết tu là mình sẽ buồn, nếu lớn tuổi có khi mình trách con cháu, bây giờ mình nắm bắt cơ hội ngay đó thực hành cái hạnh sống một mình, những lúc ngồi đợi xe, đợi máy bay, những lúc gia đình đi hết mình ở một mình hoặc những lúc mình nằm bệnh một mình thì mình lấy những pháp tu này ra thực tập để không trách, không hờn, ngược lại mình hoan hỉ vì được ở một mình. Ví dụ trước giờ mình chưa từng lên núi tu một mình, chưa từng rời xa gia đình, chưa từng ngủ một mình mà bây giờ đi một mình, ngủ một mình, tu một mình thì mình phải thấy vui lên, mình thấy mình đang có cơ hội quý báu.
Khi mình nhắm mắt ra đi có ai chịu đi theo mình lúc đó không? bây giờ mình còn sống thì cái gì cũng rủ người này người kia, ăn cũng rủ ăn chung cho vui, nhiều khi tu cũng phải có người mới tu, không có người thì làm biếng không tu. Đến khi mình chết, mình bệnh thì lúc đó mình phải đối diện một mình, cho nên trong những khoảnh khắc ở một mình thì mình phải lấy đó làm cơ hội, lấy đó làm đề mục, lấy đó làm sự hoan hỉ để thực tập vì trước sau gì mình cũng đi một mình. Mình càng quấn quýt với nhau chừng nào thì khi một trong hai người ra đi, người còn lại sẽ đau khổ nhiều chừng đó cho nên mình phải tập sống một mình trong những lúc mình có thể.
Khi mình tiếp xúc liên tục, mình cứ nhìn, cứ nghe, cứ nói, cứ gặp gỡ thì mình sẽ không thấy được sự sâu sắc bên trong mình, chỉ khi ở một mình mới cảm nhận được sâu sắc những gì đang sanh khởi bên trong, đang có mặt bên trong, đang vận hành bên trong, nó đang quậy phá mình như thế nào thì mình tu mới sâu sắc, mới vi tế. Ví dụ trong hoàn cảnh nào đó mà ăn uống thiếu thốn, không đầy đủ tiện nghi mà không biết tu thì mình sẽ buồn, trách, sẽ phiền, sẽ sân, còn biết tu sẽ thấy đây là cơ hội để mình thực tập ít muốn biết đủ, chỗ này nếu biết tác ý chuyển tâm mình sẽ rất hay.
Khi mình đi khất thực nhưng đi sau cùng, đồ ăn hết, chỉ còn sót lại chút ít không đủ no, nếu không biết tu thì bực bội, khó chịu, "sao ăn hết không chừa tôi", đó là ý niệm phàm phu, còn ý niệm của người biết tu là "hôm nay mình có bài tập, hôm nay mình có cơ hội học theo hạnh ngài Maha Ca-diếp ít muốn biết đủ, cơm trắng chan nước tương ăn cũng được, phải quán nhàm chán thức ăn, quán thức ăn này bẩn thỉu, khi nuốt vào miệng vào trong thì nó thành cái gì, khi nó đi ra thì thành cái gì mà sao giờ mình phải sân hận, khó chịu? Tại sao mình phải bỏ quá nhiều thời gian cho việc này?". Ở nhà phải lo cho chồng con hoặc trách nhiệm phải lo cho đại chúng thì khác, còn nếu một mình thì phải tiết độ trong ăn uống, để dành thời gian học kinh, nghe pháp, ngồi thiền, thiền quán, đi thiền hành, bớt thời gian lo cái ăn, cái mặc, cái ở, sống một đời sống ít muốn biết đủ theo hạnh của ngài Maha Ca-diếp.
Nếu lỡ mình bị hiểu lầm, bị xúc phạm, bị chỉ trích có khi đúng, có khi không đúng thì lúc đó phải nhìn lại tâm mình, học theo hạnh của ngài Phú-lâu-na.
"Này Punna, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc Ông, nhục mạ Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc con, nhục mạ con, thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy tay đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy các cục đất ném đánh ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy! Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy các cục đất ném đánh Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy cục đất ném đánh con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy gậy đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy dao đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao sắc bén đoạt hại mạng ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao sắc bén đoạt hại mạng Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- -Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau: 'Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi tìm đã được con dao ấy'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy, con sẽ nghĩ như vậy.
-- Lành thay, lành thay, này Punna! Này Punna, Ông có thể sống trong nước Sunaparanta, khi Ông có được đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh này. Này Punna, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời". (Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)
Mỗi một trường hợp như vậy mình nhớ lại đức hạnh của một bậc Thánh, chúng ta phải chiến đấu với cơn buồn ngủ vì chỉ còn vài tiếng nữa thôi là chúng ta trở về rồi, ngày mai có muốn cũng không còn được ngồi đây nữa, biết đâu vô thường đến mình không còn trở lại đây nữa thì sao, ai có thể nói trước được điều gì cho nên phải tỉnh lên, phải mạnh mẽ lên. Mỗi một sự việc, mỗi một hoàn cảnh thì trong mình đều có hình bóng của một tôn giả hiện ra, như vậy mình có chỗ nương dựa tinh thần, mình có chỗ hướng thượng, thường tới thì mình sẽ thấy không phải mình tu một mình, mình muốn gặp ngài Ca-diếp là mình thấy liền, mình muốn tu với ngài A-nan là mình tu liền, mình muốn tu với ngài Phú-lâu-na là mình tiếp xúc được với ngài, mình có thể chạm vào bàn chân của ngài Upali.
Như vậy mình được tu chung với các bậc hiền Thánh, thật tuyệt vời, không phải tu một mình mà buồn, mình ở một mình là do mình không muốn ở chung với hạng người tham, sân, si, bản ngã, thật sự ngao ngán nhưng mình muốn ở chung với các bậc hiền Thánh. Mình ao ước, mình ước nguyện, mình ước mong tâm mình được hòa nhịp với các bậc hiền Thánh, được hiền thiện, được hòa tan trong trái tim của các bậc trí đức vẹn toàn cho nên mình vui, dù mình đói thiếu nhưng mình vẫn vui, mình bị lãng quên nhưng mình vui, mình bị mắng chửi, chỉ trích nhưng vẫn vui, không phải mình chỉ vui khi chỉ được năm dục mà mình vui khi lìa năm dục, khi mất năm dục, khi bị tổn hại, cái vui đó là cái vui chân thành của pháp, đó là hỷ lạc của sơ thiền, hỷ lạc do ly dục sanh.
Không phải lúc mình ngồi mới được sơ thiền, ngay trong lúc sinh hoạt mình tác ý được như vậy, mình hoan hỉ trong những điều đáng ra không hoan hỉ, mình vẫn hỷ lạc khi bị chê, khi bị thiếu thốn, nghèo khó, khi bị người ta khinh khi, chỉ có các bậc Thánh mới là các bậc cao thượng, tối thượng, mình còn phàm nên bị người ta chê là đúng rồi nên phải cảm ơn người ta, mình phải cố gắng vượt qua khỏi cái thấp hèn này.
Cái tác ý rất tuyệt diệu, trong hoàn cảnh nào mình cũng hân hoan, hạnh phúc, mình cũng hỷ lạc, mình học được biết bao đức hạnh, trong mỗi hoàn cảnh mình có pháp đối trị, có cách thiện xảo để chuyển tâm, chuyển cái niệm, chuyển suy nghĩ, nhận thức của mình. Đó là mình vận dụng bài kinh khu rừng sừng bò vào đời sống sinh hoạt, nếu không mình chỉ nghĩ đó là đức hạnh của các ngài, còn mình phàm phu không làm được, ngược lại mình phải ứng dụng những đức hạnh hiền thiện, cao thượng này vào đời sống sinh hoạt của mình, đó là đức hạnh của các bậc thượng nhân.
Khi đi khất thực thì mình thấy vui, "mừng quá, vui quá khi làm kẻ ăn xin. Người ta vui khi bước lên những địa vị cao sang, mình vui khi được trút bỏ những địa vị đó, trở thành người thấp kém nhất trên cuộc đời này", cái vui của người tu Thánh đệ tử rất lạ, cái vui ngược đời. Người ta bước lên những địa vị cao sang, quyền uy, danh vọng nên người ta vui, còn mình được trút bỏ những địa vị đó để thành kẻ thấp kém nhất, bần cùng nhất, ôm bình bát đi ăn xin thì mình vui, mình trở về bản chất thật sự của tứ đại này.
Dù chúng ta không ôm bình bát thì chúng ta cũng ăn xin chứ không phải ôm bình bát mới là ăn xin, mỗi hơi thở chúng ta là ăn xin phong đại, mỗi ngụm nước uống vào là mình đi ăn xin thủy đại. Dù cho có là đại gia tỷ phú nhất hành tinh cũng là người ăn xin tứ đại, nếu không ăn xin phong đại thì chúng ta ngừng thở là xong cuộc đời, cho nên chúng ta là kẻ ăn xin đất, ăn xin nước, ăn xin gió, ăn xin lửa.
Chúng ta ăn xin tình thương của người ta, ăn xin sự xót thương của người ta, người ta thương thì mình sống, người ta không thương là mình muốn chết, "anh không thương em nữa là em chết", thật là khổ mà, mình tu chỉ ăn xin pháp thôi, ăn xin chân lý, mình không thèm ăn xin những cái thấp hèn, những cái phàm tục hạ liệt nữa, thương thì mình biết là thương, không thương thì mình biết là không thương nữa, dù thương hay ghét thì cuối cùng cũng như tro tàn cho nên mình không nắm bắt vào lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ, mình quán xả thọ.
Nếu đi tu mà nghe con, nghe cháu ở nhà nói "mẹ ơi, bà ơi, con nhớ mẹ, nhớ bà quá", tu không vững thì về nhà sớm, nếu không thì ngồi thiền mà gương mặt cháu nội, cháu ngoại cứ hiện ra nên tu cũng không được, cho nên trở về bản vị của mình là kẻ ăn xin, ăn xin pháp của bậc Thánh hiền chứ không ăn xin những cái làm cho mình tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não, cho nên ôm bình bát là nhớ lại ngài Ca-diếp, mình ôm bình bát là đi chung với những bậc tôn giả Thánh đức cho nên đạp đá, đạp sỏi, đạp gai nhưng vẫn hạnh phúc, lạy đến khi chân sưng đau nhưng vẫn vui, hoan hỉ, cam tâm tình nguyện, khóc rồi cười, hết cười lại khóc, nhưng khóc hay cười cũng đều ở trong một sự hạnh phúc tuyệt vời, đó là hỷ với ưu trong thánh pháp, thiện pháp, chúng ta sẽ ít có cảm giác bất khổ bất lạc mà sẽ có hỷ và ưu trong thiện pháp, đó là tinh thần của kinh Nikāya dạy mình.
Trước khi nghe dòng pháp này mình cứ nghe giảng cũng đơ đơ, lạy thì lạy, đọc thì đọc, tụng thì tụng cho hết bài cũng không biết nói cái gì, còn khi tu Nikāya là nước mắt ràng rụa đầy mặt, lông tóc dựng đứng, chấn động thân tâm, có khi mình vui, mình hân hoan, sung sướng chứa không thân không nổi phải tràn ra ngoài, đó là lý do vừa nghe "Về núi yên tu thật tuyệt vời" là nước mắt tràn ra. Có cô trình pháp nói tết năm nay không mua đồ mới, chỉ mặc cái áo bình thường rồi nhớ đến ngài Maha Ca-diếp, mùa xuân này cùng hưởng xuân với tôn giả đại đầu đà, không chưng diện nữa, không trang điểm, trang sức, mỹ phẩm nữa mà làm đẹp từ trong tâm hiền, tâm từ vi diệu.
Không cần những cái đẹp phù phiếm giả tạo, đeo trang sức nhiều để cướp lại thăm, có những đứa trẻ cha mẹ cho đeo vòng vàng rồi cuối cùng bị hại, người lớn cũng vậy. Nếu mình muốn vẻ đẹp hiền thiện, thánh thiện, mình không chạy theo những vẻ đẹp hào nhoáng bề ngoài, vẻ đẹp giả tạo đem đến khổ, bất an, lo lắng và sợ hãi là mình đang học theo hạnh của ngài Ca-diếp. Ngài mặc cái áo cũ nhưng chư thiên quỳ lạy dưới chân ngài, vua trời lạy dưới chân ngài.
Lâu lâu mình mặc cái y phấn tảo rồi học hạnh ngài Ca-diếp, mình thiền quán về ngài Maha Ca-diếp để mình có thể chạm tới chiếc y cũ rách mà thần thánh đến nỗi chư thiên phải đội lên đầu, cúi lạy chiếc y đó, y đó gọi là vô thượng phước điền y, chiếc áo ruộng phước tối tôn, tối thượng của chư thiên và loài người. Chúng ta phải mặc chiếc y đó để càng ngày chúng ta càng được gần Phật và các bậc Thánh, khoảng cách giữa chúng ta và Phật, các bậc Thánh hiền ngày càng được rút ngắn.
Có ai hạnh phúc bằng chúng ta không? Chúng ta phải chạm được vào bàn chân của các tôn giả, chúng ta phải rờ vào y phấn tảo của ngài Maha Ca-diếp, hôm nay chúng ta đầu trần chân đất, dãi nắng dầm sương để xuyên không trở về gần với đấng đại từ tôn và các bậc Thánh đức, không uổng một cuộc hành hương vĩ đại của mùa xuân Quý Mão 2023. Không uổng một chuyến đi 2 tuần, phải bỏ chồng, bỏ con, bỏ nhà cửa, bỏ thú vui của phàm tục để hưởng thú vui cao thượng, vi diệu ngọt ngào, rộng lớn cùng khắp. Chúng ta phải nhớ thân xuất gia và tâm xuất gia, sau khi mình trả pháp y lại thì thân tại gia nhưng tâm vẫn xuất gia, đừng chạy theo những cái phàm tục của thế gian, không có lợi ích gì cả, đặt trọn tâm mình vào thánh pháp.
"Này Hiền giả Moggallana, hạng Tỳ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?
-- Ở đây, này Hiền giả Sariputta, hai Tỳ-kheo đàm luận về Abhidhamma (A-tỳ-đàm). Các vị ấy hỏi nhau câu hỏi, và khi được hỏi, các vị trả lời được với nhau chớ không dừng lại vì không trả lời được, và cuộc đàm luận về pháp được tiếp tục" (Trung Bộ Kinh, 32. Ðại kinh Rừng sừng bò)
Ngài Mục-kiền-liên làm chói sáng khu rừng này bằng những cuộc pháp đàm, đàm luận về pháp. Mỗi lần chúng ta an tịnh, lắng dịu, hoan hỉ, sáng tỏ đàm luận về pháp thì núi rừng này rực sáng, Linh Quy này chói lọi, non thiêng này bừng sáng. Mỗi khi chúng ta pháp đàm là chúng ta nhớ ngài Mục-kiền-liên, ngài Xá-lợi-phất dạy mình điều phục được tâm cho nên mỗi khi tâm mình không điều phục được thì phải nhớ ngài Xá-lợi-phất để điều phục được tâm. Khi nào chúng ta không nhớ tu thì chúng ta xa cách các ngài 26 thế kỉ, khi nào nhớ tu thì các ngài ở trước mặt, các ngài ở ngay trong tim, trong tâm tưởng của mình, chúng ta vận dụng những đức hạnh đó vào trong đời sống sinh hoạt của mình.
Điều sau cùng Đức Phật nhắc chúng ta là không được bỏ thiền định, thiền quán, tâm mình luôn suy nghĩ làm sao phải khéo thoát ra tâm mê này. Lúc nào mình cũng suy nghĩ làm sao để thoát ra tâm mê này, tâm cấu nhiễm này, tâm rác bẩn này, dù cho ngồi, đi, đứng hay nằm cũng không quên lau nhà, quét dọn, hốt rác, vệ sinh, lúc nào cũng nhớ điều đó, cho đến khi nào tâm mình khéo giải thoát các lậu hoặc, không còn chấp thủ trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì lúc đó làm chói sáng, rực sáng, bừng sáng ở khắp mọi lúc mọi nơi.
Trong kinh Nikāya dùng từ "bậc pháp nhãn, thánh nhãn, trí nhãn, minh nhãn, minh kiến", lấy những từ đó để quán chiếu. Như vậy là chúng ta có 4 buổi được nghe, được học, được thiền quán về đại kinh rừng sừng bò trong Trung Bộ Kinh, trong 4 buổi đó là 8 tiếng mình được đi về khu rừng Thánh để gặp các tôn giả và diện kiến Như Lai.
Khi trùng tiên lại bài kinh nào là con muốn chúng ta nhớ mãi không quên cho nên con ít khi nào giảng phớt qua, phải lặp tới lặp lui, lặp đi lặp lại để quý vị nhớ và cảm thọ sâu sắc những hình ảnh đó để ứng dụng tu tập. Chúng ta đừng quên những đức hạnh cao thượng, quý báu, hiền thiện và cao đẹp này, bất cứ lúc nào mình cũng có thể gặp cái ngài, ai thấy pháp là người đó thấy các bậc tôn giả, ai thấy pháp là người đó thấy được Thánh nhân, ai thấy pháp là người đó thấy được Đức Như Lai, ai thấy pháp là người đó thấy được Thánh chúng, thấy được Thánh đạo, thấy được Thánh trí, thấy được Thánh quả.
IV. Trình pháp
Phật tử 1: Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên các sư thầy, các Ni cô cùng các hiền trí trong đạo tràng Nikāya. Thật ra con phát biểu 2 lần nhưng lần nào cũng trong sự hồi hộp, trống không, sau 1 tuần trong khóa tu thì con đã quyết định ở lại cho nên hôm nay con vẫn còn ở đây để con hiểu sâu hơn về dòng pháp này. Trong con có rất nhiều cảm thọ, con cũng đang rất run và hồi hộp.
Sư Phụ: Nhắm mắt lại, hướng vào trong cảm thọ, niệm an tịnh, lắng dịu.
Phật tử 1: Thọ của con sáng hôm nay rất hoan hỉ, không gian yên tĩnh, một sự nghiêm trang, uy nghiêm của đạo tràng làm con thấy rất hạnh phúc khi vẫn còn ở đây, được nghe thầy giảng pháp cùng các hiền trí, sư thầy, sư cô, tất cả mọi người đều dễ thương và giúp đỡ lẫn nhau. Con chưa bao giờ đến một nơi nào có tập thể đông người mà có được những tình thương, những sự chăm chút lẫn nhau nhiều như vậy. Trong bài thiền quán của thầy hiện lên trong con hình ảnh của ngài Ca-diếp, đức hạnh của ngài, sự cần kiệm của ngài làm con tưởng đến chính bản thân mình, sắc con đang quỳ trước sư phụ.
Tuổi trẻ có tiền thì mình hay xài phung phí, con suy nghĩ mình cần phải có những sự học hỏi đức hạnh của ngài Ca-diếp để biết tiết kiệm hơn. Ý hành con nói rất nhiều, mình cần phải học rất nhiều từ các ngài, thức trong con rõ biết thọ; tưởng; hành đang vận hành trong con. Con xin tri ân sư phụ, tri ân các thầy, các cô cùng đạo tràng nơi đây đã cho con những giây phút ấm áp, bình yên trong mùa xuân năm nay.
Sư Phụ: Rất là tốt, nhiều khi mình chỉ cần bớt một chút phung phí của mình là có thể đem lại hạnh phúc lớn lao cho những người nghèo đói, các bạn trẻ và các vị sau khi trở về nhà phải nhớ câu này, có khi một sự phung phí của mình là cả một tháng trời làm trong mồ hôi, nước mắt và máu của những người nghèo khổ. Cho nên mình có phước thì hãy nhớ đến những người thiếu phước, mình có tiện nghi đầy đủ thì hãy nhớ đến những người ngoài kia còn đang đói khát, lạnh lẽo, còn đang thiếu thốn, bệnh hoạn, chết oan, đúng ra chưa chết nhưng vì không có tiền mua thuốc nên phải chết, chết trước cửa bệnh viện.
Sư bà Chứng Nghiêm bên Đài Loan lập hội từ tế có sức ảnh hưởng toàn cầu. Tại sao sư bà lập nên? Vì khi sư bà còn trẻ nhìn thấy một thai phụ sắp sanh nhưng không có tiền đóng viện phí nên người ta không nhận, sau đó có những điều đáng tiếc xảy ra, hình ảnh đó đập vào mắt sư bà nên sau này sư bà quyết tâm nuôi chí nguyện lập bệnh viện Phật giáo miễn phí cho những người nghèo khổ. Cho nên hãy tiếc phước của mình, hãy biết cần kiệm là đức hạnh thanh cao, hãy thường nghĩ đến người nghèo khổ trong cái ăn của mình, trong cái mặc của mình, trong sinh hoạt của mình, hãy nhớ rằng có biết bao người thiếu thốn, khó khăn, bệnh tật, hãy giữ lại một chút để chia sẻ tình thương, đó là phước lành trong hiện tại và tương lai của mình.
Cô Trang Trần: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con cung kính kính bạch trên sư phụ tôn kính, con cung kính kính bạch trên chư tôn hiền đức, chư Tăng, chư Ni cùng quý chư hiền. Được sư cho phép của sư phụ con xin phép nói lên dòng cảm thọ của con trong buổi sáng hôm nay, trong suốt những ngày qua con cảm ơn sư phụ rất nhiều, sư phụ đã dùng nhiều phương tiện dẫn dắt cho chúng con tu học. Như sáng nay sư phụ đã dùng thanh gươm trí tuệ Thánh trí của Đức Thế Tôn để lại để chúng con thấy rõ sự thật bản chất của đời sống này, thân tâm mình. Trong con có hai dòng cảm thọ, thọ ưu và xót xa, khi quán tưởng theo lời sư phụ dẫn nhập thì con thấy người mình như bị lột toàn thể da xương, mọi thứ để một nơi, đây là tóc, đây là lông, đây là móng, đây là răng, lột hết một lớp da ra, dưới lớp da là lớp mỡ mỏng bao phủ gân và những đường máu.
Rạch từ lồng ngực xuống moi móc ra, nhìn kĩ đi, đây là tim, đây là gan, đây là phổi, đây là thận, đây là tủy, đây là máu và xương, đây là ruột già, đây là ruột non đang bọc những thứ dơ bẩn bất tịnh trong thân thể này, bây giờ nó ra toàn đồ dơ bẩn. Đó là tưởng của con, hành thầm nói "nhìn kĩ đi, chỗ nào, vật nào trong thân này là Trang Trần? Trần Thị Mỹ Trang nằm chỗ nào? Nhìn kĩ coi, thấy chưa, rõ chưa? Thế Tôn ơi, con đã lầm rồi, con sợ lắm", thức con rõ biết, quay về an tịnh nương theo hơi thở thực hành tỉnh giác theo lời dẫn nhập của sư phụ, con hướng tâm về dòng cảm thọ thương xót, trong chiến tranh xảy ra hiện tại, tưởng trong con là cuộc chiến tranh khốc liệt, máu chảy vì bom đạn, xác chồng xác, hoảng loạn, chạy tán loạn, một cảm giác trong con là sự lạnh lùng, sợ hãi sau khi chiến tranh qua đi, để lại sự đổ nát khốc liệt. Những người bị thương tích, bị què quặt, rất kinh hãi cho kiếp người, thương xót những em bé bị bỏ rơi ở cổng chùa, khi ra đời không biết mặt cha mẹ là ai.
Thương những cụ già neo đơn phải đầu đường xó chợ kiếm từng miếng ăn, con quán tưởng lại trước đây còn bán quán cơm chay thì con thương lắm, nhà con gần chợ nên những mảnh đời khổ, các khuôn mặt bị bệnh down, thiếu trí nhớ quẩn quanh khu chợ, mỗi trưa con làm cho mỗi vị một hộp rồi mang ra chợ. Hành trong con thầm nói "xót thương cho kiếp người, con phải thoát ra, phải ráng tu hành, phải học hạnh cần kiệm, biết đủ, phải giành dụm tiền để san sẻ, chia sớt cho những mảnh đời bất hạnh".
Con cảm ơn sư phụ nhiều lắm, hôm nay sư phụ xuống núi về chùa để lo Phật sự, 16 là con xuống núi, không biết thầy trò còn gặp được không, giờ phút này con xin tri ân trên sư phụ tôn kính, trong 2 tuần qua đã dùng nhiều phương tiện cho chúng con và bản thân con đã nhập vào vi diệu pháp của Đức Thế Tôn hơn 2600 năm qua, con vô cùng sung sướng. Một lần nữa, con vô lượng lần tri ân trên sư phụ, con tri ân trên chư tôn hiền đức, chư Tăng, chư Ni và quý chư hiền đã cho con nương tựa cùng hòa nhập vào đại chúng cùng tu tập trong 2 tuần. Con cảm ơn tất cả các cô các chú nhà bếp, con cảm ơn tất cả các chú quay phim, con cảm ơn vùng trời này, vùng đất này cho con không khí mát mẻ, con cảm ơn chư vị hữu tình, chư thiên ở vùng đất này cho con sự bình yên, an tịnh trong những ngày tu học ở đây. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
./.
Vận Dụng Vào Đời Sống
Chói Sáng Núi Rừng
Đại Kinh Rừng Sừng Bò 4
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chói sáng núi rừng PAGEREF _Toc157711645 \h 1
II. Trình pháp PAGEREF _Toc157711646 \h 4
III. Đại kinh rừng sừng bò PAGEREF _Toc157711647 \h 5
IV. Trình pháp PAGEREF _Toc157711648 \h 14
I. Chói sáng núi rừng
Ở núi mình ngồi ngắm bình minh,
Sương mây bao phủ khắp thân hình.
Núi đồi trắng xóa thần tiên cảnh,
Tuệ nhật vừa lên tâm an bình.
Ở núi chuyên tu thật là hăng,
Trong lòng hừng hực ngọn lửa Tăng.
Tham, sân sinh khởi đều cháy sạch,
Thân tâm mát lạnh như giá băng.
Ở núi chuyên tu thật uy hùng,
Ngày đêm ra trận đánh tận cùng.
Diệt tan, diệt sạch, cùng diệt tận,
Diệt hết vô minh, minh tương phùng.
Ở núi không gian lặng như tờ,
Thiền hành quanh thất dường trong mơ.
Bao năm xuôi ngược theo trần cảnh,
Giờ đây mình ngồi vui vô bờ.
Ở núi không gian tự thiên nhiên,
Thánh tri kiến hiện tại mục tiền.
Vận hành tư sát tiêu lậu hoặc,
Buổi sáng diệu kỳ thật bình yên.
Ở núi không gian thoát trần gian,
Trời mây, non nước rộng thênh thang.
Quán nhìn Tam giới tuồng mộng ảo,
Tình thương dào dạt khắp chứa chan.
Ở núi không gian quá diệu kỳ,
Bức tranh vĩ đại khó đâu bì.
Mênh mông một cõi tâm vô lượng,
Hạnh nguyện xuất trần nhập Vô vi.
Ở núi không gian cảnh Phạm thiên,
Vô dục. không tham, chẳng lụy phiền
An nhiên ly dục, sanh hỷ lạc,
Nhẹ nhàng thể nhập vào Sơ thiền.
Ở núi không gian một mình ta,.
Dục trần nay đã vượt thoát xa
Tâm bình, thế giới đều bình đẳng,
Công đức, phước báu số Hằng sa.
Ở núi không gian lặng như tờ,
Quán sâu ngũ dục, đời mộng mơ.
Vở tuồng sầu, bi, khổ, ưu, não,
Hết rồi, vượt qua đến bến bờ.
Ở núi không gian đẹp vô vàn,
Trải tâm trùm khắp cả ba ngàn.
Xét cho tường tận bản tánh Sắc,
Bọt nước nguy nan, đầy bất an.
Ở núi không gian chẳng rộn ràng,
Bình tâm diệt dục, trị tham sân.
Hằng giờ nhiếp phục tên bản ngã,
Lợi danh, hướng ngoại thảy biến tan.
Ở núi không gian thật chứa chan,
Nếu ai có đến để cúng vàng.
Thọ yên, tâm chẳng hề dao động
Phá tan ái luyến chẳng buộc ràng.
Ở núi trao dồi đức hạnh cao,
Chớ cho cấu nhiễm cùng kiêu ngạo.
Khiêm cung, khiêm tốn, luôn khiêm hạ,
Khiêm nhường, khiêm nhã đẹp biết bao!
Ở núi trau dồi thiền định mau,
Chớ cho lười biếng được nhuốm vào.
Nhiếp phục thân tâm theo khuôn phép,
Thả lỏng, buông lung phải cúi đầu.
Ở núi trau dồi tuệ quán sâu,
Ngũ uẩn tinh ranh bị soi thấu.
Dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu
Diệt sạch không còn, hết lo âu.
Ở núi trau dồi giải thoát trí,
Thoát ra khổ, ưu, não, sầu, bi.
Vượt ngoài cảnh sanh, già, bệnh, chết,
Thể nhập bất tử, dứt ái si.
II. Trình pháp
Cô Hiền Hằng: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch tên quý thầy, quý Ni, quý sư cô cùng toàn thể đại chúng. Kính bạch sư phụ, pháp danh con là Hiền Hằng, chỉ còn vài giờ nữa chúng con lại rời xa nơi đây, ngôi nhà Linh Quy đã cho chúng con nhiều lắm. Lần trở về Linh Quy này là lần thứ hai của con, được trở về Linh Quy lần này con cảm nhận được tình thương, lòng bi mẫn của sư phụ cũng như quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các hiền trí nơi đây thật ấm áp, thật dịu ngọt, thật thanh cao và chưa đâu con có được trong suốt cả kiếp người, trong cuộc đời này thậm chí trong ngôi nhà con đang sống cũng không có được, vậy mà nơi ngôi nhà Linh Quy này sư phụ, quý thầy, quý sư cô, quý Ni sư đã cho con được điều đó, con thấy thật linh thiêng vô cùng tận.
Con nghĩ đây cũng là dấu ấn để con mang theo trong cuộc đời tu hành. Kính thưa sư phụ, dẫu biết rằng con nói bao nhiêu ngôn từ cũng không thể nói hết được lời tri ân, biết ơn đối với Đức Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã trao truyền dòng chánh pháp này để cứu vớt những chúng sanh đau khổ như con. Dòng chánh pháp này được sự chỉ dạy truyền trao của sư phụ, con thấy sư phụ như mẹ hiền của con, tâm con đã rất rung động.
Kính thưa sư phụ, con biết ơn Đức Thế Tôn, con biết ơn sư phụ. đến cuối đời con đã thấy được tâm của mình, điều này đúng là không tưởng, trước đây khi chưa được gặp chánh pháp của Đức Thế Tôn, chưa được nghe những lời chỉ dạy của sư phụ thì con rất tăm tối, con nghĩ thân này, tâm này là con để rồi con sống trong đau khổ trong thời gian quá dài, con đau khổ rồi con làm cho những người sống chung cũng khổ đau.
Giờ đây con thật hạnh phúc, những lời pháp mà sư phụ cho con như thấm đẫm vào tâm con. Con chúc sư phụ, chúc quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng đại chúng sẽ lan tỏa thánh pháp này, trước tiên với gia đình con, với những người có duyên với con sẽ lan tỏa, con thương mọi người vì họ đang bị vô minh bao trùm, đang bị nó sai sử, sai khiến, nó hành hạ, chỉ nghĩ đến đây thôi là tình thương trong con đã trào dâng, con chỉ thấy thương, thấy xót xa cho tất cả. Con xin cung kính tri ân Đức Thế Tôn, con xin cung kính tri ân sư phụ, xin cung kính tri ân quý thầy, quý Ni sư, quý sư cô cùng tất cả các bậc hiền trí nơi đây đã cho con một mùa xuân thật đáng nhớ, không bao giờ con có thể quên. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
III. Đại kinh rừng sừng bò
Sư Phụ: Hôm trước chúng ta nghe bài kinh rừng sừng bò, đức hạnh của các bậc Thánh Tăng, hôm nay chúng ta chia sẻ thêm về đức hạnh của các bậc Thánh chúng, về hạnh của ngài Revata (Ly-bà-đa), ngài Maha Moggallana (Ðại Mục-kiền-liên), ngài Maha Kassapa (Ðại Ca-diếp), ngài Anuruddha (A-na-luật-đà), ngài Sariputta (Xá-lợi-phất).
"Này Hiền giả Revata, hạng Tỳ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?
-- Ở đây, này Hiền giả Sariputta, Tỳ-kheo ưa thích đời sống tịnh cư, vui thú đời sống tịnh cư, nội tâm tu pháp, tịnh chỉ, không gián đoạn thiền định, thành tựu quán hạnh, luôn luôn lui tới các chỗ không tịch" (Trung Bộ Kinh, 32. Ðại kinh Rừng sừng bò)
"Này Hiền giả Kassapa, hạng Tỳ-kheo nào làm sáng chói khu rừng Gosinga?
-- Ở đây, này Hiền giả Sariputta, Tỳ-kheo, tự mình sống ở rừng núi và tán thán đời sống ở rừng núi, tự mình sống khất thực, và tán thán đời sống khất thực, tự mình mặc y phấn tảo và tán thán hạnh mặc y phấn tảo, tự mình sống với ba y và tán thán hạnh ba y, tự mình sống thiểu dục và tán thán hạnh thiểu dục, tự mình sống biết đủ và tán thán hạnh biết đủ, tự mình sống độc cư và tán thán hạnh sống độc cư, tự mình sống không nhiễm thế tục và tán thán hạnh không nhiễm thế tục, tự mình tinh cần, tinh tấn và tán thán hạn tinh cần, tinh tấn, tự mình thành tựu giới hạnh và tán thán sự thành tựu giới hạnh, tự mình thành tựu Thiền định và tán thán sự thành tựu thiền định, tự mình thành tựu trí tuệ và tán thán sự thành tựu trí tuệ, tự mình thành tựu giải thoát và tán thán sự thành tựu giải thoát, tự mình thành tựu giải thoát tri kiến và tán thán sự thành tựu giải thoát tri kiến" (Trung Bộ Kinh, 32. Ðại kinh Rừng sừng bò)
Mỗi một vị Thánh Tăng cho chúng ta một bài học, chúng ta không chỉ nghe đức hạnh của các ngài mà còn lấy đó làm tấm gương để học tập. Ví dụ nếu chúng ta biết thực tập theo hạnh của ngài Revata sẽ rất hay, có những trường hợp mình ở một mình không có ai cả mà không biết tu là mình sẽ buồn, nếu lớn tuổi có khi mình trách con cháu, bây giờ mình nắm bắt cơ hội ngay đó thực hành cái hạnh sống một mình, những lúc ngồi đợi xe, đợi máy bay, những lúc gia đình đi hết mình ở một mình hoặc những lúc mình nằm bệnh một mình thì mình lấy những pháp tu này ra thực tập để không trách, không hờn, ngược lại mình hoan hỉ vì được ở một mình. Ví dụ trước giờ mình chưa từng lên núi tu một mình, chưa từng rời xa gia đình, chưa từng ngủ một mình mà bây giờ đi một mình, ngủ một mình, tu một mình thì mình phải thấy vui lên, mình thấy mình đang có cơ hội quý báu.
Khi mình nhắm mắt ra đi có ai chịu đi theo mình lúc đó không? bây giờ mình còn sống thì cái gì cũng rủ người này người kia, ăn cũng rủ ăn chung cho vui, nhiều khi tu cũng phải có người mới tu, không có người thì làm biếng không tu. Đến khi mình chết, mình bệnh thì lúc đó mình phải đối diện một mình, cho nên trong những khoảnh khắc ở một mình thì mình phải lấy đó làm cơ hội, lấy đó làm đề mục, lấy đó làm sự hoan hỉ để thực tập vì trước sau gì mình cũng đi một mình. Mình càng quấn quýt với nhau chừng nào thì khi một trong hai người ra đi, người còn lại sẽ đau khổ nhiều chừng đó cho nên mình phải tập sống một mình trong những lúc mình có thể.
Khi mình tiếp xúc liên tục, mình cứ nhìn, cứ nghe, cứ nói, cứ gặp gỡ thì mình sẽ không thấy được sự sâu sắc bên trong mình, chỉ khi ở một mình mới cảm nhận được sâu sắc những gì đang sanh khởi bên trong, đang có mặt bên trong, đang vận hành bên trong, nó đang quậy phá mình như thế nào thì mình tu mới sâu sắc, mới vi tế. Ví dụ trong hoàn cảnh nào đó mà ăn uống thiếu thốn, không đầy đủ tiện nghi mà không biết tu thì mình sẽ buồn, trách, sẽ phiền, sẽ sân, còn biết tu sẽ thấy đây là cơ hội để mình thực tập ít muốn biết đủ, chỗ này nếu biết tác ý chuyển tâm mình sẽ rất hay.
Khi mình đi khất thực nhưng đi sau cùng, đồ ăn hết, chỉ còn sót lại chút ít không đủ no, nếu không biết tu thì bực bội, khó chịu, "sao ăn hết không chừa tôi", đó là ý niệm phàm phu, còn ý niệm của người biết tu là "hôm nay mình có bài tập, hôm nay mình có cơ hội học theo hạnh ngài Maha Ca-diếp ít muốn biết đủ, cơm trắng chan nước tương ăn cũng được, phải quán nhàm chán thức ăn, quán thức ăn này bẩn thỉu, khi nuốt vào miệng vào trong thì nó thành cái gì, khi nó đi ra thì thành cái gì mà sao giờ mình phải sân hận, khó chịu? Tại sao mình phải bỏ quá nhiều thời gian cho việc này?". Ở nhà phải lo cho chồng con hoặc trách nhiệm phải lo cho đại chúng thì khác, còn nếu một mình thì phải tiết độ trong ăn uống, để dành thời gian học kinh, nghe pháp, ngồi thiền, thiền quán, đi thiền hành, bớt thời gian lo cái ăn, cái mặc, cái ở, sống một đời sống ít muốn biết đủ theo hạnh của ngài Maha Ca-diếp.
Nếu lỡ mình bị hiểu lầm, bị xúc phạm, bị chỉ trích có khi đúng, có khi không đúng thì lúc đó phải nhìn lại tâm mình, học theo hạnh của ngài Phú-lâu-na.
"Này Punna, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc Ông, nhục mạ Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu người nước Sunaparanta mắng nhiếc con, nhục mạ con, thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy tay đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ như thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy tay đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là thiện, người nước Sunaparanta này! Thật là chí thiện, người nước Sunaparanta này! Vì rằng họ không lấy các cục đất ném đánh ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy! Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy các cục đất ném đánh Ông, thời này Punna, tại đấy Ông sẽ nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy cục đất ném đánh con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy gậy đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy gậy đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao đánh đập ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunapa ranta lấy dao đánh đập Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao đánh đập con; thời tại đấy, con sẽ nghĩ như sau: 'Thật là hiền thiện, các người nước Sunaparanta! Thật là chí thiện, các người nước Sunaparanta! Vì rằng họ không lấy dao sắc bén đoạt hại mạng ta'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy.
-- Nhưng này Punna, nếu các người nước Sunaparanta lấy dao sắc bén đoạt hại mạng Ông, thời này Punna, tại đấy Ông nghĩ thế nào?
-- -Bạch Thế Tôn, nếu các người nước Sunapa ranta sẽ lấy dao sắc bén đoạt hại mạng con; thời tại đấy con sẽ nghĩ như sau: 'Có những đệ tử của Thế Tôn, ưu phiền và nhàm chán thân thể và sinh mạng đi tìm con dao (để tự sát). Nay ta khỏi cần đi tìm đã được con dao ấy'. Bạch Thế Tôn, tại đấy con sẽ nghĩ như vậy. Bạch Thiện Thệ, tại đấy, con sẽ nghĩ như vậy.
-- Lành thay, lành thay, này Punna! Này Punna, Ông có thể sống trong nước Sunaparanta, khi Ông có được đầy đủ sự nhiếp phục và an tịnh này. Này Punna, Ông nay hãy làm những gì Ông nghĩ là hợp thời". (Trung Bộ Kinh, 145. Kinh Giáo giới Phú-lâu-na)
Mỗi một trường hợp như vậy mình nhớ lại đức hạnh của một bậc Thánh, chúng ta phải chiến đấu với cơn buồn ngủ vì chỉ còn vài tiếng nữa thôi là chúng ta trở về rồi, ngày mai có muốn cũng không còn được ngồi đây nữa, biết đâu vô thường đến mình không còn trở lại đây nữa thì sao, ai có thể nói trước được điều gì cho nên phải tỉnh lên, phải mạnh mẽ lên. Mỗi một sự việc, mỗi một hoàn cảnh thì trong mình đều có hình bóng của một tôn giả hiện ra, như vậy mình có chỗ nương dựa tinh thần, mình có chỗ hướng thượng, thường tới thì mình sẽ thấy không phải mình tu một mình, mình muốn gặp ngài Ca-diếp là mình thấy liền, mình muốn tu với ngài A-nan là mình tu liền, mình muốn tu với ngài Phú-lâu-na là mình tiếp xúc được với ngài, mình có thể chạm vào bàn chân của ngài Upali.
Như vậy mình được tu chung với các bậc hiền Thánh, thật tuyệt vời, không phải tu một mình mà buồn, mình ở một mình là do mình không muốn ở chung với hạng người tham, sân, si, bản ngã, thật sự ngao ngán nhưng mình muốn ở chung với các bậc hiền Thánh. Mình ao ước, mình ước nguyện, mình ước mong tâm mình được hòa nhịp với các bậc hiền Thánh, được hiền thiện, được hòa tan trong trái tim của các bậc trí đức vẹn toàn cho nên mình vui, dù mình đói thiếu nhưng mình vẫn vui, mình bị lãng quên nhưng mình vui, mình bị mắng chửi, chỉ trích nhưng vẫn vui, không phải mình chỉ vui khi chỉ được năm dục mà mình vui khi lìa năm dục, khi mất năm dục, khi bị tổn hại, cái vui đó là cái vui chân thành của pháp, đó là hỷ lạc của sơ thiền, hỷ lạc do ly dục sanh.
Không phải lúc mình ngồi mới được sơ thiền, ngay trong lúc sinh hoạt mình tác ý được như vậy, mình hoan hỉ trong những điều đáng ra không hoan hỉ, mình vẫn hỷ lạc khi bị chê, khi bị thiếu thốn, nghèo khó, khi bị người ta khinh khi, chỉ có các bậc Thánh mới là các bậc cao thượng, tối thượng, mình còn phàm nên bị người ta chê là đúng rồi nên phải cảm ơn người ta, mình phải cố gắng vượt qua khỏi cái thấp hèn này.
Cái tác ý rất tuyệt diệu, trong hoàn cảnh nào mình cũng hân hoan, hạnh phúc, mình cũng hỷ lạc, mình học được biết bao đức hạnh, trong mỗi hoàn cảnh mình có pháp đối trị, có cách thiện xảo để chuyển tâm, chuyển cái niệm, chuyển suy nghĩ, nhận thức của mình. Đó là mình vận dụng bài kinh khu rừng sừng bò vào đời sống sinh hoạt, nếu không mình chỉ nghĩ đó là đức hạnh của các ngài, còn mình phàm phu không làm được, ngược lại mình phải ứng dụng những đức hạnh hiền thiện, cao thượng này vào đời sống sinh hoạt của mình, đó là đức hạnh của các bậc thượng nhân.
Khi đi khất thực thì mình thấy vui, "mừng quá, vui quá khi làm kẻ ăn xin. Người ta vui khi bước lên những địa vị cao sang, mình vui khi được trút bỏ những địa vị đó, trở thành người thấp kém nhất trên cuộc đời này", cái vui của người tu Thánh đệ tử rất lạ, cái vui ngược đời. Người ta bước lên những địa vị cao sang, quyền uy, danh vọng nên người ta vui, còn mình được trút bỏ những địa vị đó để thành kẻ thấp kém nhất, bần cùng nhất, ôm bình bát đi ăn xin thì mình vui, mình trở về bản chất thật sự của tứ đại này.
Dù chúng ta không ôm bình bát thì chúng ta cũng ăn xin chứ không phải ôm bình bát mới là ăn xin, mỗi hơi thở chúng ta là ăn xin phong đại, mỗi ngụm nước uống vào là mình đi ăn xin thủy đại. Dù cho có là đại gia tỷ phú nhất hành tinh cũng là người ăn xin tứ đại, nếu không ăn xin phong đại thì chúng ta ngừng thở là xong cuộc đời, cho nên chúng ta là kẻ ăn xin đất, ăn xin nước, ăn xin gió, ăn xin lửa.
Chúng ta ăn xin tình thương của người ta, ăn xin sự xót thương của người ta, người ta thương thì mình sống, người ta không thương là mình muốn chết, "anh không thương em nữa là em chết", thật là khổ mà, mình tu chỉ ăn xin pháp thôi, ăn xin chân lý, mình không thèm ăn xin những cái thấp hèn, những cái phàm tục hạ liệt nữa, thương thì mình biết là thương, không thương thì mình biết là không thương nữa, dù thương hay ghét thì cuối cùng cũng như tro tàn cho nên mình không nắm bắt vào lạc thọ, khổ thọ, bất khổ bất lạc thọ, mình quán xả thọ.
Nếu đi tu mà nghe con, nghe cháu ở nhà nói "mẹ ơi, bà ơi, con nhớ mẹ, nhớ bà quá", tu không vững thì về nhà sớm, nếu không thì ngồi thiền mà gương mặt cháu nội, cháu ngoại cứ hiện ra nên tu cũng không được, cho nên trở về bản vị của mình là kẻ ăn xin, ăn xin pháp của bậc Thánh hiền chứ không ăn xin những cái làm cho mình tham, sân, si, sầu, bi, khổ, ưu, não, cho nên ôm bình bát là nhớ lại ngài Ca-diếp, mình ôm bình bát là đi chung với những bậc tôn giả Thánh đức cho nên đạp đá, đạp sỏi, đạp gai nhưng vẫn hạnh phúc, lạy đến khi chân sưng đau nhưng vẫn vui, hoan hỉ, cam tâm tình nguyện, khóc rồi cười, hết cười lại khóc, nhưng khóc hay cười cũng đều ở trong một sự hạnh phúc tuyệt vời, đó là hỷ với ưu trong thánh pháp, thiện pháp, chúng ta sẽ ít có cảm giác bất khổ bất lạc mà sẽ có hỷ và ưu trong thiện pháp, đó là tinh thần của kinh Nikāya dạy mình.
Trước khi nghe dòng pháp này mình cứ nghe giảng cũng đơ đơ, lạy thì lạy, đọc thì đọc, tụng thì tụng cho hết bài cũng không biết nói cái gì, còn khi tu Nikāya là nước mắt ràng rụa đầy mặt, lông tóc dựng đứng, chấn động thân tâm, có khi mình vui, mình hân hoan, sung sướng chứa không thân không nổi phải tràn ra ngoài, đó là lý do vừa nghe "Về núi yên tu thật tuyệt vời" là nước mắt tràn ra. Có cô trình pháp nói tết năm nay không mua đồ mới, chỉ mặc cái áo bình thường rồi nhớ đến ngài Maha Ca-diếp, mùa xuân này cùng hưởng xuân với tôn giả đại đầu đà, không chưng diện nữa, không trang điểm, trang sức, mỹ phẩm nữa mà làm đẹp từ trong tâm hiền, tâm từ vi diệu.
Không cần những cái đẹp phù phiếm giả tạo, đeo trang sức nhiều để cướp lại thăm, có những đứa trẻ cha mẹ cho đeo vòng vàng rồi cuối cùng bị hại, người lớn cũng vậy. Nếu mình muốn vẻ đẹp hiền thiện, thánh thiện, mình không chạy theo những vẻ đẹp hào nhoáng bề ngoài, vẻ đẹp giả tạo đem đến khổ, bất an, lo lắng và sợ hãi là mình đang học theo hạnh của ngài Ca-diếp. Ngài mặc cái áo cũ nhưng chư thiên quỳ lạy dưới chân ngài, vua trời lạy dưới chân ngài.
Lâu lâu mình mặc cái y phấn tảo rồi học hạnh ngài Ca-diếp, mình thiền quán về ngài Maha Ca-diếp để mình có thể chạm tới chiếc y cũ rách mà thần thánh đến nỗi chư thiên phải đội lên đầu, cúi lạy chiếc y đó, y đó gọi là vô thượng phước điền y, chiếc áo ruộng phước tối tôn, tối thượng của chư thiên và loài người. Chúng ta phải mặc chiếc y đó để càng ngày chúng ta càng được gần Phật và các bậc Thánh, khoảng cách giữa chúng ta và Phật, các bậc Thánh hiền ngày càng được rút ngắn.
Có ai hạnh phúc bằng chúng ta không? Chúng ta phải chạm được vào bàn chân của các tôn giả, chúng ta phải rờ vào y phấn tảo của ngài Maha Ca-diếp, hôm nay chúng ta đầu trần chân đất, dãi nắng dầm sương để xuyên không trở về gần với đấng đại từ tôn và các bậc Thánh đức, không uổng một cuộc hành hương vĩ đại của mùa xuân Quý Mão 2023. Không uổng một chuyến đi 2 tuần, phải bỏ chồng, bỏ con, bỏ nhà cửa, bỏ thú vui của phàm tục để hưởng thú vui cao thượng, vi diệu ngọt ngào, rộng lớn cùng khắp. Chúng ta phải nhớ thân xuất gia và tâm xuất gia, sau khi mình trả pháp y lại thì thân tại gia nhưng tâm vẫn xuất gia, đừng chạy theo những cái phàm tục của thế gian, không có lợi ích gì cả, đặt trọn tâm mình vào thánh pháp.
"Này Hiền giả Moggallana, hạng Tỳ-kheo nào có thể làm sáng chói khu rừng Gosinga?
-- Ở đây, này Hiền giả Sariputta, hai Tỳ-kheo đàm luận về Abhidhamma (A-tỳ-đàm). Các vị ấy hỏi nhau câu hỏi, và khi được hỏi, các vị trả lời được với nhau chớ không dừng lại vì không trả lời được, và cuộc đàm luận về pháp được tiếp tục" (Trung Bộ Kinh, 32. Ðại kinh Rừng sừng bò)
Ngài Mục-kiền-liên làm chói sáng khu rừng này bằng những cuộc pháp đàm, đàm luận về pháp. Mỗi lần chúng ta an tịnh, lắng dịu, hoan hỉ, sáng tỏ đàm luận về pháp thì núi rừng này rực sáng, Linh Quy này chói lọi, non thiêng này bừng sáng. Mỗi khi chúng ta pháp đàm là chúng ta nhớ ngài Mục-kiền-liên, ngài Xá-lợi-phất dạy mình điều phục được tâm cho nên mỗi khi tâm mình không điều phục được thì phải nhớ ngài Xá-lợi-phất để điều phục được tâm. Khi nào chúng ta không nhớ tu thì chúng ta xa cách các ngài 26 thế kỉ, khi nào nhớ tu thì các ngài ở trước mặt, các ngài ở ngay trong tim, trong tâm tưởng của mình, chúng ta vận dụng những đức hạnh đó vào trong đời sống sinh hoạt của mình.
Điều sau cùng Đức Phật nhắc chúng ta là không được bỏ thiền định, thiền quán, tâm mình luôn suy nghĩ làm sao phải khéo thoát ra tâm mê này. Lúc nào mình cũng suy nghĩ làm sao để thoát ra tâm mê này, tâm cấu nhiễm này, tâm rác bẩn này, dù cho ngồi, đi, đứng hay nằm cũng không quên lau nhà, quét dọn, hốt rác, vệ sinh, lúc nào cũng nhớ điều đó, cho đến khi nào tâm mình khéo giải thoát các lậu hoặc, không còn chấp thủ trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức thì lúc đó làm chói sáng, rực sáng, bừng sáng ở khắp mọi lúc mọi nơi.
Trong kinh Nikāya dùng từ "bậc pháp nhãn, thánh nhãn, trí nhãn, minh nhãn, minh kiến", lấy những từ đó để quán chiếu. Như vậy là chúng ta có 4 buổi được nghe, được học, được thiền quán về đại kinh rừng sừng bò trong Trung Bộ Kinh, trong 4 buổi đó là 8 tiếng mình được đi về khu rừng Thánh để gặp các tôn giả và diện kiến Như Lai.
Khi trùng tiên lại bài kinh nào là con muốn chúng ta nhớ mãi không quên cho nên con ít khi nào giảng phớt qua, phải lặp tới lặp lui, lặp đi lặp lại để quý vị nhớ và cảm thọ sâu sắc những hình ảnh đó để ứng dụng tu tập. Chúng ta đừng quên những đức hạnh cao thượng, quý báu, hiền thiện và cao đẹp này, bất cứ lúc nào mình cũng có thể gặp cái ngài, ai thấy pháp là người đó thấy các bậc tôn giả, ai thấy pháp là người đó thấy được Thánh nhân, ai thấy pháp là người đó thấy được Đức Như Lai, ai thấy pháp là người đó thấy được Thánh chúng, thấy được Thánh đạo, thấy được Thánh trí, thấy được Thánh quả.
IV. Trình pháp
Phật tử 1: Con kính bạch trên sư phụ, con kính bạch trên các sư thầy, các Ni cô cùng các hiền trí trong đạo tràng Nikāya. Thật ra con phát biểu 2 lần nhưng lần nào cũng trong sự hồi hộp, trống không, sau 1 tuần trong khóa tu thì con đã quyết định ở lại cho nên hôm nay con vẫn còn ở đây để con hiểu sâu hơn về dòng pháp này. Trong con có rất nhiều cảm thọ, con cũng đang rất run và hồi hộp.
Sư Phụ: Nhắm mắt lại, hướng vào trong cảm thọ, niệm an tịnh, lắng dịu.
Phật tử 1: Thọ của con sáng hôm nay rất hoan hỉ, không gian yên tĩnh, một sự nghiêm trang, uy nghiêm của đạo tràng làm con thấy rất hạnh phúc khi vẫn còn ở đây, được nghe thầy giảng pháp cùng các hiền trí, sư thầy, sư cô, tất cả mọi người đều dễ thương và giúp đỡ lẫn nhau. Con chưa bao giờ đến một nơi nào có tập thể đông người mà có được những tình thương, những sự chăm chút lẫn nhau nhiều như vậy. Trong bài thiền quán của thầy hiện lên trong con hình ảnh của ngài Ca-diếp, đức hạnh của ngài, sự cần kiệm của ngài làm con tưởng đến chính bản thân mình, sắc con đang quỳ trước sư phụ.
Tuổi trẻ có tiền thì mình hay xài phung phí, con suy nghĩ mình cần phải có những sự học hỏi đức hạnh của ngài Ca-diếp để biết tiết kiệm hơn. Ý hành con nói rất nhiều, mình cần phải học rất nhiều từ các ngài, thức trong con rõ biết thọ; tưởng; hành đang vận hành trong con. Con xin tri ân sư phụ, tri ân các thầy, các cô cùng đạo tràng nơi đây đã cho con những giây phút ấm áp, bình yên trong mùa xuân năm nay.
Sư Phụ: Rất là tốt, nhiều khi mình chỉ cần bớt một chút phung phí của mình là có thể đem lại hạnh phúc lớn lao cho những người nghèo đói, các bạn trẻ và các vị sau khi trở về nhà phải nhớ câu này, có khi một sự phung phí của mình là cả một tháng trời làm trong mồ hôi, nước mắt và máu của những người nghèo khổ. Cho nên mình có phước thì hãy nhớ đến những người thiếu phước, mình có tiện nghi đầy đủ thì hãy nhớ đến những người ngoài kia còn đang đói khát, lạnh lẽo, còn đang thiếu thốn, bệnh hoạn, chết oan, đúng ra chưa chết nhưng vì không có tiền mua thuốc nên phải chết, chết trước cửa bệnh viện.
Sư bà Chứng Nghiêm bên Đài Loan lập hội từ tế có sức ảnh hưởng toàn cầu. Tại sao sư bà lập nên? Vì khi sư bà còn trẻ nhìn thấy một thai phụ sắp sanh nhưng không có tiền đóng viện phí nên người ta không nhận, sau đó có những điều đáng tiếc xảy ra, hình ảnh đó đập vào mắt sư bà nên sau này sư bà quyết tâm nuôi chí nguyện lập bệnh viện Phật giáo miễn phí cho những người nghèo khổ. Cho nên hãy tiếc phước của mình, hãy biết cần kiệm là đức hạnh thanh cao, hãy thường nghĩ đến người nghèo khổ trong cái ăn của mình, trong cái mặc của mình, trong sinh hoạt của mình, hãy nhớ rằng có biết bao người thiếu thốn, khó khăn, bệnh tật, hãy giữ lại một chút để chia sẻ tình thương, đó là phước lành trong hiện tại và tương lai của mình.
Cô Trang Trần: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, con cung kính kính bạch trên sư phụ tôn kính, con cung kính kính bạch trên chư tôn hiền đức, chư Tăng, chư Ni cùng quý chư hiền. Được sư cho phép của sư phụ con xin phép nói lên dòng cảm thọ của con trong buổi sáng hôm nay, trong suốt những ngày qua con cảm ơn sư phụ rất nhiều, sư phụ đã dùng nhiều phương tiện dẫn dắt cho chúng con tu học. Như sáng nay sư phụ đã dùng thanh gươm trí tuệ Thánh trí của Đức Thế Tôn để lại để chúng con thấy rõ sự thật bản chất của đời sống này, thân tâm mình. Trong con có hai dòng cảm thọ, thọ ưu và xót xa, khi quán tưởng theo lời sư phụ dẫn nhập thì con thấy người mình như bị lột toàn thể da xương, mọi thứ để một nơi, đây là tóc, đây là lông, đây là móng, đây là răng, lột hết một lớp da ra, dưới lớp da là lớp mỡ mỏng bao phủ gân và những đường máu.
Rạch từ lồng ngực xuống moi móc ra, nhìn kĩ đi, đây là tim, đây là gan, đây là phổi, đây là thận, đây là tủy, đây là máu và xương, đây là ruột già, đây là ruột non đang bọc những thứ dơ bẩn bất tịnh trong thân thể này, bây giờ nó ra toàn đồ dơ bẩn. Đó là tưởng của con, hành thầm nói "nhìn kĩ đi, chỗ nào, vật nào trong thân này là Trang Trần? Trần Thị Mỹ Trang nằm chỗ nào? Nhìn kĩ coi, thấy chưa, rõ chưa? Thế Tôn ơi, con đã lầm rồi, con sợ lắm", thức con rõ biết, quay về an tịnh nương theo hơi thở thực hành tỉnh giác theo lời dẫn nhập của sư phụ, con hướng tâm về dòng cảm thọ thương xót, trong chiến tranh xảy ra hiện tại, tưởng trong con là cuộc chiến tranh khốc liệt, máu chảy vì bom đạn, xác chồng xác, hoảng loạn, chạy tán loạn, một cảm giác trong con là sự lạnh lùng, sợ hãi sau khi chiến tranh qua đi, để lại sự đổ nát khốc liệt. Những người bị thương tích, bị què quặt, rất kinh hãi cho kiếp người, thương xót những em bé bị bỏ rơi ở cổng chùa, khi ra đời không biết mặt cha mẹ là ai.
Thương những cụ già neo đơn phải đầu đường xó chợ kiếm từng miếng ăn, con quán tưởng lại trước đây còn bán quán cơm chay thì con thương lắm, nhà con gần chợ nên những mảnh đời khổ, các khuôn mặt bị bệnh down, thiếu trí nhớ quẩn quanh khu chợ, mỗi trưa con làm cho mỗi vị một hộp rồi mang ra chợ. Hành trong con thầm nói "xót thương cho kiếp người, con phải thoát ra, phải ráng tu hành, phải học hạnh cần kiệm, biết đủ, phải giành dụm tiền để san sẻ, chia sớt cho những mảnh đời bất hạnh".
Con cảm ơn sư phụ nhiều lắm, hôm nay sư phụ xuống núi về chùa để lo Phật sự, 16 là con xuống núi, không biết thầy trò còn gặp được không, giờ phút này con xin tri ân trên sư phụ tôn kính, trong 2 tuần qua đã dùng nhiều phương tiện cho chúng con và bản thân con đã nhập vào vi diệu pháp của Đức Thế Tôn hơn 2600 năm qua, con vô cùng sung sướng. Một lần nữa, con vô lượng lần tri ân trên sư phụ, con tri ân trên chư tôn hiền đức, chư Tăng, chư Ni và quý chư hiền đã cho con nương tựa cùng hòa nhập vào đại chúng cùng tu tập trong 2 tuần. Con cảm ơn tất cả các cô các chú nhà bếp, con cảm ơn tất cả các chú quay phim, con cảm ơn vùng trời này, vùng đất này cho con không khí mát mẻ, con cảm ơn chư vị hữu tình, chư thiên ở vùng đất này cho con sự bình yên, an tịnh trong những ngày tu học ở đây. Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật.
./.