Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Làm Sao Để Thành Người Xuất Gia Đúng Nghĩa 1

2026-03-03 00:56:16
KINH NIKAYA GIẢNG GIẢI – LÀM SAO ĐỂ THÀNH NGƯỜI XUẤT GIA ĐÚNG NGHĨA 1 – KINH XÓM NGỰA – TRUNG BỘ

Thích Minh Thành

Rõ biết trước mặt, cảm nhận hơi thở, cảm nhận cơ thể, cảm giác toàn thân. Thở vào làm cho thân an tịnh, thở ra làm cho tâm lắng dịu. An tịnh… lắng dịu… dễ chịu… ngọt ngào. Cảm giác hỷ lạc, người tu tâm thật là hiền, trong ngoài thanh tịnh nụ cười bình yên, chúng ta mỉm cười nhẹ lên.

Kính thưa đại chúng, hôm nay chúng ta học bài kinh cực kì quan trọng, bài kinh này Minh Thành đã chia sẻ cho các chư Tăng ở trường hạ Việt Nam Quốc Tự cách đây 1-2 năm. Bài kinh này là định nghĩa về người tu, người tu phải như thế nào mới đúng sẽ được nói đầy đủ trong bài kinh này cho chúng ta biết, đây mới là Phật pháp căn bản thật sự. Trung Bộ Kinh, tập 1, bài kinh số 39, tự đề của kinh nói về địa điểm có bài kinh này là Đại Kinh Xóm Ngựa.

Một thời Thế Tôn ở giữa dân chúng Anga (Ương- già), tại một xã ấp của dân chúng Anga, tên là Assapura (xóm Ngựa). Lúc bấy giờ Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:

Sa-môn! Sa-môn! Này các Tỳ-kheo, dân chúng biết các Ông là vậy. Và nếu các Ông được hỏi: "Các Ông là ai!" Các Ông phải tự nhận: "Chúng tôi là Sa-môn". Này các Tỳ-kheo, các Ông đã được danh xưng như vậy, đã tự nhận là như vậy, thì này, các Tỳ-kheo, các Ông phải tự tu tập như sau: "Chúng ta sẽ thọ trì và thực hành những pháp tác thành Sa-môn, những pháp tác thành Bà-la-môn. Như vậy, danh xưng này của chúng ta mới chân chánh và sự tự nhận này của chúng ta mới như thật. Và những đồ cúng dường mà chúng ta thọ hưởng như y phục, đồ ăn khất thực, sàng tọa, dược phẩm trị bệnh mới có được kết quả lớn, lợi ích lớn cho chúng ta. Và chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích". (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa)

Ở trên Đức Phật nêu ra cái danh, ở dưới Đức Phật nêu ra cái thật, cái kia chỉ là danh từ, còn cái này là nội dung, nội hàm, cái chất bên trong của người tu phải như thế nào. Các thầy, các cô phải tiếp nhận, giữ gìn, thực hành những pháp làm thành một người tu, khi các cô, các thầy được mọi người gọi mình là một tu sĩ thì các thầy, các cô phải làm những điều như thế này để trở thành một người tu sĩ thật thụ, trở thành một người xuất gia chân chánh thì cái danh xưng của các vị mới là một người tu chân chánh và danh xưng đó mới đúng sự thật. Chúng ta nhận những đồ cúng dường trong sự tu học đúng đắn thì cái nhận đó mới có kết quả lớn, lợi ích lớn và sự xuất gia của chúng ta không thành vô dụng mà sẽ trở thành có thành tích. Đây là lời mở đầu của Đức Phật, các cô các thầy nói mình là một người tu, một người xuất gia thì mình phải tiếp nhận, giữ gìn và thực hành những pháp tác thành một người tu, có như vậy tên gọi "người tu" mới đúng pháp, mới chân chánh và sự nhận mình là người tu mới đúng sự thật, nếu không chỉ là tu bề ngoài, tu trên hình thức và không phải là người chân tu. Đồ cúng dường mình thọ hưởng mới có kết quả lớn, lợi ích lớn. Có hai điều cần lưu ý: Mình nhận đồ cúng dường để tu thành tựu thì người cúng dường đó có kết quả, nếu không đó là tai họa. Kết quả hay tai họa đều do mình, nếu làm đúng lời dạy của Đức Phật thì có kết quả tốt, nếu không sự nhận cúng dường đó là tai họa, cho nên chúng ta xuất gia không thành vô dụng, có kết quả, có thành tích.

Này các Tỳ-kheo, thế nào là các pháp tác thành Sa-môn, và các pháp tác thành Bà-la-môn? "Chúng ta sẽ thành tựu tàm quý" (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Giới Hạnh))

Điều đầu tiên của người tu là tàm quý, cái này bây giờ chúng ta ít nghe nói nhưng nó lại quan trọng tuyệt đối, mọi người nghe thêm bài Từ Nhục Nhã Đưa Đến Thánh Quả trên trang linhquyphapan.vn, bài đó nói về sự tàm quý này. Có bài kinh Đức Phật nói nếu thế gian này không có pháp tàm quý thì cha không ra cha, con không ra con, mẹ không ra mẹ, chồng không ra chồng.

Một thời Phật ở nước Xá-vệ, rừng Kỳ-đà, vườn Cấp-cô-độc.

Bấy giờ Thế Tôn bảo các Tỳ-kheo:

- Có hai diệu pháp ủng hộ thế gian. Thế nào là hai? Nghĩa là có tàm, có quý. Này các Tỳ-kheo, nếu không có hai pháp này, thế gian sẽ không phân biệt có cha, có mẹ, có anh, có em, có vợ con, tri thức, tôn trưởng, lớn nhỏ; liền sẽ cùng lục súc heo, gà, chó, trâu, dê v.v... đồng một loại. Do thế gian có hai pháp này ủng hộ, nên thế gian ắt phân biệt có cha, có mẹ, anh em, vợ con, tôn trưởng, lớn nhỏ, cũng không đồng với lục súc. Thế nên, các Tỳ-kheo, nên tập có tàm, có quý. Như vậy, này các Tỳ-kheo, hãy học điều này!

Bấy giờ các Tỳ-kheo nghe Phật dạy xong, vui vẻ vâng làm. (Kinh Tăng Nhất A-Hàm, XVIII. Phẩm Tàm quý)

Hai pháp này, này các Tỳ-kheo, là pháp trắng. Thế nào là hai? Tàm và quý. Các pháp này, này các Tỳ-kheo, là hai pháp trắng.

 Hai pháp trắng này, này các Tỳ-kheo, che chở cho thế giới. Thế nào là hai? Tàm và quý. Nếu hai pháp trắng này, không che chở cho thế giới, thời không thể chỉ được đây là mẹ hay là em, chị của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của Thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng. Và thế giới sẽ đi đến hỗn loạn như giữa các loài dê, loài gà vịt, loài heo, loài chó, loài dã can. Vì rằng, này các Tỳ-kheo, có hai pháp trắng này che chở cho thế giới, nên mới có thể chỉ được đây là mẹ hay đây là chị em của mẹ, hay đây là vợ của anh hay em của mẹ, hay đây là vợ của Thầy hay đây là vợ của các vị tôn trưởng. (Tăng Chi Bộ, Chương II – Hai Pháp, Chương I. Phẩm Hình Phạt, 1-10 Hai Loại Tội)

Không có tàm quý sẽ làm rối loạn trật tự xã hội, thực trạng xã hội hiện giờ lại xuất hiện rất nhiều chuyện loạn luân như vậy, khi bị mất pháp tàm quý thì địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh xuất hiện, cõi nhân thiên bị giảm thiểu, loài người cạn dần, chư Thiên không còn bao nhiêu nếu không có tàm quý. Tàm là xấu hổ, quý là sợ hãi, tàm quý là xấu hổ và sợ hãi. Xấu hổ với bổn phận, trách nhiệm của mình, xấu hổ với những cái tham sân si, dục ái, xấu hổ với những cái hơn thua, ích kỉ, đố kỉ, xấu hổ với những cái ác và bất thiện pháp trong thân tâm. Người nào thường trú trong hổ thẹn, lo lắng và sợ hãi và lỡ nói câu gì không có chánh niệm, có bản ngã thì người này rất xấu hổ và xin lỗi người đã nghe họ nói, sau đó đến lạy sám hối Tam bảo, có pháp tàm quý để ngăn chặn tội lỗi, còn không có pháp xấu hổ, hổ thẹn thì người này không biết sợ hãi ác và bất thiện pháp. Một người không biết xấu hổ, sợ hãi với những điều ác bất thiện pháp họ đã gây ra thì họ không thể nào tiến bộ trong giáo pháp, vì thế điều đầu tiên Đức Phật nói để tác thành một người tu hành chân chánh là phải biết xấu hổ và sợ hãi, phải thấy sợ hãi trong những lỗi nhỏ nhặt, không phải phạm tội lỗi lớn mới sợ mà tội nhỏ cũng phải thấy sợ. Ngài Xá-lợi-phất là bậc tướng quân chánh pháp, vạt y áo của ngài bị chấm đất thôi là ngài đã cảm thấy tàm quý, xấu hổ, còn mình tội lỗi đầy đầu vẫn không thấy xấu hổ gì hết, bị nhắc nhở thì sân hận, bản ngã, cứ nhìn người ta chứ không nhìn lại mình nên tu hoài không thành công, những pháp tác thành Sa-môn này rất hay, học rồi sẽ thấy nhiều khi mình không được một phần nào trong lời dạy của Phật, nếu có cũng rất ít. Ví dụ người tu mà có những ham muốn bình thường của thế gian thì phải thấy "Thật là xấu hổ, nhục nhã, nếu cha mẹ biết, bậc đồng phạm hạnh biết, Đàn-na tín thí biết thì mặt mũi nào nhìn họ", "không dám nhìn ai vì mình có những ý nghĩ tham dục, thấp hèn, hơn thua như vậy, như vậy là xấu hổ quá, nhục nhã quá. Những thứ này sẽ đưa mình vào địa ngục, ngạ quỷ, súc sanh". Mình quán chiếu như vậy và người nào thành tựu pháp tàm quý này viên mãn thì họ sẽ đi đến thánh trí huệ của bậc thánh vì lúc nào họ cũng gội rửa thân tâm, mình nghĩ thử xem một người lúc nào cũng quét dọn chùa, có thời gian là lau chùi, dọn dẹp chùa rất sạch sẽ, cũng vậy người tàm quý là lúc nào cũng nhìn lại thân tâm, cảm thấy xấu hổ với những ác bất thiện pháp, những rác bẩn trong căn nhà nội tâm, họ cứ lo sợ với những cấu nhiễm, bất tịnh này vì nó đưa đến quả báo ác, đưa đến khổ, ác thú, đọa xứ, địa ngục trong tương lai. Lỡ có một lời nói hay hành động không đúng pháp thì họ luôn sợ hãi, bất an và luôn điều chỉnh bản thân, như vậy họ tu rất tiến bộ, mau chứng đắc so với một người tội lỗi không hay, ác bất thiện pháp có sanh khởi cũng mặc kệ, để cho buông trôi, rơi tự do rồi lọt xuống vực sâu. Vì thế pháp tàm quý rất quan trọng, nếu không có pháp tàm quý, không có xấu hổ, hổ thẹn thì người tu không ra người tu, chính từ đây làm chúng ta bị mất uy tín rất nhiều và thậm chí trong chính chúng ta không để ý đến oai nghi, đức hạnh, giới hạnh, buông lung phóng dật, không nhìn lại thân tâm và quên luôn bản thân là người tu, hành vi và cử chỉ không kiểm soát, thả lỏng các căn, không hộ trì căn, vì thế phải luôn an trú trong tàm quý. Đức Phật dạy người tu một ngày ăn một bữa hoặc trong giới không cho ăn chiều mà chiều ăn phải cảm thấy xấu hổ, nhưng ăn trong xấu hổ vẫn đỡ hơn ăn trong buông lung, có sự xấu hổ đó rồi mình hạn chế từ từ cho đến mức không ăn chiều là sẽ giữ được giới. Còn đằng này cứ trơ trơ, không cảm thấy gì hết, đã ăn chiều lại còn buông lung phóng dật thì người này không bao giờ thành tựu giới được, đây là chỗ quan trọng. Còn nếu mình có những dục ái không đúng pháp, là phàm phu pháp, thế tục pháp, bất tịnh pháp mà mình lại thấy nó là bình thường thì cuộc đời tu là con số 0, còn nếu thấy đó là xấu hổ, sợ hãi, tội lỗi, mình quán chiếu tác ý để giảm thiểu cho đến khi xa rời nó thì giới hạnh được thành tựu. Cho nên bất kì điều gì cũng phải lấy tàm quý tu học để giúp mình thành tựu giới hạnh – thiền định – trí tuệ, phải thường tác ý xấu hổ và sợ hãi tội lỗi, ác bất thiện pháp. Đức Phật nói một người đã thành tựu hạnh tàm quý rồi, thường trú trong đó nhưng không nên hài lòng, thỏa mãn mà phải biết rằng mục đích của người xuất gia còn cao hơn nữa, phải làm thêm nữa chứ như vậy không phải là đủ.

Này các Tỳ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? "Thân hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì thân hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người" (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Giới Hạnh))

Thành tựu rồi nhưng phải làm hơn nữa chứ không phải nói tu chỉ có một pháp. Thân hành là những hành động của thân phải trong sạch trong giới luật, minh chánh là quang minh và chánh trực, không có lén lút, che đậy, không có che giấu, không có tỳ vết, ở trước mặt người ta cũng vậy và ở sau lưng cũng phải vậy, chỗ này rất khó khăn. Không phải có người ta mình mới giữ kẽ, còn không có ai thì thoải mái, buông thả, trước mặt như thế nào thì sau lưng cũng phải như thế đó.

Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo an trú từ thân hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo an trú từ khẩu hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí.

Lại nữa, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo an trú từ ý hành đối với các vị đồng phạm hạnh cả trước mặt lẫn sau lưng. Pháp này cần phải ghi nhớ, tạo thành tương ái, tạo thành tương kính, đưa đến hòa đồng, đưa đến không tranh luận, hòa hợp, nhất trí. (Trung Bộ Kinh, 48. Kinh Kosambiya)

Tu không phải giống như mình vẫn thường nghĩ, tu để thành tựu giống Đức Phật dạy là cả một công trình vĩ đại. Tự mình kiểm tra lại mình xem có tỳ vết không, nếu có phải sám hối, sửa đổi, phải làm mới, làm sạch thân tâm tự thân theo tinh thần của giới bổn, theo tinh thần của những học pháp, vì thế chúng ta phải thường xuyên thực tập rất nhiều, cái ngồi cũng phải thực tập, cách nói chuyện, cách đi đứng cũng phải thực tập, cử chỉ hành vi phải thực tập. Đừng nghĩ rằng chỗ không có người là không ai thấy rồi mình muốn làm gì thì làm, tất cả sự hoạt động của mình đều thu trong thọ; tưởng; hành; thức và phi nhân ở đó đều nhìn thấy hoặc địa thần, các vị chư Thiên đều nhìn thấy mọi thứ khi mình ở một mình, không phải là không có ai, lúc nào mình cũng phải thấy có 10 cặp mắt đang nhìn mình dù cho có ở một mình trong tịnh thất "cô là người xuất gia, cô là người tu, cô là tu sĩ đó" , "thầy là người tu đó", thân hành phải minh chánh, không được che giấu. Dù cho chúng ta có làm được nhưng cũng không vì vậy mà khen mình che người, hễ mình làm được cái gì mà người ta không làm được là mình dè bỉu họ "người đó làm sao tu bằng tôi", như vậy là bản ngã sanh khởi vậy là sự tu hành của mình nhằm tăng bản ngã dù cho làm thiện pháp nhưng vẫn làm tăng bản ngã. Mình không ăn chiều mà gặp những người khác ăn chiều là mình nhìn họ bằng con mắt khác, không phải tu để lên mặt với người ta mà tu để diệt cái tham dục ái, không phải tu để hơn người ta, mình tu hơn người ta là tăng trưởng cái ngã, cái tôi, mà tăng trưởng cái ngã, cái tôi thì tham sân si, sầu, bi, ưu, não, mình có làm gì đi nữa, có đóng góp nhiều trong chùa thì đó là cơ hội để mình rèn luyện, tích lũy phước đức nhằm phụng sự Tam bảo chứ không phải làm nhiều để nói mình giỏi hơn người ta, cái đó là quan niệm sai lầm, phải nhớ trong tất cả mọi công việc đều phải nhiếp phục bản ngã thì đó mới là cốt lõi của sự tu, bất cứ làm cái gì dù là tu, là học mà bản ngã tăng lên là làm sai chứ không có đúng. Lúc nào cũng nhìn lại nội tâm cũng "thấy xấu hổ, lo lắng vì còn cấu uế, hất mặt, ưỡn ngực, vênh váo để làm gì?", "có gì trong này để ta đây, hơn thua?", cho nên làm được nhưng không khen mình chê người.

Này các Tỳ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? "Khẩu hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì khẩu hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người". (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Giới Hạnh))

Lúc nào Đức Phật cũng nhắc không được khen mình chê người ở cuối mỗi lời giảng. Miệng thanh tịnh là cả một vấn đề, không phải chỉ đơn giản là nói ba nghiệp thanh tịnh nhưng đó lại là cả một công trình tu tập miên mật, khít khao, tu liên tục, giữ giới liên tục. Thật sự rất muốn lấy băng keo dáng miệng lại vì hễ mở miệng ra là thị phi, nhân ngã, hơn thua, ta đây cho nên mở miệng ra chỉ nói pháp, có công việc gì cần thì nói, xong rồi thôi vì đó là sự im lặng của bậc thánh.

Này các Tỳ-kheo, lành thay khi Thiện nam tử các Người, vì lòng tin xuất gia, từ bỏ gia đình, sống không gia đình, cùng nhau hội họp để luận bàn đạo pháp. Này các Tỳ-kheo, khi các Người hội họp với nhau, có hai việc cần phải làm: luận bàn đạo pháp hay giữ sự im lặng của bậc Thánh. (Trung Bộ Kinh, Kinh Thánh Cầu).

Vì nếu nói một hồi là đi vào bát quái trận, chắc chắn là vậy trừ khi chánh niệm tỉnh giác cực kì kĩ lưỡng, nếu không sẽ bị cuốn vào câu chuyện gây thị phi, đúng sai, phải quấy, hơn thua, tốt xấu cho nên khẩu hành thanh tịnh là cả một vấn đề khó khăn. Khẩu hành là những lời nói của miệng cho nên càng nói ít càng tốt, chỉ trao đổi về pháp hoặc thời tụng kinh, chỉ nói khi cần để dưỡng thần, dưỡng khí, tập trung vào việc nội soi thân tâm. Đức Phật dạy phải nói đúng thời.

Chư Tỳ-kheo, có năm loại ngôn ngữ mà các Ngươi có thể dùng khi nói với các người khác: đúng thời hay phi thời, chơn thực hay không chơn thực, nhu nhuyến hay thô bạo, có lợi ích hay không lợi ích, với từ tâm hay với sân tâm. Chư Tỳ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói đúng thời hay phi thời. Chư Tỳ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói lời chơn thực hay nói lời không chơn thực. Chư Tỳ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói lời nhu nhuyến hay nói lời thô bạo. Chư Tỳ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói lời lợi ích hay nói lời không lợi ích. Chư Tỳ-kheo, khi nói với các người khác, các Ngươi có thể nói với từ tâm hay với sân tâm. Chư Tỳ-kheo, ở tại đây, các Ngươi cần phải học tập như sau: "Chúng ta sẽ giữ tâm của chúng ta không biến nhiễm, chúng ta sẽ không thốt ra những lời ác ngữ, chúng ta sẽ sống với lòng lân mẫn, với tâm từ bi, với nội tâm không sân hận. Chúng ta sẽ sống bao phủ người này với tâm câu hữu với từ. Và với người này là đối tượng, ta sống biến mãn cùng khắp thế giới với tâm câu hữu với từ, quảng địa vô biên, không hận, không sân". Chư Tỳ-kheo, như vậy các Ngươi cần phải học tập. (Trung Bộ Kinh, 21. Kinh Ví dụ cái cưa)

Cho nên phải giữ gìn thân – miệng – ý cho thanh tịnh.

Này các Tỳ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? "Ý hành chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì ý hành thanh tịnh ấy, khen mình, chê người". (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Giới Hạnh))

Ở Linh Quy có các sư cô hoặc các Phật tử trong đạo tràng Nikāya nếu có suy nghĩ xấu đều ra trước đại chúng để sám hối, đó là một sự tha thiết chân thành trong sự tu học. Làm sao người ta biết được suy nghĩ của mình nhưng họ lại ra trước đại chúng sám hối vì tự thấy đó là suy nghĩ xấu, bất thiện. Cái đó là một sự kiểm soát thọ; tưởng; hành rất kĩ lưỡng, nếu không kiểm soát thường xuyên thì suy nghĩ phớt qua rồi mất, hoặc là mình nhập chung với nó chứ không thấy đây là ý hành và ý hành này là ác bất thiện pháp, trong ý hành này có bản ngã, ý hành này là sân hận, thế là ra sám hối. Tu như vậy mới nhìn ra được các lậu hoặc, các sự vi tế vận hành trong thân tâm chứ còn nhìn ra bên ngoài thì làm sao nhìn thấy bên trong, không nhìn thấy nội tâm thì làm sao nhìn thấy những thứ ở những tầng lớp sâu thẳm phía dưới, không phải nhìn vào trong nội tâm là có thể thấy được liền, có những cảm giác, suy nghĩ buộc mình phải lắng đọng để xem trong đó có gì. Ví dụ đang ngồi một mình rồi buồn nhưng không biết vì sao buồn, vậy là phải lắng xuống để tìm trong cảm giác từ đâu sanh ra cái này, đó là mình đang tìm Tập Thánh Đế, tìm nguyên nhân sanh khởi cảm thọ đó, nhìn sâu xuống sẽ phát hiện dục lậu, cái dục làm cho mình buồn, điều này rất sâu sắc nên hơi khó hiểu, phải nhập thất tu hành mới thấy được nó. Tự nhiên lại có cảm giác buồn man mác nhưng không hiểu buồn vì lý do gì, đó là trạng thái những cảm giác trong dục lậu sanh khởi. Còn cái thúc giục làm cái này làm cái kia thì đó là hữu lậu, hữu lậu là sự dao động từ bên trong cho đến bên ngoài, nó thúc giục bên trong làm cho mình phải động đậy, không ngồi yên được, ngồi thiền cứ muốn bung chân ra, "ngồi mệt lắm, đau chân lắm, nóng nực lắm", nói đủ thứ trong đầu vậy là mình bung theo nó. Còn cái xúi giục mình là dục lậu. Còn mình ngồi mà không biết thân tâm, không biết thọ; tưởng; hành mà chỉ thấy chỉ có một đống tôi và của tôi thì đó là vô minh lậu, si ám, không thấy rõ ràng các pháp, ngũ uẩn, không thấy tứ đại kết hợp mà chỉ thấy là tôi và tự ngã của tôi thì đó là vô minh, si ám, ngồi thiền trông rất khổ sở hoặc là ngơ ngác, si dại, trạng thái tâm không minh mẫn, sáng suốt trong ngoài các pháp, cái trí không vận hành cho nên thân – miệng – ý phải có sự thanh tịnh minh chánh, cởi mở. Cởi mở là nhìn mọi vấn đề theo hướng mở, nói chuyện theo hướng mở sẽ khác với cách nói cằn nhằn, cự nự, khó chịu, nói chuyện móc họng người ta mà đó là khẩu nghiệp, nói hoài sẽ thành quen mà quen là sửa không được, cứ ưa thích, muốn nói như vậy mà nó trở thành sức mạnh của thói quen, là nghiệp lực. Cho nên mình tu là giữ bốn giới: Không nói dối, không đâm thọc, không nói lời ác và không nói lời phù phiếm.

Từ bỏ nói láo, tránh xa nói láo, vị ấy nói những lời chân thật, y chỉ trên sự thật, chắc chắn, đáng tin cậy, không phản lại đời, từ bỏ nói hai lưỡi, tránh xa nói hai lưỡi, nghe điều gì ở chỗ này, không đến nói chỗ kia để sanh chia rẽ ở những người này, nghe điều gì ở chỗ kia, không đi nói với những người này để sanh chia rẽ ở những người kia. Vị ấy sống hòa hợp những kẻ ly gián, khuyến khích những kẻ hòa hợp, hoan hỷ trong hòa hợp, thoải mái trong hòa hợp, hân hoan trong hòa hợp, nói những lời đưa đến hòa hợp. Vị ấy từ bỏ nói lời độc ác, tránh xa nói lời độc ác, vị ấy nói những lời nhẹ nhàng, thuận tại, dễ thương, thông cảm đến tâm, tao nhã, đẹp lòng nhiều người, vui lòng nhiều người, vị ấy nói những lời như vậy. Vị ấy từ bỏ nói phù phiếm, tránh xa nói lời phù phiếm, nói đúng thời, nói những lời chân thật, nói những lời có ý nghĩa, nói những lời về Chánh pháp, nói những lời về Luật, nói những lời đáng được gìn giữ, những lời hợp thời, thuận lý, có mạch lạc, hệ thống, có ích lợi. (Trung Bộ Kinh, 27. Tiểu kinh Dụ dấu chân voi)

Có những người thích nói để người khác cãi nhau, đó là ác nghiệp, những lời đó không có thanh tịnh, minh chánh. Còn nói lời cởi mở là nói để đưa đến sự mở tâm ra, suy nghĩ theo chiều hướng tích cực. Ví dụ có người phạm lỗi thì khi họp chúng hoặc ngồi với nhau phải suy nghĩ "Chúng sanh tham sân si là chuyện bình thường, biết đâu mai mốt mình cũng bị nên khởi từ bi tâm họ", suy nghĩ như vậy là cởi mở, đằng này người ta nói rồi mình còn đổ dầu vào lửa "tôi thấy mấy lần chứ không phải mới lần này đâu", đó là ác khẩu. Và dù cho thân – miệng – ý đã tu tập thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không tỳ vết, không che giấu nhưng không vì thế mà khen mình chê người. Đây là chỗ sâu sắc, mình cứ lo mình, lo quay lại để tẩy sạch, gội rửa, nhiếp phục và diệt tận các ác bất thiện pháp trong thân – miệng – ý chứ đừng nhìn người ta.

Này các Tỳ-kheo, thế nào là công việc đáng phải làm hơn nữa? "Sanh mạng chúng ta phải được thanh tịnh, minh chánh, cởi mở, không có tỳ vết, che giấu. Nhưng chúng ta không vì sanh mạng thanh tịnh ấy, khen mình, chê người" (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Giới Hạnh))

Sanh mạng là sự nuôi dưỡng mạng sống, sinh mạng thời Đức Phật thường chú trọng vào giai cấp trong xã hội, tức là người sanh ra trong những giai cấp thấp thường bị kinh thường, giai cấp tu hoặc thương nhân, quan quyền chức tước, cao quý của giới tu hành là Bà-la-môn, người ta hay so đo với nhau giai cấp, xuất thân. Giám đốc mà đi tu sẽ khác với trước khi vào tu làm công việc rửa chén, lau nhà ngoài xã hội, cho nên dù cho mình có ở trong đẳng cấp nào, giai cấp nào, thành phần nào trong xã hội cũng không khen mình chê người. Ngoài đời chơi với nhau phải môn đăng hộ đối, vào tu cũng lựa người học cao, có trí thức trình độ mới chơi, còn người thấp thì cho qua, đó không phải là cái nhìn nhận đúng đắn của người xuất gia, Thế Tôn đã nói nước bốn biển chỉ có duy nhất một vị mặn mà thôi.

Ví như, này Pahàràda, biển lớn chỉ có một vị mặn. Cũng vậy, này Pahàràda, Pháp và Luật cũng chỉ có một vị là vị giải thoát. (Tăng Chi Bộ, Chương VIII - Tám Pháp, II. Phẩm Lớn, (IX) A-Tu-La Pahàràda)

Tất cả vào đây để tu học pháp giải thoát chứ không phải vào đây để nhìn vào giai cấp xã hội nhằm phân biệt cao thấp, sang hèn. Sang hay hèn đều phải cạo đầu trọc, cũng chỉ có một tấm y, cũng phải đổi thành họ "Thích" vì thế không được lấy giai cấp ra để so đo với nhau.

Này các Tỳ-kheo, thế nào là các công việc đáng phải làm hơn nữa? "Chúng ta phải hộ trì các căn. Khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến con mắt không được chế ngự, khiến tham ái, ưu bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì con mắt, thực hành sự hộ trì con mắt. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Hộ Trì Các Căn))

Những điều này là giới căn bản khi Đức Phật còn tại thế nhưng hiện giờ chúng ta lại ít được nghe thấy, nếu không học thì không thể giữ giới thành tựu, thiền định và trí huệ không sanh.

Khi tai nghe tiếng... mũi ngửi hương... lưỡi nếm vị... thân cảm xúc... ý nhận thức các pháp, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng. Những nguyên nhân gì khiến ý căn không được chế ngự, khiến tham ái, ưu, bi, các ác, bất thiện pháp khởi lên, chúng ta sẽ tự chế ngự nguyên nhân ấy, hộ trì ý căn, thực hành sự hộ trì ý căn". Như vậy, này các Tỳ-kheo, các Ông cần phải tu tập. (Trung Bộ Kinh, 39. Ðại kinh Xóm ngựa, (Hộ Trì Các Căn))

Đây là điểm quan trọng người tu, là nghề chính của người xuất gia. Khi 6 căn tiếp xúc với 6 trần phải có sự hộ trì, ví dụ kêu đóng cửa là có một số người than nóng, có tiếng động ở tầng trên đang vang vọng thì mình phải xem lại cảm thọ, suy nghĩ trong tâm mình hiện giờ như thế nào, nếu không hộ trì mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý là không bao giờ thấy pháp mà chỉ thấy cảnh bên ngoài, dù cho suốt đời ở trong chùa cũng vẫn là hướng ngoại chứ không thể thấy pháp. Khi nghe tiếng động bên ngoài là phải xem lại trong tâm đang có suy nghĩ, cảm giác, hình bóng gì khởi lên trong tâm, điều này rất khó nhưng rất tối thượng, chỉ có nó mới có thể nhiếp phục được bản thân. Đức Thế Tôn được gọi là bậc Điều Ngự Sư, nghĩa là bậc chế phục, điều ngự thân tâm chính mình và chế phục, điều ngự những người cứng cỏi trượng phu trên thế giới này. Do ngài có điều phục, chế ngự, chế phục thân tâm của ngài cho nên ngài có khả năng điều phục, chế ngự hết tất cả những chúng sanh cứng cỏi, khó độ. Mình không điều phục được bản thân thì mình điều phục được ai? Chỉ cần một tiếng động thôi là mình đã rối loạn, hằng ngày con mắt mình tiếp xúc với sắc, tai tiếp xúc âm thanh, mũi tiếp xúc với mùi, lưỡi tiếp xúc với vị, thân đụng chạm… tất cả những cái đó phải có hộ trì nếu không hộ trì sẽ rơi tự do. Một người tu mà gặp người đó đẹp trai hoặc đẹp gái là cứ nhìn hoài, nhìn không chớp mắt, tuy mình không nói ra nhưng họ biết mình đang dính mắc cho nên người tu phải có cái nhìn của người tu chứ không phải muốn nhìn sao là nhìn, đó là sự hộ trì mắt. Khi nhìn vào chỗ không nên nhìn thì ái sanh khởi, dục sanh khởi, tham sanh khởi, ngài Anan thường tiếp xúc với Ni giới để giúp Ni chúng thành tựu, cho nên ngài Anan hỏi Đức Phật thường ngày phải tiếp xúc với phái nữ như vậy thì phải làm sao, Đức Phật nói phải giữ khoảng cách, đừng nhìn thẳng vào họ mà hãy nhìn xuống, cũng đừng nói chuyện nhưng nếu nói thì hãy hộ trì các căn.

-- Bạch Thế Tôn, chúng con phải cư xử với phái nữ như thế nào?

-- Này Ananda, chớ có thấy chúng.

-- Bạch Thế Tôn, nếu phải thấy chúng, thời phải như thế nào?

-- Này Ananda, chớ có nói chuyện với chúng.

-- Bạch Thế Tôn, nếu phải nói chuyện với chúng, thời phải như thế nào?

-- Này Ananda, phải an trú chánh niệm. (Trường Bộ Kinh, 16. Kinh Ðại Bát-Niết-Bàn)

Vì thế khi tiếp xúc với những đối tượng có thể sanh khởi tham ái thì đừng nên nhìn thẳng vào mắt họ, điều này cực kì quan trọng, nếu không học pháp sẽ không biết rồi gặp ai cũng nhìn thẳng vào họ, nhìn cho kĩ từng chi tiết thì như vậy là đã nắm giữ tướng chung, nắm giữ tướng riêng rồi. Tướng chung là tổng quát thân thể hoặc đồ vật, tướng riêng là chi tiết từng bộ phận của người đó hoặc món đồ vật đó, vì thế mà Đức Phật dạy khi mắt thấy sắc, không nắm giữ tướng chung, không nắm giữ tướng riêng, một khi nắm giữ tướng chung, tướng riêng, nhìn kĩ từng chi tiết trên thân thể, gương mặt họ thì khi ngồi thiền hình bóng người đó hiện ra, cảm thọ khởi lên, ý hành sanh khởi liên tục, như vậy là một dòng tâm ý bắt đầu vận hành trong tâm làm chúng ta không thể yên định ngồi thiền được. Khi mình đã tiếp xúc rồi, trở về ngồi thiền thì những thọ; tưởng; hành sanh khởi trở lại, những cảm giác, hình bóng, suy nghĩ hiện ra, sau đó là thọ; tưởng; hành thứ hai, thứ ba, thứ tư…. Nó làm liên tục như vậy, vận hành không ngừng nghỉ thì gọi là tương tư. Đức Phật dạy mình phải chặn từ đầu, khi con mắt thấy sắc đã phải hộ trì rồi nên phải chặn từ cánh cửa đầu tiên, nếu không chặn thì nó sẽ tiến càng ngày càng sâu, đến khi vào tận bên trong thân tâm là mình thất bại vì thế hộ trì căn là cực kì quan trọng.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

./.