KINH CỘI RỄ SỰ VẬT
KINH CỘI RỄ SỰ VẬT
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh “Cội Rễ Của Sự Vật”: PAGEREF _Toc72775191 \h 1
II.Bốn sự sợ hãi PAGEREF _Toc72775192 \h 6
Bài kinh “Cội Rễ Của Sự Vật”:
Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo đến hỏi: "Thưa Hiền giả:
1. Tất cả pháp lấy gì làm căn bản?
2. Tất cả pháp lấy gì làm sanh khởi?
3. Tất cả pháp lấy gì làm tập khởi?
4. Tất cả pháp lấy gì làm chỗ tụ hội?
5. Tất cả pháp lấy gì làm thượng thủ?
6. Tất cả pháp lấy gì làm tăng thượng?
7. Tất cả pháp lấy gì làm tối thượng?
8. Tất cả này pháp lấy gì làm lõi cây?" Được hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như thế nào?
- Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết ý nghĩa lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
- Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
- Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo có hỏi như sau: "Thưa Hiền giả, tất cả pháp lấy gì làm căn bản? Tất cả pháp lấy gì làm sanh khỏi? Tất cả pháp lấy gì làm tập khởi? Tất cả pháp lấy gì làm chỗ tụ hội? Tất cả pháp lấy gì làm thượng thủ? Tất cả pháp lấy gì làm tăng thượng? Tất cả pháp lấy gì làm tối thượng? Tất cả này pháp lấy gì làm lõi cây?" Được hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy trả lời như sau: "Này chư Hiền:
1. Tất cả pháp lấy dục làm căn bản.
2. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi.
3. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi.
4. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội.
5. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ.
6. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng.
7. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng.
8. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây".
Được hỏi như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 4, 8. Chương Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, bài kinh Cội rễ của sự vật)
“Tất cả các pháp lấy dục làm căn bản”, chữ “dục” chúng ta phải hiểu trên hai phương diện, chữ dục thông thường là nghĩa xấu, nhưng dục còn có nghĩa tốt là Dục Như Ý Túc. Trong tu tập đòi hỏi mình phải muốn: muốn thì mới tu, muốn xuất gia, muốn chấm dứt luân hồi, muốn thông đạt các pháp, những cái muốn này là căn bản, đó chính là ý nghĩa câu tất cả pháp lấy dục làm căn bản, gốc rễ, cội rễ, cho nên có bài kinh “Cội Rễ Của Sự Vật”.
Bây giờ chúng ta nhìn hai khía cạnh trong đời sống để xem có phải dục là căn bản không? Đời sống bình thường của con người là được sanh ra, rồi đi học, để kiếm việc làm, để có tiền, để lấy vợ hay lấy chồng rồi sanh con, bên cạnh đó là sự nghiệp, gia đình, nhà cửa, cuộc sống xoay quanh những tham muốn và mình phục vụ cho những thứ tham muốn đó nên phải vất vả suốt cả cuộc đời. Thậm chí dục còn sai khiến, điều khiển, có thể mình làm nô lệ cho dục, nô lệ cho tham muốn, khiếm mình phải làm mọi cách để thực hiện sự tham muốn đó, dù phải chịu khổ.
Có một chú trai trẻ ngoài 20 tuổi nhảy lên nhà cao tầng, rồi tự quay phim, chụp ảnh, sau đó đăng ảnh, rồi nhảy tuột chân chết vì muốn mình được mọi người biết, đó là lấy dục làm căn bản. Ngoài đời và những phương diện khác cũng vậy, mình phải phấn đấu, phải nỗ lực để cho mọi người biết, muốn mọi người biết mình. Trong tu học cũng giống như vậy, muốn có một cái chùa, đó chính là lấy dục làm căn bản. Muốn được trụ trì, muốn được học vị, cho mọi người biết địa vị, chức vụ của mình khi nói chuyện, như vậy dục là căn bản trong tất cả mọi sự việc.
Nhìn sâu xa mới thấy, chính căn bản, gốc rễ này mới sanh ra đau khổ, phiền não, tạo nghiệp từ dục mà ra. Cho nên từ dục tạo ra dục, rồi tạo ra nhiều cái dục khác, thành dục hải - đại dương của dục vọng không ngừng nghỉ, còn dục của như ý túc sẽ đi đến chấm dứt hết tất cả dục. Chúng ta phải nhìn thấy rõ được những khía cạnh này, một loại dục tạo ra nhiều cái dục, lún sâu vào dục không đi ra khỏi được, bị nhấn chìm, trôi nổi trong dục vọng đại dương. Còn Dục Như Ý Túc đưa đến sự chấm dứt tất cả dục, thành tựu được ly dục, cho nên hai loại dục khác nhau ở khía cạnh này. Một cái dục là để chấm dứt mọi thứ muốn, là dục của thiện pháp, muốn chấm dứt mọi ham muốn trong thế gian, muốn chấm dứt tham, sân, si, bản ngã, chấm dứt nhứng ô nhiễm trong nội tâm; còn một loai dục là chỉ muốn mãi mãi, vô cùng tận.
Vì vậy, mình nhìn sâu xa để quán dục này, vì dục làm mình khổ, tất cả pháp lấy dục làm căn bản. Cho nên khi mình giận, phiền thì hãy nhìn lại là dục ở chỗ nào, là do muốn không được nên mới phiền giận, mình nhiếp phục dục này xem như giải thoát.
“Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, như vậy, không tác ý thì các pháp không sanh khởi.
Ví dụ sân bay có phải do tác ý mà có không? Chiếc xe có phải do tác ý mà có không? Mạng internet, máy quay phim có do tác ý mà có không? Có tác ý thì các vật đó mới có tại đây, tác ý mới sanh khởi ra những vật này, nếu không tác ý thì những vật này không có, thậm chí bị đập bỏ do sân hận. Cũng tác ý mà TV có trong nhà, cũng tác ý mà TV bị đập bỏ do thua cá độ hay nhảy cầu tự tử, như vậy thua cá độ chính là dục tác ý.
Cho nên dục là căn bản, từ đó tác ý mới sanh khởi. Có phải sân là do tác ý không? Nếu chúng ta Phi Như Lý Tác Ý là sân sanh khởi, tham cũng do tác ý, vì vậy tác ý rất ghê gớm. Tất cả sự tu tập trong 37 Phẩm Trợ Đạo đều lấy tác ý để sanh khởi, không thể không tác ý mà sanh khởi ra các pháp, tất cả pháp từ thế gian cho đến xuất thế gian phải do tác ý. Nhưng phải tác ý như thế nào để trí huệ tăng trưởng, tác ý như thế nào để thiền định được kiên cố, tác ý như thế nào để thoát ra khỏi dục tham, đó là tác ý của người tu, gọi là Như Lý Tác Ý, Chánh Tư Duy. Nếu không học thì không biết phương pháp để Như Lý Tác Ý, tác ý bình thường có thể sanh khởi ra bao nhiêu nghiệp, bao nhiêu khổ. Cho nên, những câu trong bài kinh mình phải học thuộc lòng.
“Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, ví dụ cái ghế mình ngồi, cái chuông, tượng Phật, ngôi chùa đều do tác ý sanh khởi, mình đi tu xuất gia cũng là tác ý. Những người ăn cướp, trộm, xì ke, ma túy cũng từ nơi tác ý. Vì vậy, tất cả đều lấy tác ý làm sanh khởi. Tuy nhiên, nếu không biết tác ý, không được hướng dẫn tác ý thì chúng ta sẽ không biết tác ý nào đúng, tác ý nào sai, tác ý nào do dục, tham chi phối, điều này dẫn đến chúng ta sẽ bị tham, sân, si, bản ngã chi phối mà không biết. Nếu không biết thì tác ý sẽ đi theo hướng vô minh, tham, ái, chấp thủ, tạo nghiệp rồi chịu khổ mãi. Đến khi nào gặp bậc Chân nhân, bậc thiện trí thức chỉ dẫn để biết được Như Lý Tác Ý thì khi đó mới chuyển sang tác ý mới, từ đó sanh khởi ra thiện pháp và giải thoát pháp. Cho nên cẩn thận tác ý, cẩn thận đối với tác ý bản thân, đối với suy nghĩ, tâm ý của mình. Suy nghĩ về người, sự vật, sự việc phải cẩn thận, phải hướng tác ý về như lý, theo chánh kiến, dẫn đạo theo hướng đúng để hướng suy nghĩ của mình. Còn tà kiến là Phi Như Lý Tác Ý, là những suy nghĩ sai, sanh khởi ra những khổ đau.
“Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi”, từ xúc mới tập hợp, sanh khởi ra các pháp, cho nên tác ý với xúc sanh khởi ra các pháp. Cho nên người tiếp xúc thường xuyên với kinh pháp thì nói chuyện kinh pháp; người thường tiếp xúc với phim ảnh, đá bóng, xe cộ thì nói chuyện về các thứ đó; người tiếp xúc với tu học thì nói chuyện tu tập. Cho nên tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Những câu này chiêm nghiệm rất sâu sắc, là thành tựu trí tuệ.
“Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ quy tụ”, cho nên phải quán chiếu cảm thọ, quán chiếu toàn thân là cánh cửa để đi vào các pháp môn của pháp hành trong kinh Nikāya. Nếu không thường trực nhìn lại cảm giác toàn thân, không quán chiếu cảm thọ thì sự tu tập không đi đến đâu, không biết gì cả. Thọ là chỗ quy tụ của tất cả pháp, muốn thấy được tất cả pháp, cứ nhìn vào thọ, khi đó thấy tất cả pháp đều quy tụ. Dục, sân, si, ngã mạn, cống cao, ta đây, tật đố, ganh tỵ hay trí tuệ, giác ngộ, tinh tấn, từ bi, hỷ xả, tứ vô lượng tâm nhìn vào thọ sẽ thấy.
“Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ”. Định là thượng thủ của tất cả các pháp, dẫn đầu trong sự tu tập. Nếu không nhiếp phục được trạo hối, trạo cử và hối hận trong năm triền cái thì không đi vào định được, mà không đi vào trong định thì tuệ quán của mình không sáng tỏ, cho nên định làm thượng thủ là nói theo Phật Pháp. Còn theo ngoài đời sống là định luôn luôn dẫn đầu, con người mà tâm không bình tĩnh, tâm không chuyên trú thì không làm việc, không nói chuyện, không đi đứng tốt được. Cho nên, phải có tâm yên định thì làm việc mới hiệu quả. Ví dụ khi rót nước trà, mà tâm nghĩ chỗ khác thì nước sôi sẽ làm phỏng tay; lái xe không chuyên chú, không tập trung, lo nhìn chỗ khác, lái xe mà nhìn máy báy thì sẽ xảy ra tai nạn, cho nên định là dẫn đầu. “Định” nói nghĩa gần là chuyên chú, tập trung, để tâm vào việc đang làm, còn sâu xa hơn là tứ thiện.
“Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng”, muốn cho cho sự tu học phát triển, tăng lên, lớn mạnh thì phải niệm, không có niệm thì không tăng trưởng. Cho nên trong Bảy Giác Chi thì Niệm Giác Chi là đứng đầu, không có niệm thì sự tu học không thể tăng trưởng. Đây là điểm rất quan trọng khi tu Niệm Thân hay Tứ Niệm Xứ. Nếu không niệm sẽ không nhớ, không chiêm nghiệm, không quán niệm, không nhớ về những trí huệ nên sự thấy biết không tăng trưởng được, cho nên chỉ tu định, cứ ngồi yên hoài thì cũng không thể được. Chính điểm này giúp chúng ta thấy tất cả pháp đều bổ túc cho nhau. Biết rằng định là thượng thủ, đứng đầu nên mình ngồi yên định hoài thì cũng chưa chắc đúng, vì cái định đó phải được dẫn đạo bởi Chánh tri kiến thì cái định đó mới là định thượng thủ. Còn nếu mình ngồi yên nhưng không có sự quán chiếu, định mà không thấy, không biết về Bát Chánh Đạo thì không phải định của Phật giáo, không phải là Chánh định. Như vậy, niệm làm cho mình tăng trưởng, vì thế chúng ta phải niệm thân, niệm xác chết, niệm tứ đại, niệm 32 thể trượt, niệm khổ, niệm vô thường, niệm nhàm chán, niệm để nhớ để chiêm nghiệm và quán. Bây giờ mình sống bình thường, không chiêm nghiệm, không quán niệm, không y cứ Tứ Thánh Đế, Tứ Niệm Xứ, Bát Chánh đạo, để Chánh tư duy, để chiêm nghiệm thì trí huệ không tăng trưởng, sự thấy biết không thể thêm sâu rộng, cho nên niệm rất quan trọng.
“Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng”, tuệ là dẫn đầu, tuệ là tối thượng, tuệ là tối cao.
“Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây”, ví dụ khi gặp một việc buồn, phiền, tham, ái, sân, hận, khi đó mình sử dụng pháp để tháo gỡ những buồn phiền này, đó chính là lõi cây, là kết quả của sự tu học, gọi là “hột chắc”. Tâm mình bị phiền muộn mà không biết chuyện gì, lúc đó mình dùng tất cả phương pháp, thực tập để mở được những phiền muộn, đó là lõi cây, đây là giải thoát nhỏ.
Còn giải thoát lớn hơn là giải thoát khỏi luân hồi sanh tử. “Tất cả pháp lấy bất tử làm chổ thể nhập; Tất cả pháp lấy Niết-bàn làm cứu cánh ”, bất tử là tên khác của Niết-bàn. Chỗ cần phải thể nhập là bất tử chứ không phải điều gì khác. Tất cả những gì chúng ta thấy bây giờ đều là tử pháp, pháp mà bại hoại hết thì mình không thể nhập vào chỗ nào được, cho nên không có chỗ nào đáng để đi vào. Tất cả pháp đều sanh diệt, vì vậy, chỉ có Niết-bàn là chỗ bất tử đáng để cho mình thể nhập, phải lấy bất tử làm chổ thể nhập, Niết-bàn làm cứu cánh. Chỗ rốt ráo, cứu cánh, cùng cực của người tu là Niết-bàn, phải đạt đến nơi này, không còn chỗ nào khác.
Bốn sự sợ hãi
Mời thầy Pháp Sơn nói về bốn sự sợ hãi?
Thầy Pháp Sơn:
Một vị bị nhắc nhở trong đời sống sinh hoạt về oai nghi, đi đứng, nói năng và vị này lại sanh khởi tâm không tùy thuận, không chấp nhận các học pháp đối với sự giáo giới, dạy dỗ các bậc Đạo sư, các bậc đồng phạm hạnh, hoặc nói gần hơn là bậc thầy của mình hoặc là huynh đệ. Vị này suy nghĩ ta trước đây cũng là người lớn, cũng dạy dỗ người khác, mà bây giờ vào đây bị nhắc nhở, thì vị này sanh khởi lên lòng sân hận. Nỗi sợ hãi đầu tiên là sự sân hận, sợ hãi thứ nhất mà Đức Phật liên hệ là về sóng.
Sự sợ hãi thứ hai, Đức Phật liên hệ đến hình ảnh là sự sợ hãi về cá sấu, do có những vị thầy trong đời sống tu tập không có biết tiết chế trong ăn uống, ăn uống không đúng thời, được bậc Đạo sư, các vị đồng phạm hạnh nhắc nhở, nhưng vị này khởi lên tâm không tùy thuận, Đức Phật nói tham ăn là sự sợ hãi về cá sấu.
Sự sợ hãi thứ ba, Đức Phật liên hệ đến hình ảnh dòng nước xoáy, do có những vị xuất gia, đi vào làng khất thực hoặc khi đối duyên xuất cảnh thì thân không có phòng hộ, lời nói không có phòng hộ, niệm không an trú, các căn không chế ngự, Đức Phật nói đây là sự sợ hãi của dòng nước xoáy. Bởi vì vị này thấy các vị gia chủ giàu có, sống hưởng thụ trong các dục lạc, thì vị này khởi lên ý niệm tham luyến, đắm trước đời sống của các gia chủ giàu có. Năm dục trưởng dưỡng tác ý sanh khởi, trong kinh Đức Phật cũng nói năm dục trưởng dưỡng đó là chỉ những gì kích thích lòng dục của mình, hấp dẫn, khả lạc, khả hỷ, khả ái liên hệ đến dục. Đó là nổi sợ thứ ba, sợ hãi về dòng nước xoáy chính là năm dục trưởng dưỡng.
Sợ hãi thứ tư là hình ảnh cá dữ. Đức Phật muốn nói cho những vị Thầy khi gặp người khác phái, những thiếu nữ ăn mặc không kín đáo, lộ liễu thì dục tình chi phối, do vị này tâm không phòng hộ, không chế ngự, bị dục tình chi phối lẫy lừng, sợ hãi thứ tư là cá dữ, chỉ về người phụ nữ.
Đây là bốn điều sợ hãi cho tương lai mà Đức Phật giảng giải.
./.
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I.Bài kinh “Cội Rễ Của Sự Vật”: PAGEREF _Toc72775191 \h 1
II.Bốn sự sợ hãi PAGEREF _Toc72775192 \h 6
Bài kinh “Cội Rễ Của Sự Vật”:
Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo đến hỏi: "Thưa Hiền giả:
1. Tất cả pháp lấy gì làm căn bản?
2. Tất cả pháp lấy gì làm sanh khởi?
3. Tất cả pháp lấy gì làm tập khởi?
4. Tất cả pháp lấy gì làm chỗ tụ hội?
5. Tất cả pháp lấy gì làm thượng thủ?
6. Tất cả pháp lấy gì làm tăng thượng?
7. Tất cả pháp lấy gì làm tối thượng?
8. Tất cả này pháp lấy gì làm lõi cây?" Được hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy trả lời các du sĩ ngoại đạo ấy như thế nào?
- Bạch Thế Tôn, đối với chúng con, các pháp lấy Thế Tôn làm căn bản, lấy Thế Tôn làm lãnh đạo, lấy Thế Tôn, Thế Tôn hãy thuyết ý nghĩa lời nói này. Sau khi nghe Thế Tôn, các Tỷ-kheo sẽ thọ trì.
- Vậy này các Tỷ-kheo, hãy nghe và khéo tác ý, Ta sẽ giảng.
- Thưa vâng, bạch Thế Tôn.
Các Tỷ-kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:
- Này các Tỷ-kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo có hỏi như sau: "Thưa Hiền giả, tất cả pháp lấy gì làm căn bản? Tất cả pháp lấy gì làm sanh khỏi? Tất cả pháp lấy gì làm tập khởi? Tất cả pháp lấy gì làm chỗ tụ hội? Tất cả pháp lấy gì làm thượng thủ? Tất cả pháp lấy gì làm tăng thượng? Tất cả pháp lấy gì làm tối thượng? Tất cả này pháp lấy gì làm lõi cây?" Được hỏi vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy trả lời như sau: "Này chư Hiền:
1. Tất cả pháp lấy dục làm căn bản.
2. Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi.
3. Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi.
4. Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ tụ hội.
5. Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ.
6. Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng.
7. Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng.
8. Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây".
Được hỏi như vậy, này các Tỷ-kheo, các Thầy hãy trả lời cho các du sĩ ngoại đạo ấy như vậy. (Tăng Chi Bộ Kinh – Tập 4, 8. Chương Tám Pháp, IX. Phẩm Niệm, bài kinh Cội rễ của sự vật)
“Tất cả các pháp lấy dục làm căn bản”, chữ “dục” chúng ta phải hiểu trên hai phương diện, chữ dục thông thường là nghĩa xấu, nhưng dục còn có nghĩa tốt là Dục Như Ý Túc. Trong tu tập đòi hỏi mình phải muốn: muốn thì mới tu, muốn xuất gia, muốn chấm dứt luân hồi, muốn thông đạt các pháp, những cái muốn này là căn bản, đó chính là ý nghĩa câu tất cả pháp lấy dục làm căn bản, gốc rễ, cội rễ, cho nên có bài kinh “Cội Rễ Của Sự Vật”.
Bây giờ chúng ta nhìn hai khía cạnh trong đời sống để xem có phải dục là căn bản không? Đời sống bình thường của con người là được sanh ra, rồi đi học, để kiếm việc làm, để có tiền, để lấy vợ hay lấy chồng rồi sanh con, bên cạnh đó là sự nghiệp, gia đình, nhà cửa, cuộc sống xoay quanh những tham muốn và mình phục vụ cho những thứ tham muốn đó nên phải vất vả suốt cả cuộc đời. Thậm chí dục còn sai khiến, điều khiển, có thể mình làm nô lệ cho dục, nô lệ cho tham muốn, khiếm mình phải làm mọi cách để thực hiện sự tham muốn đó, dù phải chịu khổ.
Có một chú trai trẻ ngoài 20 tuổi nhảy lên nhà cao tầng, rồi tự quay phim, chụp ảnh, sau đó đăng ảnh, rồi nhảy tuột chân chết vì muốn mình được mọi người biết, đó là lấy dục làm căn bản. Ngoài đời và những phương diện khác cũng vậy, mình phải phấn đấu, phải nỗ lực để cho mọi người biết, muốn mọi người biết mình. Trong tu học cũng giống như vậy, muốn có một cái chùa, đó chính là lấy dục làm căn bản. Muốn được trụ trì, muốn được học vị, cho mọi người biết địa vị, chức vụ của mình khi nói chuyện, như vậy dục là căn bản trong tất cả mọi sự việc.
Nhìn sâu xa mới thấy, chính căn bản, gốc rễ này mới sanh ra đau khổ, phiền não, tạo nghiệp từ dục mà ra. Cho nên từ dục tạo ra dục, rồi tạo ra nhiều cái dục khác, thành dục hải - đại dương của dục vọng không ngừng nghỉ, còn dục của như ý túc sẽ đi đến chấm dứt hết tất cả dục. Chúng ta phải nhìn thấy rõ được những khía cạnh này, một loại dục tạo ra nhiều cái dục, lún sâu vào dục không đi ra khỏi được, bị nhấn chìm, trôi nổi trong dục vọng đại dương. Còn Dục Như Ý Túc đưa đến sự chấm dứt tất cả dục, thành tựu được ly dục, cho nên hai loại dục khác nhau ở khía cạnh này. Một cái dục là để chấm dứt mọi thứ muốn, là dục của thiện pháp, muốn chấm dứt mọi ham muốn trong thế gian, muốn chấm dứt tham, sân, si, bản ngã, chấm dứt nhứng ô nhiễm trong nội tâm; còn một loai dục là chỉ muốn mãi mãi, vô cùng tận.
Vì vậy, mình nhìn sâu xa để quán dục này, vì dục làm mình khổ, tất cả pháp lấy dục làm căn bản. Cho nên khi mình giận, phiền thì hãy nhìn lại là dục ở chỗ nào, là do muốn không được nên mới phiền giận, mình nhiếp phục dục này xem như giải thoát.
“Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, như vậy, không tác ý thì các pháp không sanh khởi.
Ví dụ sân bay có phải do tác ý mà có không? Chiếc xe có phải do tác ý mà có không? Mạng internet, máy quay phim có do tác ý mà có không? Có tác ý thì các vật đó mới có tại đây, tác ý mới sanh khởi ra những vật này, nếu không tác ý thì những vật này không có, thậm chí bị đập bỏ do sân hận. Cũng tác ý mà TV có trong nhà, cũng tác ý mà TV bị đập bỏ do thua cá độ hay nhảy cầu tự tử, như vậy thua cá độ chính là dục tác ý.
Cho nên dục là căn bản, từ đó tác ý mới sanh khởi. Có phải sân là do tác ý không? Nếu chúng ta Phi Như Lý Tác Ý là sân sanh khởi, tham cũng do tác ý, vì vậy tác ý rất ghê gớm. Tất cả sự tu tập trong 37 Phẩm Trợ Đạo đều lấy tác ý để sanh khởi, không thể không tác ý mà sanh khởi ra các pháp, tất cả pháp từ thế gian cho đến xuất thế gian phải do tác ý. Nhưng phải tác ý như thế nào để trí huệ tăng trưởng, tác ý như thế nào để thiền định được kiên cố, tác ý như thế nào để thoát ra khỏi dục tham, đó là tác ý của người tu, gọi là Như Lý Tác Ý, Chánh Tư Duy. Nếu không học thì không biết phương pháp để Như Lý Tác Ý, tác ý bình thường có thể sanh khởi ra bao nhiêu nghiệp, bao nhiêu khổ. Cho nên, những câu trong bài kinh mình phải học thuộc lòng.
“Tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi”, ví dụ cái ghế mình ngồi, cái chuông, tượng Phật, ngôi chùa đều do tác ý sanh khởi, mình đi tu xuất gia cũng là tác ý. Những người ăn cướp, trộm, xì ke, ma túy cũng từ nơi tác ý. Vì vậy, tất cả đều lấy tác ý làm sanh khởi. Tuy nhiên, nếu không biết tác ý, không được hướng dẫn tác ý thì chúng ta sẽ không biết tác ý nào đúng, tác ý nào sai, tác ý nào do dục, tham chi phối, điều này dẫn đến chúng ta sẽ bị tham, sân, si, bản ngã chi phối mà không biết. Nếu không biết thì tác ý sẽ đi theo hướng vô minh, tham, ái, chấp thủ, tạo nghiệp rồi chịu khổ mãi. Đến khi nào gặp bậc Chân nhân, bậc thiện trí thức chỉ dẫn để biết được Như Lý Tác Ý thì khi đó mới chuyển sang tác ý mới, từ đó sanh khởi ra thiện pháp và giải thoát pháp. Cho nên cẩn thận tác ý, cẩn thận đối với tác ý bản thân, đối với suy nghĩ, tâm ý của mình. Suy nghĩ về người, sự vật, sự việc phải cẩn thận, phải hướng tác ý về như lý, theo chánh kiến, dẫn đạo theo hướng đúng để hướng suy nghĩ của mình. Còn tà kiến là Phi Như Lý Tác Ý, là những suy nghĩ sai, sanh khởi ra những khổ đau.
“Tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi”, từ xúc mới tập hợp, sanh khởi ra các pháp, cho nên tác ý với xúc sanh khởi ra các pháp. Cho nên người tiếp xúc thường xuyên với kinh pháp thì nói chuyện kinh pháp; người thường tiếp xúc với phim ảnh, đá bóng, xe cộ thì nói chuyện về các thứ đó; người tiếp xúc với tu học thì nói chuyện tu tập. Cho nên tất cả pháp lấy xúc làm tập khởi. Những câu này chiêm nghiệm rất sâu sắc, là thành tựu trí tuệ.
“Tất cả pháp lấy thọ làm chỗ quy tụ”, cho nên phải quán chiếu cảm thọ, quán chiếu toàn thân là cánh cửa để đi vào các pháp môn của pháp hành trong kinh Nikāya. Nếu không thường trực nhìn lại cảm giác toàn thân, không quán chiếu cảm thọ thì sự tu tập không đi đến đâu, không biết gì cả. Thọ là chỗ quy tụ của tất cả pháp, muốn thấy được tất cả pháp, cứ nhìn vào thọ, khi đó thấy tất cả pháp đều quy tụ. Dục, sân, si, ngã mạn, cống cao, ta đây, tật đố, ganh tỵ hay trí tuệ, giác ngộ, tinh tấn, từ bi, hỷ xả, tứ vô lượng tâm nhìn vào thọ sẽ thấy.
“Tất cả pháp lấy định làm thượng thủ”. Định là thượng thủ của tất cả các pháp, dẫn đầu trong sự tu tập. Nếu không nhiếp phục được trạo hối, trạo cử và hối hận trong năm triền cái thì không đi vào định được, mà không đi vào trong định thì tuệ quán của mình không sáng tỏ, cho nên định làm thượng thủ là nói theo Phật Pháp. Còn theo ngoài đời sống là định luôn luôn dẫn đầu, con người mà tâm không bình tĩnh, tâm không chuyên trú thì không làm việc, không nói chuyện, không đi đứng tốt được. Cho nên, phải có tâm yên định thì làm việc mới hiệu quả. Ví dụ khi rót nước trà, mà tâm nghĩ chỗ khác thì nước sôi sẽ làm phỏng tay; lái xe không chuyên chú, không tập trung, lo nhìn chỗ khác, lái xe mà nhìn máy báy thì sẽ xảy ra tai nạn, cho nên định là dẫn đầu. “Định” nói nghĩa gần là chuyên chú, tập trung, để tâm vào việc đang làm, còn sâu xa hơn là tứ thiện.
“Tất cả pháp lấy niệm làm tăng thượng”, muốn cho cho sự tu học phát triển, tăng lên, lớn mạnh thì phải niệm, không có niệm thì không tăng trưởng. Cho nên trong Bảy Giác Chi thì Niệm Giác Chi là đứng đầu, không có niệm thì sự tu học không thể tăng trưởng. Đây là điểm rất quan trọng khi tu Niệm Thân hay Tứ Niệm Xứ. Nếu không niệm sẽ không nhớ, không chiêm nghiệm, không quán niệm, không nhớ về những trí huệ nên sự thấy biết không tăng trưởng được, cho nên chỉ tu định, cứ ngồi yên hoài thì cũng không thể được. Chính điểm này giúp chúng ta thấy tất cả pháp đều bổ túc cho nhau. Biết rằng định là thượng thủ, đứng đầu nên mình ngồi yên định hoài thì cũng chưa chắc đúng, vì cái định đó phải được dẫn đạo bởi Chánh tri kiến thì cái định đó mới là định thượng thủ. Còn nếu mình ngồi yên nhưng không có sự quán chiếu, định mà không thấy, không biết về Bát Chánh Đạo thì không phải định của Phật giáo, không phải là Chánh định. Như vậy, niệm làm cho mình tăng trưởng, vì thế chúng ta phải niệm thân, niệm xác chết, niệm tứ đại, niệm 32 thể trượt, niệm khổ, niệm vô thường, niệm nhàm chán, niệm để nhớ để chiêm nghiệm và quán. Bây giờ mình sống bình thường, không chiêm nghiệm, không quán niệm, không y cứ Tứ Thánh Đế, Tứ Niệm Xứ, Bát Chánh đạo, để Chánh tư duy, để chiêm nghiệm thì trí huệ không tăng trưởng, sự thấy biết không thể thêm sâu rộng, cho nên niệm rất quan trọng.
“Tất cả pháp lấy tuệ làm tối thượng”, tuệ là dẫn đầu, tuệ là tối thượng, tuệ là tối cao.
“Tất cả pháp lấy giải thoát làm lõi cây”, ví dụ khi gặp một việc buồn, phiền, tham, ái, sân, hận, khi đó mình sử dụng pháp để tháo gỡ những buồn phiền này, đó chính là lõi cây, là kết quả của sự tu học, gọi là “hột chắc”. Tâm mình bị phiền muộn mà không biết chuyện gì, lúc đó mình dùng tất cả phương pháp, thực tập để mở được những phiền muộn, đó là lõi cây, đây là giải thoát nhỏ.
Còn giải thoát lớn hơn là giải thoát khỏi luân hồi sanh tử. “Tất cả pháp lấy bất tử làm chổ thể nhập; Tất cả pháp lấy Niết-bàn làm cứu cánh ”, bất tử là tên khác của Niết-bàn. Chỗ cần phải thể nhập là bất tử chứ không phải điều gì khác. Tất cả những gì chúng ta thấy bây giờ đều là tử pháp, pháp mà bại hoại hết thì mình không thể nhập vào chỗ nào được, cho nên không có chỗ nào đáng để đi vào. Tất cả pháp đều sanh diệt, vì vậy, chỉ có Niết-bàn là chỗ bất tử đáng để cho mình thể nhập, phải lấy bất tử làm chổ thể nhập, Niết-bàn làm cứu cánh. Chỗ rốt ráo, cứu cánh, cùng cực của người tu là Niết-bàn, phải đạt đến nơi này, không còn chỗ nào khác.
Bốn sự sợ hãi
Mời thầy Pháp Sơn nói về bốn sự sợ hãi?
Thầy Pháp Sơn:
Một vị bị nhắc nhở trong đời sống sinh hoạt về oai nghi, đi đứng, nói năng và vị này lại sanh khởi tâm không tùy thuận, không chấp nhận các học pháp đối với sự giáo giới, dạy dỗ các bậc Đạo sư, các bậc đồng phạm hạnh, hoặc nói gần hơn là bậc thầy của mình hoặc là huynh đệ. Vị này suy nghĩ ta trước đây cũng là người lớn, cũng dạy dỗ người khác, mà bây giờ vào đây bị nhắc nhở, thì vị này sanh khởi lên lòng sân hận. Nỗi sợ hãi đầu tiên là sự sân hận, sợ hãi thứ nhất mà Đức Phật liên hệ là về sóng.
Sự sợ hãi thứ hai, Đức Phật liên hệ đến hình ảnh là sự sợ hãi về cá sấu, do có những vị thầy trong đời sống tu tập không có biết tiết chế trong ăn uống, ăn uống không đúng thời, được bậc Đạo sư, các vị đồng phạm hạnh nhắc nhở, nhưng vị này khởi lên tâm không tùy thuận, Đức Phật nói tham ăn là sự sợ hãi về cá sấu.
Sự sợ hãi thứ ba, Đức Phật liên hệ đến hình ảnh dòng nước xoáy, do có những vị xuất gia, đi vào làng khất thực hoặc khi đối duyên xuất cảnh thì thân không có phòng hộ, lời nói không có phòng hộ, niệm không an trú, các căn không chế ngự, Đức Phật nói đây là sự sợ hãi của dòng nước xoáy. Bởi vì vị này thấy các vị gia chủ giàu có, sống hưởng thụ trong các dục lạc, thì vị này khởi lên ý niệm tham luyến, đắm trước đời sống của các gia chủ giàu có. Năm dục trưởng dưỡng tác ý sanh khởi, trong kinh Đức Phật cũng nói năm dục trưởng dưỡng đó là chỉ những gì kích thích lòng dục của mình, hấp dẫn, khả lạc, khả hỷ, khả ái liên hệ đến dục. Đó là nổi sợ thứ ba, sợ hãi về dòng nước xoáy chính là năm dục trưởng dưỡng.
Sợ hãi thứ tư là hình ảnh cá dữ. Đức Phật muốn nói cho những vị Thầy khi gặp người khác phái, những thiếu nữ ăn mặc không kín đáo, lộ liễu thì dục tình chi phối, do vị này tâm không phòng hộ, không chế ngự, bị dục tình chi phối lẫy lừng, sợ hãi thứ tư là cá dữ, chỉ về người phụ nữ.
Đây là bốn điều sợ hãi cho tương lai mà Đức Phật giảng giải.
./.