Quán Vô Thường - Ly Tham - Đoạn Diệt - Từ Bỏ
QUÁN VÔ THƯỜNG LY THAM ĐOẠN DIỆT TỪ BỎ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chia sẻ quá trình tu tập PAGEREF _Toc62544309 \h 1
II. Thọ hỷ, thọ lạc PAGEREF _Toc62544310 \h 5
III. Tu tập bốn hơi thở cuối trong mười sáu hơi thở PAGEREF _Toc62544311 \h 7
IV. Huấn luyện cảm thọ PAGEREF _Toc62544312 \h 8
V. Khuyến tấn hành thiền PAGEREF _Toc62544313 \h 9
VI. Tu tập bốn hơi thở vô thường, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ PAGEREF _Toc62544314 \h 10
VII. Hộ trì sáu xúc xứ PAGEREF _Toc62544315 \h 13
VIII. Tác ý PAGEREF _Toc62544316 \h 17
IX. Tác ý đánh tâm si PAGEREF _Toc62544317 \h 20
X. Ngũ uẩn vô ngã PAGEREF _Toc62544318 \h 23
I. Chia sẻ quá trình tu tập
Phật tử thứ nhất:
Con kính bạch thầy, con cùng đạo tràng Nikāya Hải Dương hôm nay về đây để được dự buổi tu học, rất mong thầy chia sẻ pháp đạo cho chúng con. Trong thời gian qua nhóm chúng con từ khi nhận được trên tay pháp bảo để tu học Nikāya, chúng con hành trì theo đường lối trong quyển sách đó, sự tu học của chúng con đoàn kết trong một nhóm. Khi về chùa thì thầy trụ trì chùa rất hoan hỷ. Vừa qua chúng con cũng đã về tu tập ba ngày bát chay giới và tới đây chúng con sẽ sắp xếp thời gian vào các buổi tối và có thể vào chủ nhật chúng con sẽ về chùa tu tập theo đường lối trong quyển sách.
Thứ nhất là chúng con đảnh lễ Đức Phật, thứ hai là chúng con tụng đọc một thời khóa bao giờ cũng đảnh lễ Đức Phật, có sám hối và tụng đọc căn bản chí, sau đó ngồi thiền tâm hiền, hoặc mười sáu hơi thở hoặc quán vô lậu, quán xét về thân bất tịnh. Sau đó thì chúng con có thể xem kẻ hành thiền, trưa chúng con thọ trai và lại hành thiền, một ngày chúng con tu tập bốn thời, mỗi thời hai tiếng chúng con áp dụng.
Ở Linh Quy Pháp Ấn chúng con đã được dự các pháp đàm và các buổi tu tập như vậy, sau đó khi hành thiền thì chúng con có quán chiếu, nhận diện ngũ uẩn và cũng có chia sẻ pháp về nhận diện ngũ uẩn cho nhóm và cho các cô bác, tất cả cô bác chúng con luôn hành trì như vậy, và tất cả các thời khóa, về nhà là chúng con áp dụng, buổi tối, buổi sáng, hầu như các Phật tử đều tu hành đều đặn. Ban ngày thì chúng con học các phòng hộ các căn, chánh niệm, phòng hộ các căn tu tập trong công việc.
Con kính xin thầy hoan hỷ chỉ dạy thêm cho chúng con.
Sư phụ giảng giải:
Quý Phật tử mới có hỏi gì không?
Phật tử thứ nhất: Chúng con đều là Phật tử đã vào Linh Quy, có bốn cô bác mới nhưng chưa về đây được, chúng con có bốn người thì đều trong nhóm, đều tu tập đúng hành trì, đường lối như vậy, như con đã trình bày.
Các quý Phật tử mới khác có gì hỏi không? Trong khi mình hành trì, mình tụng đọc, trong khi mình nghe, có gì còn chưa hiểu, chưa sáng tỏ mình có thể hỏi.
Phật tử thứ hai:
Bạch thầy, chúng con tới tuổi này nên cũng có nhiều thời gian rảnh rỗi, ngoài thời khóa tu tập, đối với bản thân con, ngày hai khóa sáng sớm và tối ngoài ra con cũng chỉ có công việc bình thường nên con cũng có thể tu tập hai thời sáng và buổi chiều, tầm hai giờ. Ngoài ra, nhóm trưởng hướng dẫn tu tập theo, con đã vào đoàn và vào Linh Quy hai lần, theo thời khóa con cũng nắm được một phần. Bản thân con không được trực tiếp gần thầy, nhưng thầy hiện trên màn hình và con được nghe tất cả những bài pháp chia sẻ, con luôn thường xuyên nghe.
Đối với bản thân con chỉ nghĩ là con cũng đã nắm được và chủ yếu là mình hành pháp thôi ạ.
Phật tử thứ ba:
Con kính thầy, quý thầy, quý sư cô và toàn thể Phật tử có mặt hôm nay. Khi con tu tập về định niệm hơi thở, con chưa được rõ ràng về lúc tu tập tâm hỷ lạc, hoan hỷ, lạc thọ, hai tâm đó lắm lúc con bị rối. Lúc mình quán bốn giai đoạn, quán vô thường, lúc đó con thường xuyên dùng tưởng, để bám sát vào thân mình, để xả bỏ thân mình như thế, con mong thầy chỉ dẫn cho con.
Phật tử thứ tư:
Con kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô và tất cả Phật tử nơi đây. Con xin chia sẻ một chút về sự tu tập của con. Phật tử trong nhóm tu Hải Dương chúng con cũng sinh hoạt theo quyển sách chị Sáu đã chia sẻ, quyển sách quý thầy cô đã phát cho chúng con. Hằng ngày, đối với bản thân con còn giao duyên rất nhiều, hiện nay gia đình có hai cháu bé sinh đôi còn rất nhỏ nên cũng không có thời gian nhiều để tu tập. Về thời khóa con cũng chỉ sắp xếp được buổi sáng hay buổi tối, buổi tối có thể được hơn hai tiếng, buổi sáng chỉ được dưới một tiếng. Còn khi bình thường, trong cuộc sống, con luôn cố gắng luôn nhìn vào tự thân của mình để thấy, biết được sự hoạt động của thân tâm để làm chủ hoàn cảnh, nghịch cảnh hằng ngày để đối diện, làm sao để bớt tạo nhân xấu cho mình.
Chúng con cũng được sự chỉ dẫn của chị trưởng nhóm, thời gian gần đây chúng con cũng có tiến triển tu tập hơn, trước kia là phần bố thí cúng dường chúng con bị dính mắc ở đó, đến thời điểm này chúng con thấy được tâm của mình rộng mở, bố thí cúng dường chúng con có sự hành trì, có kết quả, cảm thấy rõ rệt. Trước kia là tâm trói buộc, mỗi khi có duyên đến và mình phải làm việc cho tặng, bố thí, cúng dường hầu như là đối với bản thân con là con còn thấy sự dính mắc ở đó nhưng đến bây giờ con thấy tâm mình rộng mở thêm, mọi pháp con cũng thấy là mình có sự tiến bộ.
Một vài tháng trở lại chị em chúng con có nhận thấy được sự thay đổi trong tu tập, chúng con cũng rất cố gắng, luôn luôn nhắc nhở bản thân mình, chúng con có duyên may gặp được chánh pháp, quý thầy cô chỉ dẫn cho chúng con nên chúng con thấy rất là hạnh phúc, vì cuộc đời rất khổ. Nhiều lúc chúng con đã vượt qua được các nghịch cảnh, hoàn cảnh của mình nên thấy mình rất hạnh phúc.
Nên bản thân con thấy rằng dù nhân duyên rất nhiều nhưng những việc tạo lợi ích cho sự tu tập thì con luôn cố gắng hướng về đó, là mục đích hàng đầu của mình, mục tiêu hàng đầu của mình là lúc nào mình cũng đặt tâm vào trong đó, là sự tu tập, sự hướng thiện con sẽ cố gắng tu tập, hoan tập những tập khí, thói hư tật xấu, bản ngã rất cao, con sẽ cố gắng dần dần sám hối để diệt bản ngã của mình.
Hôm nay con về đây xin quý sư phụ chia sẻ thêm cho chúng con để được hiểu thêm, có đường lối cho chúng con tu tập được tốt hơn.
Phật tử thứ năm:
Khi chúng con được học pháp nhận diện ngũ uẩn, chúng con cũng nhìn nhận được ra thân tâm của chúng con. Hằng ngày nghe được bài giảng pháp của thầy, chúng con luôn hướng về nhận diện cảm thọ, nhất là cảm thọ trong hằng ngày. Vì vậy, từ cảm thọ này chúng con nhận được ra, tâm rộng mở ra, không còn bị dính mắc như ngày xưa. Từ việc đúng sai phải trái, từ việc đúng sai phải trái, từ việc bên ngoài hành trì theo pháp này hay theo pháp khác, tất cả mọi cái chúng con đều thấy rộng mở ra được, chúng con cũng thực hành được. Ví dụ như từ thiện hay về chùa làng, tu tập theo pháp môn nào. Giờ chúng con thấy rất hoan hỷ, thầy đã cho chúng con về chùa tu tập hành trì trong những ngày trai giới hoặc các ngày chủ nhật, các buổi tối.
Chúng con nhận ra lợi ích trong việc nhận diện ngũ uẩn từ các cảm thọ hằng ngày có sự dễ chịu, hay khó chịu, chỉ có cảm thọ bất khổ bất lạc là chúng con còn kém. Chính vì thế, chúng con về nhà hằng ngày buổi tối và buổi sáng đều có thời khóa tu tập. Sau đó, trong nhóm, chúng con đều sinh hoạt theo thời khóa và hằng ngày luôn nhắc nhở, không hướng ra ngoài mà hướng vào chính ngũ uẩn của mình, để nhìn ra thọ tưởng hành, nhất là cảm thọ. Việc cảm thọ lạc và cảm thọ khổ như con hiểu là: Khi tâm mình có thọ hỷ, về tâm là tâm luôn luôn tác ý cho sanh khởi hằng ngày để cho tâm được hân hoan, hoan hỷ, mình là người hạnh phúc nhất, được biết đến Phật pháp, được gặp chánh pháp để tu tập.
Về thân tâm, hằng ngày giữ gìn cho thân an lạc, khinh an, cho có thọ lạc. Chính vì thế, hằng ngày chúng con luôn được sống trong chánh niệm, để giảm bớt đi những nhân quả xấu trong đời sống hằng ngày. Và biết cách phòng hộ các căn, khi biết cách thực hành ba pháp, chúng con thực hành được ba pháp được tương đối tốt rồi. Để luôn quay về nhận diện chính mình chứ không hướng ra ngoài nữa, vì thế nên tất cả việc tu tập từ trước đến giờ, việc thờ cúng, bố thí, cúng dường, tức là tất cả những việc trước nay chúng con bị dính mắc, giờ chúng con đã cởi bỏ được.
Còn về chính thân tâm trong con, về nhận diện các cảm thọ, tưởng, hành, trong thời khóa chúng con tu tập theo lộ trình trong quyển sách và trong Linh Quy các thầy hướng dẫn về sự quán chiếu. Tóm tắt ngũ uẩn thì chúng con thuộc tương đối nên về phần thân luôn có sáu khía cạnh quán xét.
Về cảm thọ có thọ lac, thọ khổ, thọ bất lạc bất khổ, có hai hướng thuộc vật chất và không thuộc vật chất. Về tâm thì có mười sáu nghĩ tưởng của tâm. Về pháp thì có năm pháp cần phải quán sát, chúng con cũng biết cách xen kẽ, biết áp dụng lúc nào là quán về vô thường, về bất tịnh, về ba mươi hai thể trượt, về chín giai đoạn của thân hoại diệt, cũng như tu tập, trao dồi, huấn luyện tâm trong mười sáu định niệm hơi thở. Đường lối là như vậy, còn sự quán xét tu tập của chúng con vẫn còn yếu ớt, rất kính mong thầy chia sẻ thêm cho tất cả chúng con.
II. Thọ hỷ, thọ lạc
Sư phụ giảng giải:
Chúng ta có hai phần là lạc thọ và hỷ thọ, phải phân biệt được với bốn hơi thở cuối của mười sáu hơi thở, điều này Minh Thành sẽ giải thích rộng trong buổi Soi sáng để mình có thể nắm vững cũng như để đại chúng được lợi lạc, lợi ích rộng lớn, đó là hai câu hỏi cần thiết của đạo tràng chúng ta. Lạc thọ và hỷ thọ phân biệt như thế nào và bốn hơi thở cuối trong mười sáu hơi thở vì bốn hơi thở rất thâm sâu, đó là phần quán pháp.
Sự tu học của chúng ta không đi ra ngoài năm uẩn, cứ kiên trì nhận diện năm uẩn, kiên trì nhìn ngó cảm thọ của mình, siêng năng quét rác, siêng năng lau chùi, tẩy rửa, dọn dẹp rồi từ từ sẽ sạch, mình siêng năng, khéo léo, thiện xảo trong nội tâm của mình, mình phải hết sức khéo léo trong tâm của mình. Mình nên xem lúc nào nên sử dụng pháp nào, mình phải phân biệt hai cảm thọ, nếu nói theo trong kinh là lạc thọ chỉ cho cảm giác dễ chịu của thân, hỷ thọ là cảm giác vui của tâm, nói đúng như trong kinh, phần quán chiếu thâm sâu Minh Thành có phân biệt, chúng ta sẽ thấy, Minh Thành có phân biệt hai loại cảm thọ của thân và của tâm khác nhau, nên chúng ta quán chiếu thâm sâu vào cảm thọ.
Khi đi từ Hải Dương lên đây một trăm mấy chục cây số, thân hơi mệt, chắc chắn là vậy, nhưng tâm mình vui, hoan hỷ, như vậy là khổ thọ về thân lại hỷ thọ về tâm. Ví dụ mình ngồi tu trong khóa tu ở Linh Quy, hay ở đây, hay ở Hải Dương, mình tu cả ngày, thì thân hơi mệt, hơi mỏi, có khi tê nhức nhưng tâm lại hoan hỷ nên đó là khổ về thân nhưng vui trong tâm. Nên lạc thọ là vui nơi thân, cảm giác dễ chịu trong thân, hỷ thọ là cảm giác vui trong tâm, chúng ta nên phân biệt được hai loại này: sự dễ chịu của thân và sự hoan hỷ của tâm.
Khi mình thực tập thiền, có những lúc thân của mình cực kì dễ chịu, nhẹ tênh và tâm mình vui, đó là hỷ lạc của thiền. Lúc đó là vừa hỷ vừa lạc, thân lạc thọ nhưng tâm hỷ thọ, thân dễ chịu nhưng tâm hoan hỷ, những giây phút đó là thuốc bổ của tinh thần, trong sơ thiền rất cần để nuôi dưỡng trong sự tăng thượng trong tu tập của chúng ta. Mình có sự tác ý hỷ lạc trong pháp, lấy đó làm dưỡng chất để nuôi những tuệ giác, chí hướng thượng trong Thánh pháp này.
Khi mình tới đám cưới, ăn mặc đẹp, trang điểm, gặp bạn bè vui tươi thì thân lúc đó là dễ chịu, tâm cũng hỷ lạc, hỷ lạc ở vật chất, nhưng nó không đưa đến mục đích tu tập của mình. Mình thấy được hỷ lạc của đạo và hỷ lạc của đời, nên khi tu mình rất cần vui của đạo.
Khi quý vị dự khóa tu có thầy, có bạn đạo, có Thánh pháp mà nói tới đâu nắm tới đó hay thấm tới đó, mình xúc cảm, cảm động, chấn động, thân hỷ lạc, tâm hoan hỷ, hạnh phúc, nước mắt hạnh phúc trào ra. Những cảm thọ đó sẽ nuôi dưỡng sự tu học của chúng ta.
Mời cô Phật tử chia sẻ cảm xúc.
Phật tử thứ sáu:
Con bạch thầy và các vị đồng đạo tại đây. Hôm qua tâm của con khi đến đây rất muốn mở tuệ pháp của mình ra, để cho thân được an lạc nhưng con chưa đủ tuệ nên chưa hiểu nhiều lắm ạ. Vì con buổi đầu đến học.
Sư phụ giảng giải:
Hôm qua gần như cả ngày quán về tiếng kèn, trống đám tang, để thấy được bản chất của cuộc đời, chúng ta cứ tiếp tục pháp đàm của chúng ta.
Minh Thành mời cô Sáu nói bốn hơi thở cuối cùng của mười sáu hơi thở là gì?
III. Tu tập bốn hơi thở cuối trong mười sáu hơi thở
Phật tử cô Sáu:
Kính bạch thầy, bốn hơi thở cuối của mười sáu hơi thở là: quán sự vô thường, quán sự ly tham, quán sự đoạn diệt và quán sự từ bỏ. Tất cả đều quay về ngũ uẩn hết, từ ngũ uẩn này quán chiếu sự vô thường. Như thế nào là vô thường? Tự mỗi người phải học tập, tu tập về sự ly tham. Chúng ta đều phải nhận diện ngũ uẩn thật sâu sắc, tất cả đều phải quay về ngũ uẩn, càng sâu sắc bao nhiêu thì mới quán được bốn định niệm hơi thở cuối.
Nếu chúng ta chưa nhận diện được cảm thọ sâu sắc, thì chúng ta chưa nên tu tập giai đoạn này. Hoặc tập thì tập nhưng chưa thể thể nhập bốn hơi thở này, chúng ta vẫn phải trở về tập nhận diện ngũ uẩn một cách sâu sắc và nghe pháp đàm của thầy.
Con ví dụ như lạc thọ của thân và hỷ thọ của tâm, cũng dễ nhận ra nhưng thọ bất lạc, bất khổ, con nghĩ là các Phật tử hàng ngày thường xuyên rơi vào cảm thọ này, không có sự nhận diện ngũ uẩn liên tục, nhìn lại thân tâm mình và không có chánh niệm nên cứ nghĩ là mình không có khổ không có lạc, thường xuyên sống trong cảm thọ bất khổ bất lạc, tức là không có hướng thượng, hướng thiện. Chính vì thế có pháp như lý tác ý và quay lại thân tâm mình để nhận diện ngũ uẩn, để sáng tỏ cảm thọ bất khổ bất lạc rất quan trọng. Chính vì vậy, cảm thọ bất khổ bất lạc này chưa nhận diện được nó thì khi tu tập bốn định niệm hơi thở cuối cũng chưa thể vào được.
Sự vô thường thì mọi người đều thấy sự vô thường, nhưng cũng là ngũ uẩn này vô thường, sự ly tham cũng là ly tham ở ngũ uẩn này, trong đó lúc nào cũng có sắc, thọ, tưởng, hành, thức và sự đoạn diệt, sự từ bỏ. Bốn hơi thở này con cũng đã tu tập nhưng con thấy vẫn chưa có kết quả, mà chỉ là con tập thôi, con chỉ mới thực hành được đến đoạn cảm giác được toàn thân, sự an tịnh, lạc thọ của thân và hỷ thọ của tâm. Và hằng ngày trong ban ngày cũng luôn luôn quay về ba cảm thọ này, để nhận diện, tác ý, hướng thượng, hướng thiện cảm thọ này, nhận diện nó.
Khi tu tập định niệm hơi thở thì con tu tập hằng ngày tám hơi thở đầu. Các hơi thở tiếp theo con vẫn tu tập nhưng sự vô thường, ly tham, đoạn diệt và quán từ bỏ, thì sự có thể nhập thì con thấy còn được ít và thấy khó đối với bốn hơi thở này.
Đó mới là ở phần lý thuyết, chúng con được nghe các bài của cô về bài Giải thoát trí, có nhiều câu tác ý trong đó, gồm có cả vô thường, ly tham, đoạn diệt và từ bỏ. Các câu quán chiếu trong Giải thoát trí sẽ đưa chúng ta vào các trạng thái có thể tu tập được bốn hơi thở cuối cùng, cả trong bài Căn bản trí.
IV. Huấn luyện cảm thọ
Sư phụ giảng giải:
Trước khi chúng ta chia sẻ về bốn hơi thở, chúng ta trở lại phần cảm thọ khi nãy, cũng như vừa rồi quý vị có trình bày, cảm thọ hỷ hay ưu, khổ hay lạc, mừng hay buồn thì mình dễ cảm nhận được. Nhưng cảm thọ thường thường đều đều, tức là cảm thọ bất khổ bất lạc thọ, cảm thọ này làm cho chúng ta dễ bị ngủ quên trong cảm thọ đó. Nên sự nhận diện các cảm thọ rất quan trọng, tất nhiên nhận diện ngũ uẩn phải đầy đủ sắc, thọ, tưởng, hành, thức, những cảm thọ nổi trội vì có gì thay đổi là chúng biến động ngay. Nếu như mình không để ý cảm thọ, mình không dòm ngó cảm giác, mình không để tâm, đặt tâm mình vào trong đó quán sát thì mình không biết được tên tuổi, mặt, mũi, tính tình thì làm sao mình có thể nhiếp phục, huấn luyện, các cảm thọ?
Vì sự tu là huấn luyện cảm thọ, vì các cảm xúc, cảm giác của mình rất ương ngạnh, rất cứng đầu, khó bảo khó nghe, mình kêu đừng giận thì nó có nghe mình không? Nó cứ giận, kêu đừng tham thì nó cứ tham, kêu đừng bản ngã thì nó lại bản ngã, kêu đừng hơn thua thị phi thì nó cứ chấp đúng chấp sai, dù là với vợ, với chồng, với con, với bạn đạo, huynh đệ chấp đúng, chấp sai, vô tu cũng chấp đúng, nói câu không vừa ý cũng bắt bẻ.
Như vậy thì mình không nhìn ra được, cảm thọ bên trong thúc giục, phát ra khẩu hành, ý hành, thân hành. Từ trong thọ nung, dâng lên, thì có ra những nghĩ tưởng, những nói năng, hành động. Nên khi mình tu có những câu nói “an tịnh, lắng dịu” trong mười sáu hơi thở rất quan trọng.
Vì khi mình tu thì tới mức tất cả các cảm thọ của mình lắng dịu, giờ còn hung hăn, mạnh mẽ, cho nên người chân tu thường xuyên nhìn cảm thọ của mình. Quý vị hãy nhìn cảm thọ của mình khi nghe người ta tụng kinh, hãy lắng tâm nghe kĩ trong đó là cảm thọ gì?
Để nhận diện cảm thọ một cách chính xác, sâu sắc không phải là điều đơn giản, mình thường nhận diện là những điều thô, những cái đã rồi, thì mình thấy. Nên mình hãy nhìn sâu vào bên trong có một sự an tịnh, lắng dịu thì mới đọc được quyển sách nội tâm của mình một cách chính xác. Nhiều khi mình đang buồn, đang giận nhưng khi người khác hỏi thì lại trả lời “Tôi không có giận!”, có khi mình biết là mình có giận nhưng nói là mình không giận, nhưng có khi mình không biết lúc đó mình có giận hay có buồn, vì lúc đó mình nhận diện một cách sâu sắc, chính xác, nếu như vậy thì lậu hoặc qua mặt mình, giận chút, buồn chút, hờn mác chút, buồn chút cứ tích tụ, thọ uẩn là gì?
Là một tổ hợp cảm giác, chỗ hội tụ, tích tụ, chất chứa, nên khi chất chứa ngày chút chút đến lúc nào đó bùng lên thì như vậy thì trong gia đình có chuyện, không phải tự nhiên bùng, mà chất chứa từng chút, lâu ngày nên vỡ ra, vì nó qua mặt chúng ta nên chúng ta không biết.
V. Khuyến tấn hành thiền
Bản ngã cũng vậy, vì nó chất chứa từng chút, vì mình không nhìn thấy kỹ, nó chất chứa nhiều, trở thành một đại ngã uẩn, tổ hợp. Đến lúc nó xâm chiếm, áp đảo, chiếm ngự toàn bộ ngũ uẩn của mình. Chúng ta nên đọc bài Sám hối diệt ngã, vì uẩn nào cũng nhận là ta, nên trong sự thực tập và quán chiếu cảm thọ, chúng ta phải có một sự bình tâm, lắng đọng.
“1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.
4-6)... của thọ... của tưởng... của các hành.
7) Không như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.
8-12) Và này các Tỷ-kheo, bậc Đa văn Thánh đệ tử như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc... của thọ... của tưởng... của các hành... của thức”
(Tương ưng bộ kinh tập III. Thiên uẩn, Chương I. Tương ưng uẩn, II. Phẩm những gì được ăn, Bài kinh Vị ngọt)
Tức là, hãy tu tập thiền định, sẽ biết như thật, sắc, thọ, tưởng, hành, thức, biết sự sanh khởi và đoạn diệt, biết được vị ngọt, sự nguy hiểm hay tác hại của nó và biết được sự thoát khỏi nó. Nếu không có sự tu tập chánh kiến và thiền định, thì chúng ta không có biết như thật, tri kiến không sanh khởi, biết đúng sự thật về thân tâm của mình, nên cảm thọ này trở lại cảm thọ hỷ lạc khi nãy. Và cảm thọ vui thích, khoan khoái, hoan nghênh, an trú, đắm trước, mỗi lần cảm thọ đó sanh khởi thì cái tham đi theo mình sẽ được tưới tẩm và nuôi dưỡng, được tăng trưởng.
Ví dụ mình thích chiếc xe hay cái nhà, mỗi khi nhìn vào mình thấy đẹp về kiểu dáng và màu sắc, mái tốt, càng suy nghĩ cái đó thì càng cảm thọ cái đó và càng có những ý tưởng về cái đó thì lúc đó, tham ái sẽ lớn mạnh thêm. Tham ái lớn mạnh thì sự chấp thủ cứng chắc, sự bám chấp vào chiếc xe nhiều hơn, khi tham ái, chấp thủ có mặt thì đau khổ có mặt vì chiếc xe đó là pháp, biến hoại, sắc biến đổi khi đó thì sầu bi, khổ, ưu não sanh khởi.
Vì mình ái, chấp thủ, yêu thích, khoan khoái trong đó, nắm chặt trong đó, khi nó biến đổi mình sẽ khổ đau, nên sự tu của mình đến diệt hỷ tiêu tận, tức là vui thích không còn nữa.
VI. Tu tập bốn hơi thở vô thường, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ
Đối với nhìn tất cả sáu trần này (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) đến những cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm mà mình không còn ưa thích, khoan khoái nữa, đó là tới lúc mình thể nhập Thánh trí. Đối với tất cả những gì trên cuộc đời này, lòe loẹt của thế giới này mình đều quay lưng lại hết, không có gì có thể hấp dẫn mình được nữa, không có gì làm cho mình say mê, yêu thích, ràng buộc hệ lụy của mình nữa.
Đó là trong bài kinh Diệt hỷ tiêu tận, mừng vui, vui thích, vui mừng đối với mỗi thứ vật chất chẳng còn. Tức là khi nhìn vào đó mình chỉ thấy một chữ, đó là khổ, tất cả đều là khổ, vì nằm trong vô thường, sanh diệt, nên bốn hơi thở cuối của mình là quán tính vô thường, ly tham, đoạn diệt và từ bỏ. Bốn hơi thở đó phải thở thường xuyên, mọi lúc mọi nơi phải nhớ, thôi quên nhiều, sau đó lại quên ít ít, từ từ rồi sẽ nhớ nhiều hơn quên, tới lúc nào đó nhớ luôn, không quên nữa, thì lúc đó mới nhập lưu.
Mỗi hơi thở đều nhìn thấy tính chất vô thường của đời sống này, mỗi hơi thở đều không đáng để tham. Cái xác chết nằm đó có tham không? Hay có đáng tham cái xác đó không? Cái đống xương đó có đáng tham không? Cái nấm mồ có đáng tham không? Cái hũ tro cốt đó có đáng tham không? Thường khi thở mỗi hơi thở là thấy điều đó, là thấy tính vô thường, tính không đáng tham, hoại diệt, thân này đang tàn, đang hoại, đang diệt, chuyển biến, đổi thay trong sự thể nhập Bất tịnh quán, sự thể nhập Ba mươi hai thể trượt, sự thể nhập Chín giai đoạn của một tử thi, thì có gì thân này là đáng tham?
Nếu mình thường thường nhớ, nghĩ, quán chiếu, soi rọi như vậy thì đó là Thánh thể nhập, đó là chỗ thể nhập của bậc Thánh. Vì trí huệ này là bất cộng, không cùng chung với phàm phu. Nên mình đừng sợ người khác nói, vì nói là việc của người ta, chuyện của mình tu thì mình biết.
Quán đoạn diệt là tiêu diệt, chấm dứt, chết là chấm dứt mạng sống, tức cái chết là đã chấm dứt. Vậy mình có biết lúc nào mình chấm dứt và chấm dứt ở đâu không? Chấm dứt mà còn bất định, bất trắc, bất thường, vô thường, nên phải quán đoạn diệt, chấm dứt. Vì nó là thứ vô thường, biến đổi, không đáng tham nó sẽ tan hoại, đổ vỡ, chấm dứt, thì nên từ bỏ, nhìn nhận nó là mình để làm gì? Tại sao lại nhận một cái vô thường, bất tịnh, khổ đau, phiền não, không đám tham, tan hoại là mình, là của mình? Vì mình vô minh, tham ái, chấp thủ nên bằng những hơi thở của Phật, mình thở được những hơi thở đó là mình đang thở chung hơi thở của Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Hiền Thánh đều thở bằng hơi thở đó. Giờ mình cũng tập thở những hơi thở đó để gặp Đức Thế Tôn, gặp các bậc Thánh tăng.
Đừng thở bằng những hơi thở phàm phu bình thường của tham ái, của vô minh, chấp thủ. Nên khi mình thở được những hơi thở như vậy, mình nhớ, quán, suy tư được như vậy thường thì phá cảm giác bất khổ, bất lạc thọ. Cảm giác trơ trơ thường thường rất nguy hiểm, mình cứ nghĩ “Giờ có gì đâu, giờ tôi đang khỏe, đang bình thường” nhưng cái mình thấy bình thường chính là vô minh. Mình thấy đều đều chính là si mê, thấy thường thường đó là tà kiến, thấy sai.
Đứa bé chỉ có mấy tuổi rơi từ trên lầu xuống, hay chỉ mới ba bốn tuổi bị đột quỵ chết, hay chỉ mới sanh không bao lâu là phải mổ não rồi chết thì cha mẹ của đứa bé họ có tưởng tượng được rằng lát nữa con mình chết không? Hay tự thân của em bé có biết rằng nó sẽ chết không? Trong tuổi thọ đó gọi là hưởng dương không hưởng thọ. Và làm gì có cái nào cứ thường thường như vậy mãi? Nó luôn trong sự biến động, biến đổi trong sự tàn hoại, hủy hoại, hoại diệt, mình thường thở những hơi thở đó để mình phá cảm thọ không khổ không vui, thường thường, đều đều, trơ trơ đó, để mình thoát ra khỏi cảm thọ đó. Và mình luôn luôn quán tính nguy hiểm, tác hại, của đời sống này.
Người ta cứ nghĩ bờ vực thẳm mới là nguy hiểm, viên thuốc độc đó mới nguy hiểm, hay con dao, nòng súng, trái bom, lựu đạn mới là nguy hiểm mà người ta không biết rằng sự nguy hiểm hơn tất cả sự nguy hiểm chính là tự thân của mình.
Quý vị đã nghe bài Sự nguy hiểm của sắc không? Đây là sự nguy hiểm, cái mình đang mang vác chính là sự nguy hiểm, không phải là các cái bên ngoài. Nguy hiểm vì không biết lúc nào nó bệnh, nó chết, nó gặp tai nạn, không biết lúc nào nó kết thúc, nó chấm dứt, đoạn diệt, vô thường, từ bỏ, nên phải ngấm thật sâu bốn hơi thở này, quán tính vô thường của ngũ uẩn, quán tính ly tham của ngũ uẩn, quán tính đoạn diệt của ngũ uẩn, quán sự từ bỏ. Đó là tiếng kèn đưa đến nơi an nghỉ cuối cùng, đó là sự chấm dứt, sự từ bỏ, đó là ly tham, không đáng để tham, là vô thường.
Thật đau lòng cho thân xác này, một khi mình nằm xuống rồi, người thân mình cũng không muốn nhìn, họ lại gần họ sợ, vì đã trở thành thây ma rồi. Nên khi thẩm thấu các trí huệ này mới phá vỡ bởi những cảm giác trơ trơ, trơ lì, cho là bình an, an toàn, an ổn, không lúc nào là lúc an ổn hết.
Có chú tài xế phụ chở Minh Thành đi giảng pháp, hôm qua Minh Thành mới hay tin chú đã bị tai nạn giao thông, hư cả đầu xe mà may là chú không bị gì, là lúc trên đường về đèo Bảo Lộc. Làm sao mình biết trước được điều gì sắp xảy ra? Trong thế giới vô thường, biến hoại này? Nên đừng bao giờ cho phép mình sống một cách lững lờ, buông trôi, buông xuôi, buông thả mà hãy luôn luôn niệm tính chất nguy hại, tác hại của sắc, dục, ngũ uẩn, của tham ái, của sân hận, si mê đều là nguy hiểm và cứ sống trong trạng thái đơ đơ, đều đều như vậy là nguy hiểm, hiểm họa. Phải quán chiếu nó một cách sâu sắc để thoát ra cảm giác bất khổ, bất lạc thọ đó. Như vậy mình có thể tinh cần, tinh tấn, mạnh mẽ để hướng thượng, hướng thiện, hướng đến trí tuệ giác ngộ và phải luôn luôn xem lại trong tâm mình những cảm giác, nghĩ tưởng này hết sức là quan trọng.
VII. Hộ trì sáu xúc xứ
Trong bài kinh Đàn tỳ bà trong Tương ưng bộ kinh tập bốn, Đức Phật đã dạy:
“Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào đối với các sắc do mắt nhận thức có khởi lên dục (chanda), tham, sân, si hay hận tâm; hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy. Con đường này là con đường đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc, đầy rừng rậm, con đường ác, con đường tà, con đường đầy trộm cướp. Con đường này là con đường do phi thiện nhân dùng, không phải con đường do thiện nhân dùng. Như vậy, với ý nghĩ: "Ðây không phải con đường xứng đáng cho ta". Hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy đối với các sắc do mắt nhận thức.”
(Tương ưng bộ kinh tập IV.Thiên sáu xứ , Chương I. Tương ưng sáu xứ, Phần IV. Năm mươi kinh thứ tư, IV. Phẩm Rắn độc, Bài kinh Đàn tỳ bà)
Trong khóa tu này chúng ta học những bài kinh trong Tương ưng sáu xứ. Sáu chỗ này hết sức quan trọng, khi mắt mình tiếp xúc với hình sắc bên ngoài mà khởi lên dục, tham, sân si hay hận tâm thì hãy ngăn chặn tâm, đừng cho nó khởi lên, không cho phép nó khởi lên. Vì nó khởi lên sẽ đưa mình đến con đường đầy sợ hãi, sanh khởi lên những tham, sân, si, những tâm tức giận, thù hận đưa hay đẩy mình tới những con đường sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc, đầy rừng rậm và đó là con đường ác, tà, đầy trộm cướp.
Quý vị hãy thử tiếp xúc, nhìn nhau rồi khởi tâm sân hận lên, sau đó thì chuyện gì sẽ xảy ra? Có phải là những điều đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc không? Vì tiếp xúc rồi sân hận, tức giận. Hay như mình đang có gia đình, mình nhìn thấy, tiếp xúc những sắc dễ thương, khả ái, thì tham, dục khởi lên, như vậy có nguy hiểm hay đầy đường tà, sợ hãi không? Nó sẽ dẫn dắt mình đi vào một con đường đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc. Chỉ cần mắt tiếp xúc thôi là sanh khởi. Giữa thương và ghét, sân hận và si mê.
Khi nhìn thấy sắc khả ái, vừa lòng, đáng yêu, ham thích thì lúc đó mình đơ ra, lúc đó là mình si và mình không kiểm soát được cảm thọ của mình thì cảm giác si trùm kín cả ngũ uẩn của mình. Cảm thọ đó, cảm giác đó làm cho tham khởi, tham dục, tham ái khởi lên.
Vậy nên có những con người cất một căn nhà xong rồi sạt nghiệp, phải đi làm thuê làm mướn. Chỉ xây một căn nhà lên thôi lại đổ nợ, phải đi làm thuê làm mướn trong đau khổ suốt mấy chục năm chỉ vì căn nhà. Đó là vì lòng dục, lòng ái, lòng thích, muốn, khoái trong khi khả năng của mình không đủ hay khi xây lên rồi lại đổ nợ, vỡ hụi chẳng hạn.
Như vậy làm cho đau khổ lâu dài, đó là con đường đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc, đầy rừng rậm, là con đường ác, con đường tà, đầy trộm cắp. Khi tiếp xúc sanh khởi ra dục, tham, ái mà mình không kiểm soát được thì nó đẩy mình vào sự sợ hãi, sự khổ đau, sự kinh khủng, gai góc và rừng rậm, con đường tà và trộm cướp trong đó. Chúng cướp bình an và hạnh phúc của gia đình mình và khi mình đối diện với sắc mình không thu nhiếp, phòng hộ, bảo vệ, chánh niệm, kiểm soát sẽ đưa mình đi vào con đường của trộm cướp.
“Này các Tỳ-kheo, hãy ngăn chặn tâm, đừng cho khởi lên như vậy.”
Quý vị thấy như chỉ một lời nói, nói ra rồi bất hòa, tranh cãi, tranh luận, sau đó là khẩu tranh, đấu tranh, thậm chí đưa đến những thảm họa khôn lường, những việc đáng tiếc thậm chí mất mạng. Như vậy đó có phải là kinh khủng không? Do sự không biết thâu nhiếp, chế ngự, điều phục, phòng hộ con mắt, lỗ tai, lời nói mà nó đưa mình vào con đường đầy rẫy sợ hãi, khủng bố, sự khổ đau, rừng rậm, là con đường ác, con đường tà, trộm cướp, cướp giật trong đó. Chỉ cần mắt tiếp xúc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị thôi, thân tiếp xúc hoặc tay cầm nắm, và nếu như mình không ngăn chặn tâm, kiểm soát cảm thọ, thì nó đưa mình vô con đường rừng rậm, gai góc, trộm cướp, kinh khủng, sợ hãi.
“Này các Tỳ kheo, hãy ngăn chặn tâm, đừng cho khởi lên như vậy.”
“4) Ví như, này các Tỷ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì phóng dật (lơ đãng). Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy và mê say ăn một cách thỏa thích.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không hộ trì đối với sáu xúc xứ, mê say thọ dụng một cách thỏa thích đối với năm dục công đức.
5) Ví như, này các Tỷ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì không phóng dật. Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chắc cái lỗ mũi của con bò; sau khi nắm chắc cái lỗ mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh cho một trận nên thân, người ấy thả con bò đi.
Lần thứ hai, này các Tỷ-kheo...
Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo, có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chặt cái mũi con bò; sau khi nắm chắc cái mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh con bò một trận nên thân, người ấy thả con bò đi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con bò ăn lúa mì ấy đi vào làng, hay đi vào rừng, hay khi đứng, hay ngồi, nó không xâm phạm lúa mì ấy, vì nó nhớ đến cảm xúc cái gậy lần trước.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo có tâm chơn trực, chánh trực đối với sáu xúc xứ, thời nội tâm được an trú, tịnh chỉ, nhứt tâm, Thiền định.”
(Tương ưng bộ kinh tập IV.Thiên sáu xứ , Chương I. Tương ưng sáu xứ, Phần IV. Năm mươi kinh thứ tư, IV. Phẩm Rắn độc, Bài kinh Đàn tỳ bà)
Con bò sẽ không dám xâm phạm lúa mì nữa vì nhớ đã ăn một trận đòn đau điếng, một trận nên thân đó, nhớ cảm giác đó nên nó sợ.
“Cũng vậy này các tỳ kheo các vị có tâm chơn trực, chánh trực đối với sáu xúc xứ đối với sự tiếp xúc của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý có tâm phòng hộ chánh niệm thì nội tâm được an trú, được dừng yên nhất tâm thiền định.”
Đức phật đã cho chúng ta ví dụ của người giữ ruộng lúa đánh con bò. Chúng ta thấy rằng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân tiếp xúc. Chúng ta đã nói về năm căn bên ngoài trước giờ nói tới ý căn bên trong. Đối với các pháp có ý nhận thức có khởi lên được tham, sân, si, là hận tâm, hãy ngăn chặn tâm đừng cho khởi lên.
Khi ở một mình trong nhà những hình bóng khởi lên, những cảm giác khởi lên, nhớ người đó đã nói mình câu gì làm mình bực quá, sáng này cũng mới bị nói lại, họ nói câu sỉ vả, chỉ trích mình. Khi mình nhớ lại câu đó thì hình bóng người đó hiện ra, những cảm giác khó chịu sanh khởi ra, rồi mình suy nghĩ theo chiều hướng khó chịu, sân hận đó, chính đó là con đường đầy sợ hãi, đầy kinh khủng đầy gai góc, rừng rậm, đây là con đường tà, ác, đầy trộm cắp. Con đường này người lành thiện không sử dụng, không phải là con đường mà người làm thiện sử dụng.
Mình phải với suy nghĩ “Đây không phải là con đường xứng đáng để cho ta đi!” mình phải thoát ra những nghĩ tưởng đối với người đó, mình không đi theo con đường đó mà phải làm giống như “đánh con bò một trận nên thân, lấy roi quất thật mạnh”. Đó chính là như lý tác ý, tác động vào tâm lý, tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình, tự mình chỉ trích mình.
Như những lời Đức Phật dạy trong kinh Pháp cú.
“379. “Tự mình chỉ trích mình,
Tự mình dò xét mình,
Tỷ kheo tự phòng hộ
Chánh niệm, trú an lạc.”
380. “Tự mình y chỉ mình,
Tự mình đi đến mình,
Vậy hãy tự điều phục,
Như khách buôn ngựa hiền.”
(Kinh Pháp cú – Phẩm Tỳ-kheo)
“Tự mình đi đến mình” tức là tự mình đi đến thọ, tưởng, hành, quán xét các pháp trong nội tâm, không phải đi đến đâu cả mà là đi đến mình, là đi đến những cảm giác nghĩ tưởng, đi đến thân thọ tâm thân, là đi đến mình. Tự mình phải dò xét mình, xem bên trong này là những cảm giác gì, hình bóng gì, suy nghĩ gì đang có mặt, rồi dò xét đó là suy nghĩ thiện hay bất thiện. Nếu những cái đó sanh ra dục, tham, sân, si và hận tâm thì đó là con đường đầy nguy hiểm và kinh khủng, đầy gay góc và cướp giật, vì nó đã cướp mất sự bình an của mình.
Mình đang ngồi một mình rồi nhớ một người nói câu gì rồi giận lên, cảm thọ sanh khởi, hình bóng sanh khởi, nghĩ tưởng sanh khởi lên và cứ kéo dài như vậy làm mình ở trong khổ thọ đó, trong sự nhiệt não, sự bức não, sự bực bội đó. Đó chính là con đường đầy gai góc, con đường ác, con đường tà.
VIII. Tác ý
Đối với người nhuần nhuyễn rồi thì mình tác ý và thoát ra được, nếu là những trận lớn, không là trận nhỏ thì lúc đó mình nên lấy roi mây dài ra quất, quất như đánh con bò một trận nên thân, không cho nó vào xâm phạm ruộng lúa của người ta nữa.
Phải như lý tác ý như thế nào? Phải tác ý: “Muốn đốt nhà, muốn bị hỏa hoạn lắm phải không hay muốn bị chết cháy đúng không? Ngu vừa vừa thôi, để người ta ngu chứ! Cứ thiêu nhau hoài, đốt nhau hoài như vậy, cháy nhau hoài như vậy? Phải chịu cảnh chết cháy như vậy? Tại sao lại si ám, vô minh, ngu mê như vậy? Đốt tới đây là đủ rồi, ta nhàm chán cảm giác sân hận này quá rồi, ta ê chề, ta não nề, ta gớm ghê, chán chê quá rồi. Ngươi hãy tan biến khỏi tâm ta đi. Ngươi hãy dập tắt hoàn toàn mát lạnh, thanh lương và tịch tịnh.”
Nói chung là chúng ta phải dùng những từ gì thật nặng để quán một trận nên thân, như Đức Phật nói là “đánh một trận nên thân” Sau này muốn sân lên thì nhớ trận đó, thì tự nhiên nó sẽ dừng. Đức Phật còn nói là đánh lần thứ hai, thứ ba nên mình phải tác ý nhiều lần, mười lần, hai chục lần, năm chục, bảy chục, tám chục, một trăm lần, hai trăm lần, năm trăm lần, bảy trăm lần hay một ngàn lần, một vạn lần thì nó cũng phải tiêu diệt.
Dù lì lợm cỡ nào nhưng cũng bị Thánh trí huệ huấn luyện cho nó trở thành hiền ngoan. Thậm chí mỗi lần nó khởi lên thì sẽ tự biết là: “Khởi lên mệt lắm, khởi lên là bị đánh thôi.” Thì nó sẽ chán, không khởi nữa, nhàm chán với cảm giác sân hận, thiêu đốt, từ bỏ, đi đến sự chấm dứt, đoạn diệt.
Chúng ta nên nhớ bốn hơi thở đó áp dụng hết tất cả trường hợp, quán sân đó là vô thường, quán sân đó là không đáng để mình dính mắc với nó, phải ly tham, đừng dính mắc, đừng giữ những cảm giác, suy nghĩ này, tưởng này, đừng giữ nó, hãy đoạn diệt, chấm dứt, từ bỏ nó đi. Đó là những pháp tác ý rất tuyệt vời của Đức Phật.
Đó là ví dụ về sân, tham dục cũng như vậy.
Người đang có gia đình êm ấm, tự nhiên gặp một người kia thấy dễ thương, nên nói chuyện, bắt đầu sanh khởi dục, tham, ái, trong đó. Hãy ngăn chặn tâm, đừng cho khởi lên như vậy. Con đường này đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc, rừng rậm, con đường ác, con đường tà, con đường đầy trộm cướp.
Trên là những lời để như lý tác ý, mình đánh đuổi nó một trận nên thân, mình hạch tội, đem hết tất cả những tai họa, hiểm họa, khi mình vướng vào những thứ đó. Gia đình sẽ tan nát, đổ vỡ, con khổ sở, thân bại danh liệt và tất cả xấu hổ nhục nhã mình cứ tác ý mạnh như vậy là mình đánh một trận nên thân. Cứ tác ý nhiều lần thì nó sẽ thoát ra, từ bỏ.
Hãy ngăn chặn tâm, đừng cho khởi lên như vậy. Đây không phải là con đường xứng đáng để cho ta đi, con đường này là khổ đau, của dục vọng, của sự tan nát, đổ vỡ, của nước mắt, của sự oán hận, sự bi thảm, đây là con đường kinh khủng, khủng khiếp, không xứng đáng!
Đó là quán ly tham. Hận tâm cũng vậy. Người không biết tu không hộ trì được mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý khi tiếp xúc, họ không biết sáu xúc xứ là gì. Cứ mê say thọ dục một cách thỏa thích, trả rông con mắt, lỗ tai, mũi, lưỡi, miệng, cứ muốn nói gì nói, thả rông thân, mặc tình cho nó tiếp xúc, huống chi là tâm. Rồi họ sầu bi, khổ, ưu não.
Đối với người tu thì phải biết nói đơn giản là đánh con bò đó, biết giữ gìn lúa của mình, mình trông rất cực khổ, khi sắp có bông, trĩu hạt, thì nếu không giữ gìn những ngọn lúa kĩ càng thì những con bò đó sẽ vào ăn, phá hư hết nên phải nắm chặt mũi, ghì chặt trán, lấy cây gậy đánh nó một trận nên thân.
Mình có đánh không, có thường xuyên không, đánh mạnh hay không?
Phật tử thứ bảy:
Con bạch thầy, khi phòng hộ sáu căn, trong đó có năm căn bên ngoài và chủ yếu là ý căn, con hiểu như thế này. Chính vì hằng ngày chúng con là cư sĩ, còn tiếp xúc rất nhiều và sự phòng hộ năm căn này rất quan trọng. Bởi vì thọ là một kho chứa, chính vì thế mà hằng ngày mắt chúng ta tiếp xúc, tai nghe, tiếp xúc với những cảnh trần không có như lý tác ý ngay thì nó sẽ cất giữ vào trong kho cảm thọ và khi chúng ta ngồi lại thì do ý xúc đã xúc tất cả cảm thọ, tưởng, hành. Từ thọ rất quan trọng, rồi mới ra hình bóng, suy nghĩ, nói thầm.
Chính vì thế nên khi ngồi lại thiền định thì ý xúc xúc vào, khi năm căn bên ngoài mình chất chứa những cảm thọ buồn, vui, thương, ghét hoặc dục ái thì chính ý căn ở chỗ này có phải không thầy? Tức là con hiểu là khi ngồi lại, ý xúc ở bên trong sẽ xúc vào kho cảm thọ. Ví dụ như mắt tiếp xúc sẽ để lại thọ, tưởng, hành nên vì thế mà chúng ta phải thiền định để cho giảm đi các sóng 87:05 của thọ, tưởng, hành. Tất cả đều phải dùng pháp như lý tác ý nhưng quan trọng là phòng hộ các căn hằng ngày để mình cất, chứa vào kho cảm thọ những cảm thọ gì, chính vì thế khi ý xúc xúc vào, thì ngồi lại cũng không thể nào quán chiếu được. Nên thầy dạy pháp như lý tác ý rất mạnh, về sự vô thường, sự ly tham, về khổ.
IX. Tác ý đánh tâm si
Phật tử thứ tám:
Bạch sư phụ, quý thầy, quý cô và quý Phật tử, con được dự khóa tu đợt vừa rồi. Một điều con tâm đắc vào ngày con bảo là con chấn động thân tâm, đó là một trong những ngày con thấy chặng đường tu của mình tuyệt vời nhất, chính là lúc sư phụ chỉ cho chúng con là phải dùng sắc đánh sắc, dùng thọ đánh thọ, dùng tưởng đánh tưởng, dùng hành đánh hành và dùng thức đánh thức. Đó là cách con thấy rất tuyệt vời, con đã sử dụng trong buổi thiền hành hôm đó.
Trạng thái hôm nay sư phụ tập trung vào si, vào cảm thọ, hôn trầm tùy miên, con đã sử dụng tưởng đánh tưởng và gần như nó thắng tuyệt đối. Đó là khi si kéo đến, trụ ở mắt của mình, sau đó con tác ý: “Mày si hả? Mày đưa ta đến làm con vật, đến sanh tử luân hồi à?” nó vẫn ái và sập xuống thì con dùng tưởng của con là dùng hai que sắt nung đỏ trong lò rèn, sau đó con tác ý là moi hai mắt ra, dùng đinh mười đóng vào và thấy nó vẫn giài đành đạch. Quán đóng con mắt này xong lại quán đóng tiếp con mắt thứ hai. Sau đó con hai hốc mắt thì con lấy sắc nung đỏ đâm thẳng vào con mắt và tác ý: “Mày ngủ, mày trú ở đây, mày chết với tao!”
Thế là con lấy tiếp than đỏ trong lò đang nung đổ vào hai hốc mắt. Từ hai hốc mắt vẫn còn muốn động đậy, si nữa thì con quán là lấy axit đổ vào hai hốc mắt. Khi đó trong hốc mắt không còn trú xứ của thọ nữa, si cũng biến trắng, mắt cứ mở không còn bị nhắm nữa. Lúc đó hai con ngươi đã bị đóng đinh con lấy búa đập nát nó và nói “Mày đi chết đi!”
Cuối cùng là cả ngày hôm đó con thấy là mắt con không dám ngủ nữa, si gần như biến mất. Thì con thấy, sư phụ đã đưa phương pháp rất hữu hiệu, mình dùng tưởng đánh tưởng và dùng một cách nghiêm túc, đánh cho nó bại trận vì nó trú ở đâu thì đánh vào đúng chỗ đó. Quả thật con thấy nó rất hữu hiệu.
Con nhắc lại để thứ nhất là nhắc lại cho con vào ngày hôm đó, thứ hai là con rất tri ân sư phụ, tuệ giác của sư phụ soi sáng, nếu ai biết dùng thì thắng trí tuyệt đối không sai được. Những lúc gặp sư phụ con tác ý là rất hy hữu, khó kiếm, khó gặp và con luôn nhìn thấy rằng mình ngồi đây là may mắn hơn rất nhiều người, may mắn hơn những người không thể ngồi được, không thể thở được, họ bệnh não không thể ngồi được. Với con đó là một điều tuyệt vời vì con được ngồi gần một nguồn sáng, một bậc minh sư.
Và khi biết là mình may mắn rồi thì những giây phút mình sống là một sự trải nghiệm vô cùng lớn, quý báu nên dù một mình không ai tu thì con không bị xuống tinh thần. Con xin tri ân sư phụ, tri ân tất cả những điều tuyệt vời nhất mà sư phụ đã dành cho đại chúng chúng con.
Sư phụ giảng giải:
Đây là sự tác ý của võ sư, tác ý của mình càng mạnh thì sự đánh đuổi các cảm thọ tham, sân, si, bản ngã càng nhanh, càng mau. Về sắc, về tiếng, mùi vị và sự xúc chạm, đụng chạm gọi là ngũ trần, năm thứ mùi ở bên ngoài, hay còn gọi là ngoại trần, hôm qua chúng ta đã có chia sẻ kĩ còn tâm mình bên trong là pháp trần, nội trần, danh từ sau này người ta gọi là tiền trần lạc tạ ảnh tử, tức là những hình bóng rơi rụng khi mình tiếp xúc ở bên ngoài đọng lại ở bên trong.
Có những người ngồi thiền không được vì bên trong quậy phá mãnh liệt, nên nhiều người ở một mình không được, ngồi thiền không chịu nổi hay độc cư nhập thất càng khó khăn. Vì khi đóng hết, bên ngoài không tiếp xúc, mắt không thấy, tai không nghe ai nói chuyện, mũi lưỡi thân không tiếp xúc nữa thì như vậy thì bắt đầu bên trong mở ra, chúng ta hướng vào bên trong thì các pháp này mới hiện ra. Nếu người nào nặng về dục tham thì dục tham biểu hiện một cách mãnh liệt những hình bóng, những cảm giác, nghĩ tưởng của quá khứ và những cái mình đã từng tiếp xúc hiện ra trong tâm.
Những cảm giác sanh khởi, suy nghĩ tiếp nối đó là nội trần, sắc tưởng của quá khứ, những cảm giác, suy nghĩ kéo về liên tục, nên chúng ta mới thấy rằng đây mới làm chúng ta sợ nghiệp nặng vì những cái chúng ta làm là chỉ có một mình mình biết và những cái mình làm thì mình nhớ. Những cảm thọ của mình, thọ là nhận nên nó thu nhận những cảm giác đó rồi cất giữ những hình bóng, cảm thọ, suy nghĩ đó. Nên khi mình bị bệnh nặng chỉ một mình hay khi mình chết thì những hình bóng, cảm thọ, suy nghĩ đó đẩy mình đi tương ứng với những cái mình đã làm, đã nghĩ, đã cảm giác.
Nên có những người toàn án lương tâm xử họ, khi họ làm những tội lỗi gì đó và họ trốn tránh ở đâu nhưng tòa án xử họ, đó chính là thọ, tưởng, hành, thức của họ. Chính vì vậy mà nghiệp không bị mất. Đức Phật đã tuyên bố rằng: “Khi nào người đó chưa cảm thọ được cảm giác đó thì nghiệp chưa chấm dứt.”
Ví dụ như con chó đang đi thoải mái đó, nhưng bắt nó rồi cắt cổ, nhổ lông, trụng nước sôi, nó quằn quại, đau đớn, thảm thiết, kêu thét lên, máu văng ra tức tưởi như vậy. Thì những cảm thọ mà mình làm cho nó như vậy, mình nghĩ như vậy là xong thôi sao? Những cảm thọ thù hận, đau khổ đó sẽ chất chứa trong tâm và những cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ đó sẽ đi vào trong nội tâm của mình.
Đó là mình nói con vật, huống chi là một con người. Một con người mà mình làm cho họ chịu những cảm giác khổ sở như vậy. Ví dụ giờ mình nói một câu làm cho người kia tức giận lên thì khi họ tức giận lên như vậy thì cảm giác họ giận thì họ rất khổ, khó chịu, bực bội, mình nhìn thấy họ giận thì có thoải mái không? Hay là mình khó chịu? Mình khó chịu, khổ và họ cũng khổ.
Vì vậy nên Đức Phật đã dạy mình tham, sân, si là hại mình hại người, khổ mình khổ người, làm thành mù mắt, làm thành vô trí. Như vậy thì làm sao cho hết sân này? Khi nào cảm thọ sân tan hết hoàn toàn, thì lúc đó mình và người kia mới bình thường trở lại. Nếu cảm thọ chưa nhả ra, nhổ ra, ói ra, mửa ra, tan biến thì sân đó còn, mà còn đó là còn đau khổ, nên Đức Phật đã nói khi nào cảm thọ chấm dứt thì mới đoạn tận các nghiệp.
Ví dụ như khi vợ chồng hay mẹ con ở chung nhà, giận nhau bảy ngày, thì bảy ngày đó đau khổ như thế nào? Tới lúc nào hết? Cảm thọ sân hết hoàn toàn thì khi ra vào nhìn mặt nói chuyện mới bình thường trở lại, nếu cảm thọ đó còn thì kéo dài bảy tháng, bảy năm, mười lăm năm, nên nó tích tụ trong cảm thọ.
Đức Phật đã nói tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, đây là mình nói chung vì lúc nào cũng dính với nhau, như trong cảm thọ lúc nào cũng có hình bóng, suy nghĩ, tức là tưởng, hành, suy nghĩ bên trong đó, giống như một chùm dính với nhau.
Nên khi ngồi lại thì những người nặng về dục, tham thì dục, tham hiện ra, làm cho mình không vô thiền định được, tâm mình không an vì cứ hiện các cảm giác, gợi lên mãi và mình không biết xuất ly đạo lộ.
X. Ngũ uẩn vô ngã
Mình muốn đi ra khỏi nhưng không biết cách nào ra, mình cứu mò mẫm trong bóng đêm như người mù, nên không biết đường, không thấy đường, không ai chỉ dẫn thì đó là chúng sanh như vậy.
“Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.”
“Trong một thời gian rất dài, các ông phải quán chiếu là tâm này bị ô nhiễm bởi tham, sân, si trong thời gian rất dài. Đến khi Trái Đất này bị khô kiệt, biển cả chỉ còn đọng lại bằng với một dấu chân trâu. Thế giới này có thể tan hoại, những núi lớn sụp đổ, nhưng ta không tuyên bố rằng chúng sanh sẽ chấm dứt khổ đau.”
(Tương ưng bộ kinh tập II. Thiên nhân duyên, Chương IV. Tương ưng vô thỉ, I. Phẩm thứ nhất, bài kinh Cỏ và Củi)
Quý vị nghĩ Trái Đất này, biển lớn khô hết, nước chỉ còn như vũng châu trâu, nhưng Đức Phật không tuyên bố chúng sanh chấm dứt đau khổ, bị vô minh che đậy, tham ái trói buộc. Vì không biết đường ra. Ví dụ như tham ái nhiều người muốn ly dục, nhiếp phục dục nhưng không biết cách nào, làm đủ cách rồi nhưng vì mình không đào xới, nhổ gốc rễ của nó nên là không thể nào. Nếu có hết cũng là ở ngoài, nhưng đúng duyên, đúng lúc, đúng thời thì nó lại sống dậy, bừng dậy. Nên trong thân hành niệm của Đức Phật là xới gốc, bứng gốc, chặt, đốt cho thành tro bụi rồi đổ xuống sông, xuống biển.
Chỉ có bậc Chánh Đẳng Giác mới có thể chỉ mình xuất ly đạo lộ, ngoài bậc Chánh Đẳng Giác không thể có người thứ hai. Nên trong bài kinh mình vừa nghe, Đức Phật có ví dụ là:
“6) Ví như, này các Tỷ-kheo, một vị vua hay đại thần của vua từ trước chưa từng được nghe tiếng đàn tỳ bà, nay được nghe tiếng đàn tỳ bà, vị ấy nói: " Này Bạn, tiếng ấy là tiếng gì, khả ái như vậy, khả lạc như vậy, mê ly như vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn như vậy? "
Họ nói với vị ấy: "Thưa Tôn giả, đây là đàn tỳ bà, với tiếng khả ái như vậy, mê ly như vậy, khả lạc như vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn như vậy". Vị ấy nói như sau: "Hãy đi và đem đàn tỳ bà ấy về cho ta".
Họ đem đàn tỳ bà về cho vị ấy, và nói như sau: "Thưa Tôn giả, đàn tỳ bà này với tiếng khả ái như vậy, khả lạc như vậy, mê ly như vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn như vậy".
Vị ấy bèn nói: "Thôi vừa rồi đối với ta về đàn tỳ bà này. Hãy đem tiếng lại cho ta".
Họ thưa với vị ấy: "Thưa Tôn giả, cái này được gọi là đàn tỳ bà, gồm có nhiều thành phần, gồm có số lớn thành phần. Nhờ nhiều thành phần này nên đàn phát âm. Như duyên cái bầu, duyên cái da, duyên cái cán, duyên cái đầu, duyên cái dây, duyên cái cung, duyên nỗ lực thích nghi của người. Như vậy, thưa Tôn giả, cái này gọi là đàn tỳ bà, gồm có nhiều thành phần, gồm có số lớn thành phần. Nhờ gồm nhiều thành phần này nên đàn phát âm ".
Rồi vua ấy đập đàn tỳ bà ấy ra thành 10 mảnh, 100 mảnh; sau khi đập bể đàn tỳ bà ấy ra thành 10 mảnh, 100 mảnh, vị ấy chẻ thành từng miếng nhỏ; sau khi chẻ thành từng miếng nhỏ, vị ấy lấy lửa đốt; sau khi lấy lửa đốt, vị ấy vun lại thành đống tro; sau khi vun lại thành đống tro, vị ấy đem quạt đống tro lớn ấy trước làn gió mạnh, hay để chúng trôi theo dòng nướcsông chảy mạnh. Rồi vị ấy nói: "Thật là hạ liệt, cái gọi đàn tỳ bà này, dầu cho tỳ bà là cái gì. Ở đây, đại chúng thường phóng dật, bị hướng dẫn sai lạc".
7) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát sắc cho đến sở thú của sắc, quán sát thọ... quán sát tưởng... quán sát các hành... quán sát thức cho đến sở thú của thức. Trong tất cả quán sát này, không có cái gì là "Tôi", là "Của tôi", là "Tôi là"cả.”
(Tương ưng bộ kinh tập IV.Thiên sáu xứ , Chương I. Tương ưng sáu xứ, Phần IV. Năm mươi kinh thứ tư, IV. Phẩm Rắn độc, Bài kinh Đàn tỳ bà)
Đây là phương pháp quán chiếu Đức Phật dạy mình, nghe tiếng nhạc hay quá, du dương, trầm bổng hấp dẫn, mê ly, say sưa, quá nên đem nó tới thì đàn không có tiếng, phải chơi đàn thì nó mới vang tiếng và phải là người chơi đàn giỏi mới vang tiếng hay. Như con mèo quào ghế hay người không biết gì thì cầm nó lên và đánh lên thì nó sẽ kêu lên tiếng gì?
Như vậy nên nhà vua đó mới kêu đập cây đàn, đạp nát cho vỡ ra rồi đốt thành tro bụi, rồi thả nó xuống sông, xuống biển. Vì chính cây đàn tỳ bà thấp kém, thấp hèn này, mà tất cả mọi người đều buông lung, say mê, thích thú. Đức Phật lấy ví dụ đó cho năm dục trưởng dưỡng.
Ví dụ về ngũ uẩn là
“Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, người tu phải quán sát sắc cho đến sở thú của sắc, quán thọ, tưởng, hành, thức. Trong tất cả quán xét này, không có gì là tôi, là của tôi, là tôi cả.”
Cái mà mình cho là cái vui, nhưng trong đó rất nhiều pháp, một chuỗi dài kết hợp bên trong đó, không phải tự nhiên có cảm giác vui, như chúng ta đã học duyên sanh pháp. Mình quán chiếu lại nội tâm của mình, những pháp diễn ra trong đó, đó là chặng rất nhiều, các pháp kết nối, lắp ráp, tổ hợp, tác thành, không phải mình ngồi đó là sanh khởi lên các hình bóng rồi mình giận hay thương, ghét, yêu, hận. Nên sau đó mình tác ý là đập vỡ nó ra, nát tan ra hết tất cả. Như khi nãy phá hôn trầm, cho nó nát tan, nát vỡ hết tất cả thì cảm giác đó tan biến hết, mình tỉnh táo trở lại. Giờ thì cảm giác dục và sân cũng vậy, đập vỡ tan nát ra hết. Hình bóng là gì? Là tứ đại, là vô thường, là duyên sanh, là bất tịnh.
Sân cũng là một chuỗi dài kết hợp như vậy, tham ái, bản ngã là gì? Mình tác ý từ bên trong, dùng sức mạnh nội quán, nội soi để chiếu sáng.
Như vậy chúng ta thấy sự tu là cả một sức mạnh của tinh thần, đối diện với chính mình là cả một vấn đề, vì mình đã quen hướng ngoại: mắt chạy theo sắc, tai chạy theo âm thanh, mũi theo mùi, lưỡi theo vị, thân chạy theo xúc chạm bên ngoài. Quay trở về ngồi thiền là hướng nội, là xử lý hàng tồn kho, vì mình chỉ lo đi chơi, ở nhà không quét dọn, thích mai đi chỗ này, mốt đi chỗ kia, tháng nọ tháng này đi Châu Âu, đi Mỹ, đi tàu, đi tây cuối cùng nhà thì bỏ hoang. Khi trở về sau mấy năm đi thì nào là chuột chết, mọt, kiến, gián, mèo chết, cả nhà dơ như vậy thì giờ mình phải trở về lo quét dọn lại căn nhà nội tâm của mình, bao nhiêu hàng tồn kho nằm trong đó, chất chứa trong đó vô lượng, vô biên kiếp nên dục không cần ai dạy, sân cũng không ai dạy, bản ngã cũng vậy mà còn rất nhuần nhuyễn, điêu luyện.
Nhưng ly dục, vô sân, bất hại đó cố gắng làm nhưng mãi trượt và nó cứ theo đà của tập quán, tập khí, thói quen, tư duy, cảm thọ. Nên trong sự tu của mình là cả một công trình nỗ lực để mình chiến đấu với nội tâm, quét dọn những rác. Nhưng mình cũng đừng sợ khi ngồi thiền có vọng tưởng nhiều, mình biết được thọ, tưởng, hành, thức là cả một trí tuệ rồi, cứ bình tĩnh, từ từ. Mình nhìn thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức, thấy được ba loại cảm thọ, tham, sân, si tùy miên bên trong là cả một trí tuệ khởi động. Và mình biết như lý tác ý đánh đuổi, là cả một sự tiến bộ, tuy là mình đánh nhưng nó quật lại mình hoài, nhưng mình không sợ: “Hãy đợi đấy, các ngươi hãy đợi đấy, hãy chờ xem ta đây xử các ngươi, ta sẽ xử chúng mi. Xử từng đứa một!”
Minh Thành hay nói đầu tiên mạnh một trăm phần trăm, lúc mình chưa tu ngũ uẩn, đến khi mình nhận thức, nhận diện ngũ uẩn rồi thì còn chín mươi phần trăm, bên đây là mười phần trăm trí mình thành tựu. Mình nghe tiếp, tu tiếp, tác ý tiếp, cứ cho nó một trận đòn nên thân, nên từ từ tăng lên hai mươi phần trăm trí huệ và tám mươi phần trăm vô minh, tham, dục, ái, sân, si. Cứ tiếp tục như vậy, nên không sợ mình té ngã, chỉ sợ mình không chịu đứng dậy, chỉ sợ sau khi té ngã mình không chịu đứng dậy, cứ té rồi đứng lên, đứng mãi thì mình sẽ nhuần nhuyễn trên con đường Thánh đạo và mình không bị té nữa. Đến lúc mình được năm mươi phần trăm, lúc đó mình vào quyết định tánh, tức là Nhập Lưu.
Tức là những suy nghĩ của mình là suy nghĩ vô thường, khổ và vô ngã, không còn suy nghĩ thường lạc, ngã tịnh trong đó nữa, đó là quyết định tánh, cho tâm mình sát quyết, quyết định, không còn sự pha trộn, lẫn lộn nữa, mà đó là thuần nhất, nhất hướng trong Thánh trí huệ, lúc đó đã có vé vào Niết-bàn, không thoái đọa nữa, chỉ có tiến lên mà không còn dừng lại hay lui xuống nữa.
Trong giai đoạn này là gian đoạn gay go, cần phải nỗ lực thường xuyên và liên tục, phải đem cả sức bình sinh, tâm lực, trí lực, nguyện lực, hạnh lực, dốc toàn lực vì không biết mình chết lúc nào, nên hãy làm hết sức mình, để khi mình ra đi mình vẫn mãn nguyện vì mình đã gắng hết sức mình rồi, ít nhất cũng là hướng dự lưu, vào bốn đôi tám chúng. Hướng dự lưu là tối thiểu, thấp nhất, còn mình là phải nhập lưu.
Nên sáng nay, nhân có đoàn Phật tử Hải Dương về đây, Minh Thành cho quý vị chia sẻ những vấn đề thắc mắc hỏi đáp, nên vì nhân duyên nên chúng ta cũng hoàn thành một chương trình pháp thoại sáng nay.
Mời Thầy Nghĩa trải tâm từ.
Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này. Chư vị nghe hiểu được âm thanh này, cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài. Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn, vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau, lòng tha thiết chân thành cầu nguyện, sự an lạc và bình an, trí tuệ và giải thoát, đến với cùng khắp tất cả.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Chia sẻ quá trình tu tập PAGEREF _Toc62544309 \h 1
II. Thọ hỷ, thọ lạc PAGEREF _Toc62544310 \h 5
III. Tu tập bốn hơi thở cuối trong mười sáu hơi thở PAGEREF _Toc62544311 \h 7
IV. Huấn luyện cảm thọ PAGEREF _Toc62544312 \h 8
V. Khuyến tấn hành thiền PAGEREF _Toc62544313 \h 9
VI. Tu tập bốn hơi thở vô thường, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ PAGEREF _Toc62544314 \h 10
VII. Hộ trì sáu xúc xứ PAGEREF _Toc62544315 \h 13
VIII. Tác ý PAGEREF _Toc62544316 \h 17
IX. Tác ý đánh tâm si PAGEREF _Toc62544317 \h 20
X. Ngũ uẩn vô ngã PAGEREF _Toc62544318 \h 23
I. Chia sẻ quá trình tu tập
Phật tử thứ nhất:
Con kính bạch thầy, con cùng đạo tràng Nikāya Hải Dương hôm nay về đây để được dự buổi tu học, rất mong thầy chia sẻ pháp đạo cho chúng con. Trong thời gian qua nhóm chúng con từ khi nhận được trên tay pháp bảo để tu học Nikāya, chúng con hành trì theo đường lối trong quyển sách đó, sự tu học của chúng con đoàn kết trong một nhóm. Khi về chùa thì thầy trụ trì chùa rất hoan hỷ. Vừa qua chúng con cũng đã về tu tập ba ngày bát chay giới và tới đây chúng con sẽ sắp xếp thời gian vào các buổi tối và có thể vào chủ nhật chúng con sẽ về chùa tu tập theo đường lối trong quyển sách.
Thứ nhất là chúng con đảnh lễ Đức Phật, thứ hai là chúng con tụng đọc một thời khóa bao giờ cũng đảnh lễ Đức Phật, có sám hối và tụng đọc căn bản chí, sau đó ngồi thiền tâm hiền, hoặc mười sáu hơi thở hoặc quán vô lậu, quán xét về thân bất tịnh. Sau đó thì chúng con có thể xem kẻ hành thiền, trưa chúng con thọ trai và lại hành thiền, một ngày chúng con tu tập bốn thời, mỗi thời hai tiếng chúng con áp dụng.
Ở Linh Quy Pháp Ấn chúng con đã được dự các pháp đàm và các buổi tu tập như vậy, sau đó khi hành thiền thì chúng con có quán chiếu, nhận diện ngũ uẩn và cũng có chia sẻ pháp về nhận diện ngũ uẩn cho nhóm và cho các cô bác, tất cả cô bác chúng con luôn hành trì như vậy, và tất cả các thời khóa, về nhà là chúng con áp dụng, buổi tối, buổi sáng, hầu như các Phật tử đều tu hành đều đặn. Ban ngày thì chúng con học các phòng hộ các căn, chánh niệm, phòng hộ các căn tu tập trong công việc.
Con kính xin thầy hoan hỷ chỉ dạy thêm cho chúng con.
Sư phụ giảng giải:
Quý Phật tử mới có hỏi gì không?
Phật tử thứ nhất: Chúng con đều là Phật tử đã vào Linh Quy, có bốn cô bác mới nhưng chưa về đây được, chúng con có bốn người thì đều trong nhóm, đều tu tập đúng hành trì, đường lối như vậy, như con đã trình bày.
Các quý Phật tử mới khác có gì hỏi không? Trong khi mình hành trì, mình tụng đọc, trong khi mình nghe, có gì còn chưa hiểu, chưa sáng tỏ mình có thể hỏi.
Phật tử thứ hai:
Bạch thầy, chúng con tới tuổi này nên cũng có nhiều thời gian rảnh rỗi, ngoài thời khóa tu tập, đối với bản thân con, ngày hai khóa sáng sớm và tối ngoài ra con cũng chỉ có công việc bình thường nên con cũng có thể tu tập hai thời sáng và buổi chiều, tầm hai giờ. Ngoài ra, nhóm trưởng hướng dẫn tu tập theo, con đã vào đoàn và vào Linh Quy hai lần, theo thời khóa con cũng nắm được một phần. Bản thân con không được trực tiếp gần thầy, nhưng thầy hiện trên màn hình và con được nghe tất cả những bài pháp chia sẻ, con luôn thường xuyên nghe.
Đối với bản thân con chỉ nghĩ là con cũng đã nắm được và chủ yếu là mình hành pháp thôi ạ.
Phật tử thứ ba:
Con kính thầy, quý thầy, quý sư cô và toàn thể Phật tử có mặt hôm nay. Khi con tu tập về định niệm hơi thở, con chưa được rõ ràng về lúc tu tập tâm hỷ lạc, hoan hỷ, lạc thọ, hai tâm đó lắm lúc con bị rối. Lúc mình quán bốn giai đoạn, quán vô thường, lúc đó con thường xuyên dùng tưởng, để bám sát vào thân mình, để xả bỏ thân mình như thế, con mong thầy chỉ dẫn cho con.
Phật tử thứ tư:
Con kính bạch sư phụ, quý thầy, quý sư cô và tất cả Phật tử nơi đây. Con xin chia sẻ một chút về sự tu tập của con. Phật tử trong nhóm tu Hải Dương chúng con cũng sinh hoạt theo quyển sách chị Sáu đã chia sẻ, quyển sách quý thầy cô đã phát cho chúng con. Hằng ngày, đối với bản thân con còn giao duyên rất nhiều, hiện nay gia đình có hai cháu bé sinh đôi còn rất nhỏ nên cũng không có thời gian nhiều để tu tập. Về thời khóa con cũng chỉ sắp xếp được buổi sáng hay buổi tối, buổi tối có thể được hơn hai tiếng, buổi sáng chỉ được dưới một tiếng. Còn khi bình thường, trong cuộc sống, con luôn cố gắng luôn nhìn vào tự thân của mình để thấy, biết được sự hoạt động của thân tâm để làm chủ hoàn cảnh, nghịch cảnh hằng ngày để đối diện, làm sao để bớt tạo nhân xấu cho mình.
Chúng con cũng được sự chỉ dẫn của chị trưởng nhóm, thời gian gần đây chúng con cũng có tiến triển tu tập hơn, trước kia là phần bố thí cúng dường chúng con bị dính mắc ở đó, đến thời điểm này chúng con thấy được tâm của mình rộng mở, bố thí cúng dường chúng con có sự hành trì, có kết quả, cảm thấy rõ rệt. Trước kia là tâm trói buộc, mỗi khi có duyên đến và mình phải làm việc cho tặng, bố thí, cúng dường hầu như là đối với bản thân con là con còn thấy sự dính mắc ở đó nhưng đến bây giờ con thấy tâm mình rộng mở thêm, mọi pháp con cũng thấy là mình có sự tiến bộ.
Một vài tháng trở lại chị em chúng con có nhận thấy được sự thay đổi trong tu tập, chúng con cũng rất cố gắng, luôn luôn nhắc nhở bản thân mình, chúng con có duyên may gặp được chánh pháp, quý thầy cô chỉ dẫn cho chúng con nên chúng con thấy rất là hạnh phúc, vì cuộc đời rất khổ. Nhiều lúc chúng con đã vượt qua được các nghịch cảnh, hoàn cảnh của mình nên thấy mình rất hạnh phúc.
Nên bản thân con thấy rằng dù nhân duyên rất nhiều nhưng những việc tạo lợi ích cho sự tu tập thì con luôn cố gắng hướng về đó, là mục đích hàng đầu của mình, mục tiêu hàng đầu của mình là lúc nào mình cũng đặt tâm vào trong đó, là sự tu tập, sự hướng thiện con sẽ cố gắng tu tập, hoan tập những tập khí, thói hư tật xấu, bản ngã rất cao, con sẽ cố gắng dần dần sám hối để diệt bản ngã của mình.
Hôm nay con về đây xin quý sư phụ chia sẻ thêm cho chúng con để được hiểu thêm, có đường lối cho chúng con tu tập được tốt hơn.
Phật tử thứ năm:
Khi chúng con được học pháp nhận diện ngũ uẩn, chúng con cũng nhìn nhận được ra thân tâm của chúng con. Hằng ngày nghe được bài giảng pháp của thầy, chúng con luôn hướng về nhận diện cảm thọ, nhất là cảm thọ trong hằng ngày. Vì vậy, từ cảm thọ này chúng con nhận được ra, tâm rộng mở ra, không còn bị dính mắc như ngày xưa. Từ việc đúng sai phải trái, từ việc đúng sai phải trái, từ việc bên ngoài hành trì theo pháp này hay theo pháp khác, tất cả mọi cái chúng con đều thấy rộng mở ra được, chúng con cũng thực hành được. Ví dụ như từ thiện hay về chùa làng, tu tập theo pháp môn nào. Giờ chúng con thấy rất hoan hỷ, thầy đã cho chúng con về chùa tu tập hành trì trong những ngày trai giới hoặc các ngày chủ nhật, các buổi tối.
Chúng con nhận ra lợi ích trong việc nhận diện ngũ uẩn từ các cảm thọ hằng ngày có sự dễ chịu, hay khó chịu, chỉ có cảm thọ bất khổ bất lạc là chúng con còn kém. Chính vì thế, chúng con về nhà hằng ngày buổi tối và buổi sáng đều có thời khóa tu tập. Sau đó, trong nhóm, chúng con đều sinh hoạt theo thời khóa và hằng ngày luôn nhắc nhở, không hướng ra ngoài mà hướng vào chính ngũ uẩn của mình, để nhìn ra thọ tưởng hành, nhất là cảm thọ. Việc cảm thọ lạc và cảm thọ khổ như con hiểu là: Khi tâm mình có thọ hỷ, về tâm là tâm luôn luôn tác ý cho sanh khởi hằng ngày để cho tâm được hân hoan, hoan hỷ, mình là người hạnh phúc nhất, được biết đến Phật pháp, được gặp chánh pháp để tu tập.
Về thân tâm, hằng ngày giữ gìn cho thân an lạc, khinh an, cho có thọ lạc. Chính vì thế, hằng ngày chúng con luôn được sống trong chánh niệm, để giảm bớt đi những nhân quả xấu trong đời sống hằng ngày. Và biết cách phòng hộ các căn, khi biết cách thực hành ba pháp, chúng con thực hành được ba pháp được tương đối tốt rồi. Để luôn quay về nhận diện chính mình chứ không hướng ra ngoài nữa, vì thế nên tất cả việc tu tập từ trước đến giờ, việc thờ cúng, bố thí, cúng dường, tức là tất cả những việc trước nay chúng con bị dính mắc, giờ chúng con đã cởi bỏ được.
Còn về chính thân tâm trong con, về nhận diện các cảm thọ, tưởng, hành, trong thời khóa chúng con tu tập theo lộ trình trong quyển sách và trong Linh Quy các thầy hướng dẫn về sự quán chiếu. Tóm tắt ngũ uẩn thì chúng con thuộc tương đối nên về phần thân luôn có sáu khía cạnh quán xét.
Về cảm thọ có thọ lac, thọ khổ, thọ bất lạc bất khổ, có hai hướng thuộc vật chất và không thuộc vật chất. Về tâm thì có mười sáu nghĩ tưởng của tâm. Về pháp thì có năm pháp cần phải quán sát, chúng con cũng biết cách xen kẽ, biết áp dụng lúc nào là quán về vô thường, về bất tịnh, về ba mươi hai thể trượt, về chín giai đoạn của thân hoại diệt, cũng như tu tập, trao dồi, huấn luyện tâm trong mười sáu định niệm hơi thở. Đường lối là như vậy, còn sự quán xét tu tập của chúng con vẫn còn yếu ớt, rất kính mong thầy chia sẻ thêm cho tất cả chúng con.
II. Thọ hỷ, thọ lạc
Sư phụ giảng giải:
Chúng ta có hai phần là lạc thọ và hỷ thọ, phải phân biệt được với bốn hơi thở cuối của mười sáu hơi thở, điều này Minh Thành sẽ giải thích rộng trong buổi Soi sáng để mình có thể nắm vững cũng như để đại chúng được lợi lạc, lợi ích rộng lớn, đó là hai câu hỏi cần thiết của đạo tràng chúng ta. Lạc thọ và hỷ thọ phân biệt như thế nào và bốn hơi thở cuối trong mười sáu hơi thở vì bốn hơi thở rất thâm sâu, đó là phần quán pháp.
Sự tu học của chúng ta không đi ra ngoài năm uẩn, cứ kiên trì nhận diện năm uẩn, kiên trì nhìn ngó cảm thọ của mình, siêng năng quét rác, siêng năng lau chùi, tẩy rửa, dọn dẹp rồi từ từ sẽ sạch, mình siêng năng, khéo léo, thiện xảo trong nội tâm của mình, mình phải hết sức khéo léo trong tâm của mình. Mình nên xem lúc nào nên sử dụng pháp nào, mình phải phân biệt hai cảm thọ, nếu nói theo trong kinh là lạc thọ chỉ cho cảm giác dễ chịu của thân, hỷ thọ là cảm giác vui của tâm, nói đúng như trong kinh, phần quán chiếu thâm sâu Minh Thành có phân biệt, chúng ta sẽ thấy, Minh Thành có phân biệt hai loại cảm thọ của thân và của tâm khác nhau, nên chúng ta quán chiếu thâm sâu vào cảm thọ.
Khi đi từ Hải Dương lên đây một trăm mấy chục cây số, thân hơi mệt, chắc chắn là vậy, nhưng tâm mình vui, hoan hỷ, như vậy là khổ thọ về thân lại hỷ thọ về tâm. Ví dụ mình ngồi tu trong khóa tu ở Linh Quy, hay ở đây, hay ở Hải Dương, mình tu cả ngày, thì thân hơi mệt, hơi mỏi, có khi tê nhức nhưng tâm lại hoan hỷ nên đó là khổ về thân nhưng vui trong tâm. Nên lạc thọ là vui nơi thân, cảm giác dễ chịu trong thân, hỷ thọ là cảm giác vui trong tâm, chúng ta nên phân biệt được hai loại này: sự dễ chịu của thân và sự hoan hỷ của tâm.
Khi mình thực tập thiền, có những lúc thân của mình cực kì dễ chịu, nhẹ tênh và tâm mình vui, đó là hỷ lạc của thiền. Lúc đó là vừa hỷ vừa lạc, thân lạc thọ nhưng tâm hỷ thọ, thân dễ chịu nhưng tâm hoan hỷ, những giây phút đó là thuốc bổ của tinh thần, trong sơ thiền rất cần để nuôi dưỡng trong sự tăng thượng trong tu tập của chúng ta. Mình có sự tác ý hỷ lạc trong pháp, lấy đó làm dưỡng chất để nuôi những tuệ giác, chí hướng thượng trong Thánh pháp này.
Khi mình tới đám cưới, ăn mặc đẹp, trang điểm, gặp bạn bè vui tươi thì thân lúc đó là dễ chịu, tâm cũng hỷ lạc, hỷ lạc ở vật chất, nhưng nó không đưa đến mục đích tu tập của mình. Mình thấy được hỷ lạc của đạo và hỷ lạc của đời, nên khi tu mình rất cần vui của đạo.
Khi quý vị dự khóa tu có thầy, có bạn đạo, có Thánh pháp mà nói tới đâu nắm tới đó hay thấm tới đó, mình xúc cảm, cảm động, chấn động, thân hỷ lạc, tâm hoan hỷ, hạnh phúc, nước mắt hạnh phúc trào ra. Những cảm thọ đó sẽ nuôi dưỡng sự tu học của chúng ta.
Mời cô Phật tử chia sẻ cảm xúc.
Phật tử thứ sáu:
Con bạch thầy và các vị đồng đạo tại đây. Hôm qua tâm của con khi đến đây rất muốn mở tuệ pháp của mình ra, để cho thân được an lạc nhưng con chưa đủ tuệ nên chưa hiểu nhiều lắm ạ. Vì con buổi đầu đến học.
Sư phụ giảng giải:
Hôm qua gần như cả ngày quán về tiếng kèn, trống đám tang, để thấy được bản chất của cuộc đời, chúng ta cứ tiếp tục pháp đàm của chúng ta.
Minh Thành mời cô Sáu nói bốn hơi thở cuối cùng của mười sáu hơi thở là gì?
III. Tu tập bốn hơi thở cuối trong mười sáu hơi thở
Phật tử cô Sáu:
Kính bạch thầy, bốn hơi thở cuối của mười sáu hơi thở là: quán sự vô thường, quán sự ly tham, quán sự đoạn diệt và quán sự từ bỏ. Tất cả đều quay về ngũ uẩn hết, từ ngũ uẩn này quán chiếu sự vô thường. Như thế nào là vô thường? Tự mỗi người phải học tập, tu tập về sự ly tham. Chúng ta đều phải nhận diện ngũ uẩn thật sâu sắc, tất cả đều phải quay về ngũ uẩn, càng sâu sắc bao nhiêu thì mới quán được bốn định niệm hơi thở cuối.
Nếu chúng ta chưa nhận diện được cảm thọ sâu sắc, thì chúng ta chưa nên tu tập giai đoạn này. Hoặc tập thì tập nhưng chưa thể thể nhập bốn hơi thở này, chúng ta vẫn phải trở về tập nhận diện ngũ uẩn một cách sâu sắc và nghe pháp đàm của thầy.
Con ví dụ như lạc thọ của thân và hỷ thọ của tâm, cũng dễ nhận ra nhưng thọ bất lạc, bất khổ, con nghĩ là các Phật tử hàng ngày thường xuyên rơi vào cảm thọ này, không có sự nhận diện ngũ uẩn liên tục, nhìn lại thân tâm mình và không có chánh niệm nên cứ nghĩ là mình không có khổ không có lạc, thường xuyên sống trong cảm thọ bất khổ bất lạc, tức là không có hướng thượng, hướng thiện. Chính vì thế có pháp như lý tác ý và quay lại thân tâm mình để nhận diện ngũ uẩn, để sáng tỏ cảm thọ bất khổ bất lạc rất quan trọng. Chính vì vậy, cảm thọ bất khổ bất lạc này chưa nhận diện được nó thì khi tu tập bốn định niệm hơi thở cuối cũng chưa thể vào được.
Sự vô thường thì mọi người đều thấy sự vô thường, nhưng cũng là ngũ uẩn này vô thường, sự ly tham cũng là ly tham ở ngũ uẩn này, trong đó lúc nào cũng có sắc, thọ, tưởng, hành, thức và sự đoạn diệt, sự từ bỏ. Bốn hơi thở này con cũng đã tu tập nhưng con thấy vẫn chưa có kết quả, mà chỉ là con tập thôi, con chỉ mới thực hành được đến đoạn cảm giác được toàn thân, sự an tịnh, lạc thọ của thân và hỷ thọ của tâm. Và hằng ngày trong ban ngày cũng luôn luôn quay về ba cảm thọ này, để nhận diện, tác ý, hướng thượng, hướng thiện cảm thọ này, nhận diện nó.
Khi tu tập định niệm hơi thở thì con tu tập hằng ngày tám hơi thở đầu. Các hơi thở tiếp theo con vẫn tu tập nhưng sự vô thường, ly tham, đoạn diệt và quán từ bỏ, thì sự có thể nhập thì con thấy còn được ít và thấy khó đối với bốn hơi thở này.
Đó mới là ở phần lý thuyết, chúng con được nghe các bài của cô về bài Giải thoát trí, có nhiều câu tác ý trong đó, gồm có cả vô thường, ly tham, đoạn diệt và từ bỏ. Các câu quán chiếu trong Giải thoát trí sẽ đưa chúng ta vào các trạng thái có thể tu tập được bốn hơi thở cuối cùng, cả trong bài Căn bản trí.
IV. Huấn luyện cảm thọ
Sư phụ giảng giải:
Trước khi chúng ta chia sẻ về bốn hơi thở, chúng ta trở lại phần cảm thọ khi nãy, cũng như vừa rồi quý vị có trình bày, cảm thọ hỷ hay ưu, khổ hay lạc, mừng hay buồn thì mình dễ cảm nhận được. Nhưng cảm thọ thường thường đều đều, tức là cảm thọ bất khổ bất lạc thọ, cảm thọ này làm cho chúng ta dễ bị ngủ quên trong cảm thọ đó. Nên sự nhận diện các cảm thọ rất quan trọng, tất nhiên nhận diện ngũ uẩn phải đầy đủ sắc, thọ, tưởng, hành, thức, những cảm thọ nổi trội vì có gì thay đổi là chúng biến động ngay. Nếu như mình không để ý cảm thọ, mình không dòm ngó cảm giác, mình không để tâm, đặt tâm mình vào trong đó quán sát thì mình không biết được tên tuổi, mặt, mũi, tính tình thì làm sao mình có thể nhiếp phục, huấn luyện, các cảm thọ?
Vì sự tu là huấn luyện cảm thọ, vì các cảm xúc, cảm giác của mình rất ương ngạnh, rất cứng đầu, khó bảo khó nghe, mình kêu đừng giận thì nó có nghe mình không? Nó cứ giận, kêu đừng tham thì nó cứ tham, kêu đừng bản ngã thì nó lại bản ngã, kêu đừng hơn thua thị phi thì nó cứ chấp đúng chấp sai, dù là với vợ, với chồng, với con, với bạn đạo, huynh đệ chấp đúng, chấp sai, vô tu cũng chấp đúng, nói câu không vừa ý cũng bắt bẻ.
Như vậy thì mình không nhìn ra được, cảm thọ bên trong thúc giục, phát ra khẩu hành, ý hành, thân hành. Từ trong thọ nung, dâng lên, thì có ra những nghĩ tưởng, những nói năng, hành động. Nên khi mình tu có những câu nói “an tịnh, lắng dịu” trong mười sáu hơi thở rất quan trọng.
Vì khi mình tu thì tới mức tất cả các cảm thọ của mình lắng dịu, giờ còn hung hăn, mạnh mẽ, cho nên người chân tu thường xuyên nhìn cảm thọ của mình. Quý vị hãy nhìn cảm thọ của mình khi nghe người ta tụng kinh, hãy lắng tâm nghe kĩ trong đó là cảm thọ gì?
Để nhận diện cảm thọ một cách chính xác, sâu sắc không phải là điều đơn giản, mình thường nhận diện là những điều thô, những cái đã rồi, thì mình thấy. Nên mình hãy nhìn sâu vào bên trong có một sự an tịnh, lắng dịu thì mới đọc được quyển sách nội tâm của mình một cách chính xác. Nhiều khi mình đang buồn, đang giận nhưng khi người khác hỏi thì lại trả lời “Tôi không có giận!”, có khi mình biết là mình có giận nhưng nói là mình không giận, nhưng có khi mình không biết lúc đó mình có giận hay có buồn, vì lúc đó mình nhận diện một cách sâu sắc, chính xác, nếu như vậy thì lậu hoặc qua mặt mình, giận chút, buồn chút, hờn mác chút, buồn chút cứ tích tụ, thọ uẩn là gì?
Là một tổ hợp cảm giác, chỗ hội tụ, tích tụ, chất chứa, nên khi chất chứa ngày chút chút đến lúc nào đó bùng lên thì như vậy thì trong gia đình có chuyện, không phải tự nhiên bùng, mà chất chứa từng chút, lâu ngày nên vỡ ra, vì nó qua mặt chúng ta nên chúng ta không biết.
V. Khuyến tấn hành thiền
Bản ngã cũng vậy, vì nó chất chứa từng chút, vì mình không nhìn thấy kỹ, nó chất chứa nhiều, trở thành một đại ngã uẩn, tổ hợp. Đến lúc nó xâm chiếm, áp đảo, chiếm ngự toàn bộ ngũ uẩn của mình. Chúng ta nên đọc bài Sám hối diệt ngã, vì uẩn nào cũng nhận là ta, nên trong sự thực tập và quán chiếu cảm thọ, chúng ta phải có một sự bình tâm, lắng đọng.
“1-2) Nhân duyên ở Sàvatthi...
3) Này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc.
4-6)... của thọ... của tưởng... của các hành.
7) Không như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của thức.
8-12) Và này các Tỷ-kheo, bậc Đa văn Thánh đệ tử như thật biết rõ vị ngọt, sự nguy hiểm và sự xuất ly của sắc... của thọ... của tưởng... của các hành... của thức”
(Tương ưng bộ kinh tập III. Thiên uẩn, Chương I. Tương ưng uẩn, II. Phẩm những gì được ăn, Bài kinh Vị ngọt)
Tức là, hãy tu tập thiền định, sẽ biết như thật, sắc, thọ, tưởng, hành, thức, biết sự sanh khởi và đoạn diệt, biết được vị ngọt, sự nguy hiểm hay tác hại của nó và biết được sự thoát khỏi nó. Nếu không có sự tu tập chánh kiến và thiền định, thì chúng ta không có biết như thật, tri kiến không sanh khởi, biết đúng sự thật về thân tâm của mình, nên cảm thọ này trở lại cảm thọ hỷ lạc khi nãy. Và cảm thọ vui thích, khoan khoái, hoan nghênh, an trú, đắm trước, mỗi lần cảm thọ đó sanh khởi thì cái tham đi theo mình sẽ được tưới tẩm và nuôi dưỡng, được tăng trưởng.
Ví dụ mình thích chiếc xe hay cái nhà, mỗi khi nhìn vào mình thấy đẹp về kiểu dáng và màu sắc, mái tốt, càng suy nghĩ cái đó thì càng cảm thọ cái đó và càng có những ý tưởng về cái đó thì lúc đó, tham ái sẽ lớn mạnh thêm. Tham ái lớn mạnh thì sự chấp thủ cứng chắc, sự bám chấp vào chiếc xe nhiều hơn, khi tham ái, chấp thủ có mặt thì đau khổ có mặt vì chiếc xe đó là pháp, biến hoại, sắc biến đổi khi đó thì sầu bi, khổ, ưu não sanh khởi.
Vì mình ái, chấp thủ, yêu thích, khoan khoái trong đó, nắm chặt trong đó, khi nó biến đổi mình sẽ khổ đau, nên sự tu của mình đến diệt hỷ tiêu tận, tức là vui thích không còn nữa.
VI. Tu tập bốn hơi thở vô thường, ly tham, đoạn diệt, từ bỏ
Đối với nhìn tất cả sáu trần này (sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) đến những cảm giác, nghĩ tưởng trong tâm mà mình không còn ưa thích, khoan khoái nữa, đó là tới lúc mình thể nhập Thánh trí. Đối với tất cả những gì trên cuộc đời này, lòe loẹt của thế giới này mình đều quay lưng lại hết, không có gì có thể hấp dẫn mình được nữa, không có gì làm cho mình say mê, yêu thích, ràng buộc hệ lụy của mình nữa.
Đó là trong bài kinh Diệt hỷ tiêu tận, mừng vui, vui thích, vui mừng đối với mỗi thứ vật chất chẳng còn. Tức là khi nhìn vào đó mình chỉ thấy một chữ, đó là khổ, tất cả đều là khổ, vì nằm trong vô thường, sanh diệt, nên bốn hơi thở cuối của mình là quán tính vô thường, ly tham, đoạn diệt và từ bỏ. Bốn hơi thở đó phải thở thường xuyên, mọi lúc mọi nơi phải nhớ, thôi quên nhiều, sau đó lại quên ít ít, từ từ rồi sẽ nhớ nhiều hơn quên, tới lúc nào đó nhớ luôn, không quên nữa, thì lúc đó mới nhập lưu.
Mỗi hơi thở đều nhìn thấy tính chất vô thường của đời sống này, mỗi hơi thở đều không đáng để tham. Cái xác chết nằm đó có tham không? Hay có đáng tham cái xác đó không? Cái đống xương đó có đáng tham không? Cái nấm mồ có đáng tham không? Cái hũ tro cốt đó có đáng tham không? Thường khi thở mỗi hơi thở là thấy điều đó, là thấy tính vô thường, tính không đáng tham, hoại diệt, thân này đang tàn, đang hoại, đang diệt, chuyển biến, đổi thay trong sự thể nhập Bất tịnh quán, sự thể nhập Ba mươi hai thể trượt, sự thể nhập Chín giai đoạn của một tử thi, thì có gì thân này là đáng tham?
Nếu mình thường thường nhớ, nghĩ, quán chiếu, soi rọi như vậy thì đó là Thánh thể nhập, đó là chỗ thể nhập của bậc Thánh. Vì trí huệ này là bất cộng, không cùng chung với phàm phu. Nên mình đừng sợ người khác nói, vì nói là việc của người ta, chuyện của mình tu thì mình biết.
Quán đoạn diệt là tiêu diệt, chấm dứt, chết là chấm dứt mạng sống, tức cái chết là đã chấm dứt. Vậy mình có biết lúc nào mình chấm dứt và chấm dứt ở đâu không? Chấm dứt mà còn bất định, bất trắc, bất thường, vô thường, nên phải quán đoạn diệt, chấm dứt. Vì nó là thứ vô thường, biến đổi, không đáng tham nó sẽ tan hoại, đổ vỡ, chấm dứt, thì nên từ bỏ, nhìn nhận nó là mình để làm gì? Tại sao lại nhận một cái vô thường, bất tịnh, khổ đau, phiền não, không đám tham, tan hoại là mình, là của mình? Vì mình vô minh, tham ái, chấp thủ nên bằng những hơi thở của Phật, mình thở được những hơi thở đó là mình đang thở chung hơi thở của Đức Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Hiền Thánh đều thở bằng hơi thở đó. Giờ mình cũng tập thở những hơi thở đó để gặp Đức Thế Tôn, gặp các bậc Thánh tăng.
Đừng thở bằng những hơi thở phàm phu bình thường của tham ái, của vô minh, chấp thủ. Nên khi mình thở được những hơi thở như vậy, mình nhớ, quán, suy tư được như vậy thường thì phá cảm giác bất khổ, bất lạc thọ. Cảm giác trơ trơ thường thường rất nguy hiểm, mình cứ nghĩ “Giờ có gì đâu, giờ tôi đang khỏe, đang bình thường” nhưng cái mình thấy bình thường chính là vô minh. Mình thấy đều đều chính là si mê, thấy thường thường đó là tà kiến, thấy sai.
Đứa bé chỉ có mấy tuổi rơi từ trên lầu xuống, hay chỉ mới ba bốn tuổi bị đột quỵ chết, hay chỉ mới sanh không bao lâu là phải mổ não rồi chết thì cha mẹ của đứa bé họ có tưởng tượng được rằng lát nữa con mình chết không? Hay tự thân của em bé có biết rằng nó sẽ chết không? Trong tuổi thọ đó gọi là hưởng dương không hưởng thọ. Và làm gì có cái nào cứ thường thường như vậy mãi? Nó luôn trong sự biến động, biến đổi trong sự tàn hoại, hủy hoại, hoại diệt, mình thường thở những hơi thở đó để mình phá cảm thọ không khổ không vui, thường thường, đều đều, trơ trơ đó, để mình thoát ra khỏi cảm thọ đó. Và mình luôn luôn quán tính nguy hiểm, tác hại, của đời sống này.
Người ta cứ nghĩ bờ vực thẳm mới là nguy hiểm, viên thuốc độc đó mới nguy hiểm, hay con dao, nòng súng, trái bom, lựu đạn mới là nguy hiểm mà người ta không biết rằng sự nguy hiểm hơn tất cả sự nguy hiểm chính là tự thân của mình.
Quý vị đã nghe bài Sự nguy hiểm của sắc không? Đây là sự nguy hiểm, cái mình đang mang vác chính là sự nguy hiểm, không phải là các cái bên ngoài. Nguy hiểm vì không biết lúc nào nó bệnh, nó chết, nó gặp tai nạn, không biết lúc nào nó kết thúc, nó chấm dứt, đoạn diệt, vô thường, từ bỏ, nên phải ngấm thật sâu bốn hơi thở này, quán tính vô thường của ngũ uẩn, quán tính ly tham của ngũ uẩn, quán tính đoạn diệt của ngũ uẩn, quán sự từ bỏ. Đó là tiếng kèn đưa đến nơi an nghỉ cuối cùng, đó là sự chấm dứt, sự từ bỏ, đó là ly tham, không đáng để tham, là vô thường.
Thật đau lòng cho thân xác này, một khi mình nằm xuống rồi, người thân mình cũng không muốn nhìn, họ lại gần họ sợ, vì đã trở thành thây ma rồi. Nên khi thẩm thấu các trí huệ này mới phá vỡ bởi những cảm giác trơ trơ, trơ lì, cho là bình an, an toàn, an ổn, không lúc nào là lúc an ổn hết.
Có chú tài xế phụ chở Minh Thành đi giảng pháp, hôm qua Minh Thành mới hay tin chú đã bị tai nạn giao thông, hư cả đầu xe mà may là chú không bị gì, là lúc trên đường về đèo Bảo Lộc. Làm sao mình biết trước được điều gì sắp xảy ra? Trong thế giới vô thường, biến hoại này? Nên đừng bao giờ cho phép mình sống một cách lững lờ, buông trôi, buông xuôi, buông thả mà hãy luôn luôn niệm tính chất nguy hại, tác hại của sắc, dục, ngũ uẩn, của tham ái, của sân hận, si mê đều là nguy hiểm và cứ sống trong trạng thái đơ đơ, đều đều như vậy là nguy hiểm, hiểm họa. Phải quán chiếu nó một cách sâu sắc để thoát ra cảm giác bất khổ, bất lạc thọ đó. Như vậy mình có thể tinh cần, tinh tấn, mạnh mẽ để hướng thượng, hướng thiện, hướng đến trí tuệ giác ngộ và phải luôn luôn xem lại trong tâm mình những cảm giác, nghĩ tưởng này hết sức là quan trọng.
VII. Hộ trì sáu xúc xứ
Trong bài kinh Đàn tỳ bà trong Tương ưng bộ kinh tập bốn, Đức Phật đã dạy:
“Này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo hay Tỷ-kheo-ni nào đối với các sắc do mắt nhận thức có khởi lên dục (chanda), tham, sân, si hay hận tâm; hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy. Con đường này là con đường đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc, đầy rừng rậm, con đường ác, con đường tà, con đường đầy trộm cướp. Con đường này là con đường do phi thiện nhân dùng, không phải con đường do thiện nhân dùng. Như vậy, với ý nghĩ: "Ðây không phải con đường xứng đáng cho ta". Hãy ngăn chận tâm đừng cho khởi lên như vậy đối với các sắc do mắt nhận thức.”
(Tương ưng bộ kinh tập IV.Thiên sáu xứ , Chương I. Tương ưng sáu xứ, Phần IV. Năm mươi kinh thứ tư, IV. Phẩm Rắn độc, Bài kinh Đàn tỳ bà)
Trong khóa tu này chúng ta học những bài kinh trong Tương ưng sáu xứ. Sáu chỗ này hết sức quan trọng, khi mắt mình tiếp xúc với hình sắc bên ngoài mà khởi lên dục, tham, sân si hay hận tâm thì hãy ngăn chặn tâm, đừng cho nó khởi lên, không cho phép nó khởi lên. Vì nó khởi lên sẽ đưa mình đến con đường đầy sợ hãi, sanh khởi lên những tham, sân, si, những tâm tức giận, thù hận đưa hay đẩy mình tới những con đường sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc, đầy rừng rậm và đó là con đường ác, tà, đầy trộm cướp.
Quý vị hãy thử tiếp xúc, nhìn nhau rồi khởi tâm sân hận lên, sau đó thì chuyện gì sẽ xảy ra? Có phải là những điều đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc không? Vì tiếp xúc rồi sân hận, tức giận. Hay như mình đang có gia đình, mình nhìn thấy, tiếp xúc những sắc dễ thương, khả ái, thì tham, dục khởi lên, như vậy có nguy hiểm hay đầy đường tà, sợ hãi không? Nó sẽ dẫn dắt mình đi vào một con đường đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc. Chỉ cần mắt tiếp xúc thôi là sanh khởi. Giữa thương và ghét, sân hận và si mê.
Khi nhìn thấy sắc khả ái, vừa lòng, đáng yêu, ham thích thì lúc đó mình đơ ra, lúc đó là mình si và mình không kiểm soát được cảm thọ của mình thì cảm giác si trùm kín cả ngũ uẩn của mình. Cảm thọ đó, cảm giác đó làm cho tham khởi, tham dục, tham ái khởi lên.
Vậy nên có những con người cất một căn nhà xong rồi sạt nghiệp, phải đi làm thuê làm mướn. Chỉ xây một căn nhà lên thôi lại đổ nợ, phải đi làm thuê làm mướn trong đau khổ suốt mấy chục năm chỉ vì căn nhà. Đó là vì lòng dục, lòng ái, lòng thích, muốn, khoái trong khi khả năng của mình không đủ hay khi xây lên rồi lại đổ nợ, vỡ hụi chẳng hạn.
Như vậy làm cho đau khổ lâu dài, đó là con đường đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc, đầy rừng rậm, là con đường ác, con đường tà, đầy trộm cắp. Khi tiếp xúc sanh khởi ra dục, tham, ái mà mình không kiểm soát được thì nó đẩy mình vào sự sợ hãi, sự khổ đau, sự kinh khủng, gai góc và rừng rậm, con đường tà và trộm cướp trong đó. Chúng cướp bình an và hạnh phúc của gia đình mình và khi mình đối diện với sắc mình không thu nhiếp, phòng hộ, bảo vệ, chánh niệm, kiểm soát sẽ đưa mình đi vào con đường của trộm cướp.
“Này các Tỳ-kheo, hãy ngăn chặn tâm, đừng cho khởi lên như vậy.”
Quý vị thấy như chỉ một lời nói, nói ra rồi bất hòa, tranh cãi, tranh luận, sau đó là khẩu tranh, đấu tranh, thậm chí đưa đến những thảm họa khôn lường, những việc đáng tiếc thậm chí mất mạng. Như vậy đó có phải là kinh khủng không? Do sự không biết thâu nhiếp, chế ngự, điều phục, phòng hộ con mắt, lỗ tai, lời nói mà nó đưa mình vào con đường đầy rẫy sợ hãi, khủng bố, sự khổ đau, rừng rậm, là con đường ác, con đường tà, trộm cướp, cướp giật trong đó. Chỉ cần mắt tiếp xúc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị thôi, thân tiếp xúc hoặc tay cầm nắm, và nếu như mình không ngăn chặn tâm, kiểm soát cảm thọ, thì nó đưa mình vô con đường rừng rậm, gai góc, trộm cướp, kinh khủng, sợ hãi.
“Này các Tỳ kheo, hãy ngăn chặn tâm, đừng cho khởi lên như vậy.”
“4) Ví như, này các Tỷ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì phóng dật (lơ đãng). Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy và mê say ăn một cách thỏa thích.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, kẻ vô văn phàm phu không hộ trì đối với sáu xúc xứ, mê say thọ dụng một cách thỏa thích đối với năm dục công đức.
5) Ví như, này các Tỷ-kheo, lúa mì đã chín và một người giữ lúa mì không phóng dật. Có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chắc cái lỗ mũi của con bò; sau khi nắm chắc cái lỗ mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh cho một trận nên thân, người ấy thả con bò đi.
Lần thứ hai, này các Tỷ-kheo...
Lần thứ ba, này các Tỷ-kheo, có con bò ăn lúa mì, xâm phạm lúa mì ấy. Người giữ lúa mì nắm chặt cái mũi con bò; sau khi nắm chắc cái mũi, người ấy rị chặt trên cái trán. Sau khi rị chặt trên cái trán, với cái gậy, người ấy đánh con bò một trận nên thân. Sau khi lấy gậy đánh con bò một trận nên thân, người ấy thả con bò đi. Như vậy, này các Tỷ-kheo, con bò ăn lúa mì ấy đi vào làng, hay đi vào rừng, hay khi đứng, hay ngồi, nó không xâm phạm lúa mì ấy, vì nó nhớ đến cảm xúc cái gậy lần trước.
Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, khi nào Tỷ-kheo có tâm chơn trực, chánh trực đối với sáu xúc xứ, thời nội tâm được an trú, tịnh chỉ, nhứt tâm, Thiền định.”
(Tương ưng bộ kinh tập IV.Thiên sáu xứ , Chương I. Tương ưng sáu xứ, Phần IV. Năm mươi kinh thứ tư, IV. Phẩm Rắn độc, Bài kinh Đàn tỳ bà)
Con bò sẽ không dám xâm phạm lúa mì nữa vì nhớ đã ăn một trận đòn đau điếng, một trận nên thân đó, nhớ cảm giác đó nên nó sợ.
“Cũng vậy này các tỳ kheo các vị có tâm chơn trực, chánh trực đối với sáu xúc xứ đối với sự tiếp xúc của mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý có tâm phòng hộ chánh niệm thì nội tâm được an trú, được dừng yên nhất tâm thiền định.”
Đức phật đã cho chúng ta ví dụ của người giữ ruộng lúa đánh con bò. Chúng ta thấy rằng mắt, tai, mũi, lưỡi, thân tiếp xúc. Chúng ta đã nói về năm căn bên ngoài trước giờ nói tới ý căn bên trong. Đối với các pháp có ý nhận thức có khởi lên được tham, sân, si, là hận tâm, hãy ngăn chặn tâm đừng cho khởi lên.
Khi ở một mình trong nhà những hình bóng khởi lên, những cảm giác khởi lên, nhớ người đó đã nói mình câu gì làm mình bực quá, sáng này cũng mới bị nói lại, họ nói câu sỉ vả, chỉ trích mình. Khi mình nhớ lại câu đó thì hình bóng người đó hiện ra, những cảm giác khó chịu sanh khởi ra, rồi mình suy nghĩ theo chiều hướng khó chịu, sân hận đó, chính đó là con đường đầy sợ hãi, đầy kinh khủng đầy gai góc, rừng rậm, đây là con đường tà, ác, đầy trộm cắp. Con đường này người lành thiện không sử dụng, không phải là con đường mà người làm thiện sử dụng.
Mình phải với suy nghĩ “Đây không phải là con đường xứng đáng để cho ta đi!” mình phải thoát ra những nghĩ tưởng đối với người đó, mình không đi theo con đường đó mà phải làm giống như “đánh con bò một trận nên thân, lấy roi quất thật mạnh”. Đó chính là như lý tác ý, tác động vào tâm lý, tự mình đi đến mình, tự mình dò xét mình, tự mình chỉ trích mình.
Như những lời Đức Phật dạy trong kinh Pháp cú.
“379. “Tự mình chỉ trích mình,
Tự mình dò xét mình,
Tỷ kheo tự phòng hộ
Chánh niệm, trú an lạc.”
380. “Tự mình y chỉ mình,
Tự mình đi đến mình,
Vậy hãy tự điều phục,
Như khách buôn ngựa hiền.”
(Kinh Pháp cú – Phẩm Tỳ-kheo)
“Tự mình đi đến mình” tức là tự mình đi đến thọ, tưởng, hành, quán xét các pháp trong nội tâm, không phải đi đến đâu cả mà là đi đến mình, là đi đến những cảm giác nghĩ tưởng, đi đến thân thọ tâm thân, là đi đến mình. Tự mình phải dò xét mình, xem bên trong này là những cảm giác gì, hình bóng gì, suy nghĩ gì đang có mặt, rồi dò xét đó là suy nghĩ thiện hay bất thiện. Nếu những cái đó sanh ra dục, tham, sân, si và hận tâm thì đó là con đường đầy nguy hiểm và kinh khủng, đầy gay góc và cướp giật, vì nó đã cướp mất sự bình an của mình.
Mình đang ngồi một mình rồi nhớ một người nói câu gì rồi giận lên, cảm thọ sanh khởi, hình bóng sanh khởi, nghĩ tưởng sanh khởi lên và cứ kéo dài như vậy làm mình ở trong khổ thọ đó, trong sự nhiệt não, sự bức não, sự bực bội đó. Đó chính là con đường đầy gai góc, con đường ác, con đường tà.
VIII. Tác ý
Đối với người nhuần nhuyễn rồi thì mình tác ý và thoát ra được, nếu là những trận lớn, không là trận nhỏ thì lúc đó mình nên lấy roi mây dài ra quất, quất như đánh con bò một trận nên thân, không cho nó vào xâm phạm ruộng lúa của người ta nữa.
Phải như lý tác ý như thế nào? Phải tác ý: “Muốn đốt nhà, muốn bị hỏa hoạn lắm phải không hay muốn bị chết cháy đúng không? Ngu vừa vừa thôi, để người ta ngu chứ! Cứ thiêu nhau hoài, đốt nhau hoài như vậy, cháy nhau hoài như vậy? Phải chịu cảnh chết cháy như vậy? Tại sao lại si ám, vô minh, ngu mê như vậy? Đốt tới đây là đủ rồi, ta nhàm chán cảm giác sân hận này quá rồi, ta ê chề, ta não nề, ta gớm ghê, chán chê quá rồi. Ngươi hãy tan biến khỏi tâm ta đi. Ngươi hãy dập tắt hoàn toàn mát lạnh, thanh lương và tịch tịnh.”
Nói chung là chúng ta phải dùng những từ gì thật nặng để quán một trận nên thân, như Đức Phật nói là “đánh một trận nên thân” Sau này muốn sân lên thì nhớ trận đó, thì tự nhiên nó sẽ dừng. Đức Phật còn nói là đánh lần thứ hai, thứ ba nên mình phải tác ý nhiều lần, mười lần, hai chục lần, năm chục, bảy chục, tám chục, một trăm lần, hai trăm lần, năm trăm lần, bảy trăm lần hay một ngàn lần, một vạn lần thì nó cũng phải tiêu diệt.
Dù lì lợm cỡ nào nhưng cũng bị Thánh trí huệ huấn luyện cho nó trở thành hiền ngoan. Thậm chí mỗi lần nó khởi lên thì sẽ tự biết là: “Khởi lên mệt lắm, khởi lên là bị đánh thôi.” Thì nó sẽ chán, không khởi nữa, nhàm chán với cảm giác sân hận, thiêu đốt, từ bỏ, đi đến sự chấm dứt, đoạn diệt.
Chúng ta nên nhớ bốn hơi thở đó áp dụng hết tất cả trường hợp, quán sân đó là vô thường, quán sân đó là không đáng để mình dính mắc với nó, phải ly tham, đừng dính mắc, đừng giữ những cảm giác, suy nghĩ này, tưởng này, đừng giữ nó, hãy đoạn diệt, chấm dứt, từ bỏ nó đi. Đó là những pháp tác ý rất tuyệt vời của Đức Phật.
Đó là ví dụ về sân, tham dục cũng như vậy.
Người đang có gia đình êm ấm, tự nhiên gặp một người kia thấy dễ thương, nên nói chuyện, bắt đầu sanh khởi dục, tham, ái, trong đó. Hãy ngăn chặn tâm, đừng cho khởi lên như vậy. Con đường này đầy sợ hãi, đầy kinh khủng, đầy gai góc, rừng rậm, con đường ác, con đường tà, con đường đầy trộm cướp.
Trên là những lời để như lý tác ý, mình đánh đuổi nó một trận nên thân, mình hạch tội, đem hết tất cả những tai họa, hiểm họa, khi mình vướng vào những thứ đó. Gia đình sẽ tan nát, đổ vỡ, con khổ sở, thân bại danh liệt và tất cả xấu hổ nhục nhã mình cứ tác ý mạnh như vậy là mình đánh một trận nên thân. Cứ tác ý nhiều lần thì nó sẽ thoát ra, từ bỏ.
Hãy ngăn chặn tâm, đừng cho khởi lên như vậy. Đây không phải là con đường xứng đáng để cho ta đi, con đường này là khổ đau, của dục vọng, của sự tan nát, đổ vỡ, của nước mắt, của sự oán hận, sự bi thảm, đây là con đường kinh khủng, khủng khiếp, không xứng đáng!
Đó là quán ly tham. Hận tâm cũng vậy. Người không biết tu không hộ trì được mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý khi tiếp xúc, họ không biết sáu xúc xứ là gì. Cứ mê say thọ dục một cách thỏa thích, trả rông con mắt, lỗ tai, mũi, lưỡi, miệng, cứ muốn nói gì nói, thả rông thân, mặc tình cho nó tiếp xúc, huống chi là tâm. Rồi họ sầu bi, khổ, ưu não.
Đối với người tu thì phải biết nói đơn giản là đánh con bò đó, biết giữ gìn lúa của mình, mình trông rất cực khổ, khi sắp có bông, trĩu hạt, thì nếu không giữ gìn những ngọn lúa kĩ càng thì những con bò đó sẽ vào ăn, phá hư hết nên phải nắm chặt mũi, ghì chặt trán, lấy cây gậy đánh nó một trận nên thân.
Mình có đánh không, có thường xuyên không, đánh mạnh hay không?
Phật tử thứ bảy:
Con bạch thầy, khi phòng hộ sáu căn, trong đó có năm căn bên ngoài và chủ yếu là ý căn, con hiểu như thế này. Chính vì hằng ngày chúng con là cư sĩ, còn tiếp xúc rất nhiều và sự phòng hộ năm căn này rất quan trọng. Bởi vì thọ là một kho chứa, chính vì thế mà hằng ngày mắt chúng ta tiếp xúc, tai nghe, tiếp xúc với những cảnh trần không có như lý tác ý ngay thì nó sẽ cất giữ vào trong kho cảm thọ và khi chúng ta ngồi lại thì do ý xúc đã xúc tất cả cảm thọ, tưởng, hành. Từ thọ rất quan trọng, rồi mới ra hình bóng, suy nghĩ, nói thầm.
Chính vì thế nên khi ngồi lại thiền định thì ý xúc xúc vào, khi năm căn bên ngoài mình chất chứa những cảm thọ buồn, vui, thương, ghét hoặc dục ái thì chính ý căn ở chỗ này có phải không thầy? Tức là con hiểu là khi ngồi lại, ý xúc ở bên trong sẽ xúc vào kho cảm thọ. Ví dụ như mắt tiếp xúc sẽ để lại thọ, tưởng, hành nên vì thế mà chúng ta phải thiền định để cho giảm đi các sóng 87:05 của thọ, tưởng, hành. Tất cả đều phải dùng pháp như lý tác ý nhưng quan trọng là phòng hộ các căn hằng ngày để mình cất, chứa vào kho cảm thọ những cảm thọ gì, chính vì thế khi ý xúc xúc vào, thì ngồi lại cũng không thể nào quán chiếu được. Nên thầy dạy pháp như lý tác ý rất mạnh, về sự vô thường, sự ly tham, về khổ.
IX. Tác ý đánh tâm si
Phật tử thứ tám:
Bạch sư phụ, quý thầy, quý cô và quý Phật tử, con được dự khóa tu đợt vừa rồi. Một điều con tâm đắc vào ngày con bảo là con chấn động thân tâm, đó là một trong những ngày con thấy chặng đường tu của mình tuyệt vời nhất, chính là lúc sư phụ chỉ cho chúng con là phải dùng sắc đánh sắc, dùng thọ đánh thọ, dùng tưởng đánh tưởng, dùng hành đánh hành và dùng thức đánh thức. Đó là cách con thấy rất tuyệt vời, con đã sử dụng trong buổi thiền hành hôm đó.
Trạng thái hôm nay sư phụ tập trung vào si, vào cảm thọ, hôn trầm tùy miên, con đã sử dụng tưởng đánh tưởng và gần như nó thắng tuyệt đối. Đó là khi si kéo đến, trụ ở mắt của mình, sau đó con tác ý: “Mày si hả? Mày đưa ta đến làm con vật, đến sanh tử luân hồi à?” nó vẫn ái và sập xuống thì con dùng tưởng của con là dùng hai que sắt nung đỏ trong lò rèn, sau đó con tác ý là moi hai mắt ra, dùng đinh mười đóng vào và thấy nó vẫn giài đành đạch. Quán đóng con mắt này xong lại quán đóng tiếp con mắt thứ hai. Sau đó con hai hốc mắt thì con lấy sắc nung đỏ đâm thẳng vào con mắt và tác ý: “Mày ngủ, mày trú ở đây, mày chết với tao!”
Thế là con lấy tiếp than đỏ trong lò đang nung đổ vào hai hốc mắt. Từ hai hốc mắt vẫn còn muốn động đậy, si nữa thì con quán là lấy axit đổ vào hai hốc mắt. Khi đó trong hốc mắt không còn trú xứ của thọ nữa, si cũng biến trắng, mắt cứ mở không còn bị nhắm nữa. Lúc đó hai con ngươi đã bị đóng đinh con lấy búa đập nát nó và nói “Mày đi chết đi!”
Cuối cùng là cả ngày hôm đó con thấy là mắt con không dám ngủ nữa, si gần như biến mất. Thì con thấy, sư phụ đã đưa phương pháp rất hữu hiệu, mình dùng tưởng đánh tưởng và dùng một cách nghiêm túc, đánh cho nó bại trận vì nó trú ở đâu thì đánh vào đúng chỗ đó. Quả thật con thấy nó rất hữu hiệu.
Con nhắc lại để thứ nhất là nhắc lại cho con vào ngày hôm đó, thứ hai là con rất tri ân sư phụ, tuệ giác của sư phụ soi sáng, nếu ai biết dùng thì thắng trí tuyệt đối không sai được. Những lúc gặp sư phụ con tác ý là rất hy hữu, khó kiếm, khó gặp và con luôn nhìn thấy rằng mình ngồi đây là may mắn hơn rất nhiều người, may mắn hơn những người không thể ngồi được, không thể thở được, họ bệnh não không thể ngồi được. Với con đó là một điều tuyệt vời vì con được ngồi gần một nguồn sáng, một bậc minh sư.
Và khi biết là mình may mắn rồi thì những giây phút mình sống là một sự trải nghiệm vô cùng lớn, quý báu nên dù một mình không ai tu thì con không bị xuống tinh thần. Con xin tri ân sư phụ, tri ân tất cả những điều tuyệt vời nhất mà sư phụ đã dành cho đại chúng chúng con.
Sư phụ giảng giải:
Đây là sự tác ý của võ sư, tác ý của mình càng mạnh thì sự đánh đuổi các cảm thọ tham, sân, si, bản ngã càng nhanh, càng mau. Về sắc, về tiếng, mùi vị và sự xúc chạm, đụng chạm gọi là ngũ trần, năm thứ mùi ở bên ngoài, hay còn gọi là ngoại trần, hôm qua chúng ta đã có chia sẻ kĩ còn tâm mình bên trong là pháp trần, nội trần, danh từ sau này người ta gọi là tiền trần lạc tạ ảnh tử, tức là những hình bóng rơi rụng khi mình tiếp xúc ở bên ngoài đọng lại ở bên trong.
Có những người ngồi thiền không được vì bên trong quậy phá mãnh liệt, nên nhiều người ở một mình không được, ngồi thiền không chịu nổi hay độc cư nhập thất càng khó khăn. Vì khi đóng hết, bên ngoài không tiếp xúc, mắt không thấy, tai không nghe ai nói chuyện, mũi lưỡi thân không tiếp xúc nữa thì như vậy thì bắt đầu bên trong mở ra, chúng ta hướng vào bên trong thì các pháp này mới hiện ra. Nếu người nào nặng về dục tham thì dục tham biểu hiện một cách mãnh liệt những hình bóng, những cảm giác, nghĩ tưởng của quá khứ và những cái mình đã từng tiếp xúc hiện ra trong tâm.
Những cảm giác sanh khởi, suy nghĩ tiếp nối đó là nội trần, sắc tưởng của quá khứ, những cảm giác, suy nghĩ kéo về liên tục, nên chúng ta mới thấy rằng đây mới làm chúng ta sợ nghiệp nặng vì những cái chúng ta làm là chỉ có một mình mình biết và những cái mình làm thì mình nhớ. Những cảm thọ của mình, thọ là nhận nên nó thu nhận những cảm giác đó rồi cất giữ những hình bóng, cảm thọ, suy nghĩ đó. Nên khi mình bị bệnh nặng chỉ một mình hay khi mình chết thì những hình bóng, cảm thọ, suy nghĩ đó đẩy mình đi tương ứng với những cái mình đã làm, đã nghĩ, đã cảm giác.
Nên có những người toàn án lương tâm xử họ, khi họ làm những tội lỗi gì đó và họ trốn tránh ở đâu nhưng tòa án xử họ, đó chính là thọ, tưởng, hành, thức của họ. Chính vì vậy mà nghiệp không bị mất. Đức Phật đã tuyên bố rằng: “Khi nào người đó chưa cảm thọ được cảm giác đó thì nghiệp chưa chấm dứt.”
Ví dụ như con chó đang đi thoải mái đó, nhưng bắt nó rồi cắt cổ, nhổ lông, trụng nước sôi, nó quằn quại, đau đớn, thảm thiết, kêu thét lên, máu văng ra tức tưởi như vậy. Thì những cảm thọ mà mình làm cho nó như vậy, mình nghĩ như vậy là xong thôi sao? Những cảm thọ thù hận, đau khổ đó sẽ chất chứa trong tâm và những cảm thọ, hình bóng, suy nghĩ đó sẽ đi vào trong nội tâm của mình.
Đó là mình nói con vật, huống chi là một con người. Một con người mà mình làm cho họ chịu những cảm giác khổ sở như vậy. Ví dụ giờ mình nói một câu làm cho người kia tức giận lên thì khi họ tức giận lên như vậy thì cảm giác họ giận thì họ rất khổ, khó chịu, bực bội, mình nhìn thấy họ giận thì có thoải mái không? Hay là mình khó chịu? Mình khó chịu, khổ và họ cũng khổ.
Vì vậy nên Đức Phật đã dạy mình tham, sân, si là hại mình hại người, khổ mình khổ người, làm thành mù mắt, làm thành vô trí. Như vậy thì làm sao cho hết sân này? Khi nào cảm thọ sân tan hết hoàn toàn, thì lúc đó mình và người kia mới bình thường trở lại. Nếu cảm thọ chưa nhả ra, nhổ ra, ói ra, mửa ra, tan biến thì sân đó còn, mà còn đó là còn đau khổ, nên Đức Phật đã nói khi nào cảm thọ chấm dứt thì mới đoạn tận các nghiệp.
Ví dụ như khi vợ chồng hay mẹ con ở chung nhà, giận nhau bảy ngày, thì bảy ngày đó đau khổ như thế nào? Tới lúc nào hết? Cảm thọ sân hết hoàn toàn thì khi ra vào nhìn mặt nói chuyện mới bình thường trở lại, nếu cảm thọ đó còn thì kéo dài bảy tháng, bảy năm, mười lăm năm, nên nó tích tụ trong cảm thọ.
Đức Phật đã nói tất cả pháp hội tụ nơi cảm thọ, đây là mình nói chung vì lúc nào cũng dính với nhau, như trong cảm thọ lúc nào cũng có hình bóng, suy nghĩ, tức là tưởng, hành, suy nghĩ bên trong đó, giống như một chùm dính với nhau.
Nên khi ngồi lại thì những người nặng về dục, tham thì dục, tham hiện ra, làm cho mình không vô thiền định được, tâm mình không an vì cứ hiện các cảm giác, gợi lên mãi và mình không biết xuất ly đạo lộ.
X. Ngũ uẩn vô ngã
Mình muốn đi ra khỏi nhưng không biết cách nào ra, mình cứu mò mẫm trong bóng đêm như người mù, nên không biết đường, không thấy đường, không ai chỉ dẫn thì đó là chúng sanh như vậy.
“Vô thỉ là luân hồi này, này các Tỷ-kheo, khởi điểm không thể nêu rõ đối với sự lưu chuyển luân hồi của các chúng sanh bị vô minh che đậy, bị tham ái trói buộc.”
“Trong một thời gian rất dài, các ông phải quán chiếu là tâm này bị ô nhiễm bởi tham, sân, si trong thời gian rất dài. Đến khi Trái Đất này bị khô kiệt, biển cả chỉ còn đọng lại bằng với một dấu chân trâu. Thế giới này có thể tan hoại, những núi lớn sụp đổ, nhưng ta không tuyên bố rằng chúng sanh sẽ chấm dứt khổ đau.”
(Tương ưng bộ kinh tập II. Thiên nhân duyên, Chương IV. Tương ưng vô thỉ, I. Phẩm thứ nhất, bài kinh Cỏ và Củi)
Quý vị nghĩ Trái Đất này, biển lớn khô hết, nước chỉ còn như vũng châu trâu, nhưng Đức Phật không tuyên bố chúng sanh chấm dứt đau khổ, bị vô minh che đậy, tham ái trói buộc. Vì không biết đường ra. Ví dụ như tham ái nhiều người muốn ly dục, nhiếp phục dục nhưng không biết cách nào, làm đủ cách rồi nhưng vì mình không đào xới, nhổ gốc rễ của nó nên là không thể nào. Nếu có hết cũng là ở ngoài, nhưng đúng duyên, đúng lúc, đúng thời thì nó lại sống dậy, bừng dậy. Nên trong thân hành niệm của Đức Phật là xới gốc, bứng gốc, chặt, đốt cho thành tro bụi rồi đổ xuống sông, xuống biển.
Chỉ có bậc Chánh Đẳng Giác mới có thể chỉ mình xuất ly đạo lộ, ngoài bậc Chánh Đẳng Giác không thể có người thứ hai. Nên trong bài kinh mình vừa nghe, Đức Phật có ví dụ là:
“6) Ví như, này các Tỷ-kheo, một vị vua hay đại thần của vua từ trước chưa từng được nghe tiếng đàn tỳ bà, nay được nghe tiếng đàn tỳ bà, vị ấy nói: " Này Bạn, tiếng ấy là tiếng gì, khả ái như vậy, khả lạc như vậy, mê ly như vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn như vậy? "
Họ nói với vị ấy: "Thưa Tôn giả, đây là đàn tỳ bà, với tiếng khả ái như vậy, mê ly như vậy, khả lạc như vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn như vậy". Vị ấy nói như sau: "Hãy đi và đem đàn tỳ bà ấy về cho ta".
Họ đem đàn tỳ bà về cho vị ấy, và nói như sau: "Thưa Tôn giả, đàn tỳ bà này với tiếng khả ái như vậy, khả lạc như vậy, mê ly như vậy, say đắm như vậy, hấp dẫn như vậy".
Vị ấy bèn nói: "Thôi vừa rồi đối với ta về đàn tỳ bà này. Hãy đem tiếng lại cho ta".
Họ thưa với vị ấy: "Thưa Tôn giả, cái này được gọi là đàn tỳ bà, gồm có nhiều thành phần, gồm có số lớn thành phần. Nhờ nhiều thành phần này nên đàn phát âm. Như duyên cái bầu, duyên cái da, duyên cái cán, duyên cái đầu, duyên cái dây, duyên cái cung, duyên nỗ lực thích nghi của người. Như vậy, thưa Tôn giả, cái này gọi là đàn tỳ bà, gồm có nhiều thành phần, gồm có số lớn thành phần. Nhờ gồm nhiều thành phần này nên đàn phát âm ".
Rồi vua ấy đập đàn tỳ bà ấy ra thành 10 mảnh, 100 mảnh; sau khi đập bể đàn tỳ bà ấy ra thành 10 mảnh, 100 mảnh, vị ấy chẻ thành từng miếng nhỏ; sau khi chẻ thành từng miếng nhỏ, vị ấy lấy lửa đốt; sau khi lấy lửa đốt, vị ấy vun lại thành đống tro; sau khi vun lại thành đống tro, vị ấy đem quạt đống tro lớn ấy trước làn gió mạnh, hay để chúng trôi theo dòng nướcsông chảy mạnh. Rồi vị ấy nói: "Thật là hạ liệt, cái gọi đàn tỳ bà này, dầu cho tỳ bà là cái gì. Ở đây, đại chúng thường phóng dật, bị hướng dẫn sai lạc".
7) Cũng vậy, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo quán sát sắc cho đến sở thú của sắc, quán sát thọ... quán sát tưởng... quán sát các hành... quán sát thức cho đến sở thú của thức. Trong tất cả quán sát này, không có cái gì là "Tôi", là "Của tôi", là "Tôi là"cả.”
(Tương ưng bộ kinh tập IV.Thiên sáu xứ , Chương I. Tương ưng sáu xứ, Phần IV. Năm mươi kinh thứ tư, IV. Phẩm Rắn độc, Bài kinh Đàn tỳ bà)
Đây là phương pháp quán chiếu Đức Phật dạy mình, nghe tiếng nhạc hay quá, du dương, trầm bổng hấp dẫn, mê ly, say sưa, quá nên đem nó tới thì đàn không có tiếng, phải chơi đàn thì nó mới vang tiếng và phải là người chơi đàn giỏi mới vang tiếng hay. Như con mèo quào ghế hay người không biết gì thì cầm nó lên và đánh lên thì nó sẽ kêu lên tiếng gì?
Như vậy nên nhà vua đó mới kêu đập cây đàn, đạp nát cho vỡ ra rồi đốt thành tro bụi, rồi thả nó xuống sông, xuống biển. Vì chính cây đàn tỳ bà thấp kém, thấp hèn này, mà tất cả mọi người đều buông lung, say mê, thích thú. Đức Phật lấy ví dụ đó cho năm dục trưởng dưỡng.
Ví dụ về ngũ uẩn là
“Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, người tu phải quán sát sắc cho đến sở thú của sắc, quán thọ, tưởng, hành, thức. Trong tất cả quán xét này, không có gì là tôi, là của tôi, là tôi cả.”
Cái mà mình cho là cái vui, nhưng trong đó rất nhiều pháp, một chuỗi dài kết hợp bên trong đó, không phải tự nhiên có cảm giác vui, như chúng ta đã học duyên sanh pháp. Mình quán chiếu lại nội tâm của mình, những pháp diễn ra trong đó, đó là chặng rất nhiều, các pháp kết nối, lắp ráp, tổ hợp, tác thành, không phải mình ngồi đó là sanh khởi lên các hình bóng rồi mình giận hay thương, ghét, yêu, hận. Nên sau đó mình tác ý là đập vỡ nó ra, nát tan ra hết tất cả. Như khi nãy phá hôn trầm, cho nó nát tan, nát vỡ hết tất cả thì cảm giác đó tan biến hết, mình tỉnh táo trở lại. Giờ thì cảm giác dục và sân cũng vậy, đập vỡ tan nát ra hết. Hình bóng là gì? Là tứ đại, là vô thường, là duyên sanh, là bất tịnh.
Sân cũng là một chuỗi dài kết hợp như vậy, tham ái, bản ngã là gì? Mình tác ý từ bên trong, dùng sức mạnh nội quán, nội soi để chiếu sáng.
Như vậy chúng ta thấy sự tu là cả một sức mạnh của tinh thần, đối diện với chính mình là cả một vấn đề, vì mình đã quen hướng ngoại: mắt chạy theo sắc, tai chạy theo âm thanh, mũi theo mùi, lưỡi theo vị, thân chạy theo xúc chạm bên ngoài. Quay trở về ngồi thiền là hướng nội, là xử lý hàng tồn kho, vì mình chỉ lo đi chơi, ở nhà không quét dọn, thích mai đi chỗ này, mốt đi chỗ kia, tháng nọ tháng này đi Châu Âu, đi Mỹ, đi tàu, đi tây cuối cùng nhà thì bỏ hoang. Khi trở về sau mấy năm đi thì nào là chuột chết, mọt, kiến, gián, mèo chết, cả nhà dơ như vậy thì giờ mình phải trở về lo quét dọn lại căn nhà nội tâm của mình, bao nhiêu hàng tồn kho nằm trong đó, chất chứa trong đó vô lượng, vô biên kiếp nên dục không cần ai dạy, sân cũng không ai dạy, bản ngã cũng vậy mà còn rất nhuần nhuyễn, điêu luyện.
Nhưng ly dục, vô sân, bất hại đó cố gắng làm nhưng mãi trượt và nó cứ theo đà của tập quán, tập khí, thói quen, tư duy, cảm thọ. Nên trong sự tu của mình là cả một công trình nỗ lực để mình chiến đấu với nội tâm, quét dọn những rác. Nhưng mình cũng đừng sợ khi ngồi thiền có vọng tưởng nhiều, mình biết được thọ, tưởng, hành, thức là cả một trí tuệ rồi, cứ bình tĩnh, từ từ. Mình nhìn thấy được sắc, thọ, tưởng, hành, thức, thấy được ba loại cảm thọ, tham, sân, si tùy miên bên trong là cả một trí tuệ khởi động. Và mình biết như lý tác ý đánh đuổi, là cả một sự tiến bộ, tuy là mình đánh nhưng nó quật lại mình hoài, nhưng mình không sợ: “Hãy đợi đấy, các ngươi hãy đợi đấy, hãy chờ xem ta đây xử các ngươi, ta sẽ xử chúng mi. Xử từng đứa một!”
Minh Thành hay nói đầu tiên mạnh một trăm phần trăm, lúc mình chưa tu ngũ uẩn, đến khi mình nhận thức, nhận diện ngũ uẩn rồi thì còn chín mươi phần trăm, bên đây là mười phần trăm trí mình thành tựu. Mình nghe tiếp, tu tiếp, tác ý tiếp, cứ cho nó một trận đòn nên thân, nên từ từ tăng lên hai mươi phần trăm trí huệ và tám mươi phần trăm vô minh, tham, dục, ái, sân, si. Cứ tiếp tục như vậy, nên không sợ mình té ngã, chỉ sợ mình không chịu đứng dậy, chỉ sợ sau khi té ngã mình không chịu đứng dậy, cứ té rồi đứng lên, đứng mãi thì mình sẽ nhuần nhuyễn trên con đường Thánh đạo và mình không bị té nữa. Đến lúc mình được năm mươi phần trăm, lúc đó mình vào quyết định tánh, tức là Nhập Lưu.
Tức là những suy nghĩ của mình là suy nghĩ vô thường, khổ và vô ngã, không còn suy nghĩ thường lạc, ngã tịnh trong đó nữa, đó là quyết định tánh, cho tâm mình sát quyết, quyết định, không còn sự pha trộn, lẫn lộn nữa, mà đó là thuần nhất, nhất hướng trong Thánh trí huệ, lúc đó đã có vé vào Niết-bàn, không thoái đọa nữa, chỉ có tiến lên mà không còn dừng lại hay lui xuống nữa.
Trong giai đoạn này là gian đoạn gay go, cần phải nỗ lực thường xuyên và liên tục, phải đem cả sức bình sinh, tâm lực, trí lực, nguyện lực, hạnh lực, dốc toàn lực vì không biết mình chết lúc nào, nên hãy làm hết sức mình, để khi mình ra đi mình vẫn mãn nguyện vì mình đã gắng hết sức mình rồi, ít nhất cũng là hướng dự lưu, vào bốn đôi tám chúng. Hướng dự lưu là tối thiểu, thấp nhất, còn mình là phải nhập lưu.
Nên sáng nay, nhân có đoàn Phật tử Hải Dương về đây, Minh Thành cho quý vị chia sẻ những vấn đề thắc mắc hỏi đáp, nên vì nhân duyên nên chúng ta cũng hoàn thành một chương trình pháp thoại sáng nay.
Mời Thầy Nghĩa trải tâm từ.
Bằng tình thương, bằng từ tâm, bằng tấm lòng luôn nghĩ đến sự an lạc, an ổn cho chính mình. Cũng vậy, con chân thành cầu nguyện sự an lạc, an ổn này cũng đến với chư vị nơi này. Chư vị nghe hiểu được âm thanh này, cùng hữu tình trong trời đất rộng lớn này, mong tất cả đều được tâm thương này thấm nhuần mà dễ chịu, an lạc và bình an, tìm được hạnh phúc và an vui cho mình, lòng yêu thương tự thân mình và yêu thương muôn loài. Mong tất cả có được trí tuệ, thấy được sự vô thường của đời sống này, tâm chán ngán từ bỏ những xác thân năm uẩn, vô thường này để thể nhập vào tâm an tịnh, trong sạch, trầm lặng, giải thoát khỏi biển sanh tử và chấm dứt hết mọi khổ đau, lòng tha thiết chân thành cầu nguyện, sự an lạc và bình an, trí tuệ và giải thoát, đến với cùng khắp tất cả.
./.