Tương Ưng Thọ - Quán Chiếu Thâm Sâu Về Cảm Thọ 3
Kinh Nikāya Giảng Giải - Tương Ưng Thọ
QUÁN CHIẾU THÂM SÂU VỀ CẢM THỌ 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lạc thọ - tham tùy miên PAGEREF _Toc112839381 \h 1
II. Khổ thọ - sân tùy miên PAGEREF _Toc112839382 \h 9
III. Hỷ lạc PAGEREF _Toc112839383 \h 13
I. Lạc thọ - tham tùy miên
“Một thời Thế Tôn trú ở Vesali, Ðại Lâm, tại giảng đường của Ngôi nhà có Nóc nhọn.
Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến gian phòng chữa bệnh; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:
-- Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo phải chánh niệm, tỉnh giác khi thời đã đến (khi mệnh chung). Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo chánh niệm?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo chánh niệm. Sống quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo chánh niệm.
Và như thế nào, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo tỉnh giác?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo tỉnh giác.
Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo cần phải chánh niệm tỉnh giác khi thời đã đến. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, lạc thọ khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: "Lạc thọ này khởi lên nơi ta. Lạc thọ ấy có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên chính thân này, nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên thân khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, thời lạc thọ được khởi lên, làm sao thường trú được?". Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong (vaya). Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và lạc thọ của vị ấy, nên tham tùy miên đối với thân và lạc thọ được đoạn diệt.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Do có thân nên mới sanh khởi ra cảm giác vui, thân này lại vô thường, biến đổi, thân này do cha mẹ tác thành, do cơm cháo nuôi dưỡng nên nó hoại diệt. Cảm giác vui này y cứ nơi thân trong khi thân lại vô thường thì làm sao cảm giác vui này lại thường trú được. Thân này là hữu vi, là bại hoại, bệnh tật, tan rã, dựa vào một cái tan rã, bại hoại thì làm sao là chỗ dựa vững chắc được, dựa vào cái vô thường, tan vỡ thì làm sao cảm giác này trường cữu được? Thân này rồi sẽ có ngày chấm dứt, sụp đổ, ngã xuống bất động.
Do an trú quán chiếu từ bỏ đối với thân, đối với lạc thọ nên cái tham đi theo miên man trong thân được đoạn diệt, chấm dứt. Bài kinh này cực kì thâm sâu và cũng là pháp hành để diệt tham tùy miên đối với sắc uẩn và thọ uẩn, đương nhiên cũng có tưởng; hành; thức. Đức Thế Tôn chỉ cho chúng ta sự tác ý, quán chiếu, an trú trong sự quán tưởng sâu sắc về lạc thọ, tất cả chúng sanh bao gồm chúng ta đều bị lạc thọ, cảm giác vui sướng này nhận chìm.
Cảm giác dễ chịu, ngọt ngào, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn bị dính mắc trong cảm thọ này, tham ái trong cảm giác này, bị tham đắm trong cảm xúc vui sướng này và chúng ta bị ràng buộc, trói cột rồi những dòng nước mắt tuôn xuống, những suy nghĩ, toan tính, lo lắng, sợ hãi, sân hận, sầu, bi, khổ, ưu, não chồng chất và toàn bộ khổ uẩn này được tích tập từ chỗ tham đắm vào lạc thọ. Đức Thế Tôn dạy chúng ta phải sống chánh niệm và tỉnh giác, quán thọ trên các thọ, nghĩa là phải thường xuyên và liên tục canh chừng, dò xét cảm giác trong mọi lúc mọi nơi.
Khi mình đang có cảm giác vui sướng thì mình có nhận diện được nó không hay quên mất mình luôn? Khi đang có cảm giác hoan hỉ thì trí quán của mình bị dập tắt, mình bị đồng hóa với cảm giác lạc thọ, chúng ta chết trong lạc thọ này, tham tùy miên theo đó mà tùy tăng. Mỗi lần trong thân tâm sanh khởi lên lạc thọ thì cái tham tùy miên sẽ tăng theo lạc thọ đó, chỗ này hết sức sâu sắc mà chúng ta cần thực tập và nhìn sâu vào cảm thọ mới thấy được. Nhiều lần như vậy thì cái tham đi theo miên man được lớn dần, tăng trưởng phát triển quảng đại, sự tham thích, tham đắm, dính mắc trong lạc thọ càng ngày càng siết chặt, càng ngày càng ăn sâu vào xương tủy chúng ta, như thế hữu ái được tiếp tế, thân kiến được tăng trưởng.
“Này các Tỳ-kheo, do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy tùy tăng.”
(Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)
Sự ưa thích trong cảm giác vui sướng làm cho lớn mạnh tham tùy miên, dục tùy miên, ái tùy miên. Chính cảm giác lạc thọ đó là chất dinh dưỡng để nuôi tham, ái, dục. Ngay khi vui sướng mà không chánh niệm tỉnh giác, không nhiệt tâm tinh cần mà lại buông lung phóng dật thì lạc thọ khởi lên sẽ lập tức nhận chìm mình, đây là chỗ sâu sắc trong phần quán thọ trên các thọ. Mỗi lần cảm giác vui sướng sanh khởi lên thì tham tùy miên theo đó cũng tăng trưởng lớn mạnh, mỗi lần như vậy là mình nuôi nó, thêm nhiên liệu cho ngọn lửa tham ái, ham thích, đam mê trong cái vui đó.
Ví dụ khi nói chuyện vui thì có cảm giác dễ chịu, ăn ngon thì có cảm giác thích thú, đi chơi có cảnh đẹp thì có cảm giác vui thích, như vậy tham tùy miên sẽ tăng trưởng theo cảm giác lạc thọ đó. Bây giờ tu như thế nào? "Tham tùy miên khởi lên nơi ta là Pháp duyên sanh, nó là cái Pháp điều kiện, nó là cái Pháp vô thường", do duyên có xúc nên có thọ, có sự tiếp xúc mới sanh ra cảm giác, sở dĩ có thân này nên mới có xúc, như vậy có sáu xúc: Nhãn xúc; nhĩ xúc; tỷ xúc; thiệt xúc; thân xúc; ý xúc, sáu sự tiếp xúc của mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Cơ sở để phát sanh ra cảm xúc là từ nơi thân trong khi thân này làm bằng những thứ vô thường thì làm sao cảm giác đó thường trú được?
Chính vì vậy cần quán tánh sanh khởi, tánh diệt tận trên các cảm thọ. Khi nó vừa sanh khởi lên cần phải thấy nó, nếu không có chánh niệm tỉnh giác, không có nhiệt tâm tinh cần thì khi nó sanh lên mình không kịp thấy nó, mình bị nó cuốn trôi, đến khi nhìn lại thì mình đã bị nó cuốn đi mất. Nếu có sự chánh niệm tỉnh giác và nhiệt tâm tinh cần thì mình có thể chặn ngay từ đầu vì thế ngay đây mình cần phân biệt được cái nào là lạc thọ liên hệ đến vật chất và lạc thọ không liên hệ đến vật chất.
“Ví như, này các Tỳ-kheo, một nhà khách, ở đấy, từ phương Ðông có một người đến ở. Từ phương Tây, có người đến ở. Từ phương Bắc, có người đến ở. Từ phương Nam, có người đến ở. Những người Sát-đế-lỵ đến ở, những người Bà-la-môn đến ở, những người Phệ-xá (Vessa) đến ở, những người Thủ-đà (Suddà) đến ở. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, trong cái thân này có nhiều loại thọ sai biệt khởi lên. Lạc thọ khởi lên, khổ thọ khởi lên, bất khổ bất lạc thọ khởi lên.
Có những lạc thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những khổ thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những bất khổ bất lạc thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những lạc thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những khổ thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những bất khổ bất lạc thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, IV. Khách Xá)
Cảm giác vui sướng theo đời và cảm giác an lạc trong Pháp cần phải được phân biệt rõ ràng. Khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm và ý nhận thức các Pháp thì cảm giác nghĩ tưởng bên trong có lạc thọ vui sướng thì cái đó gọi là lạc thọ liên hệ đến vật chất. Khi nghe Pháp, quán chiếu mà tâm được nhẹ nhàng khinh an trong Thất Giác Chi, được ly sanh hỷ lạc thì đó là lạc thọ có được từ sự tu học Thánh Pháp nên đó là lạc thọ không liên hệ đến vật chất.
Cần nhớ để Trạch Pháp Giác Chi trong tâm, cho nên những sự tiếp xúc nào sanh khởi lên theo đời, theo thế gian, theo vật chất thì cần loại trừ, nó làm cho tham tăng trưởng, còn khi nghe Pháp, thực tập thiền hoặc quán chiếu mà đưa đến hỷ lạc, thanh tịnh, dễ chịu, nhẹ nhàng thì lạc thọ này không thuộc vật chất nên tham tùy miên không tăng trưởng mà ly tham lại tăng trưởng.
Cảm giác vui sướng thuộc vật chất làm cho tham tăng trưởng, cảm giác vui sướng không thuộc vật chất làm cho ly tham được lớn mạnh. Cái vui nào đưa đến ly tham, nhàm chán các dục, chấm dứt, từ bỏ những thứ vô thường, khổ, vô ngã thì cái vui đó cần phát triển. Cái vui nào đưa đến cái tham càng tăng trưởng, phát triển thì cái vui đó cần phải đoạn trừ. Đức Phật dạy mình nhiếp phục và đoạn tận cái vui chạy theo vật chất, cần nhớ kĩ để nhiều lúc không trạch pháp được thì tu vui mình cũng không cho, không muốn an lạc sanh khởi vì cho đó làm tham, mình phải hiểu được vấn đề chỗ này.
Đức Phật dạy quán cảm giác vui sướng theo thế gian như thế nào? Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và lạc thọ. Vị này thường xuyên quán thân trên thân, niệm thân trên thân, soi xét thân nơi thân, tư duy bốn yếu tố hình thành thân này, tư duy ba mươi hai thể trược dơ bẩn, xú uế, bất tịnh, quán chiếu chín giai đoạn phân hủy của một tử thi.
Vị này thường trú, thường quán, thường đặt tâm của mình trong những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ đó thì gọi là vị ấy trú quán thân trên thân, quán tâm trên tâm, quán Pháp trên Pháp, quán thọ trên thọ, còn ở đây Đức Phật nói quán vô thường đối với thân và lạc thọ. Một ngày mình an trú trong sự quán vô thường với thân này được bao lâu? Một ngày mình nhìn ra được các lạc thọ đang sanh khởi, đang xâm chiếm được bao nhiêu lần? Nếu không có sự tinh mắt, tinh vi, không có sự tinh thông ngũ uẩn, cảm thọ thì nó sanh khởi, xâm chiếm hay áp đảo mình cũng không biết, đối với những cảm thọ vừa hoặc vi tế thì nó cực kì sâu sắc cho nên một vị Tỳ-kheo sống chánh niệm và tỉnh giác, sống không buông lung phóng dật, sống với sự nhiệt tâm tinh cần thì khi lạc thọ khởi lên vị ấy biết với trí tuệ (tuệ tri).
Biết bằng trí tuệ là biết và giải phá, ly tham đối với lạc thọ thì mới gọi là tuệ tri. Mình biết có người đang lẻn vào nhà chuẩn bị lấy đồ thì không phải chỉ biết rồi thôi mà cần báo động, la lên. Cũng vậy, khi lạc thọ sanh khởi, tham muốn tấn công mình, ưa thích trong ngũ uẩn xâm nhập mình thì mình phải dùng mọi cách đánh đuổi nó, như vậy mới gọi là biết bằng trí tuệ.
Vì thế chữ "tuệ tri" trong kinh Tứ Niệm Xứ là chìa khóa bao trùm hết tất cả Thánh tri kiến, Thánh tư duy của Đức Phật cho nên tuệ tri không chỉ là rõ biết rồi thôi mà biết bằng trí tuệ, sử dụng chánh tư duy, chánh tri kiến và chánh tinh tấn để giải phá, giải phóng khỏi cảm thọ ham muốn đó bằng sự quán chiếu cảm giác vui này có điều kiện.
Do nhìn thấy mới thích, do có nghe mới thấy thoải mái, do có ngửi, nếm, đụng chạm nhưng cái các thọ này được thành lập nơi thân, cái thân này thì vô thường, do tứ đại tác thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, là nơi ung nhọt, bệnh tật. Khi nghệ sĩ Chí Tài qua đời thì mọi người bình luận rất sâu sắc "nồi cơm điện còn có ngày bảo hành, mạng sống con người thật mong manh, hễ đi là đi thôi". Nồi cơm điện có thời hạn bảo hành sáu tháng, một năm còn mạng sống của con người ra đi là đi, không được báo trước cũng không hay biết. Đó là những người bình thường mà người ta còn cảm nhận được như vậy cho nên Đức Phật dạy trú, quán vô thường với thân, hãy nhìn tất cả cảm giác vui sướng này là biến đổi, là sanh diệt, không có cảm thọ nào kéo dài mãi.
Vị ấy trú, quán tiêu vong, tiêu tan và diệt vong. Con đang nằm nghỉ trưa thì nhớ đến công việc đang dang dở trong bài Pháp đang dàn dựng, con nghĩ bây giờ cứ nằm nghỉ, thức dậy thì dặn dò cũng không muộn nhưng sau đó có ý hành "ngồi dậy dặn vì có thể nằm rồi sẽ không thức dậy nữa, chưa chắc gì chút nữa mình sẽ thức. Nếu mình ra đi thì công việc thiện pháp này sẽ dở dang, bài Pháp không hoàn thành", đó là trú và quán tiêu vong đối vối thân này và đối với những cảm giác vui thích.
Vị ấy trú, quán ly tham đối với thân này và đối với những cảm giác vui sướng. Vị ấy trú, quán đoạn diệt, là tính chất sanh diệt của các cảm thọ, khi đang có cảm thọ vui sướng phải tác ý "cảm thọ vui này rồi cũng đi đến chỗ chấm dứt, cũng tan biến". Đây là những pháp lệnh, khẩu quyết, bí quyết thiền quán của Đức Phật: Quán vô thường đối với thân và lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong (vaya). Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Xin thưa với đại chúng, trong kinh Nikāya là thiền quán, là sự quán chiếu đầy đủ mọi khía cạnh, góc độ, ngõ ngách, viên mãn, bao quát tất cả ngũ uẩn, thân tâm, đời sống, thế giới, nhân sinh là pháp quán tác động tâm ý đúng như chân lý (Như lý tác ý). Nếu không Như lý tác ý thì trí huệ không thể khơi dậy được, không thể tỏ sáng giữa cuộc đời này, cho nên lúc nào cũng phải dùng Như lý tác ý suy xét, sau khi có nội tâm tương đối an ổn trong sự thiền tập thì chúng ta phải thường xuyên tác ý, quán chiếu.
“Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây”
(Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội Rễ Của Sự Vật).
Cảm giác vui sướng này rồi cũng diệt vong, cũng bị dập tắt, chấm dứt cho nên người đó an trú trong sự quán chiếu từ bỏ. Mình không từ bỏ nó thì nó cũng từ bỏ mình, thà là mình từ bỏ nó thì mình không khổ chứ còn đợi nó từ bỏ thì mình sẽ khổ đau. Mình biết nó là vô thường, tiêu vong, là cái không đáng để tham thì mình hãy từ bỏ nó, trước cũng bỏ sau cũng bỏ nên hãy bỏ ngay từ giờ, diệt tận, tan biến hoàn toàn đi, chặt nó như chặt cây tala để không còn sanh khởi trong tương lai nữa.
Từ bỏ nó có thể sẽ khó chịu một chút nhưng rồi sẽ bình an mãi mãi và vĩnh viễn, mình đợi nó bỏ mình thì mình sẽ đau khổ dài dài, phiền não triền miên trong sự tiếc nuối, hối hận và hệ lụy. Đối với thân hãy quán tiêu vong, quán đoạn diệt, tuyệt đối quan trọng là phải quán từ bỏ nhất là lúc mạng chung, quán vô thường, quán ly tham, đoạn diệt, đây là năm phép thiền quán thâm sâu, cốt tủy.
Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và lạc thọ của vị ấy, nên tham tùy miên đối với thân và lạc thọ được đoạn diệt. Đó là thành quả, là kết quả, là Thánh quả. Đoạn tận tham đồng nghĩa với Niết-bàn giới, đoạn tận tham đồng nghĩa với cứu cánh của Phạm hạnh, đoạn tận tham là mục đích tối thượng của đời sống Phạm hạnh.
Tham miên man, thâm căn cố đế, làm thành lũy trong thân tâm chúng ta là tham đối với thân xác này, tham đối với hình hài này, tham đối với đời sống vô thường, ảo mộng, tạm bợ, bất tịnh này, tham đối với những cảm giác vui sướng, khoan khoái, dễ chịu này. Do quán chiếu năm phép quán ở trên mới chấm dứt, đoạn tận hoàn toàn lòng tham miên man đối với thân xác và những cảm giác vui sướng đó.
II. Khổ thọ - sân tùy miên
“Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, khổ thọ khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: "Khổ thọ này khởi lên nơi ta. Khổ thọ ấy có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên chính thân này. Nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên thân khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, thời khổ thọ được khởi lên, làm sao thường trú được?". Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và khổ thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong. Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và khổ thọ của vị ấy, nên sân tùy miên đối với thân và khổ thọ được đoạn diệt.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Thân này là vô thường thì cảm giác đau khổ, khó chịu này làm sao thường trú được? Cũng giống phép quán lạc thọ, vị ấy trú, quán tính chất biến đổi, vô thường của thân và cảm giác khó chịu này. Thân này còn bại hoại thì huống gì cảm giác này. Vị ấy an trú, quán tiêu vong của thân này, cảm giác này. Vị ấy an trú, quán sự ly tham đối với thân này và cảm giác khó chịu đó, quán vô thường, quán đoạn diệt, quán từ bỏ cảm giác khổ sở, bứt rứt này rồi nó cũng sẽ tiêu vong, đừng dính mắc vào cảm giác này.
Đừng cho cảm giác này là mình, là của mình, là tự ngã của mình mà hãy quán cảm giác khổ này, khó chịu này sẽ tiêu tan, chấm dứt. Xả bỏ, giải phóng khỏi cảm giác khó chịu, bực bội đó và làm cho nó tan biến hoàn toàn, trở về an trú trong cảm giác toàn thân, an tịnh, lắng dịu và dễ chịu.
Do quán chiếu như vậy nên sân tùy miên đối với thân và khổ thọ được đoạn diệt, sự sân hận miên man trong tâm được chấm dứt do sự quán chiếu thân này vô thường, cảm giác khổ này vô thường, thân này tiêu vong, cảm giác khổ này cũng sẽ tiêu vong, thân này không đáng để tham, để dính mắc, cảm giác khổ này cũng không đáng để dính mắc nên chất chứa nó để làm gì. Để nó thiêu đốt, đốt cháy, hủy hoại hay sao? Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và khổ thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong. Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do quán như vậy nên tâm miên man đối với thân này và khổ thọ kia sẽ được đoạn diệt và chấm dứt hoàn toàn.
Mỗi khi mình gặp cảm giác khó chịu và cảm giác dễ chịu thì mình có quán giống như vầy không? Trong bao lâu cảm giác khó chịu tan từ khi nó sanh khởi? Có khi nào nó vẫn ở trong đó ba ngày, bảy ngày không? Như vậy là mình nuôi rắn độc, phải tác động tâm ý, quán chiếu, từ bỏ, đuổi con rắn độc đó ra khỏi căn nhà nội tâm. Một người lúc nào cũng có cảm giác khó chịu, gắt gỏng, bực tức, sân hận trong cơ thể thì người đó có thấy dễ chịu hay đau khổ, nặng nề, nóng bức?
Cho nên Đức Phật nói đoạn tận sân là đồng nghĩa với Niết-bàn giới, đoạn tận sân là cứu cánh của Phạm hạnh, đoạn tận sân là mục đích tối cao của đời sống tu hành. Nếu mỗi lần cảm giác khó chịu sanh khởi lên mà mình không thấy, không quán chiếu, không trừ diệt, tẩy sạch thì tùy miên được tăng trưởng, Đức Phật gọi là sân tùy tăng, sân tùy miên sẽ tùy tăng theo cảm giác khổ thọ.
“Vị ấy do cảm xúc khổ thọ, mà sầu muộn, than vãn, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy tùy tăng.”
(Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)
Mỗi lần có cảm giác bực bội, sân hận, gay gắt, hơn thua, ganh tị, đối kị sanh khởi là mỗi lần đem chất dinh dưỡng nuôi sân tùy miên lớn thêm, tăng trưởng, phát triển quảng đại để xâm chiếm, áp đảo, nó làm cỗ xe, thành căn cứ địa, thành hang ổ trong cảm thọ của chúng ta. Bình thường mình không thấy người đó giận nhưng khi tiếp xúc thọ sanh khởi thì phừng phựt, thiêu rụi mọi thứ cho nên tất cả Pháp quy tụ, hội tụ nơi cảm thọ, trong cảm thọ đó chất chứa sân tùy miên và nó lớn lên trong cảm giác đó.
Cho nên giảm bớt sân chừng nào thì sân tùy miên này sẽ theo đó cũng bị nhiếp phục, bào mòn, nó sẽ được tẩy rửa bằng sự thực tập trải tâm từ hằng ngày. Mỗi ngày đều phải trải tâm từ thường xuyên và liên tục, không đợi đến lên thiền đường, không đợi đến lên chánh điện, không đợi đến khi có thời khóa trải tâm từ mới trải tâm từ mà lúc nào thuận lợi, phù hợp thì cứ việc trải tâm từ, thậm chí trước khi ngủ cũng trải tâm từ vô lượng mười phương, như vậy nó sẽ xóa sạch từ từ những cảm thọ sân hận đang bám chặt trong thân tâm. Tỳ-kheo tu tập Tứ Niệm Xứ sẽ xuyên thủng khối sân uẩn to lớn từ xưa đến nay chưa từng đâm thủng, phá vỡ sân uẩn từ xưa đến nay chưa từng phá vỡ.
Cho nên chúng ta cần cực kì cẩn thận trong cảm thọ, cảm giác, nếu không khéo mình lầm tưởng mình tu nhưng thật chất mình đang nuôi dưỡng sân và tham trong cảm thọ. Hằng ngày mình phải xem xét nó sanh khởi, an trú, vận hành và chấm dứt như thế nào, cần phải có sự để tâm miên mật, khít khao, thường xuyên, thường nhìn lại sắc; thọ; tưởng; hành; thức để có sự tẩy rửa, giải thoát, còn nhìn bề ngoài thì ai cũng giống ai nhưng thế nào là sự đặc thù giữa kẻ vô văn phàm phu và bậc Đa văn Thánh đệ tử? Thế nào là sự khác biệt giữa bậc Đa văn Thánh đệ tử và vô văn phàm phu?
“Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ, sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm.
Ví như, này các Tỳ-kheo, có người bị người ta bắn với mũi tên, rồi họ bắn người ấy với mũi tên thứ hai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, người ấy cảm giác cảm thọ cả hai mũi tên. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ; thời sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Người ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm.
Và này các Tỳ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ thời không có sầu muộn, không có than vãn, không có khóc lóc, không có đấm ngực, không có đi đến bất tỉnh. Vị ấy chỉ cảm thọ cảm giác một cảm thọ, tức là cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm.
Ví như, này các Tỳ-kheo, có người bị người ta bắn một mũi tên. Họ không bắn tiếp người ấy với mũi tên thứ hai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, người ấy cảm giác cảm thọ của một mũi tên. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ; vị ấy không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác chỉ một cảm thọ, cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm. Vị ấy không cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, VI. Với Mũi Tên)
Chính là sự nội quán, nội soi, nội chiếu, sự chấm dứt, đoạn diệt, ly tham, từ bỏ. Có thân thì có bệnh, Như Lai vẫn có bệnh, vẫn đau ốm nhưng tâm Như Lai không bị dao động mà là bất động tâm giải thoát, còn mình bị trúng hai mũi tên vừa thọ tâm vừa thọ thân. Các bậc Thánh đệ tử đi nắng thì thân khó chịu nhưng cái tâm vẫn bình an còn mình đi nắng là khó chịu, từ thọ thân lây qua thọ tâm như vậy mình bị bắn trúng hai mũi tên. Vì thế sự quán chiếu vô thường đối với thân, đối với khổ thọ, sự quán chiếu ly tham, đoạn diệt, từ bỏ là cực kì quan trọng để đoạn diệt tâm sân đi theo mình miên man trong vô lượng kiếp.
III. Hỷ lạc
Cái Pháp cũng có trình tự như mình đi học, học bảng chữ cái, rồi ghép vần sau đó mới đọc chữ, viết chữ, lần lần mới đặt câu thành đoạn văn, nhiều đoạn mới thành bài văn. Sự tu học của mình cũng có tuần tự, trong cái vui của cuộc đời tạm chia ra hai cái là vui đục và vui trong. Vui đục là những cái vui đưa đến ác bất thiện pháp, vui trong là những cái vui đưa đến tăng trưởng thiện pháp, Đức Phật và các bậc Thánh khen ngợi và cần phải có.
Cho nên những cái vui ở trong đời nhưng làm lòng mình được thanh thản, bình an, sâu lắng vẫn tốt hơn so với đi vào hội chợ đông người, ca hát ồn ào, ngồi yên trên Quán Chiếu Đường, nhìn mây bay ngắm Mặt Trời lên để có những hơi thở trong lành giữa đại ngàn thì cái này gọi là vui trong, những cái vui này vẫn tốt. Khi vào tu học cũng vậy, có vui thô và vui tế. Khi chúng ta mới bắt đầu đi vào con đường thực tập giáo Pháp ly tham thì vẫn cần vui mới tu, lúc đầu đó là cái vui thuộc về thô nhưng phải có, nghe pháp được, hiểu được sự thật thì vui như mọi người thường tán thán Đức Thế Tôn:
“Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama cho con được xuất gia trước mặt Thế Tôn, cho con được thọ đại giới!”
(Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-la-hán Thứ Nhất, I. Dhananjàni)
Như vậy dựng đứng lại những gì bị quăng ngã có vui không? Đem đèn sáng vào bóng tối cho những người có mắt thấy được sắc thì có vui không? Đang bị lạc hướng mà có người chỉ đường cho mình có vui không? Tất cả đều là vui cho nên chúng ta có danh từ "thiền duyệt Pháp lạc", duyệt cũng có nghĩa là vui. Chính vì thế mà trong đời tu của chúng ta có rất nhiều cái vui, giữ được giới thì vui, có đời sống trong sạch thì vui, sống trong cảnh núi rừng thanh tịnh.
Khả ái thay núi rừng,
Chỗ người phàm không ưa,
Vị ly tham ưa thích,
Vì không tìm dục lạc.
(Kinh Pháp Cú 07 – Phẩm A La Hán, kệ 99)
Chúng ta ở núi rừng rất vui, hoan hỉ nhưng nhớ rằng cái vui trong tu hành thường đi ngược lại thế gian, còn vui thuận đời thì đó là vui của thế gian, vui liên hệ đến vật chất. Chỗ người phàm không ưa mà vị ly tham lại ưa thích vì vị đó không tìm dục lạc. Chúng sanh đam mê, ưa thích trong sắc nhưng Đức Phật dạy người tu phải quán Ba Mươi Hai Thể Trược, quán Chín Giai Đoạn Tử Thi để lìa tham dục với thân thì vui. Mình vui cái vui mà người đời không thấy vui, chỗ ồn ào thì mình lại muốn lìa xa cho nên cái vui của người tu gọi là nghịch lưu. Mình nghe Pháp ly tham, nghe Pháp để thấy được sự thật tiêu vong, bại hoại, từ bỏ cho nên sự tu của mình là đi ngược dòng.
Vì vậy giữ giới là điều người đời thấy khó làm được, còn mình giữ được là vui còn sai phạm là buồn khổ, thế gian thấy khó chịu khi thiền định vì chỉ được ngồi yên không được nhúc nhích nhưng mình ngồi được thì vui, cái viễn ly, rời xa thì người đời thấy đau khổ nhưng người tu lấy cái viễn ly, rời xa làm hạnh phúc. Thánh trí tuệ là nhìn ra được bản chất phũ phàng của đời này, chỉ toàn là tham sân si, vô minh, bản ngã, cái tâm lậu hoặc nhưng người đời lại thấy đó là bi quan, toàn nói khổ, vô thường, phải thấy yêu đời lên, còn mình lại lấy sự thâm nhập, thể nhập trí huệ đó làm niềm vui.
Chúng ta tu rất cần cái vui vì niềm vui là món ăn tinh thần trong sự tu, nhờ nó nuôi dưỡng, tưới tẩm mình lớn mạnh trong thiền định, trí tuệ, cho đến khi mình có chân đứng trong Pháp và Luật để Nhập Lưu thì lúc này bắt đầu mình khai triển Thánh trí huệ đầy đủ để đưa đến ly tham trọn vẹn, chậm nhất là bảy đời còn nhanh nhất trong một kiếp trở thành bậc Tu-đà-hoàn. Khi đến Thánh quả thứ nhất thì từ đó về sau chúng ta sẽ không bị những cái vui khác chi phối nhiều nữa, chúng ta đi đến chỗ đầy đủ trí huệ để đưa đến sự nhất hướng giải thoát khỏi ngũ uẩn, ly tham, từ bỏ hoàn toàn. Trong giai đoạn này chúng ta phải có cái vui về Pháp, còn nếu không có Pháp lạc sẽ bị dục lạc lôi kéo vì mình chưa đủ sức Nhập Lưu, nếu cái vui bên Pháp không mạnh, an lạc, hạnh phúc, phấn khởi không có sẽ bị cái vui đời thu hút, làm cho mình đổ vỡ, vì mình thấy đời tu nhạt nhẽo, khô khan, trong khi bên ngoài bao nhiêu cái vui sướng, đẹp đẽ vì vậy mình sẽ bị thu hút.
Cho nên sự tu học phải có tuần tự, phải có thứ bậc, phải biết chúng ta đang ở đâu và cần những gì để tu hành, mình phải vượt qua khổ thọ về tinh thần, Đức Phật nói nước mắt đầy mặt, bứt tóc đấm ngực, có khi ngất xỉu để thực hành Pháp, để thành tựu Thánh đạo, không phải đi tu là nhàn hạ mà đi tu phải gánh một gánh rất nặng của thiện Pháp, Thánh Pháp cho nên những khổ thọ phi vật chất trong đời sống tu tập của chúng ta thì chúng ta phải khắc phục, vượt qua, phải quán chiếu nó là vô thường, là tiêu vong, không được dính mắc, không được nản lòng để không bị những cảm thọ buồn chán, đau nhức, mệt mỏi, khó nhớ khi học kinh làm chướng ngại tu tập, phải nhìn thấy được do có thân nên mới có cảm thọ này, mà thân thì vô thường, tiêu vong thì cảm thọ đó làm sao thường còn được?
Thân này không đáng tham, dính mắc thì cảm thọ khó chịu làm sao lại dính mắc? Khi nghe Pháp ai cũng ngồi im nhưng trong tâm lại có khổ thọ, có khi lại đau đớn thậm chí biểu hiện ra mặt nhăn lại, cho nên trong sự tu cần nhiếp phục và phải quán chiếu "thân đau mà tâm không đau", "thân khổ nhưng tâm không khổ", tác ý từ bỏ. Có những vị khi ngồi thiền cảm thấy đau nhức thì họ quán từ bỏ, chú tâm liên tục vào đề mục là quên luôn cái đau, còn mình để tâm vào cái đau thì tưởng sanh ra, thọ; tưởng; hành hoạt động liên tục thì bung chân, cho nên trong sự tu tập của chúng ta, nhiếp phục cảm thọ trong khi hành Pháp là cực kì quan trọng, phải có ý chí, nghị lực.
./.
QUÁN CHIẾU THÂM SÂU VỀ CẢM THỌ 3
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Lạc thọ - tham tùy miên PAGEREF _Toc112839381 \h 1
II. Khổ thọ - sân tùy miên PAGEREF _Toc112839382 \h 9
III. Hỷ lạc PAGEREF _Toc112839383 \h 13
I. Lạc thọ - tham tùy miên
“Một thời Thế Tôn trú ở Vesali, Ðại Lâm, tại giảng đường của Ngôi nhà có Nóc nhọn.
Rồi Thế Tôn, vào buổi chiều, từ chỗ tịnh cư đứng dậy, đi đến gian phòng chữa bệnh; sau khi đến, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn. Sau khi ngồi, Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:
-- Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo phải chánh niệm, tỉnh giác khi thời đã đến (khi mệnh chung). Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
Và này các Tỳ-kheo, thế nào là Tỳ-kheo chánh niệm?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo sống quán thân trên thân, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo chánh niệm. Sống quán thọ trên các cảm thọ... quán tâm trên tâm... quán pháp trên các pháp, nhiệt tâm, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục tham ưu ở đời. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo chánh niệm.
Và như thế nào, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo tỉnh giác?
Ở đây, này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo khi đi tới, khi đi lui đều tỉnh giác; khi nhìn thẳng, khi nhìn quanh đều tỉnh giác; khi co tay, khi duỗi tay, đều tỉnh giác; khi mang y kép, bình bát, thượng y đều tỉnh giác; khi ăn, uống, nhai, nếm đều tỉnh giác; khi đi đại tiện, tiểu tiện đều tỉnh giác; khi đi, đứng, ngồi, nằm, thức, nói, im lặng đều tỉnh giác. Như vậy, này các Tỳ-kheo, là Tỳ-kheo tỉnh giác.
Này các Tỳ-kheo, Tỳ-kheo cần phải chánh niệm tỉnh giác khi thời đã đến. Ðây là lời giáo giới của Ta cho các Ông.
Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, lạc thọ khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: "Lạc thọ này khởi lên nơi ta. Lạc thọ ấy có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên chính thân này, nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên thân khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, thời lạc thọ được khởi lên, làm sao thường trú được?". Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong (vaya). Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và lạc thọ của vị ấy, nên tham tùy miên đối với thân và lạc thọ được đoạn diệt.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Do có thân nên mới sanh khởi ra cảm giác vui, thân này lại vô thường, biến đổi, thân này do cha mẹ tác thành, do cơm cháo nuôi dưỡng nên nó hoại diệt. Cảm giác vui này y cứ nơi thân trong khi thân lại vô thường thì làm sao cảm giác vui này lại thường trú được. Thân này là hữu vi, là bại hoại, bệnh tật, tan rã, dựa vào một cái tan rã, bại hoại thì làm sao là chỗ dựa vững chắc được, dựa vào cái vô thường, tan vỡ thì làm sao cảm giác này trường cữu được? Thân này rồi sẽ có ngày chấm dứt, sụp đổ, ngã xuống bất động.
Do an trú quán chiếu từ bỏ đối với thân, đối với lạc thọ nên cái tham đi theo miên man trong thân được đoạn diệt, chấm dứt. Bài kinh này cực kì thâm sâu và cũng là pháp hành để diệt tham tùy miên đối với sắc uẩn và thọ uẩn, đương nhiên cũng có tưởng; hành; thức. Đức Thế Tôn chỉ cho chúng ta sự tác ý, quán chiếu, an trú trong sự quán tưởng sâu sắc về lạc thọ, tất cả chúng sanh bao gồm chúng ta đều bị lạc thọ, cảm giác vui sướng này nhận chìm.
Cảm giác dễ chịu, ngọt ngào, khả lạc, khả hỷ, khả ý, khả ái liên hệ đến dục hấp dẫn bị dính mắc trong cảm thọ này, tham ái trong cảm giác này, bị tham đắm trong cảm xúc vui sướng này và chúng ta bị ràng buộc, trói cột rồi những dòng nước mắt tuôn xuống, những suy nghĩ, toan tính, lo lắng, sợ hãi, sân hận, sầu, bi, khổ, ưu, não chồng chất và toàn bộ khổ uẩn này được tích tập từ chỗ tham đắm vào lạc thọ. Đức Thế Tôn dạy chúng ta phải sống chánh niệm và tỉnh giác, quán thọ trên các thọ, nghĩa là phải thường xuyên và liên tục canh chừng, dò xét cảm giác trong mọi lúc mọi nơi.
Khi mình đang có cảm giác vui sướng thì mình có nhận diện được nó không hay quên mất mình luôn? Khi đang có cảm giác hoan hỉ thì trí quán của mình bị dập tắt, mình bị đồng hóa với cảm giác lạc thọ, chúng ta chết trong lạc thọ này, tham tùy miên theo đó mà tùy tăng. Mỗi lần trong thân tâm sanh khởi lên lạc thọ thì cái tham tùy miên sẽ tăng theo lạc thọ đó, chỗ này hết sức sâu sắc mà chúng ta cần thực tập và nhìn sâu vào cảm thọ mới thấy được. Nhiều lần như vậy thì cái tham đi theo miên man được lớn dần, tăng trưởng phát triển quảng đại, sự tham thích, tham đắm, dính mắc trong lạc thọ càng ngày càng siết chặt, càng ngày càng ăn sâu vào xương tủy chúng ta, như thế hữu ái được tiếp tế, thân kiến được tăng trưởng.
“Này các Tỳ-kheo, do duyên mắt và do duyên các sắc, khởi lên nhãn thức. Sự gặp gỡ của ba pháp này là xúc. Do duyên xúc, khởi lên lạc thọ, khổ thọ hay bất khổ bất lạc thọ. Vị ấy do cảm xúc lạc thọ, mà hoan hỷ, tán thán, trú ở ái trước; tham tùy miên của vị ấy tùy tăng.”
(Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)
Sự ưa thích trong cảm giác vui sướng làm cho lớn mạnh tham tùy miên, dục tùy miên, ái tùy miên. Chính cảm giác lạc thọ đó là chất dinh dưỡng để nuôi tham, ái, dục. Ngay khi vui sướng mà không chánh niệm tỉnh giác, không nhiệt tâm tinh cần mà lại buông lung phóng dật thì lạc thọ khởi lên sẽ lập tức nhận chìm mình, đây là chỗ sâu sắc trong phần quán thọ trên các thọ. Mỗi lần cảm giác vui sướng sanh khởi lên thì tham tùy miên theo đó cũng tăng trưởng lớn mạnh, mỗi lần như vậy là mình nuôi nó, thêm nhiên liệu cho ngọn lửa tham ái, ham thích, đam mê trong cái vui đó.
Ví dụ khi nói chuyện vui thì có cảm giác dễ chịu, ăn ngon thì có cảm giác thích thú, đi chơi có cảnh đẹp thì có cảm giác vui thích, như vậy tham tùy miên sẽ tăng trưởng theo cảm giác lạc thọ đó. Bây giờ tu như thế nào? "Tham tùy miên khởi lên nơi ta là Pháp duyên sanh, nó là cái Pháp điều kiện, nó là cái Pháp vô thường", do duyên có xúc nên có thọ, có sự tiếp xúc mới sanh ra cảm giác, sở dĩ có thân này nên mới có xúc, như vậy có sáu xúc: Nhãn xúc; nhĩ xúc; tỷ xúc; thiệt xúc; thân xúc; ý xúc, sáu sự tiếp xúc của mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý. Cơ sở để phát sanh ra cảm xúc là từ nơi thân trong khi thân này làm bằng những thứ vô thường thì làm sao cảm giác đó thường trú được?
Chính vì vậy cần quán tánh sanh khởi, tánh diệt tận trên các cảm thọ. Khi nó vừa sanh khởi lên cần phải thấy nó, nếu không có chánh niệm tỉnh giác, không có nhiệt tâm tinh cần thì khi nó sanh lên mình không kịp thấy nó, mình bị nó cuốn trôi, đến khi nhìn lại thì mình đã bị nó cuốn đi mất. Nếu có sự chánh niệm tỉnh giác và nhiệt tâm tinh cần thì mình có thể chặn ngay từ đầu vì thế ngay đây mình cần phân biệt được cái nào là lạc thọ liên hệ đến vật chất và lạc thọ không liên hệ đến vật chất.
“Ví như, này các Tỳ-kheo, một nhà khách, ở đấy, từ phương Ðông có một người đến ở. Từ phương Tây, có người đến ở. Từ phương Bắc, có người đến ở. Từ phương Nam, có người đến ở. Những người Sát-đế-lỵ đến ở, những người Bà-la-môn đến ở, những người Phệ-xá (Vessa) đến ở, những người Thủ-đà (Suddà) đến ở. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, trong cái thân này có nhiều loại thọ sai biệt khởi lên. Lạc thọ khởi lên, khổ thọ khởi lên, bất khổ bất lạc thọ khởi lên.
Có những lạc thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những khổ thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những bất khổ bất lạc thọ liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những lạc thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những khổ thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên. Có những bất khổ bất lạc thọ không liên hệ đến vật chất khởi lên.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV - Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Hai - Phẩm Sống Một Mình, IV. Khách Xá)
Cảm giác vui sướng theo đời và cảm giác an lạc trong Pháp cần phải được phân biệt rõ ràng. Khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm và ý nhận thức các Pháp thì cảm giác nghĩ tưởng bên trong có lạc thọ vui sướng thì cái đó gọi là lạc thọ liên hệ đến vật chất. Khi nghe Pháp, quán chiếu mà tâm được nhẹ nhàng khinh an trong Thất Giác Chi, được ly sanh hỷ lạc thì đó là lạc thọ có được từ sự tu học Thánh Pháp nên đó là lạc thọ không liên hệ đến vật chất.
Cần nhớ để Trạch Pháp Giác Chi trong tâm, cho nên những sự tiếp xúc nào sanh khởi lên theo đời, theo thế gian, theo vật chất thì cần loại trừ, nó làm cho tham tăng trưởng, còn khi nghe Pháp, thực tập thiền hoặc quán chiếu mà đưa đến hỷ lạc, thanh tịnh, dễ chịu, nhẹ nhàng thì lạc thọ này không thuộc vật chất nên tham tùy miên không tăng trưởng mà ly tham lại tăng trưởng.
Cảm giác vui sướng thuộc vật chất làm cho tham tăng trưởng, cảm giác vui sướng không thuộc vật chất làm cho ly tham được lớn mạnh. Cái vui nào đưa đến ly tham, nhàm chán các dục, chấm dứt, từ bỏ những thứ vô thường, khổ, vô ngã thì cái vui đó cần phát triển. Cái vui nào đưa đến cái tham càng tăng trưởng, phát triển thì cái vui đó cần phải đoạn trừ. Đức Phật dạy mình nhiếp phục và đoạn tận cái vui chạy theo vật chất, cần nhớ kĩ để nhiều lúc không trạch pháp được thì tu vui mình cũng không cho, không muốn an lạc sanh khởi vì cho đó làm tham, mình phải hiểu được vấn đề chỗ này.
Đức Phật dạy quán cảm giác vui sướng theo thế gian như thế nào? Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và lạc thọ. Vị này thường xuyên quán thân trên thân, niệm thân trên thân, soi xét thân nơi thân, tư duy bốn yếu tố hình thành thân này, tư duy ba mươi hai thể trược dơ bẩn, xú uế, bất tịnh, quán chiếu chín giai đoạn phân hủy của một tử thi.
Vị này thường trú, thường quán, thường đặt tâm của mình trong những hình ảnh, cảm giác, suy nghĩ đó thì gọi là vị ấy trú quán thân trên thân, quán tâm trên tâm, quán Pháp trên Pháp, quán thọ trên thọ, còn ở đây Đức Phật nói quán vô thường đối với thân và lạc thọ. Một ngày mình an trú trong sự quán vô thường với thân này được bao lâu? Một ngày mình nhìn ra được các lạc thọ đang sanh khởi, đang xâm chiếm được bao nhiêu lần? Nếu không có sự tinh mắt, tinh vi, không có sự tinh thông ngũ uẩn, cảm thọ thì nó sanh khởi, xâm chiếm hay áp đảo mình cũng không biết, đối với những cảm thọ vừa hoặc vi tế thì nó cực kì sâu sắc cho nên một vị Tỳ-kheo sống chánh niệm và tỉnh giác, sống không buông lung phóng dật, sống với sự nhiệt tâm tinh cần thì khi lạc thọ khởi lên vị ấy biết với trí tuệ (tuệ tri).
Biết bằng trí tuệ là biết và giải phá, ly tham đối với lạc thọ thì mới gọi là tuệ tri. Mình biết có người đang lẻn vào nhà chuẩn bị lấy đồ thì không phải chỉ biết rồi thôi mà cần báo động, la lên. Cũng vậy, khi lạc thọ sanh khởi, tham muốn tấn công mình, ưa thích trong ngũ uẩn xâm nhập mình thì mình phải dùng mọi cách đánh đuổi nó, như vậy mới gọi là biết bằng trí tuệ.
Vì thế chữ "tuệ tri" trong kinh Tứ Niệm Xứ là chìa khóa bao trùm hết tất cả Thánh tri kiến, Thánh tư duy của Đức Phật cho nên tuệ tri không chỉ là rõ biết rồi thôi mà biết bằng trí tuệ, sử dụng chánh tư duy, chánh tri kiến và chánh tinh tấn để giải phá, giải phóng khỏi cảm thọ ham muốn đó bằng sự quán chiếu cảm giác vui này có điều kiện.
Do nhìn thấy mới thích, do có nghe mới thấy thoải mái, do có ngửi, nếm, đụng chạm nhưng cái các thọ này được thành lập nơi thân, cái thân này thì vô thường, do tứ đại tác thành, do cha mẹ sanh, do cơm cháo nuôi dưỡng, là nơi ung nhọt, bệnh tật. Khi nghệ sĩ Chí Tài qua đời thì mọi người bình luận rất sâu sắc "nồi cơm điện còn có ngày bảo hành, mạng sống con người thật mong manh, hễ đi là đi thôi". Nồi cơm điện có thời hạn bảo hành sáu tháng, một năm còn mạng sống của con người ra đi là đi, không được báo trước cũng không hay biết. Đó là những người bình thường mà người ta còn cảm nhận được như vậy cho nên Đức Phật dạy trú, quán vô thường với thân, hãy nhìn tất cả cảm giác vui sướng này là biến đổi, là sanh diệt, không có cảm thọ nào kéo dài mãi.
Vị ấy trú, quán tiêu vong, tiêu tan và diệt vong. Con đang nằm nghỉ trưa thì nhớ đến công việc đang dang dở trong bài Pháp đang dàn dựng, con nghĩ bây giờ cứ nằm nghỉ, thức dậy thì dặn dò cũng không muộn nhưng sau đó có ý hành "ngồi dậy dặn vì có thể nằm rồi sẽ không thức dậy nữa, chưa chắc gì chút nữa mình sẽ thức. Nếu mình ra đi thì công việc thiện pháp này sẽ dở dang, bài Pháp không hoàn thành", đó là trú và quán tiêu vong đối vối thân này và đối với những cảm giác vui thích.
Vị ấy trú, quán ly tham đối với thân này và đối với những cảm giác vui sướng. Vị ấy trú, quán đoạn diệt, là tính chất sanh diệt của các cảm thọ, khi đang có cảm thọ vui sướng phải tác ý "cảm thọ vui này rồi cũng đi đến chỗ chấm dứt, cũng tan biến". Đây là những pháp lệnh, khẩu quyết, bí quyết thiền quán của Đức Phật: Quán vô thường đối với thân và lạc thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong (vaya). Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Xin thưa với đại chúng, trong kinh Nikāya là thiền quán, là sự quán chiếu đầy đủ mọi khía cạnh, góc độ, ngõ ngách, viên mãn, bao quát tất cả ngũ uẩn, thân tâm, đời sống, thế giới, nhân sinh là pháp quán tác động tâm ý đúng như chân lý (Như lý tác ý). Nếu không Như lý tác ý thì trí huệ không thể khơi dậy được, không thể tỏ sáng giữa cuộc đời này, cho nên lúc nào cũng phải dùng Như lý tác ý suy xét, sau khi có nội tâm tương đối an ổn trong sự thiền tập thì chúng ta phải thường xuyên tác ý, quán chiếu.
“Này chư Hiền, các pháp lấy dục làm căn bản. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây”
(Tăng Chi Bộ, Chương VIII. Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, (III) (83) Cội Rễ Của Sự Vật).
Cảm giác vui sướng này rồi cũng diệt vong, cũng bị dập tắt, chấm dứt cho nên người đó an trú trong sự quán chiếu từ bỏ. Mình không từ bỏ nó thì nó cũng từ bỏ mình, thà là mình từ bỏ nó thì mình không khổ chứ còn đợi nó từ bỏ thì mình sẽ khổ đau. Mình biết nó là vô thường, tiêu vong, là cái không đáng để tham thì mình hãy từ bỏ nó, trước cũng bỏ sau cũng bỏ nên hãy bỏ ngay từ giờ, diệt tận, tan biến hoàn toàn đi, chặt nó như chặt cây tala để không còn sanh khởi trong tương lai nữa.
Từ bỏ nó có thể sẽ khó chịu một chút nhưng rồi sẽ bình an mãi mãi và vĩnh viễn, mình đợi nó bỏ mình thì mình sẽ đau khổ dài dài, phiền não triền miên trong sự tiếc nuối, hối hận và hệ lụy. Đối với thân hãy quán tiêu vong, quán đoạn diệt, tuyệt đối quan trọng là phải quán từ bỏ nhất là lúc mạng chung, quán vô thường, quán ly tham, đoạn diệt, đây là năm phép thiền quán thâm sâu, cốt tủy.
Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và lạc thọ của vị ấy, nên tham tùy miên đối với thân và lạc thọ được đoạn diệt. Đó là thành quả, là kết quả, là Thánh quả. Đoạn tận tham đồng nghĩa với Niết-bàn giới, đoạn tận tham đồng nghĩa với cứu cánh của Phạm hạnh, đoạn tận tham là mục đích tối thượng của đời sống Phạm hạnh.
Tham miên man, thâm căn cố đế, làm thành lũy trong thân tâm chúng ta là tham đối với thân xác này, tham đối với hình hài này, tham đối với đời sống vô thường, ảo mộng, tạm bợ, bất tịnh này, tham đối với những cảm giác vui sướng, khoan khoái, dễ chịu này. Do quán chiếu năm phép quán ở trên mới chấm dứt, đoạn tận hoàn toàn lòng tham miên man đối với thân xác và những cảm giác vui sướng đó.
II. Khổ thọ - sân tùy miên
“Này các Tỳ-kheo, nếu Tỳ-kheo sống chánh niệm, tỉnh giác, không phóng dật, nhiệt tâm, tinh cần như vậy, khổ thọ khởi lên. Vị ấy tuệ tri như sau: "Khổ thọ này khởi lên nơi ta. Khổ thọ ấy có duyên, không phải không duyên. Do duyên gì? Do duyên chính thân này. Nhưng thân này là vô thường, hữu vi, do duyên sanh. Do duyên thân khởi lên, và duyên này là vô thường, hữu vi, thời khổ thọ được khởi lên, làm sao thường trú được?". Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và khổ thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong. Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do vị ấy trú, quán vô thường; do vị ấy trú, quán tiêu vong; do vị ấy trú, quán ly tham; do vị ấy trú, quán đoạn diệt; do vị ấy trú, quán từ bỏ đối với thân và khổ thọ của vị ấy, nên sân tùy miên đối với thân và khổ thọ được đoạn diệt.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV. Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một – Phẩm Có Kệ, VII. Tật Bệnh)
Thân này là vô thường thì cảm giác đau khổ, khó chịu này làm sao thường trú được? Cũng giống phép quán lạc thọ, vị ấy trú, quán tính chất biến đổi, vô thường của thân và cảm giác khó chịu này. Thân này còn bại hoại thì huống gì cảm giác này. Vị ấy an trú, quán tiêu vong của thân này, cảm giác này. Vị ấy an trú, quán sự ly tham đối với thân này và cảm giác khó chịu đó, quán vô thường, quán đoạn diệt, quán từ bỏ cảm giác khổ sở, bứt rứt này rồi nó cũng sẽ tiêu vong, đừng dính mắc vào cảm giác này.
Đừng cho cảm giác này là mình, là của mình, là tự ngã của mình mà hãy quán cảm giác khổ này, khó chịu này sẽ tiêu tan, chấm dứt. Xả bỏ, giải phóng khỏi cảm giác khó chịu, bực bội đó và làm cho nó tan biến hoàn toàn, trở về an trú trong cảm giác toàn thân, an tịnh, lắng dịu và dễ chịu.
Do quán chiếu như vậy nên sân tùy miên đối với thân và khổ thọ được đoạn diệt, sự sân hận miên man trong tâm được chấm dứt do sự quán chiếu thân này vô thường, cảm giác khổ này vô thường, thân này tiêu vong, cảm giác khổ này cũng sẽ tiêu vong, thân này không đáng để tham, để dính mắc, cảm giác khổ này cũng không đáng để dính mắc nên chất chứa nó để làm gì. Để nó thiêu đốt, đốt cháy, hủy hoại hay sao? Vị ấy trú, quán vô thường đối với thân và khổ thọ. Vị ấy trú, quán tiêu vong. Vị ấy trú, quán ly tham. Vị ấy trú, quán đoạn diệt. Vị ấy trú, quán từ bỏ. Do quán như vậy nên tâm miên man đối với thân này và khổ thọ kia sẽ được đoạn diệt và chấm dứt hoàn toàn.
Mỗi khi mình gặp cảm giác khó chịu và cảm giác dễ chịu thì mình có quán giống như vầy không? Trong bao lâu cảm giác khó chịu tan từ khi nó sanh khởi? Có khi nào nó vẫn ở trong đó ba ngày, bảy ngày không? Như vậy là mình nuôi rắn độc, phải tác động tâm ý, quán chiếu, từ bỏ, đuổi con rắn độc đó ra khỏi căn nhà nội tâm. Một người lúc nào cũng có cảm giác khó chịu, gắt gỏng, bực tức, sân hận trong cơ thể thì người đó có thấy dễ chịu hay đau khổ, nặng nề, nóng bức?
Cho nên Đức Phật nói đoạn tận sân là đồng nghĩa với Niết-bàn giới, đoạn tận sân là cứu cánh của Phạm hạnh, đoạn tận sân là mục đích tối cao của đời sống tu hành. Nếu mỗi lần cảm giác khó chịu sanh khởi lên mà mình không thấy, không quán chiếu, không trừ diệt, tẩy sạch thì tùy miên được tăng trưởng, Đức Phật gọi là sân tùy tăng, sân tùy miên sẽ tùy tăng theo cảm giác khổ thọ.
“Vị ấy do cảm xúc khổ thọ, mà sầu muộn, than vãn, than khóc, đập ngực, rơi vào bất tỉnh; sân tùy miên của vị ấy tùy tăng.”
(Trung Bộ Kinh, 148. Kinh Sáu sáu)
Mỗi lần có cảm giác bực bội, sân hận, gay gắt, hơn thua, ganh tị, đối kị sanh khởi là mỗi lần đem chất dinh dưỡng nuôi sân tùy miên lớn thêm, tăng trưởng, phát triển quảng đại để xâm chiếm, áp đảo, nó làm cỗ xe, thành căn cứ địa, thành hang ổ trong cảm thọ của chúng ta. Bình thường mình không thấy người đó giận nhưng khi tiếp xúc thọ sanh khởi thì phừng phựt, thiêu rụi mọi thứ cho nên tất cả Pháp quy tụ, hội tụ nơi cảm thọ, trong cảm thọ đó chất chứa sân tùy miên và nó lớn lên trong cảm giác đó.
Cho nên giảm bớt sân chừng nào thì sân tùy miên này sẽ theo đó cũng bị nhiếp phục, bào mòn, nó sẽ được tẩy rửa bằng sự thực tập trải tâm từ hằng ngày. Mỗi ngày đều phải trải tâm từ thường xuyên và liên tục, không đợi đến lên thiền đường, không đợi đến lên chánh điện, không đợi đến khi có thời khóa trải tâm từ mới trải tâm từ mà lúc nào thuận lợi, phù hợp thì cứ việc trải tâm từ, thậm chí trước khi ngủ cũng trải tâm từ vô lượng mười phương, như vậy nó sẽ xóa sạch từ từ những cảm thọ sân hận đang bám chặt trong thân tâm. Tỳ-kheo tu tập Tứ Niệm Xứ sẽ xuyên thủng khối sân uẩn to lớn từ xưa đến nay chưa từng đâm thủng, phá vỡ sân uẩn từ xưa đến nay chưa từng phá vỡ.
Cho nên chúng ta cần cực kì cẩn thận trong cảm thọ, cảm giác, nếu không khéo mình lầm tưởng mình tu nhưng thật chất mình đang nuôi dưỡng sân và tham trong cảm thọ. Hằng ngày mình phải xem xét nó sanh khởi, an trú, vận hành và chấm dứt như thế nào, cần phải có sự để tâm miên mật, khít khao, thường xuyên, thường nhìn lại sắc; thọ; tưởng; hành; thức để có sự tẩy rửa, giải thoát, còn nhìn bề ngoài thì ai cũng giống ai nhưng thế nào là sự đặc thù giữa kẻ vô văn phàm phu và bậc Đa văn Thánh đệ tử? Thế nào là sự khác biệt giữa bậc Đa văn Thánh đệ tử và vô văn phàm phu?
“Này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ, sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm.
Ví như, này các Tỳ-kheo, có người bị người ta bắn với mũi tên, rồi họ bắn người ấy với mũi tên thứ hai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, người ấy cảm giác cảm thọ cả hai mũi tên. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, kẻ vô văn phàm phu khi cảm xúc khổ thọ; thời sầu muộn, than vãn, khóc lóc, đấm ngực, đi đến bất tỉnh. Người ấy cảm giác hai cảm thọ, cảm thọ về thân và cảm thọ về tâm.
Và này các Tỳ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ thời không có sầu muộn, không có than vãn, không có khóc lóc, không có đấm ngực, không có đi đến bất tỉnh. Vị ấy chỉ cảm thọ cảm giác một cảm thọ, tức là cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm.
Ví như, này các Tỳ-kheo, có người bị người ta bắn một mũi tên. Họ không bắn tiếp người ấy với mũi tên thứ hai. Như vậy, này các Tỳ-kheo, người ấy cảm giác cảm thọ của một mũi tên. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, bậc Ða văn Thánh đệ tử khi cảm xúc khổ thọ; vị ấy không sầu muộn, không than vãn, không khóc lóc, không đấm ngực, không đi đến bất tỉnh. Vị ấy cảm giác chỉ một cảm thọ, cảm thọ về thân, không phải cảm thọ về tâm. Vị ấy không cảm thấy sân hận đối với khổ thọ ấy.”
(Tương Ưng Bộ, Tập IV – Thiên Sáu Xứ, Chương II. Tương Ưng Thọ, Phần Một - Phẩm Có Kệ, VI. Với Mũi Tên)
Chính là sự nội quán, nội soi, nội chiếu, sự chấm dứt, đoạn diệt, ly tham, từ bỏ. Có thân thì có bệnh, Như Lai vẫn có bệnh, vẫn đau ốm nhưng tâm Như Lai không bị dao động mà là bất động tâm giải thoát, còn mình bị trúng hai mũi tên vừa thọ tâm vừa thọ thân. Các bậc Thánh đệ tử đi nắng thì thân khó chịu nhưng cái tâm vẫn bình an còn mình đi nắng là khó chịu, từ thọ thân lây qua thọ tâm như vậy mình bị bắn trúng hai mũi tên. Vì thế sự quán chiếu vô thường đối với thân, đối với khổ thọ, sự quán chiếu ly tham, đoạn diệt, từ bỏ là cực kì quan trọng để đoạn diệt tâm sân đi theo mình miên man trong vô lượng kiếp.
III. Hỷ lạc
Cái Pháp cũng có trình tự như mình đi học, học bảng chữ cái, rồi ghép vần sau đó mới đọc chữ, viết chữ, lần lần mới đặt câu thành đoạn văn, nhiều đoạn mới thành bài văn. Sự tu học của mình cũng có tuần tự, trong cái vui của cuộc đời tạm chia ra hai cái là vui đục và vui trong. Vui đục là những cái vui đưa đến ác bất thiện pháp, vui trong là những cái vui đưa đến tăng trưởng thiện pháp, Đức Phật và các bậc Thánh khen ngợi và cần phải có.
Cho nên những cái vui ở trong đời nhưng làm lòng mình được thanh thản, bình an, sâu lắng vẫn tốt hơn so với đi vào hội chợ đông người, ca hát ồn ào, ngồi yên trên Quán Chiếu Đường, nhìn mây bay ngắm Mặt Trời lên để có những hơi thở trong lành giữa đại ngàn thì cái này gọi là vui trong, những cái vui này vẫn tốt. Khi vào tu học cũng vậy, có vui thô và vui tế. Khi chúng ta mới bắt đầu đi vào con đường thực tập giáo Pháp ly tham thì vẫn cần vui mới tu, lúc đầu đó là cái vui thuộc về thô nhưng phải có, nghe pháp được, hiểu được sự thật thì vui như mọi người thường tán thán Đức Thế Tôn:
“Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Thật vi diệu thay, Tôn giả Gotama! Tôn giả Gotama như người dựng đứng lại những gì bị quăng ngã xuống, phơi bày ra những gì bị che kín, chỉ đường cho kẻ lạc hướng, hay đem đèn sáng vào trong bóng tối để những ai có mắt có thể thấy sắc. Cũng vậy, Chánh pháp đã được Tôn giả Gotama dùng nhiều phương tiện trình bày, giải thích. Vậy nay con xin quy y Thế Tôn Gotama, quy y Pháp và quy y Tỳ-kheo Tăng. Mong Tôn giả Gotama cho con được xuất gia trước mặt Thế Tôn, cho con được thọ đại giới!”
(Tương Ưng Bộ, Tập I. Thiên Có Kệ, Chương VII. Tương Ưng Bà La Môn, I. Phẩm A-la-hán Thứ Nhất, I. Dhananjàni)
Như vậy dựng đứng lại những gì bị quăng ngã có vui không? Đem đèn sáng vào bóng tối cho những người có mắt thấy được sắc thì có vui không? Đang bị lạc hướng mà có người chỉ đường cho mình có vui không? Tất cả đều là vui cho nên chúng ta có danh từ "thiền duyệt Pháp lạc", duyệt cũng có nghĩa là vui. Chính vì thế mà trong đời tu của chúng ta có rất nhiều cái vui, giữ được giới thì vui, có đời sống trong sạch thì vui, sống trong cảnh núi rừng thanh tịnh.
Khả ái thay núi rừng,
Chỗ người phàm không ưa,
Vị ly tham ưa thích,
Vì không tìm dục lạc.
(Kinh Pháp Cú 07 – Phẩm A La Hán, kệ 99)
Chúng ta ở núi rừng rất vui, hoan hỉ nhưng nhớ rằng cái vui trong tu hành thường đi ngược lại thế gian, còn vui thuận đời thì đó là vui của thế gian, vui liên hệ đến vật chất. Chỗ người phàm không ưa mà vị ly tham lại ưa thích vì vị đó không tìm dục lạc. Chúng sanh đam mê, ưa thích trong sắc nhưng Đức Phật dạy người tu phải quán Ba Mươi Hai Thể Trược, quán Chín Giai Đoạn Tử Thi để lìa tham dục với thân thì vui. Mình vui cái vui mà người đời không thấy vui, chỗ ồn ào thì mình lại muốn lìa xa cho nên cái vui của người tu gọi là nghịch lưu. Mình nghe Pháp ly tham, nghe Pháp để thấy được sự thật tiêu vong, bại hoại, từ bỏ cho nên sự tu của mình là đi ngược dòng.
Vì vậy giữ giới là điều người đời thấy khó làm được, còn mình giữ được là vui còn sai phạm là buồn khổ, thế gian thấy khó chịu khi thiền định vì chỉ được ngồi yên không được nhúc nhích nhưng mình ngồi được thì vui, cái viễn ly, rời xa thì người đời thấy đau khổ nhưng người tu lấy cái viễn ly, rời xa làm hạnh phúc. Thánh trí tuệ là nhìn ra được bản chất phũ phàng của đời này, chỉ toàn là tham sân si, vô minh, bản ngã, cái tâm lậu hoặc nhưng người đời lại thấy đó là bi quan, toàn nói khổ, vô thường, phải thấy yêu đời lên, còn mình lại lấy sự thâm nhập, thể nhập trí huệ đó làm niềm vui.
Chúng ta tu rất cần cái vui vì niềm vui là món ăn tinh thần trong sự tu, nhờ nó nuôi dưỡng, tưới tẩm mình lớn mạnh trong thiền định, trí tuệ, cho đến khi mình có chân đứng trong Pháp và Luật để Nhập Lưu thì lúc này bắt đầu mình khai triển Thánh trí huệ đầy đủ để đưa đến ly tham trọn vẹn, chậm nhất là bảy đời còn nhanh nhất trong một kiếp trở thành bậc Tu-đà-hoàn. Khi đến Thánh quả thứ nhất thì từ đó về sau chúng ta sẽ không bị những cái vui khác chi phối nhiều nữa, chúng ta đi đến chỗ đầy đủ trí huệ để đưa đến sự nhất hướng giải thoát khỏi ngũ uẩn, ly tham, từ bỏ hoàn toàn. Trong giai đoạn này chúng ta phải có cái vui về Pháp, còn nếu không có Pháp lạc sẽ bị dục lạc lôi kéo vì mình chưa đủ sức Nhập Lưu, nếu cái vui bên Pháp không mạnh, an lạc, hạnh phúc, phấn khởi không có sẽ bị cái vui đời thu hút, làm cho mình đổ vỡ, vì mình thấy đời tu nhạt nhẽo, khô khan, trong khi bên ngoài bao nhiêu cái vui sướng, đẹp đẽ vì vậy mình sẽ bị thu hút.
Cho nên sự tu học phải có tuần tự, phải có thứ bậc, phải biết chúng ta đang ở đâu và cần những gì để tu hành, mình phải vượt qua khổ thọ về tinh thần, Đức Phật nói nước mắt đầy mặt, bứt tóc đấm ngực, có khi ngất xỉu để thực hành Pháp, để thành tựu Thánh đạo, không phải đi tu là nhàn hạ mà đi tu phải gánh một gánh rất nặng của thiện Pháp, Thánh Pháp cho nên những khổ thọ phi vật chất trong đời sống tu tập của chúng ta thì chúng ta phải khắc phục, vượt qua, phải quán chiếu nó là vô thường, là tiêu vong, không được dính mắc, không được nản lòng để không bị những cảm thọ buồn chán, đau nhức, mệt mỏi, khó nhớ khi học kinh làm chướng ngại tu tập, phải nhìn thấy được do có thân nên mới có cảm thọ này, mà thân thì vô thường, tiêu vong thì cảm thọ đó làm sao thường còn được?
Thân này không đáng tham, dính mắc thì cảm thọ khó chịu làm sao lại dính mắc? Khi nghe Pháp ai cũng ngồi im nhưng trong tâm lại có khổ thọ, có khi lại đau đớn thậm chí biểu hiện ra mặt nhăn lại, cho nên trong sự tu cần nhiếp phục và phải quán chiếu "thân đau mà tâm không đau", "thân khổ nhưng tâm không khổ", tác ý từ bỏ. Có những vị khi ngồi thiền cảm thấy đau nhức thì họ quán từ bỏ, chú tâm liên tục vào đề mục là quên luôn cái đau, còn mình để tâm vào cái đau thì tưởng sanh ra, thọ; tưởng; hành hoạt động liên tục thì bung chân, cho nên trong sự tu tập của chúng ta, nhiếp phục cảm thọ trong khi hành Pháp là cực kì quan trọng, phải có ý chí, nghị lực.
./.