Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Hoàn tất - Làm sao trở thành người xuất gia đúng nghĩa 3

2026-03-03 00:56:17
LÀM SAO ĐỂ TRỞ THÀNH

NGƯỜI XUẤT GIA ĐÚNG NGHĨA 3

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Bốn sự thù thắng của Bậc Thánh: PAGEREF _Toc48541454 \h 1

II. Tối thắng tuệ thắng xứ: PAGEREF _Toc48541455 \h 2

III. Tối thắng Thánh đế: PAGEREF _Toc48541456 \h 3

IV. Tối thắng huệ thí thắng xứ: PAGEREF _Toc48541457 \h 7

V. Tối thắng Thánh tịch tịnh: PAGEREF _Toc48541458 \h 13

V.1. Vọng tưởng: PAGEREF _Toc48541459 \h 16

VI. Phát lồ tâm bất chánh: PAGEREF _Toc48541460 \h 20

VII. Tâm mong cầu học đạo: PAGEREF _Toc48541461 \h 22

I. Bốn sự thù thắng của Bậc Thánh:

Chúng ta sẽ tìm hiểu bài kinh “Giới Phân Biệt” trong Trung Bộ Kinh, kinh số 140, trang 541. Bài kinh này rất thâm sâu, mà từ lâu Minh Thành muốn chia sẻ với đại chúng, nhưng biết rằng đại chúng khó có thể tiếp nhận được.

Nhân khóa tu Chánh Tinh Tấn lần này, nỗ lực thành đạo, một ngày tu tập mười bốn tiếng. Thì Minh Thành thấy đã đúng nhân duyên, cho nên mình học bài kinh này, đặt biệt là đoạn cuối, sau khi ngồi thiền mình mới có thể nghe được đoạn cuối này, nó rất thâm sâu. Phải ngồi thiền, xả thiền ra mới có tâm thanh tịnh, mới nghe. Mong rằng đại chúng lắng tâm thanh tịnh, để tiếp nhận, đây là đoạn cuối của bài kinh, rất là quan trọng.

Đoạn cuối này Phật nói về bốn sự thù thắng của bậc Thánh.

(Ở đây Minh Thành dùng những từ rất là dễ hiểu trước, chứ dùng những từ chuyên môn ở trong kinh thì mấy huynh đệ sẽ không nhớ và không hiểu được, Minh Thành sẽ dùng từ dễ nhất để dễ hiểu).

Đầu tiên, Đức Phật trình bày về trí huệ của bậc Thánh, thứ hai là Đức Phật trình bày về chân lý của bậc Thánh, thứ ba là Đức Phật trình bày về thí xả của bậc Thánh, thứ tư là Đức Phật trình bày về tịch tịnh của bậc Thánh. Đây là bốn điều mà tất cả bậc Thánh nhân đều thành tựu hết. Một người thành tựu A-la-hán quả phải đầy đủ, viên mãn bốn đặc tính này. Và những bậc hữu học, từ sơ, nhị, tam quả cũng phải thành tựu những điều này. Chính vì thế mình phải nắm vững bốn cái này, trong sự hành trì tu học của mình coi có những điều này hay chưa? Và nó có ở mức độ nào? Nếu mình tu mà không có gì trong bốn điều này hết thì mình chưa phải đi trên Thánh đạo. (Nhớ chữ Thánh ở đây là chỉ Đức Thế Tôn, bậc Chánh Đẳng Giác)

II. Tối thắng tuệ thắng xứ:

Hôm qua chúng ta đã nói sơ lược về điều thứ nhất, là trí huệ của bậc Thánh, gọi là “Tối thắng tuệ thắng xứ”. Mình nói diễn dịch ra tiếng Việt thì có nghĩa là chỗ trí huệ cao nhất, đặc biệt nhất. Thì đó là gì? Là cái trí biết sự đoạn tận mọi khổ đau. Là vị đã tu tập “Vị này cảm giác được một cảm thọ tối hậu của thân này, vị ấy tuệ tri: Tôi cảm giác một cảm thọ, lấy thân làm tối hậu. Biết rõ bằng trí huệ, sau khi thân hoại mạng chung, mọi cảm thọ, hoan hỷ ở nơi đây, trở thành tang lương mát mẻ”. Tức là vị này sắp sửa lâm chung (sắp sửa chết), thì vị này biết bằng trí huệ là “Sau khi tôi chết, mọi cảm thọ, hoan hỷ ở nơi đây, trở thành mát lạnh, mát mẻ”. Tức là tất cả mọi sự ham, thích, vui thú ở nơi đây (ở cuộc đời này), hoàn toàn không còn nữa. Lúc mà vị đó sắp ra đi, vị ấy biết một cách rất là rõ ràng bằng trí huệ, là tất cả mọi ham muốn trên cuộc đời này, vị đó không còn nữa, đó gọi là Thánh trí, trí huệ của bậc Thánh.

III. Tối thắng Thánh đế:

Thứ hai là “Tối thắng Thánh đế”, còn gọi là chân đế, an trú vào chân đế. Chữ “chân đế” thì thường mình hiểu theo nghĩa sau này là không chính xác. “Chân đế” ở đây Đức Phật giải thích rất rõ “Sự giải thoát ấy của vị này, an trú vào chân đế không bị dao động. Này các Tỳ-kheo, cái gì có thể đưa đến hư vọng, thời thuộc về hư vọng. Cái gì không thể đưa đến hư vọng, thời thuộc về chân đế, Niết bàn. Do vậy, vị Tỳ-kheo thành tựu như vậy là thành tựu với tối thắng đế thắng xứ này. Vì rằng, này Tỷ-kheo, như vậy là tối thắng Thánh đế, tức là Niết-bàn, không có thể đưa đến hư vọng”.

Ở đây mình hiểu được là, cái gì có thể đưa đến hư vọng thì thuộc về hư vọng, vậy cái gì đưa đến hư vọng? “Đất, nước, gió, lửa” là hư vọng, cho nên đưa đến hư vọng.

Tứ đại là giả dối thì đưa đến giả dối.

Cảm giác là giả dối, hư vọng, cho nên đưa đến giả dối, hư vọng.

Các tưởng (hình bóng trong nội tâm), những suy nghĩ, nhận thức là giả dối cho nên đưa đến giả dối.

Ngũ uẩn là hư vọng cho nên đưa đến hư vọng

Mắt, lỗ tai, mũi, lưỡi, thân, ý là vô thường, hư vọng nên đưa đến hư vọng.

Như vậy, cái gì đưa đến hư vọng thì nó thuộc về hư vọng.

Cái gì không thể đưa đến hư vọng, thì nó thuộc về chân đế, Niết bàn. Vậy đó là cái gì? Là trí tuệ, quán chiếu, thấy rõ tứ đại ngũ uẩn, tất cả các pháp đều là vô thường, khổ, vô ngã, thì trí huệ đó không hư vọng, cho nên nó thuộc về chân đế.

Nên nhớ cái trí huệ, chứ không phải cái rõ biết của sáu thức, phải nhớ kỹ. Cái thức khác cái trí. Thức, là cần được rõ biết. Trí, là cần được tu tập.

“Này các Tỳ-kheo, thức là cái cần mình rõ biết, nhưng mà trí là cần mình phải tu tập, mình mới thành tựu”. Thế nào là thức cần phải rõ biết? Như một con người bình thường hay thậm chí người tu, nếu không có sự thực tập, nhận diện, thì đâu biết nhãn thức, chỉ là “tôi thấy, tôi nghe, chuyện này tôi hiểu”, họ đâu có biết đó là nhãn thức. Cái rõ biết các hình sắc này là nhãn thức, cái rõ biết tất cả âm thanh là nhĩ thức, rõ biết mùi hương là tỷ thức, rõ biết tất cả các vị là thiệt thức, rõ biết khi thân mình xúc chạm ở chỗ nào đó, là thân thức. Cái này phải tập nhận diện, chứ chính bản thân Minh Thành học hai mươi mấy năm, mình tưởng “mình hiểu rồi”, nhưng đến chừng sau này mình thấy không phải, cái đó do mình tưởng thôi. Còn mình nhận diện thường trực trong khi ngồi thiền, hoặc trong khi làm việc, thì bắt đầu lần lần mình mới rõ biết các thức, còn không mình nói “mình biết” không à.

Ví dụ mình ngồi một hồi, mình đau chân, mình nói là “tôi đau chân quá”, chứ mình đâu có biết đó là thân thức. Thọ do (thân) xúc sanh, thọ do thân tiếp xúc nó sanh, tức là cảm giác đau đó, là từ chỗ tiếp xúc của thân mà nó sanh ra, cái đó là từ nơi thân thức. Cái này đòi hỏi mình phải có công phu nhận diện, không phải nhận diện năm uẩn không, mà bắt đầu mình từ từ nhận diện qua sáu căn, sáu trần, sáu thức, sáu xúc, sáu thọ. Bắt đầu tập từ từ, tới giai đoạn của quán pháp ở trong Tứ Niệm Xứ, khi mình nhận diện ra được, mình biết sáu thức là pháp vô thường, pháp khổ, pháp vô ngã, pháp duyên sanh.

Như vậy thì “Cái gì không thể đưa đến hư vọng, thì thuộc về chân đế”.

“Này các Tỳ-kheo, trí huệ là cần phải được tu tập, cái mà để biết được tất cả mọi cái đó là vô thường, khổ, vô ngã, thì cái đó cần phải được tu tập”. Mình nghe hoài, mình chiêm nghiệm hoài, mình nhìn cái sanh diệt nó hoài như vậy, thì tới lúc nào đó cái trí của mình thành tựu, gọi là tâm giải thoát, tuệ giải thoát.

“Tâm giải thoát” là dứt sạch tham ái. Cái tâm mình sợ dĩ nó không được thoải mái, nó không được hồn nhiên, là nó bị tham ái cột vô, khi nào mình ra khỏi tham ái thì gọi là tâm giải thoát.

Trí huệ của mình sở dĩ nó không phát huy hết công năng soi chiếu của nó, là nó bị trói cột bởi vô minh. Thế nào là vô minh? Là không thấy, không biết sắc uẩn này là tứ đại, không thấy không biết thọ, những cảm giác, các tưởng, những suy nghĩ, nhận thức là pháp vô thường, duyên sanh. Không thấy, không biết, không rõ, không thành tựu được trí về năm uẩn của tự thân, tự tâm là vô minh. Chính cái vô minh này nó buộc trí huệ lại, nó làm cho trí huệ này không ra được. Cho nên, khi mình phá cái vô minh này hết, thì tuệ giải thoát, cái trí huệ của mình nó thoát ra.

Ngày xưa còn nhỏ, Minh Thành nhớ câu chuyện rất hay, là “Aladin và cây đèn thần”, lúc còn nhỏ mình xem hoạt hình đó. Trong chuyện có một ông già chài lưới dính một cái chai, ông mở cái chai đó ra, thì nó bung lên một luồng khói đen bay ngút lên trời xanh, hiện lên một ông thần. Ông già hỏi ông thần “ông bị làm sao?”. Ông thần nói “tôi bị nhốt ở đây năm trăm năm rồi”. Thì những hình ảnh đó cho mình liên tưởng, “cái chai” đó giống như tứ đại, năm uẩn vậy. Nó nhốt trí huệ vĩ đại của mình ở trong đó năm trăm năm, là năm uẩn. Cũng giống như Tôn Ngộ Không, bị đè dưới Ngũ Hành Sơn, bị năm uẩn nó đè, làm cho trí huệ không thoát ra được, cái tâm không thoát ra được.

Như vậy, tham ái nó buộc cái tâm, vô minh nó buộc cái trí. Cho nên tâm và trí của mình hiện tại bây giờ, đang bị trói cột, mọi lúc, mọi nơi, bởi vô minh và tham ái. Mình khéo quán, khéo nhìn, khéo nhận diện, để mình thấy ra chỗ cột của nó chính là chỗ dính mắt tham ái. Mình dùng trí huệ để mình phá cái đó, thì mình sẽ thành tựu được “Tối thắng đế thắng xứ”, an trú vào chân đế, là Niết bàn, là không có thể đưa đến hư vọng. Trí huệ đó là trí huệ chân đế, chân thật của vĩnh hằng, không có gì phá nổi, phá được tất cả những cái khác, nhưng không thể nào phá nổi nó hết. Đó là trí huệ kim cương, đó gọi là mình thành tựu được chân lý của bậc Thánh, cái chân thật của bậc Thánh, chân đế của bậc Thánh.

Cái đó là cái bất tử, bất sanh, bất diệt, nó khác với cái bây giờ mình nghĩ, không phải. Cái bây giờ mình nghĩ nó nằm trong năm uẩn thôi. Chừng nào nó phá hết năm uẩn, phá hết tứ đại, phá hết tất cả dục, tham, ái, chấp thủ, vô minh, không còn cái gì hết, sạch sành sanh hết, thì lúc đó thể nhập Niết bàn. Đối với tất cả các pháp, “bất động tâm giải thoát”, không còn gì trên cuộc đời này có thể làm tâm mình động nữa hết. Lúc đó mình thể nhập chân đế, an trú vào chân đế. Chỗ này nó thâm sâu lắm, càng ngày nó càng sâu.

IV. Tối thắng huệ thí thắng xứ:

Bây giờ mình đi đến “huệ thí”, “tối thắng huệ thí thắng xứ”. Nói đến sự thí xả của bậc Thánh là cái gì? “Những sanh y, vô trí thức trước của nó đã được đầy đủ, đã được thành tựu, chúng được đoạn tận, cắt tận gốc rễ, làm cho như thân cây Ta-la, không thể hiện hữu nữa trong tương lai, không có khả năng sanh khởi nữa. Do vậy, một Tỳ-kheo thành tựu như vậy là thành tựu tối thắng huệ thí thắng xứ”. Như vậy “tối thắng thánh huệ thí”, tức là sự xả ly tất cả sanh y (mấy cái chữ này nó sâu lắm, đọc bình thường không bao giờ hiểu nổi được). “Những sanh y, vô trí thức” là cái gì? Vô trí thức (ngày hôm qua thầy nói là vô tri đó) là không thấy, không biết các pháp trong tự thân, tự tâm. Và mọi sự, mọi việc, mình không thấy, không biết, cái đó gọi là vô trí thức, tức là không hiểu biết (chút xíu Đức Phật có nói về tham, sân, si, thì sẽ giảng kỹ chỗ này, quan trọng lắm).

Bây giờ nói tại sao mình làm việc mà mình cứ do dự, lưỡng lự? Tại vì mình nghi, mình ngờ vực “cái này đúng hay là sai”. Tại sao nghi? Tại vì si, là không rõ cái đó, nên làm hay không nên làm. Nếu mình rõ, mình có sự dứt khoát, quả quyết, quả cảm. Cho nên mình nghi ngờ, mình do dự, lưỡng lự “không biết cái này là đúng hay sai?”, thì lúc đó là mình đang nghi ngờ, mà nghi ngờ xuất phát từ si, mà si là xuất phát từ vô tri, mà vô tri là không thấy, không biết, không có trí huệ về vấn đề đó.

Cho nên cái tuệ nó phá cái si, si nó phá cái nghi, mình muốn phá được cái nghi, phải tu trí huệ. Chỗ sanh y này là chỗ rất là sâu xa. Vậy “sanh y” là cái gì? Chữ “sanh” là sanh tử, luân hồi, sanh ra. Chữ “y” là chỗ y cứ, nương tựa, từ chỗ y cứ này mà có sự sanh, gọi là “sanh y”. Giống như từ đất, từ nước, mà hạt giống nó mới có thể nảy mầm lên được. Nếu không có đất, không có nước, không khí, ánh sáng, thì làm sao hạt giống đó nảy mầm thành cây được. Như vậy, đất là sanh y, là chỗ để cho cái cây đó căn cứ, y cứ, nương tựa vào đó, để bám rễ, nảy mầm, phát triển, như vậy là sanh y.

Còn “sanh y vô trí thức” là sự vô tri, không thấy, không biết về căn cứ địa, để nó đưa đến thọ sanh. Không biết nguyên nhân tại sao mình sanh ra? Tại sao mình có mặt ở đây? Mình đâu biết, cái đó là sự si mê ở trong sanh tử. Không thành tựu được trí huệ để thấy “tại sao mình ở đây?”. Từ cái này nó đưa ra rất nhiều si mê khác. Thì bây giờ “chúng được đoạn tận”, đoạn tận hết những si mê, thành tựu được cái trí. Mà cái trí này là thấy rõ hết tất cả từ đâu mà nó có mặt (nãy giờ mình có nói là nó từ vô minh và tham ái). Thấy rõ được nguồn gốc, đưa ra, dẫn đến sự thọ sanh, nguồn gốc dẫn đến sanh tử, nguồn gốc dẫn đến đến tái tục, tiếp nối, tiếp diễn ở trong cái vòng lẩn quẩn hoài như vậy.

Như mình học bảy trí về sắc, thọ, tưởng, hành, thức. Khi xúc sanh thọ, thì mình thấy cái xúc, mình hạn chế, tỉnh táo với cái xúc đó. Những nguyên nhân gì đưa đến cái xúc ô nhiễm, thì mình chặn đứng lại, từ từ, thì mai mốt nó không đưa đến cái thọ nữa. Mà không đưa đến cái thọ ô nhiễm, thì không đưa đến cái ái. Nếu không đưa đến cái ái, sự yêu thích, thì nó đâu có nắm giữ. Khi không có nắm giữ thì không tạo nghiệp. Mà không có tạo nghiệp, thì nó không đưa vô luân hồi sanh tử.

Sau này mình học duyên sanh pháp, mình sẽ thấy nó thâm sâu lắm. “Thập nhị nhân duyên”, cực kỳ sâu xa. Nếu mình không có thiền định, quán chiếu, thì mình học chơi vậy thôi, mình có thiền định, quán chiếu, mình mới thấy mỗi chi phần trong đó, đều do tâm thức của mình vận hành hết. Vận hành hàng ngày, hàng giờ, ngay bây giờ nó đang vận hành, mà mình không thấy, không biết, ái nó đang vận hành, thủ, hữu, xúc, thọ, tưởng, thức, tứ đại nó đang vận hành, mình không thấy, không biết, mà cứ nói mình hay, cứ nói mình biết, thì mới chết đó chứ.

Cho nên, “tối thắng Thánh đế” tức là Niết bàn, thành tựu được trí huệ đó rồi, mình sẽ đưa đến chỗ không có hư vọng. Còn bây giờ, mình chưa thành tựu trí huệ, mình sống ở trong cái thức, cái vọng thức, vô minh, tham ái, chấp thủ, bản ngã, tất cả cái đó đều đưa đến hư vọng hết. Tại vì nó giả dối, nên đưa đến toàn giả dối thôi. Cảm giác của mình có thật đâu, những suy nghĩ của mình không có thật đâu, không có chân thật đâu, nhận thức của mình thay đổi liên miên.

Cái thứ ba là “thắng Thánh huệ thí”, sự xả ly tất cả sanh y. Chỗ này thâm sâu, mà mình chưa từng nghe, bản thân Minh Thành học xuất gia hai mươi mấy, ba chục năm mà chưa nghe chữ này, bây giờ mình được nghe, mình mới thấy chữ này rất quan trọng. “Xả ly tất cả sanh y”, đây là sự xả ly của bậc Thánh. “Sanh y” như lúc nãy mình hiểu rồi, đó là y cứ để thọ sanh, tái sanh, luân hồi, sanh tử, xả ly hết. Những cái gì làm y cứ để nó tiếp tục thọ sanh, bỏ hết những cái đó, gọi là sự buông bỏ của bậc Thánh.

Mình nhớ là, mình đọc những bài kinh “Tâm Từ, Trải Tâm Từ” thì trong đó có nói “con hồi hướng dẫn phước báo, những cái thiện con làm để chứng đắc Niết bàn” (nhớ không? Về đọc lại đi). Chứ không phải “con hồi hướng những cái phước này, để đời sau con được cái gì đó”, không phải, mà để chứng đắc Niết bàn. Mà Niết bàn là gì? Là tất cả những cái phước, cái thiện, những công đức mình làm, mình mong mai mốt mình hưởng, như vậy là mình đang đầu tư cho sanh y. Tất cả cái thiện, cái phước mình làm, mình hướng về Niết bàn, thì cái đó là sự tu tập của bậc đại trí huệ.

Cũng như hôm qua, mình coi những đoạn clip, Minh Thành chảy nước mắt, người rúng động hết. Lúc đó mình nhập vô cái quán, mình nổi da gà lên hết trơn. Mình nghĩ rằng “nhất định trong đời kiếp trước, mình có một trong những cảnh này, nhiều lắm. Những đời kiếp sau, nếu mình không khéo, mình chưa vào dòng pháp, thì chắc chắn mình sẽ vô mấy cái cảnh này, chứ không chạy đâu khỏi hết”. Đó là “con kiến bò trên miệng chén”, nó bò vòng vòng, làm sao nó ra. Những cảnh mình đã được coi là còn đỡ, còn có những cảnh mình không thấy bằng mắt được, những loài chúng sanh khổ khác mình không thấy, mình không thấy cảnh địa ngục, ngạ quỷ. Mình mới thấy được có hai loại thôi, là loài người và loài vật thôi, mà mình thấy còn thê thảm như vậy. Còn bốn loài khác mình không thấy, mình thấy chưa được phân nửa nữa.

Nhiều khi có nhiều clip, nhiều bài đặt những tựa đề mình nghe, mình cười, như: “Em bé cụt hai tay, hai chân, suốt ngày trong nụ cười hạnh phúc” gì gì đó. Thầy nghe, thầy đọc những câu đó thầy mỉm cười, đó là sự vô minh. Làm gì có cụt hai tay, hai chân mà suốt ngày trong nụ cười hạnh phúc. Mình vô thì mình thấy, mẹ của em bé đó nhìn thấy đứa con ngủ, mà bà khóc nức nở và không kìm được. Rồi chú bị cụt tay, mỗi lần người mẹ nhìn là bả khóc, hễ nhìn thấy là khóc, tủi thân, khóc suốt bao nhiêu năm “tại sao còn người ta được lành lặn, con của mình lại như vậy? Cho nên, mình coi cái đó để mình nhàm chán, nuôi dưỡng, tưới tẩm trí huệ chân đế, trí huệ Thánh trí, cái trí huệ thấy đây là khổ.

Giống như đàn bò, người ta dẫn đi đến lò sát sanh, mỗi bước là nó đi gần đến lò mổ, mà nó không biết gì hết, giành giật, chen lấn với nhau để đi, dùng sừng húc nhau, trong khi mỗi bước của nó là đang đi đến lò sát sanh. Thì mình cũng giống y như vậy, mình không biết rằng mỗi ngày, mỗi tháng, mỗi năm, mình đang dần dần đi đến chỗ tàn lụn, hoại diệt, của già, của bệnh, của chết. Bao nhiêu mầm bệnh trong cơ thể mình, nó bắt đầu biểu hiện từ từ, mình không thấy, không biết. Mình lấy cái vui chút xíu bên ngoài, ăn mấy món này chơi, được đi nơi này, nơi kia, hay được nói chuyện, được chụp mấy tấm hình, vậy đó. Vui ở trong những cái vui rất là nhỏ, ở trong những cái vui của mê lầm. Mình không thấy ở đằng sau đó, là cái lò mổ, lò sát sanh và sự băng hoại, tan nát của cái thân này, nó sắp sửa diễn ra bất cứ lúc nào, bất cứ nơi nào, bất cứ giờ nào. Đó là sự đáng thương cho chính mình và cho tất cả mọi người chúng sanh.

Mình quán chiếu cái này thì trí huệ của mình nó tăng trưởng kinh khiếp lắm, đây là Thánh Trí, trí huệ siêu việt. Nó vượt lên hết tất cả các trí huệ hơn thua, phải trái, đúng sai bình thường của phàm phu. Cho nên, mình học đến cái cao nhất những học vị đi nữa, thì cái đó là phàm trí. Mà mình đang đi cái này là Thánh đạo, Thánh Trí, Thánh Quả. Vì nó vượt ra hết tất cả những cái trong vô thường, trong tạm bợ, trong khổ. Cho nên mới gọi là Thánh Đạo, đưa đến Thánh Quả, phải đi trên con đường đó thì cái đích ở nơi đó, đạo lộ đó. Sự xả ly tất cả sanh y này rúng động, tối Thánh thắng huệ thí (sự xả ly, buông bỏ bằng trí huệ của bậc Thánh). Nếu còn trong vòng luân hồi là còn những cảnh như đêm qua mình thấy, còn cái chân dòi bu, còn nằm liệt giường, liệt chiếu, còn ung phổi, ung thư gan, ung thư não, ung thư máu, ung thư vòm họng, ung thư vú, đủ thứ hết. Còn ở trong vòng luân hồi, còn cái xác thân tứ đại, là còn những cảnh như vậy.

Cho nên trong kinh “Thánh Cầu” Đức Phật nói những lời rúng động, sâu xa lắm “Các ông sanh, mà đi tìm cái bị sanh. Các ông già, mà đi tìm cái bị già. Các ông chết, lại đi tìm cái bị chết. Các ông sầu, bi, khổ, ưu, não, các ông lại đi tìm cái sầu, bi, khổ, ưu, não”, mình đang đi tìm những cái đó. Cho nên, sự tìm cầu của mình không phải là Thánh cầu. Người tu của mình là sự tìm cầu của bậc Thánh, tìm cầu ra khỏi sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, đó mới gọi là sự tìm cầu của bậc Thánh, Thánh cầu (sự tầm cầu của bậc Thánh). Như các chú ở đây là mình bị sanh, mình đang tìm cầu cái không sanh. Mình bị già, mình đang tìm cầu cái không già. Mình bị bệnh, mình đang tìm cầu cái không bệnh. Mình bị chết, mình đang tìm cầu cái bất tử. Mình bị sầu, bi, khổ, ưu, não, mình đi tìm chỗ thanh lương.

Sự tìm cầu đó là sự tìm cầu của trí huệ, của bậc Thánh, của bậc Chánh Đẳng Giác. Và chúng đang đang tìm cầu. “Vui không? Hoan hỷ không? Hân hoan không?” Mình phải hân hoan, vui sướng, hạnh phúc lên. Vì trong một thế giới tăm tối, vô minh này, trong cái sanh, già, bệnh, chết đầy dẫy này, mà mình có cơ hội mình đi ra, gặp được pháp, gặp được thầy lành, bạn tốt, mình đang có cơ hội để bước ra khỏi cái tối tăm, khổ đau, luân hồi. Đó là một cơ hội ngàn đời, vạn kiếp, phải nắm bắt cơ hội này thật chặt, thật chắc, thật vững. Còn nắm không chặt là nó vuột, nó rớt xuống, mà khi nó rớt xuống rồi mà mình chưa nhập lưu, thì không biết có quay trở lại được hay không. Nó đảo chừng một vòng thôi, là chín trăm chín mươi chín ngàn năm.

Thấy sự bố thí của bậc Thánh chưa? Đó là sự bố thí của bậc Thánh đó. Còn mình đi từ thiện là sự bố thí của phàm, nhưng vẫn phải làm, không bị dính mắc “mấy thầy có làm không?”. Mình có làm và hỗ trợ người khác làm, nhưng mình làm là không mong cầu quả báo để mình hưởng, mà mình mong cầu Niết bàn. Thấy chỗ siêu việt của trí huệ tu tập không? Đó gọi là gì? Thánh huệ thí (sự bố thí bằng trí huệ của bậc Thánh).

V. Tối thắng Thánh tịch tịnh:

Bây giờ đến phần quan trọng cuối cùng là “tối thắng Thánh tịch tịnh”, sự tịch tịnh của bậc Thánh. “Tham ái vô trí thức, trước của nó thuộc về tham dục, tham nhiễm. Pháp ấy được đoạn tận, chặt tận gốc rễ, làm cho như thân cây Ta-la, không có thể hiện hữu nữa trong tương lai, không có khả năng sanh khởi nữa”.

“Tham ái vô trí thức”, đương nhiên tham ái là vô trí thức, tại không có trí huệ nên mới tham ái, nếu tham ái là đâu có trí huệ. Vì thấy cái đó là thật, là đẹp, nên nó mới thích. Vì nó không biết cái đó không phải là thật, cái đó là giả, cái đó không phải đẹp, cái đó là bất tịnh. Thấy được như vậy thì nó đâu có tham ái, thấy được như vậy là trí huệ rồi. Nhưng bây giờ, cái tham ái do không hiểu biết nó mới tham, mới thích, mới ưa, mới nắm, mới buộc, mới ràng, mới hệ lụy đó, hay cái dục tham, tham nhiễm đó, được đoạn tận, chặt tận gốc rễ. Không còn gì, như gốc cây dừa, chặt ngang rồi là không mọc lên, không tái sanh, không có hiện hữu trong tương lai, không có khả năng sanh khởi nữa. Tu đến mức như vậy đó, tất cả mầm tham ái không còn có thể sanh khởi được nữa.

Chứ giờ mình nói mình tu, mình đoạn tham, sân, si, chứ có khi mình đang nuôi dưỡng nó, khiếp vậy đó. Mà mình không thấy, không biết, mình đang nghĩ rằng “mình đang đoạn tham, sân, si”, mà thật ra nó trá hình, nó qua mặt mình, mình không biết. Nó rất là vi tế, tinh lanh, xảo huyệt, trá hình từ kiểu này qua kiểu khác, thiên hình vạn trạng của tham ái, tham dục, tham nhiễm, tham đắm, mình không biết hết được.

Mình coi bộ phim Tôn Ngộ Không, Đường Tăng gặp bao nhiêu nạn? Mình nhớ lúc thỉnh kinh trở về đang bay trên trời thì Quan Âm đứng bấm tay “chín lần chín là tám mươi mốt nạn mới đúng, này chưa đủ”. Rồi Quan Âm phất tay một cái, các thầy trò rớt xuống. Ý ở đây là muốn nói điều gì? Từ đầu Đường Tăng đi đến như vậy đã gặp bao nhiêu con yêu tinh, yêu quái? Bảy, tám chục trường hợp khác nhau. Bảy, tám chục trường hợp đó điều là trá hình, dị dạng của tham ái, tham dục, mà Đường Tăng đâu có thấy, đâu có biết. Tôn Ngộ Không mới thấy, trí huệ của bậc Thánh mới thấy, còn con mắt thường không thấy. Thí dụ trên đường đi, Đường Tăng tội nghiệp đứa nhỏ bị treo lên cây, Đường Tăng nói với đệ tử “tội nghiệp nó, nó khóc, nó kêu tội nghiệp, lại gỡ thả nó xuống đi”. Tôn Ngộ Không nhìn vào, thấy toàn là lửa ở trong bụng nó. Tôn Ngộ Không nói “thôi được rồi, sư phụ để con”, rồi đưa tay quăng đứa xuống. Đứa bé biến phép ra liền, khè lửa ra, đốt cháy hết.

Cho nên, chính tham, sân, si ở trong đó, nhưng mà con mắt thường đâu có thấy. Ví dụ như những Phật tử nói “Thầy ơi, con hết tham, sân, si rồi”. Minh Thành nói “Vậy là sư phụ rồi, thầy bây giờ còn tham, sân, si nhiều lắm”, đó là không biết, không thấy, cho nên mới gọi là vô tri. “Tham ái vô trí thức”, “phẫn nộ vô trí thức”, “vô minh vô trí thức”, tất cả đều từ việc không hiểu biết, không thấy biết, không thành tựu trí huệ.

Cho nên mình vô tu, nhiều khi mình nghĩ “mình giỏi hơn ông thầy nữa”, mà mình không có biết, mình hoàn toàn không biết, mình rất vô tư. Những lời nói, hành động của mình biểu lộ ra là “mình giỏi hơn thầy”, vô tri vô cùng, ngã mạn ghê gớm, mình không biết, không thấy luôn. Nhưng cái đó mình muốn học thì ông thầy chỉ cái, còn người không muốn học là ông thầy không chỉ, vì chỉ là mình sân, thậm chí mình quay ngược trở lại trở lại mình bỏ đạo, bỏ chùa luôn, ghê gớm không?

Cho nên thương lắm, thương cái vô minh, vô trí thức, thương cái phẫn nộ vô trí thức, thương cái tham ái vô trí thức, thương cái bản ngã vô trí thức, thương cái ta đây vô trí thức, mà lúc nào cũng dương dương tự đắc, cũng ta đây, lúc nào cũng cho mình là thấy, là biết, là hiểu. Vậy mới chết, đây là cái sự chết.

“Này các Tỳ-kheo, như vậy tối thắng Thánh tịch tịnh, tức là sự tịch tịnh tham, sân, si. Chỗ mà vắng lặng tối cao của bậc Thánh, là vắng lặng tham, vắng lặng sân, vắng lặng si”.

Cho nên lúc trước khi mình trình pháp, thầy kêu mấy huynh đệ nhận diện năm uẩn, thầy đâu có hỏi huynh đệ “đang có tham, sân, si không?” Lúc trước thì chỉ hỏi sắc, thọ, tưởng, hành, thức ra làm sao? Thầy không có hỏi thêm, cứ nói ra là được. Nhưng bây giờ thì hỏi, “trong lúc đó có tham không? Có thấy trong đó có sân không? Trong cảm giác có khó chịu không?”, hỏi hỏi một hồi có hết trơn, mà tại mình không thấy. Phải dẫn dắt mình từ từ, chứ nếu mình nói ra một lần, mình sợ quá, mình nói “sao nhiều quá, thôi khó quá, chắc không tu đâu”. Nhưng mà nếu dẫn mình từng bước, từng bước như vậy, từ từ hé mở cánh cửa giải thoát, cánh cửa trí huệ.

Khi mình nói “con ngồi suốt một tiếng, con đâu có thấy tham, sân, si gì đâu? Con thấy ngồi êm lắm”. Con là ai vậy? Êm là ai vậy? “Con” tức là có cái ngã, cái tôi, là si. “Êm” là có cái ái, tham ái. Ngồi trong đó có khi có những cái khó chịu là sân, mình đâu có thấy đâu. Mà mình không thấy, không biết thì mình càng không biết những cái pháp để diệt trừ, chuyển hóa nó nữa. Thấy không? Nó lòi ra từ từ đó, phanh phui ra, hết sức là sâu sắc. Bây giờ mình đang ngồi đây, mình có tham, sân, si không? Nãy giờ nghe nói mấy câu vậy trong lòng phản ứng sao? (nhìn lại năm uẩn coi). Khi có ai đó, họ nói mình là bản ngã, nói mình là vô minh, nói mình là si mê, đừng nói chi người ngang hàng, bạn bè, Phật tử, ngay ông thầy mình, mà ổng nói, coi lúc đó ngũ uẩn của mình như thế nào? Nhìn vô đó rồi sẽ thấy, nó hiện tướng ra hết. Giống như là nấm mèo khô vậy, nó có chút xíu vậy thôi, nhưng khi mình để nước sôi vào, nó nở lớn ra, gặp nước sôi nó mới nở nhanh, chứ nước lạnh là nó nở lâu lắm, nước đang sôi ùn ùn mình để vô nó nở bung ra.

Khi sân lên, mình mới thấy rõ năm uẩn của mình, mình mới nhận diện được sự nóng giận, cảm giác nó như thế nào. Khi tham lên hay khi si mình cũng mới nhận diện được. Cho nên, trong lúc sắp sửa hôn trầm, mình phải nhận diện năm uẩn, coi lúc đó năm uẩn ra làm sao? Đang hôn trầm thì phải nhận diện, tới lúc vừa giật mình, thức dậy, mình nhận diện liền coi lúc đó nó như thế nào? Trong tất cả trường hợp đều phải nhận diện năm uẩn hết, để thấy, để biết “Ờ, coi bây giờ cảm giác ra làm sao đây? Đang suy nghĩ cái gì đây? Những hình bóng trong tâm đang có cái gì đây? Nhận biết như thế nào?” Lúc nào mình cũng phải nhìn lại hết, thì mình sẽ thành tựu Thánh Trí.

“Khi được nói đến chớ có buông lung trí huệ, hãy hộ trì chân đế, hãy làm cho sung mãn huệ thí, hãy tu học tịch tịnh, chính do duyên này được nói đến như vậy” (Đức Phật giải thích những điều nói ở trên đó). “Chớ có buông lung trí huệ”, là mình quán chiếu về sáu giới, sáu xuất xứ (địa, thủy, hỏa, phong, không, thức). “Hãy hộ trì chân đế” có nghĩa là, hãy giữ gìn trí huệ chân thật, không đưa đến hư vọng. “Hãy làm cho sung mãn huệ thí” tức là làm cho sự xả ly các sanh y mạnh mẽ, đầy đủ lên. Càng ngày thì cái tâm xả ly, buông xả của mình càng mạnh, làm cho nó sung mãn, sung túc lên. “Hãy tu học tịch tịnh” là hãy thực tập, làm cho vắng lặng tham, sân, si.

V.1. Vọng tưởng:

“Khi được an trú, vọng tưởng không có chuyển động. Khi vọng tưởng không chuyển động, vị ấy được gọi là một ẩn sĩ tịch tịnh, do duyên gì được nói đến như vậy?”. Tại sao nói như vậy? Cái này mình học mình sẽ thấy bất ngờ lắm, bất ngờ cái chữ “vọng tưởng”. Ngày xưa mình học, là mình ngồi mình suy nghĩ về một cái gì đó gọi là vọng tưởng. Đức Phật dạy không phải như vậy, từ “vọng tưởng” Đức Phật nói sâu xa lắm (bây giờ thầy nói theo văn tiếng Việt mình cho dễ, chứ theo văn ở đây là ngữ pháp nước ngoài nên đọc khó hiểu lắm). “Này các Tỳ-kheo, mình nghĩ rằng “tôi là” đó là vọng tưởng”, tức là một sự tưởng tượng sai lầm, hư dối. Mình có một ý nghĩ “tôi là”, thì cái ý nghĩ “tôi là” hay cái quan niệm “tôi là”, cách nhìn “tôi là” đó, nó là vọng tưởng. Thấy khác không? Khác với hồi xưa giờ mình học rất nhiều. Cho nên, nếu mình không học từ cái gốc kinh của Đức Phật, mà chỉ học cái bên ngoài của người này, người kia nói, mình tưởng đâu cái đó là đúng, là chết, là sai rồi.

Thế nào là vọng tưởng? “Tôi là”, “tôi là cái này”, “tôi sẽ là”, “tôi sẽ không là”, bốn cái này đều xoay quanh cái tôi, tập trung vô cái tôi, vô cái bản ngã. Khi nào mà suy nghĩ có một cái tôi, có một cái ảo tưởng về tự ngã, thì lúc đó là vọng tưởng. Tức là cái ý tưởng sai quấy, cái nhìn nhận hư vọng, không đúng. Thì xem mỗi ngày mình nhìn nhận có đúng không? Lúc nào cũng “tôi là” hết, tôi sẽ là cái này, tôi sẽ không là cái đó. Lúc nào mà có khái niệm về tôi là, tôi sẽ là, tôi là cái này… là vọng tưởng. Thí dụ như “tôi sẽ là một vị pháp sư, trụ trì gì đó”, là vọng tưởng. “Tôi là Thích Minh Thành”, vọng tưởng. “Tôi là chủ trì Linh Quy Pháp Ấn”, vọng tưởng. “Tôi sẽ không là cái gì hết”, vọng tưởng luôn. Tại vì có “tôi”, thấy lúc đó có “tôi”, thì đó là vọng.

Vậy khi nói chuyện với người khác gì nói làm sao? (không lẽ xưng là “ngộ” hả?). Mình vẫn sử dụng bình thường (chỗ này là chỗ rất là sâu sắc nha), khi nói chuyện thì ngôn ngữ mình vẫn sử dụng bình thường như mọi người. Nhưng trong cái nhìn, cái suy nghĩ, khái niệm của mình không có cái tôi “sắc là do tứ đại kết hợp, cái đó là tứ đại mình có tôi”. Đó là thâm sâu sâu đó, chỗ này mới phá được vọng tưởng, phá được nguồn gốc của vọng tưởng. Còn những cái mà khi ngồi mà nghĩ này, nghĩ kia, thì cái đó là cái ngọn, mà ở trên cái ngọn thì mình ngắt hoài, đến chừng nào xong, thì nhìn xuống ở dưới gốc của nó là cổ thụ ngàn năm vẫn còn. Mà mình đi ngắt những cái ngọn ở trên cái suy nghĩ đó thì làm sao được. Bứng chỗ nguồn gốc của suy nghĩ sai lầm, đây là tu đến tận căn nguyên triệt để, cái này mới gọi là trực chỉ, chỉ thẳng vô cái gốc luôn.

“Tôi sẽ có sắc, tôi sẽ không có sắc, tôi sẽ có tưởng, tôi sẽ không có tưởng” nói chung là xung quanh cái tôi đó (tôi là, tôi sẽ không là). “Tôi sẽ trở thành cái gì đó, tôi sẽ có cái sắc tươi, cái dáng tôi là như vậy đó, có cái tưởng về tôi, về hình bóng tôi như vậy đó, ngồi tưởng ra hình bóng này nọ kia”. Tất cả những cái đó, đều chung quanh vọng tưởng, một hình bóng hoàn toàn sai lầm trong vô minh, vô trí thức. Khi nào hình bóng đó khởi lên “ờ tứ đại, cái này chỉ là sắc tưởng, chỉ là hình bóng về sắc chất ở bên ngoài, cái này là pháp duyên sanh, pháp vô thường, pháp khổ, pháp chịu sự biến hoại, pháp tan nát, pháp đổi dời, không có gì là tôi, là của tôi trong đây hết” Mình khởi lên được cái suy nghĩ đó là Chánh Tư Duy, Chánh Như Lý Tác Ý, Chánh Trí Huệ. Từ từ mình sẽ xả ly cái tôi là thắng Thánh huệ thí, tối thắng Thánh huệ thí. Sâu sắc không?

(Cái này không ngồi thiền, không có khóa tu mười bốn tiếng thì làm sao giảng cái này nổi. Cho nên để dành hai tháng rưỡi rồi mới dám giảng bài kinh này).

Mình ngồi mình tưởng “tháng sau tôi sẽ làm cái gì đó, mai mốt năm, bảy năm nữa tôi sẽ trở thành cái gì đó”, tất cả cái đó, nếu mình không thấy nó là vọng tưởng, thì mình sẽ nghĩ tiếp tục, rồi ngày mai, tuần sau, tháng sau mình cũng nghĩ như vậy nữa, là mình nuôi dưỡng vọng tưởng và mình đi theo cái vọng tưởng đó. Đến khi mình gần chết, mình cũng sẽ chờ “khi tôi chết tôi sẽ đi đâu đó”, mình nuôi tiếp tục, thì nó đi nữa, nó dẫn mình nữa. Mà cái đó chưa chắc là thật, cái đó chỉ là tưởng, là ảo tưởng thôi.

“Này các Tỳ-kheo, vọng tưởng là bệnh, vọng tưởng là cục bướu, vọng tưởng là mũi tên. Này các Tỳ-kheo, khi vượt khỏi mọi vọng tưởng, vị ẩn sĩ được gọi là tịch tịnh”. Khi nào mà trong tâm mình nghĩ rằng “tôi như vậy, mà tại sao nói như vậy? Tôi hiểu biết như vậy, mà tại sao nói tôi không biết? Tôi tốt, tôi lo cho mọi người như vậy, mà còn chê”.

Thì tất cả cái đó mình phải quán “đây là bệnh, cái suy nghĩ này là bệnh, cái suy nghĩ này là cục bướu, mũi tên, nó đang đâm vô mình đó, dẹp cái suy nghĩ này ra, suy nghĩ này là vọng tưởng, mà vọng tưởng là bệnh, là cục bướu, là mũi tên, mình phải vượt qua khỏi mọi vọng tưởng này, mình mới trở thành vị ẩn sĩ tịch tịnh”.

Tu cái này mà không vào Niết bàn thì là điều phi lý, tất cả cái này đều là cửa ngõ dẫn đến Niết bàn hết. “Nhưng này Tỳ-kheo, vị ẩn sĩ tịch tịnh, không sanh, không già, không có dao động, không có mong cầu” (trong đây khi dùng từ là hy cầu tức là hy vọng và mong cầu).

“Vì không có cái gì do đó có thể sanh, này các Tỳ-kheo, không sanh, làm sao già được?” Không có cái gì từ đó có thể sanh, những điều kiện của sự thọ sanh không có, thì không sanh làm sao già được?

“Không già, làm sao chết được? Không chết, làm sao dao động được? Không dao động, làm sao mong cầu?” Bởi vì tất cả các sanh y bị này đoạn tận, xả ly, mà đã xả ly những điều kiện đưa đến thọ sanh. Thì không sanh, làm sao già? Không già, làm sao chết? Không chết, thì làm sao có sự dao động? Không dao động, thì làm sao có mong cầu? (Có mong cầu, mới có dao động, mà có dao động mới có sanh diệt, là chết. Có sanh diệt, có chết thì đương nhiên là phải có sanh, có sanh rồi mới có tử. Mà tại sao có sanh? Là có những nguyên nhân đưa đến thọ sanh thì mới có sanh, nên mới gọi là sanh y). Còn bây giờ xả sanh y rồi, quá sức là thâm sâu.

“Này Tỳ-kheo, hãy thọ trì sự phân biệt tóm tắt của Ta về sáu giới”.

Đó là Đức Phật nói bao nhiêu cái, Minh Thành dùng từ là “chiến thuật tâm linh của Đức Phật” đánh vô tất cả mọi mặt hết, để cho mình quán chiếu, mình thấy rõ hết, từ cái thân, từ cái tứ đại, rồi lục đại, rồi sáu pháp, sáu thọ, mười sáu thọ… Rồi bao nhiêu cái vọng tưởng, bao nhiêu cái mười tám ý hành, đánh hết tất cả mọi mặt, đều dùng trí huệ quán chiếu hết. Cho nên mình đặt cái tựa đề là “chiến thuật tâm linh của Đức Phật”.

VI. Phát lồ tâm bất chánh:

Sau khi nghe Đức Phật giảng xong,

“Tôn giả Pukkusati nghĩ như sau: Thật sự là bậc Đạo sư đã đến với ta! Thật sự là bậc Thiện Thệ đã đến với ta! Thật sự là bậc Chánh đẳng giác đã đến với ta rồi!

Vị này từ chỗ ngồi đứng dậy, đắp y vào một bên vai, cúi đầu đảnh lễ dưới chân của Thế Tôn và bạch Thế Tôn:

- Tôn giả Pukkusati: Con đã rơi vào một lỗi lầm, bạch Thế Tôn, vì rằng ngu đần, si mê, không khéo léo như con, con đã nghĩ rằng con có thể xưng hô với Thế Tôn với danh từ Hiền giả.

(Nhớ bữa đầu gặp nhau, ông này kêu Đức Phật là Hiền giả, bữa nay nghe giảng xong ông này sám hối. Đây là bậc Chánh Đẳng Giác, đây là Đức Thế Tôn, đây là đại Đạo sư của con, mà con ngu si, ngu đần, không khéo léo, con không biết. Cho nên con mới gọi Thế Tôn là Hiền giả, nó giống như huynh đệ ngang hàng vậy đó)

Bạch Thế Tôn mong Thế Tôn chấp nhận cho con lỗi lầm ấy là một lỗi lầm, để con có thể ngăn ngừa trong tương lai.

- Đức Thế Tôn: Này Tỳ-kheo, thật vậy, Ông đã rơi vào một lỗi lầm, vì rằng ngu đần, si mê và không khéo léo vì Ông đã nghĩ rằng Ông có thể xưng hô với Ta với danh từ Hiền giả. Nhưng này Tỳ-kheo, nếu Ông thấy một lỗi lầm là một lỗi lầm, và như pháp phát lộ, thời chúng ta chấp nhận (lỗi lầm) ấy cho Ông. Vì rằng này Tỳ-kheo, đây là sự tăng ích trong giới luật của bậc Thánh, khi nào một ai thấy lỗi lầm là một lỗi lầm, như pháp phát lộ, để ngăn ngừa trong tương lai”.

Chỗ này rất quan trọng, là phương pháp sám hối “phát lồ”, người nào thật sự thấy cái đó là lỗi lầm, mà đem trình bày hết với những vị mà mình thấy mình có lỗi, hay là đại chúng, thì cái đó là sự tăng tích trong giới luật của bậc Thánh. Cho nên mấy huynh đệ được kêu ra sám hối, là sự tăng ích trong giới luật của bậc Thánh. Nếu mình không khéo, mình phi Như lý tác ý, mình giận, mình phiền não lên “Tại sao bắt tôi đi sám hối?” thấy chưa? Thấy khổ không? Thấy mình vô tri không? Kêu mình đi sám hối là cho mình tăng ích trong giới luật của bậc Thánh, mình tăng trưởng mình sẽ lớn mạnh lên. Còn thấy lỗi mà mình không thèm nói nữa là xem như xong, cái đó gọi là “giết”. Trong giáo pháp mà không nói tới nữa, đồng nghĩa với khi mặc tẫn, là đuổi rồi, là chết rồi, không nói tới nữa. Cho nên, mình học mình phải biết, còn mình không học thì mình ở trong cái vô tri, vô trí thức, vô minh, si mê. Mình làm theo bản ngã, theo cái tham, ái, chấp thủ, ta đây của mình. Mình không thấy, không biết gì hết, đau khổ lắm, thương xót lắm, cay đắng lắm. Mà mình tu vậy thì tới chừng nào mới vô tới Thánh Đạo, Thánh Quả. Tu theo kiểu suy nghĩ, kiểu tưởng, kiểu cảm giác, kiểu vọng thức của mình, thì chừng nào mới tới.

VII. Tâm mong cầu học đạo:

“- Tôn giả Pukkusati nói tiếp: Bạch Thế Tôn, Thế Tôn hãy cho con được thọ cụ túc giới trước mặt Thế Tôn

(Cũng biết khôn ghê không, nghe pháp xong rồi, chắp tay xin Đức Thế Tôn truyền giới Tỳ-kheo cho con, dễ gì mà gặp được Đức Thế Tôn. Hồi xưa thời Đức Phật làm gì có email, đâu có gõ dây thép này kia giống như bây giờ. Muốn gặp được Phật đâu phải chuyện dễ, Ấn Độ rộng lớn gồm ngũ Thiên Trúc – năm vùng của Ấn Độ. Mà Đức Phật đi từ nước này qua nước kia, thành này qua thành nọ, vùng này qua vùng nọ, có khi cả năm, hay mấy năm, hoặc suốt đời mới gặp được Đức Phật một lần, hoặc có những người nghe tên, nghe danh Đức Phật mà suốt đời không gặp được. Nên bây giờ gặp được mừng quá, xin thọ giới Tỳ-kheo)

- Đức Thế Tôn: Này Tỳ-kheo, Ông có đủ y bát không?

- Tôn giả Pukkusati: Bạch Thế Tôn, con không có đủ y bát.

- Đức Thế Tôn: Này Tỳ-kheo, các Như Lai không có trao cụ túc giới cho ai không đủ y bát.

Rồi Tôn giả Pukkusati sau khi hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy, từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, thân phía hữu hướng về Ngài rồi ra đi tìm y bát. Trong khi Tôn giả Pukkusati đi tìm y bát, một con bò cuồng chạy, đoạt mất mạng sống (của Tôn giả)”.

Thấy thình lình vô thường, đột ngột tới không? Thầy muốn tạo sự bất ngờ cho mấy huynh đệ là ở đây. Thấy cái chết của mình nó cũng giống như vậy, mình đừng có nghĩ rằng “mình biết trước ngày giờ, mình báo cho mọi người, hay mình đọc bài kệ hay mình làm gì đó” không có đâu. Nếu mình không chuẩn bị từ ngay giờ phút này, bất thình lình nói tới mình không lường được. Và may mắn thay cho vị Tỳ-kheo này, vừa được Đức Thế Tôn nói cho “vô thượng pháp luân”.

Ở cuối bài kinh,

“Một số đông Tỳ-kheo đi đến Thế Tôn, sau khi đến đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên. Ngồi xuống một bên, các vị Tỷ-kheo ấy bạch Thế Tôn:

- Bạch Thế Tôn, Thiện gia nam tử Pukkusati được Thế Tôn thuyết giảng một cách vắn tắt đã mệnh chung. Sanh thú của vị ấy như thế nào, đời sống tương lai như thế nào? (Sanh thú tức là vị đó sẽ sanh về đâu? “Thú” là thú hướng, sanh là sự thọ sanh)

- Đức Thế Tôn: Này Tỳ-kheo, thật là bậc Hiền giả, Thiện gia nam tử Pukkusati, đã chấp hành Chánh pháp và tùy pháp. Và không có phiền nhiễu Ta với những kiện tụng về Chánh pháp. Thiện gia nam tử ấy, sau khi đoạn trừ năm hạ phần kiết sử, được hóa sanh và từ chỗ ấy nhập Niết-bàn, không phải trở lui đời ấy nữa.

Thế Tôn thuyết giảng như vậy. Các Tỷ-kheo ấy hoan hỷ tín thọ lời Thế Tôn dạy.”

Vậy là vị ấy đã chứng quả Bất Lai, Thánh Quả thứ ba ở trong bốn Thánh Quả, sau một bài pháp của Đức Phật lên cõi tịnh cư thiên, không trở về thế giới của loài người nữa. Bây giờ mình mới biết tại sao ông đó biết là Đức Thế Tôn chưa? Ổng vô Thánh quả thứ ba rồi, làm sao ông không biết đó là Đức Phật. Lúc ông ấy sụp xuống đảnh lễ, là lúc đó ông đã vào Thánh Quả rồi, Thánh trí ông ấy sáng tỏ rồi, ông ấy đoạn năm hạ phần kiết sử ngay tại chỗ đó.

Nên ổng ngồi thiền sáng đêm với Đức Phật. Thấy Đức Phật vô ngồi, ông ấy ngồi theo, không dám nằm xuống, mà ông ấy đâu có biết là Đức Phật đâu, ông ấy nghĩ “đây chỉ là một thầy bình thường thôi”. Nhưng thấy ngồi là ông ấy ngồi theo, ông ở cho đến quá nửa đêm (Đức Phật nói ông này được, có thành tính, có sự tin tưởng, và có sự chân thành ở trong sự tu học), thì lúc đó Đức Phật mới nói pháp. Còn nếu Đức Phật ngồi bên đây, mà ông ấy nằm dài (ổng ngáy), thì Đức Phật không nói pháp, và vị ấy cũng không chứng được quả thứ ba, Bất Lai này đâu. Thấy chưa, những cái rất là nhỏ, nhưng mà nó đưa đến “đại thắng duyên”.

Sự chân thành trong tu học, nó chiêu cảm những bậc Thiện trí thức, những bậc Chân nhân, những bậc Hiền Thánh Tăng. Dẫu mình có gặp Hiền Tăng, Thánh Tăng đi nữa, mà mình nói “tôi đâu cần học, tôi biết rồi” thì rồi xong, mình cắt đứt cái duyên, mình mất duyên rồi. Câu “mình biết rồi không cần học nữa” bây giờ nhiều lắm, mất mát vô cùng lớn lao.

Như vậy qua bài kinh này, mình thấy được điều gì? Ở trong bài kinh này không nói, nhưng mà mình phải hiểu ra, sâu xa lắm. Tự nhiên sao Đức Phật đi tới nhà ông thợ gốm mà xin ngủ nhờ một đêm vậy? Bậc Chánh Đẳng Giác có tự nhiên đi làm chuyện vậy không? Vì ở trong đó có vị Tỳ-kheo ở trước, Đức Phật quán chiếu biết được là vị này sắp sửa lâm chung, nhân duyên đã chín muồi, trong cái pháp đó có thể độ được, cho nên Ngài mới đến (Phật không điểm thì thôi, điểm đâu là trúng đó, chứ không giống như mình, mình điểm trật lất à, mình điểm toàn là mấy trái non, mấy trái còn xanh trên cành thôi, mình điểm hoài nó không rụng gì hết. Còn Phật là nó vừa chín tới rồi, chỉ một cái là nó rớt cái xuống liền, mình thì đâu có biết trái nào chín, trái nào non, trái nào sượng, trái nào hư, trái nào sâu đâu. Mình điểm hoài, mà nó không có nhúc nhích, cục cựa gì hết). Mình mới thấy rằng việc làm của bậc Chánh Đẳng Giác từ cái nhỏ nhiệm, đều có nguyên nhân sâu xa. Những bậc Đại thiện tri thức, những bậc Minh nhãn, những bậc đã thành tựu Chánh Tri Kiến, những việc làm của những vị đó mình không lường nổi, mình không hiểu nổi, mình không có tưởng tượng được.

Nếu đem tấm lòng chân thành cung kính cầu pháp thì sẽ được!

./.