Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Kinh Nikāya Giảng Giải - Nghiệp & Quả Báo 15

2026-03-03 00:56:17
Kinh Nikāya Giảng Giải

Nghiệp & Quả Báo 15

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Đức Phật nhận xét Chư Tỷ Kheo PAGEREF _Toc154928852 \h 1

II. Nguyên nhân hòa hợp PAGEREF _Toc154928853 \h 4

III. Tâm hiền trí PAGEREF _Toc154928854 \h 14

I. Đức Phật nhận xét Chư Tỷ Kheo

Kính bạch chư tôn đức, kính thưa chư hiền nam nữ Phật tử, hôm nay chúng ta nghe về bài kinh "Nghiệp" trong Tương Ưng Bộ, tập II.

"Một thời Thế Tôn trú ở Ràjagaha (Vương Xá), tại núi Gijjakùta (Linh Thứu).

Lúc bấy giờ, Tôn giả Sàriputta cùng với một số đông Tỳ-kheo đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

Tôn giả Mahàmoggallàna cùng với một số đông Tỳ-kheo đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

Tôn giả Mahà Kassapa cùng với... không xa Thế Tôn bao nhiêu.

Tôn giả Anuruddha cùng với... không xa Thế Tôn bao nhiêu.

Tôn giả Punna Mantàniputta cùng với... bao nhiêu.

Tôn giả Upàli cùng với... bao nhiêu.

Tôn giả Ananda cùng với... bao nhiêu.

Tôn giả Devadatta cùng với một số đông Tỳ-kheo đang đi kinh hành, không xa Thế Tôn bao nhiêu.

Rồi Thế Tôn gọi các Tỳ-kheo:

-- Này các Tỳ-kheo, các Ông có thấy Sàriputta cùng với một số đông Tỳ-kheo đang đi kinh hành?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

-- Này các Tỳ-kheo, tất cả vị Tỳ-kheo ấy là bậc đại trí tuệ" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, V. Nghiệp)

Đức Phật hỏi các vị Tỳ-kheo có thấy các Tỳ-kheo đi chung với ngài Xá-lợi-phất không thì các Tỳ-kheo trả lời có thấy, sau đó Đức Phật nói những Tỳ-kheo đi chung với ngài Xá-lợi-phất là những bậc có trí tuệ lớn. Ngài Xá-lợi-phất là bậc trí tuệ bậc nhất cho nên những vị Tỳ-kheo đi chung với ngài được Đức Phật gọi là những bậc đại trí tuệ.

"Này các Tỳ-kheo, các Ông có thấy Moggallàna cùng với một số đông Tỳ-kheo đang đi kinh hành?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn

-- Này các Tỳ-kheo, tất cả vị Tỳ-kheo ấy là bậc đại thần thông" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, V. Nghiệp)

Những vị Tỳ-kheo đi chung với ngài Mục-kiền-liên là có thần thông lớn, có oai lực lớn, có sức mạnh lớn.

"Này các Tỳ-kheo, các Ông có thấy Kassapa cùng với một số đông Tỳ-kheo đang đi kinh hành?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

-- Này các Tỳ-kheo, tất cả vị Tỳ-kheo ấy chủ trương hạnh đầu đà" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, V. Nghiệp)

Những vị đi chung với ngài Maha Ca-diếp chủ trương về hạnh đầu đà tức là khổ hạnh, sống nơi núi rừng xa vắng, ngày ăn 1 bữa, tay cầm một bình bát, sống đời ít muốn biết đủ.

"Này các Tỳ-kheo, các Ông có thấy Anuruddha cùng với một số đông Tỳ-kheo đang đi kinh hành?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

-- Này các Tỳ-kheo, tất cả vị Tỳ-kheo ấy là bậc có thiên nhãn" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, V. Nghiệp)

Trong kinh Nikāya dịch ngài Anuruddha là A-na-luật, phiên âm là A-nậu-lâu-đà, ngài là người có thiên nhãn cho nên những vị đi chung với ngài đều là những vị có thiên nhãn. Thiên nhãn là con mắt nhìn thấy biết mọi thứ, thấu suốt mọi thứ.

"Này các Tỳ-kheo, các Ông có thấy cùng với một số đông Tỳ-kheo đang đi kinh hành?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

-- Này các Tỳ-kheo, tất cả vị Tỳ-kheo ấy là bậc thuyết pháp" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, V. Nghiệp)

Tất cả những vị Tỳ-kheo ấy đều là những bậc thuyết pháp đi chung với nhau.

"Này các Tỳ-kheo, các Ông có thấy Upàli cùng với một số đông Tỳ-kheo đang đi kinh hành?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

-- Này các Tỳ-kheo, tất cả vị Tỳ-kheo ấy là bậc trì luật" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, V. Nghiệp)

Tất cả những vị Tỳ-kheo đi chung với ngài Upàli là những bậc trì luật, là những vị giữ gìn giới luật.

"Này các Tỳ-kheo, các Ông có thấy Ananda cùng với một số đông Tỳ-kheo đang đi kinh hành?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

-- Này các Tỳ-kheo, tất cả vị Tỳ-kheo ấy là bậc đa văn" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, V. Nghiệp)

Những vị đi chung với ngài A-nan là những bậc nghe pháp rất nhiều.

"Này các Tỳ-kheo, các Ông có thấy Devadatta cùng với một số đông Tỳ-kheo đang đi kinh hành?

-- Thưa có, bạch Thế Tôn.

-- Này các Tỳ-kheo, tất cả vị Tỳ-kheo ấy là ác dục" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, V. Nghiệp)

Ác dục là những tham muốn xấu ác, những người có tham muốn xấu ác thì đi chung với Đề-bà-đạt-đa.

II. Nguyên nhân hòa hợp

"Này các Tỳ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí. Chúng sanh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, V. Nghiệp)

Giới ở đây nghĩa là lãnh vực, là giới vực, là phạm trù chứ không phải là giới luật, giống như ngoài đời có giới doanh nhân, giới trí thức, giới tu hành… Đức Thế Tôn nói rằng tùy thuộc theo giới mà các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi chung với nhau. Liệt ý chí là ý chí hạ liệt, tâm thức thấp kém sẽ đi chung với những người có tâm thức thấp kém, tâm hướng đến chỗ hạ liệt, kém cỏi thì đi chung với những người có tâm trạng kém cỏi đó.

Thiện ý chí là ý chí thiện lành, hiền thiện, hiền trí, những vị này sẽ đi chung với những người hiền chí. Tài xế thì đi chung với tài xế, những người buôn bán thì đi chung với những người buôn bán, bác sĩ thì đi chung với bác sĩ, những tay ăn trộm thì đi chung với ăn trộm, đó gọi là đồng nghiệp, cùng nghề, cùng nghiệp với nhau sẽ chiêu cảm với nhau.

"Này các Tỳ-kheo, tùy thuộc theo giới thời quá khứ, các chúng sanh đã cùng hòa hợp, đã cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí đã cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí. Chúng sanh thiện ý chí đã cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, V. Nghiệp)

Ở đây chúng ta nghe hai từ mới là "thiện ý chí" và "liệt ý chí", ý chí hạ liệt, thấp hèn thì đi chung với những người thấp kém, thấp hèn. Chỗ tâm hướng tới thì gọi là chí hướng, khi nói một người có ý chí là đang nói người đó có hướng tâm làm một việc gì đó, ví dụ có ý chí làm giàu, có ý chí tu hành, có ý chí làm bác sĩ cứu giúp người bệnh.

Như vậy chỗ tâm hướng tới nếu thấp kém thì gọi là ý chí hạ liệt, chỗ mà tâm hướng tới hiền lành, hiền đức, hiền trí thì gọi là ý chí hiền thiện. Hằng ngày mình phải xem tâm mình hướng tới chỗ nào, hằng ngày mình phải xem tâm mình hướng vào nhà bếp nhiều hay hướng ra chợ nhiều, hướng đi du lịch hay hướng vào tụng kinh, nghe pháp, đó là chí hướng của tâm, xem nó hướng tới cái thấp kém, hạ liệt hay hướng tới sự cao thượng, hiền thiện.

"Này các Tỳ-kheo, tùy thuộc theo giới thời vị lai, các chúng sanh sẽ cùng hòa hợp, sẽ cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí sẽ cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí. Chúng sanh thiện ý chí sẽ cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí.

Này các Tỳ-kheo, tùy thuộc theo giới hiện tại, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sanh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí. Chúng sanh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, V. Nghiệp)

Ở đây Đức Phật nói cả ba thời, thuở xưa họ cũng hòa hợp với nhau, họ đã từng đi chung với nhau, sau này họ cũng sẽ hòa hợp, đi chung với nhau, những người thấp kém sẽ đi chung với người thấp kém, những người hạ liệt sẽ hòa hợp với người hạ liệt, những người thấp kém sẽ làm bạn với những người thấp kém, còn người có ý chí hiền thiện sẽ đi chung với người hiền thiện, sẽ kết hợp với người hiền thiện, sẽ tu học với người hiền thiện.

Chúng ta cùng học, cùng tu, gọi là đồng đạo, đồng tu, đồng phạm hạnh, hiện giờ chúng ta đang thể hiện ý nghĩa của những từ này, chúng ta cùng hướng tâm đến Phật pháp nên chúng ta cùng có mặt trong giờ phút này. Nếu có tâm hướng đến đi ăn, đi nhậu, đi chơi, đi đánh bài thì giờ này không có mặt ở đây, như vậy Đức Phật nói tâm nếu hướng đến chỗ thấp kém, hạ liệt thì mình sẽ kết hợp với những người đó, đi chung với họ không những trong hiện tại mà trong quá khứ đã từng và trong tương lai sẽ như vậy.

Nếu tâm mình hướng tới đạo pháp thì mình gặp nhau ở chùa, gặp nhau trên diễn đàn Phật học, gặp nhau ở đạo tràng, trong khóa tu, nếu tâm hướng đến ăn chơi, đi du lịch thì mình sẽ gặp nhau ở chỗ khác, nếu tâm hướng đến việc kiếm tiền thì gặp nhau ở chỗ khác, nếu tâm hướng đến sự sân si, hơn thua thì gặp nhau ở chỗ khác, nếu nặng hơn thì gặp trong bệnh viện, trong tù, nghĩa địa, nặng hơn thì gặp trong địa ngục, nặng hơn nữa thì gặp nhau trong loài súc sanh.

Tất cả những cái gặp nhau đó đều do tâm hướng giống nhau, tương ứng với nhau, đồng đẳng với nhau, đồng nghiệp, cùng nghề giống nhau thì gặp nhau. Trên thế giới cán mốc 8 tỷ người, có biết bao người mình không gặp mà lại gặp ngay người là chồng mình? Có biết bao người tại sao mình lại gặp người là vợ mình? Có ai biết tại sao phải là người đó không? Tức là mình phải là đồng nghiệp với nhau, cộng nghiệp với nhau, tương ứng, tương thích với nhau.

"Ví như, này các Tỳ-kheo, phẩn cùng hòa hợp, cùng đi với phẩn; nước tiểu cùng hòa hợp, cùng đi với nước tiểu; nước miếng cùng hòa hợp, cùng đi với nước miếng; mủ cùng hòa hợp, cùng đi với mủ; máu cùng hòa hợp, cùng đi với máu. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp với nhau, cùng đi với nhau. Các chúng sanh liệt ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh liệt ý chí" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, VI. Kinh Với Các Bài Kệ)

Đức Phật ví dụ rất vi diệu, rất dễ hiểu, phân sẽ đi chung với phân, sẽ hòa hợp với phân, nước tiểu sẽ đi chung với nước tiểu, sẽ cùng hòa hợp với nước tiểu, nước bọt sẽ cùng đi chung với nước bọt, sẽ cùng hòa hợp với nước bọt, mủ sẽ cùng hòa hợp với mủ, đi chung với mủ, máu cùng hòa hợp với máu, cùng đi chung với máu.

"Ví như, này các Tỳ-kheo, sữa cùng hòa hợp, cùng đi với sữa; dầu cùng hòa hợp, cùng đi với dầu; thục tô cùng hòa hợp, cùng đi với thục tô; mật ong cùng hòa hợp, cùng đi với mật ong; mật mía cùng hòa hợp, cùng đi với mật mía. Cũng vậy, này các Tỳ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng sanh thiện ý chí cùng hòa hợp, cùng đi với chúng sanh thiện ý chí" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, VI. Kinh Với Các Bài Kệ)

Thục tô là sữa đông, nói dễ hiểu giống như sữa chua bây giờ. Đức Phật ví dụ có hai vế, một vế là phân, nước tiểu, nước miếng, mủ, máu là ví dụ cho ác bất thiện pháp, những ý chí hạ liệt, thấp kém, bất tịnh, vế thứ hai là sữa, dầu, phô mai, mật ông, mật mía là những món ngon, bổ béo là ví dụ cho thiện pháp.

"Thế Tôn thuyết như vậy. Thiện Thệ thuyết như vậy xong, bậc Ðạo Sư lại nói thêm:

Liên lạc, dục tình sanh,

Liên lạc, không được đoạn,

Như leo tấm ván nhỏ,

Bị chìm giữa sóng lớn.

Cũng vậy, đến kẻ nhác,

Kẻ sống thiện cũng chìm.

Do vậy, hãy tránh xa

Kẻ nhác, không tinh tấn,

Hãy cọng trú bậc Hiền,

Bậc Thánh sống viễn ly,

Thường siêng năng tinh tấn,

Tinh cần tu Thiền tịnh" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, VI. Kinh Với Các Bài Kệ)

Hôm nay chúng ta kết hợp 3 bài kinh.

-- Này các Tỳ-kheo, tùy thuộc theo giới, các chúng sanh cùng hòa hợp, cùng đi với nhau.

Kẻ bất tín cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ bất tín. Kẻ không biết thẹn cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ không biết thẹn. Kẻ không biết sợ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ không biết sợ. Kẻ ít nghe cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ ít nghe. Kẻ biếng nhác cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ biếng nhác. Kẻ thất niệm cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ thất niệm. Kẻ ác tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ ác tuệ" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, VII. Bất Tín)

Bất tín là không tin vào tam bảo, không tin Phật pháp, những người này sẽ chơi chung với nhau. Không biết thẹn là không có tàm, tức là sự hổ thẹn, những người làm sai, làm quấy, làm tội, làm lỗi, làm xấu ác nhưng không thấy xấu hổ, những người đó sẽ chơi với nhau. Những kẻ không biết sợ, điếc không sợ súng, mù không biết sợ vực thẳm trước mắt, người điên không sợ nguy hiểm tai nạn, leo lên nóc nhà la hét, leo lên cột điện không biết sợ, những người như vậy đi chung với nhau, tức là vô tàm vô quý, không biết xấu hổ, sợ hãi. Ít nghe là ít học, ít nghe chánh pháp, ít học Phật pháp sẽ đi chung với nhau, kẻ biếng nhác sẽ hợp gu với kẻ lười biếng cho nên ngoài đời gọi là "đồng thanh tương ứng, đồng khí tương cầu", tụm 5 tụm 7 những người ăn không ngồi rồi, những người biếng nhác, không chịu nỗ lực làm việc, rủ nhau đi trộm cắp. Những người không có chánh niệm, không có oai nghi, không thực tập thiền, thất niệm thì họ sẽ chơi chung với những người giống vậy. Ác tuệ là có sự thấy biết xấu ác, họ thông minh nhưng theo kiểu ranh mãnh, tinh quái, xảo trá, lừa đảo thì họ chơi với những người cũng giống như vậy, ác tuệ ở đây cũng có thể hiểu là không có trí tuệ của bậc Thánh.

"Kẻ tín cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ tín. Kẻ biết thẹn cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ biết thẹn. Kẻ biết sợ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ biết sợ. Kẻ nghe nhiều cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ nghe nhiều. Kẻ tinh cần cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ tinh cần. Kẻ trì niệm cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ trì niệm. Kẻ trí tuệ cùng hòa hợp, cùng đi với kẻ trí tuệ" (Tương Ưng Bộ, Tập II - Thiên Nhân Duyên, Chương III. Tương Ưng Giới, II. Phẩm Thứ Hai, VII. Bất Tín)

Trên đây nói về bảy tài sản của bậc Thánh, những người có lòng tin sẽ hòa hợp, đi chung với người có lòng tin, người biết hổ thẹn thì đi chung với người biết hổ thẹn, người biết sợ tội thì đi chung với người biết sợ tội, những người nghe nhiều cũng sẽ chọn những người nghe nhiều để chơi chung với nhau, người siêng năng, tinh tấn sẽ đi chung với người siêng năng, tinh tấn, người biết giữ chánh niệm (trì niệm) thì đi chung với những người biết giữ chánh niệm, người có trí tuệ thì đi chung với người có trí tuệ.

Bài kinh thứ nhất "Nghiệp" chính là nghề, là thói quen, tập tính, tập quán, nếu vị thầy đó là người tri thức thì những đệ tử đi theo cũng là những người tri thức, nếu vị thầy đó mê tín dị đoan thì những người đi theo chỉ toàn là mê tín, nếu là vị thầy phong thủy thì những người xung quanh đều là phong thủy, nhìn đâu cũng thấy phong thủy, ông thầy hướng dẫn sự sai lầm, lệch lạc thì những người sai lầm, lệch lạc sẽ đi theo.

Nếu vị thầy là bậc minh sư, chánh kiến thì sẽ tương ứng với những người có tâm sáng suốt, tầm cầu chánh pháp sẽ gặp được những bậc thầy đó cho nên Đức Phật nói rằng những vị Tỳ-kheo đi chung với ngài Xá-lợi-phất đều là những bậc đại trí tuệ, những người xung quanh ngài Mục-kiền-liên đều là những vị thần thông, xung quanh ngài Maha Ca-diếp là những bậc tu hành khổ hạnh, còn ai đi chung với ngài A-na-luật là những bậc có thiên nhãn, còn đi chung với ngài Phú-lâu-na là những vị thuyết pháp, đi chung với ngài Upàli là những vị giữ gìn giới luật, đi chung với ngài A-nan là những vị đa văn, nghe nhiều Thánh pháp, còn đi chung với Đề-bà-đạt-đa là những người ác dục, có những tham muốn xấc ác.

Trong đạo tràng Nikāya phải tu tập tâm hiền từ 8 tháng lên 3 năm, ngày nào cũng phải nhắc nhở tâm hiền, an trú trong tâm hiền hòa, hiền thiện, hiền hậu, hiền tuệ, hiền trí thì mới bước chân theo các bậc hiền Thánh, còn tu mà dữ dằn quá thì làm sao trở thành các hiền giả cho nên điều căn bản của người tu là hiền thiện. Ở đây Đức Thế Tôn dùng từ "thiện ý chí" nghĩa là tâm mình hướng đến chỗ hiền thiện, hiền từ, lương thiện, chữ "hiền" trong Nikāya là chỉ cho bậc hiền Thánh, là bốn đôi tám chúng chứ không phải hiền mà khù khờ.

Chữ "hiền" trong Nikāya là hiền thiện, hiền trí, là bốn đôi tám chúng hiền Thánh, bốn quả và bốn hướng, chỉ những người có ý chí, có tâm nguyện, có hướng đi tới chỗ hiền thiện thì người đó mới tu được, người đó luôn mong muốn trở thành con người hiền lành, hiền thiện, hiền từ, hiền hòa, khi chưa được tâm hiền này thì người đó sẽ xấu hổ, thẹn thùng, ray rứt, lo lắng khi thấy mình còn cảm giác hung dữ, bực bội, cay cú, người này thấy khổ đau, bất an, buồn bã.

Trong bài này Thế Tôn nói về tu học thất Thánh tài, tín lòng tin, giữ giới, văn là nghe nhiều, bố thí, hổ hẹn, sợ hãi và cuối cùng là trí tuệ, đó là tín – giới – văn – thí – tàm – quý – tuệ, đó là bảy gia tài của bậc Thánh cho nên người tu không phải là người nghèo. Nếu tu đúng là thành tỷ phú trong Phật pháp, là người giàu có trong đạo Phật, là thừa hưởng được gia tài của Đức Phật, còn tu không đúng thì càng ngày tham, sân, si càng nhiều hơn, cái tôi càng thêm lớn, cái đó là tu sai rồi. Tu đúng là càng ngày lòng tu càng vững chắc, Đức Phật ví dụ lòng tin giống như cột trụ bằng đá chôn sâu bảy thước, gió thổi cũng không sao cả, đó gọi là tịnh tín bất động, lòng tin không bị lung lay, không bị dao động, Đức Phật nói lòng tin không đủ giống như bông gòn giữa ngã tư bị gió thổi bay tứ tung, vài bữa lại xách giỏ chạy qua pháp này tu, vài bữa lại xách giỏ chạy qua pháp kia tu, đó là lòng tin của mình chưa đủ nên chạy đi tìm mãi, còn lòng tin đã đủ thì không dao động. Tín – giới – văn – thí – tàm – quý – tuệ là bảy tải sản của người tu dù cho tại gia hay xuất gia, tu đúng là phải có được những tài sản này.

Một người đi theo những cái tham muốn xấu ác, sân si, bản ngã, những cái hơn thua, tâm ganh tỵ, đố kỵ, tật đố thì giống như phân hòa hợp với phân, nước tiểu hòa hợp với nước tiểu, nước miếng hòa hợp với nước miếng, còn người có tâm hiền thiện, hiền trí, hiền từ thì giống như sữa hòa hợp với sữa, dầu hòa hợp với dầu, mật ong đi với mật ong. Mình chịu đi chung với sữa, với mật ong hay muốn đi chung với phân, nước tiểu, máu? Mình phải xem lại thân của mình, cái tâm, lời nói của mình như thế nào, Đức Phật nói có ba loại lời nói, nói như phân, nói như hoa, nói như mật.

"- Có ba hạng người này, này các Tỳ-kheo, có mặt, xuất hiện ở đời. Thế nào là ba? Hạng người nói như phân, hạng người nói như hoa, hạng người nói như mật" (Tăng Chi Bộ, Chương III – Ba Pháp, III. Phẩm Người, Nói Như Hoa)

Nói những lời hung ác, hành động bất thiện, tội lỗi, ý niệm đầy rẫy tham, sân, si thì đó là phân, là nước tiểu, nước miếng và mình sẽ gặp những người giống như vậy, trong gia quyến của mình cũng giống vậy thì mới đi chung với nhau cho nên mình không trách ai cả, chỉ có trách mình tại sao không chọn sữa, tại sao không chọn mật ong mà lại đi chọn nước tiểu, phân, mủ máu, đó là ác bất thiện pháp và thiện pháp. Mỗi ý nghĩ, lời nói, hành động của mình có quyền lựa chọn mủ máu, nước tiểu hay sữa, mật ong, phô mai, từ bên trong của mình sanh khởi những thứ đó lên rồi chất chứa, nuôi dưỡng, phát triển và mình sống với những cái đó, bên ngoài sẽ chiêu cảm những con người giống như vậy sẽ thích ứng với nhau, hòa hợp với nhau, cùng đi với nhau. Đức Phật nói:

Liên lạc, dục tình sanh,

Liên lạc, không được đoạn,

Liên lạc nghĩa là đi chơi với người đó, dục tình sanh là có những ham muốn giống họ sẽ sanh khởi lên. Ví dụ lúc nhỏ không biết nhậu, không nghiền thuốc lá, không nghiền bài bạc, số đề, không nghiền bóng đá nhưng khi lớn lên tập tành với những người thích những thứ đó, thuốc một điếu không có gì đâu, uống vài lon đi không sao đâu, nhưng lâu ngày thì nghiền cho nên Đức Phật nói "Liên lạc, dục tình sanh".

Liên lạc nghĩa là qua lại với họ, giao tiếp với họ, tiếp xúc với họ thì những ham muốn đó sanh khởi lên làm mình không cắt đứt được thì gọi là "Liên lạc, không được đoạn", những cái dục đó là những cái khả lạc, khả hỷ, khả ái, khả ý liên hệ đến dục hấp dẫn, có sức hút vô cùng mạnh, rất hấp dẫn. Nhậu có hấp dẫn không? Bây giờ các cô cũng biết nhậu. Đánh bài có hấp dẫn không? Đi du lịch, ăn chơi có hấp dẫn không? Thức sáng đêm xem đá banh có hấp dẫn không? Ngồi tu có một hai tiếng mà đau chân, mỏi lưng đủ thứ, vậy mà đi chơi ba ngày, bảy ngày vẫn không thấy than mệt.

Như leo tấm ván nhỏ,

Bị chìm giữa sóng lớn.

Giữa biển mà mình leo lên tấm ván nhỏ sẽ dễ bị lật, bị chìm.

Cũng vậy, đến kẻ nhác,

Kẻ sống thiện cũng chìm.

Giao du với những kẻ lười biếng, hèn nhác thì dù lúc đầu mình là người tốt nhưng lâu ngày mình cũng bị cái làm biếng, hèn nhác của họ nhận chìm. Sống thiện này là cái thiện bình thường của thế gian, chưa phải là Thánh thiện trong kinh Nikāya. Qua đây mình thấy rằng sự giao du, tiếp xúc rất quan trọng, những người mình gặp phải có nhân, có quả, có nghiệp với nhau chứ không phải tự nhiên gặp nhau, chơi với người nào thì tâm mình, nghiệp của mình, thói quen của mình sẽ tương thích với những hạng người như vậy. Do vậy cần phải tránh xa những kẻ hèn nhác, những kẻ lười biếng, biếng nhác, ở chung với người hiền trí, bậc Thánh sống viễn ly, sống rời xa các sự tham muốn của cuộc đời. Đức Phật khuyên mình nên siêng năng tinh tấn tu tâm an tịnh, thiền định.

Đức Phật nhấn mạnh 3 thời, từ thời quá khứ, thời hiện tại cho đến thời vị lai "các chúng sanh đã cùng hòa hợp, đã cùng đi với nhau", những người mình thân thương trong hiện tại này, đi đâu cũng đi chung, làm gì cũng làm chung thì phải biết rằng trong quá khứ mình cũng đã từng ở chung với họ chứ không phải chỉ mới đây, trong tương lai nếu cùng làm việc, cùng lòng tin, cùng giữ giới với nhau sẽ gặp nhau nữa, còn nếu không giữ giới, không tu bố thí, không có lòng tin tam bảo thì có thể đời sau sẽ đọa xuống địa ngục để gặp nhau, còn nếu tu học tương đối với nhau thì đời sau sẽ gặp nhau nữa, 3 thời cùng hòa hợp, cùng đi với nhau. Chúng ta phải có chí hướng thượng vì điều này rất quan trọng, trong lời giải về pháp của Đức Thế Tôn là "có khả năng hướng thượng, được người trí tự mình giác hiểu".

Khi con hướng dẫn trải từ vô lượng tâm là trải khắp mười phương, có khi kêu mọi người ngẩng mặt lên, đưa hai tay lên trời để trải tâm vô cùng vô tận thì có những người không ngẩng lên, không hướng lên. Ví dụ này để chúng ta biết rằng một người hướng thượng thì người này phải chịu mỏi, chịu khó, tăng thượng ở đây là tăng thượng giới đức, tăng thượng thiền định, tăng thượng trí tuệ, tăng thượng giải thoát và tăng thượng giải thoát tri kiến, tức là không chấp nhận đời sống hiện tại, ngay bây giờ, không dừng lại ở một chút thiện pháp này, mình muốn đức hạnh phải lớn lên thêm, mình muốn những thiện pháp phải tăng thượng thêm, nhìn lại giới mình đã thọ cái nào chưa được thì nỗ lực, cố gắng hoàn thiện, mình chỉ mới ăn chay kì thì bây giờ cố gắng ăn chay trường, đó là sự hướng thượng, mình học định nghĩa ngũ uẩn 1 và 2 nhưng chưa thuộc căn bản trí thì cố gắng học thuộc đó là sự hướng thượng, mình ngồi thiền chỉ được 20 phút thì phải cố gắng ngồi cho được một tiếng thì đó là hướng thượng, tăng thượng tâm học, mình nhận diện ngũ uẩn chỉ mới thấy cái thô chứ cái tế chưa thấy thì mình mong muốn thấy được những cái vi tế trong tâm mình thì đó là tăng thượng tuệ học, đó là Thánh giới, Thánh định, Thánh tuệ và Thánh giải thoát. Nhìn lại thân tâm thấy còn ràng buộc nhiều thứ thì mong muốn được tháo gỡ ra, muốn đi tu mà cứ lo cho con rồi lo cho cháu nên không tu được nên cần tháo gỡ cái này ra để tu, thoát ra được thì gọi là hướng thượng, sự giải thoát của bậc Thánh.

Tâm mình cứ hướng lên như vậy vì pháp có khả năng hướng thượng, không dừng lại. Phải có tâm này thì tu mới tiến, đâu phải cứ học tiểu học mãi, phải có lên lớp, cứ lớp 3 học mãi thì có được không? Mình tu 5 năm mà "con thấy cũng vậy thầy ơi", 10 năm sau gặp lại "con thấy cũng vậy", mình không tăng thượng, không hướng thượng cho nên mình học về nghiệp để mình thay đổi chứ không phải học nghiệp rồi đổ thừa cho nghiệp, không có ý chí phấn đấu, đá nặng thì chìm, còn dầu thì nổi, hôm nay thì phân, mủ máu, nước miếng, nước tiểu đối nghịch với dầu, sữa, phô mai, mật ong. Chúng ta phải biết chọn cái ngon, cái bổ chứ đừng chọn cái dơ cái bẩn, cái hôi thối, bất tịnh, phải lựa chọn thiện pháp, không thấy đủ trong thiện pháp và tăng thượng thiện pháp, cho mình cái tâm hướng thượng mạnh mẽ đối với đạo đức, thiền định, trí tuệ và giải thoát.

Nguyện đem công đức này hướng về khắp tất cả đệ tử và chúng sanh đều trọn thành Phật đạo.

III. Tâm hiền trí

Phật tử: Con xin tri ân bài giảng của thượng tọa, bài giảng hôm nay rất hay, rất sâu sắc. Sắp tới ngày 20/11 toàn thể đạo tràng chúng con xin kính chúc thượng tọa thân khỏe tâm an, luôn là cội Bồ-đề cho chúng con noi theo học chánh pháp.

Con có câu hỏi, như vừa nãy thượng tọa giảng thế giới có 8 tỷ người, con cũng biết thân người khó được, Phật pháp khó nghe, không phải ai cũng hiểu được Phật pháp, không phải ai cũng sống lương thiện, chúng con là phàm phu nên phải sống chung với những người có tính chưa được tốt, xin thượng tọa từ bi chỉ chúng con phương pháp sống, nếu phải sống chung với những người như vậy thì mình nên có tâm thái như thế nào cho phù hợp? Con xin tri ân lời giảng dạy của thượng tọa.

Sư Phụ: Minh Thành có chia sẻ trên trang linhquyphapan.vn "Tầm quan trọng của tâm hiền trí" vừa lý thuyết vừa thực hành khoảng 9 bài là pháp hành của tôn giả Xá-lợi-phất, trong đó ngài dạy 9 pháp an trú tâm.

Nguyện tâm như địa, thủy, hỏa, phong

Rộng rãi, bao dung, chẳng buộc ràng,

Nguyện tâm như miếng nùi giẻ rách

Có gì để lên mặt, hơn thua.

Hai chữ "hiền trí" trong kinh Nikāya là kim chỉ nam của người tu từ cư sĩ cho đến xuất gia, ở bên ngoài mặc tình thay đổi như thế nào nhưng bên trong nếu thực tập được cảm thọ của người hiền thiện thì mình đi đến đâu cũng bình an. Mình không thể đi đến đâu cũng bắt địa cầu này phải trải thảm đỏ cho mình mà mình chỉ cần đôi giày cho thật tốt thì dù cho đi đến đâu thì chân mình vẫn được bảo vệ, mình có giày tốt, có đôi ủng tốt thì dù có chông gai nhưng chân vẫn được bảo vệ cho nên điều căn bản trong sự tu học theo tinh thần Đức Phật trong tạng kinh Nikāya là tu cảm thọ hiền thiện, dễ chịu, dễ thương, ngọt ngào, cái này cực kì quan trọng, cốt lõi cho tự thân mình được lợi ích trước, những người tiếp xúc với mình cũng được dễ chịu, ngọt ngào, từ đó mình sẽ lan tỏa đến những người hung dữ, hung hăng, mình vừa tránh được nghiệp vừa giúp họ đôi phần nhìn lại thân tâm họ, điều căn bản vẫn là tu tập tâm hiền trí.

./.