Nhận diện ngũ uẩn khi ngồi thiền 22.4 14.5 (chỉnh sửa)
Nhận Diện Ngũ Uẩn Khi Ngồi Thiền
THÍCH MINH THÀNH
“Cúi đầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác”
“Cúi đầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác”
“Cúi đầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác”
Con xin mời quý sư cô có những câu hỏi về sự tu học trong tinh thần kinh Nikāya.
Câu hỏi của quý sư cô:
“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Mô Phật, con xin đặt câu hỏi. Lúc ngồi thiền tập trung vào hơi thở con không biết thọ, tưởng, hành của mình.
Trong lúc con ngồi nghe bài quán bất tịnh của thầy thì đến đoạn thầy suy nghĩ với bản thân của thầy là ăn gạo lứt một ngày một bữa nhưng mà trong suy nghĩ đó nó vẫn có cái gọi là bản ngã của mình. Thầy dạy trong lúc nếu mình nói với người khác ngoài hiện tại thì lúc đó là đúng. Còn nếu suy nghĩ như vậy thì là bản ngã. Con xin thầy giảng rõ về vấn đề đó.
Vào đoạn cuối của bài thuyết pháp thầy có nhắc đến sự tinh tấn, xin thầy dạy cho con về tinh tấn. Lúc nào mình cũng nghĩ tinh tấn là lên chánh điện tụng kinh đúng thời khóa hay siêng làm việc và thầy có nhắc đến bốn sự tinh tấn. Con xin thầy giảng giải cho con về sự tinh tấn, về bốn việc tinh tấn đó để con có thể áp dụng hằng ngày ạ.
Khi trải tâm từ mà trải đến đối tượng là người mình yêu thích thì con sinh ra tâm ái. Con không biết lúc đó mình có nên chuyển đề mục qua quán bất tịnh hay không? Mong thầy giải đáp cho con.
Mô Phật, bạch thầy con xin đặt câu hỏi. Lúc con ngồi thiền con chỉ tập trung vào hơi thở của mình thì lúc đó con không biết rõ được thọ, tưởng, hành của mình lúc đó như thế nào. Bạch thầy chỉ dạy cho con.
Mô Phật, bạch thầy con xin đặt câu hỏi. Khi chúng con tọa thiền thì ý thức của con và nhận thức rõ được nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thân căn còn ý căn thì con không rõ như nào? Thầy có thể chỉ rõ cho con ý căng là như thế nào để con quán chiếu.
Kính bạch thầy, kính thưa quý huynh đệ và đại chúng. Con xin phép đặt câu hỏi. Con nghe pháp của cô Chơn Tín Toàn, cô có dạy về ngũ uẩn. Cô có nói để cho mình có được sự lắng dịu thì mình không có đá động đến nó. Vậy thì bạch thầy con có thắc mắc là khi tâm mình yên lặng, không khởi niệm thì mình để yên đó hay là mình tác ý hoặc là mình tu tập như thế nào? Con nghe pháp cô nói mình cứ để yên đó cho nó định, khi nào nó khởi mình mới tác ý. Con không rõ vấn đề này. Mô Phật, mong thầy giải đáp.
Mô Phật, bạch thầy, hôm nay có ba chị em mới, các chị cũng chưa rõ về phép tu ngũ uẩn này và thực hành như thế nào trong đời sống xuất gia. Mong thầy giúp đỡ giùm chúng con trên bước đường tu học. Mô phật con xin hết, con cảm ơn thầy.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Con xin thưa về vấn đề các cô mà mới chưa biết gì hết thì phải nghe pháp. Các cô mà đã vào đây dự khóa tu rồi thì hướng dẫn cho các cô mới thực hành ba pháp và nhận diện năm uẩn. Chứ còn chưa nghe gì hết thì làm sao nói được. Các cô đã dự khóa tu trong đây hướng dẫn cho các cô mới thực hành ba pháp, cảm giác toàn thân, nhận diện năm uẩn. Con sẽ trả lời các câu hỏi theo tuần tự về pháp chứ không theo thứ tự về câu hỏi.
Một vị có hỏi mình chú tâm vô hơi thở thì không có nhận diện được thọ, tưởng, hành tức là không có nhận diện được những cảm giác, những hình bóng trong tâm và những suy nghĩ. Cái này tại vì mình mới, mình chưa quen, mình tập từ từ rồi sẽ quen. Tại vì trước đây mình hay quen niệm một câu Phật, không thôi là thở một hơi thở, không thôi là phồng xẹp gì đó, tâm mình chỉ trú trong một cái cách làm thôi. Còn bây giờ cùng một lúc mình nhận diện những cảm giác nghĩ tưởng và hơi thở nữa thì mình chưa quen nhưng mình tập từ từ rồi sẽ quen. Cảm giác lúc nào cũng có mặt hết, do mình không để ý cho nên mình không có nhận diện được, chỉ cần chịu khó để ý thì mình sẽ nhận diện được cảm giác lúc đó nó như thế nào. Thường thường cảm giác, hình bóng cũng như suy nghĩ nó dính chùm với nhau. Hễ nó suy nghĩ thì nó có những hình bóng, có những suy nghĩ, những hình bóng thì sẽ có cảm giác.
Thí dụ mình đang ngồi thiền mà bỗng nhiên mình nhớ về mẹ mình thì có hình bóng của người mẹ hiện ra, hình bóng đó là tưởng. Có những suy nghĩ không biết giờ mẹ đang làm gì? Khỏe không? Mà nếu lúc đó mình nhớ mẹ mình có bệnh, bị nhức lưng hay là bệnh gan, bệnh thận, lúc mình suy nghĩ về điều đó mình sẽ có một cảm giác lo lắng. Như vậy mình phải tập từ từ mới quen, lúc đầu sẽ không quen vì mình trước đây chỉ quen với hơi thở thôi, bây giờ tâm mình rộng mở, mình để ý là thấy được. Lúc đó có hình bóng của người mẹ ho bệnh hiện ra, có những suy nghĩ lo lắng, có những cảm giác là khó chịu. Rất là đơn giản không có khó tập từ từ đi sẽ quen. Những cảm giác, những hình bóng, những cái suy nghĩ đó nó có mặt nhưng mà do mình chú tâm nhiều vô hơi thở mình không thấy, không cảm nhận được. Bây giờ cái tâm của mình mở rộng ra. Giống như mình bước vô thiền đường Linh Quy Pháp Ấn mình chỉ chú tâm nhìn vô mấy cái ghế tre, mấy cái dãy để ghế tre thì mình không có nhìn thấy được hình Phật. Mà mình chú tâm hình Phật lại không nhìn thấy pháp tòa. Mình chú tâm, hướng tâm mình nhìn qua pháp tòa thì mình lại không thấy hỏa đường. Cũng vậy, tâm mình mà không tu tập đúng cách thì là một cái tâm nhỏ hẹp, chú ý vô cái gì thì nó chỉ biết cái đó thôi. Bây giờ mình tập tâm rộng mở, cũng như mình thực hành ba pháp rõ biết trước mặt vậy đó. Tức là tầm nhìn của mình rộng mở thì mới thấy được có thầy, có cô, có nam nữ Phật tử, có pháp tòa, có hình Phật, có trai đường đó là tâm mình rộng mở. Cũng vậy, trong tâm của mình khi mình thực tập nhìn lại thì mình phải thực tập một sự nhìn nhận đầy đủ, trọn vẹn. Trí tuệ năm uẩn là trí tuệ đầy đủ, viên mãn, đồng đều, trọn vẹn, phổ quát, còn gọi là Chánh biến tri tức là cái biết chân chính, cùng khắp. Còn cái biết của mình trước nay chưa có học trí ngũ uẩn thì cái biết đó là cái biết nhỏ hẹp, biết góc cạnh, biết phiến diện, biết cục bộ. Cho nên bây giờ là mình tập cái biết rộng lớn, rộng mở, cứ tập thì được, ai cũng vậy hết. Lúc đầu Minh Thành không có quen nhưng tập từ từ rồi sẽ quen. Cùng một lúc mình sẽ cảm nhận được hơi thở vào ra, cảm nhận được cảm giác cơ thể, cảm nhận được, thấy rõ được những hình bóng nội tâm, và cùng một lúc mình thấy được những suy nghĩ. Cho nên mình cần có thời gian mà thực tập.
Câu hỏi tiếp theo là hỏi tu về định, về tâm tịnh chỉ ngũ uẩn. Trong bài giảng của cô Chơn Tín Toàn, cô nói khi mình thấy nó yên tịnh thì mình để cho nó lắng dịu. Còn mình thực tập ở bên Như ý tác ý thì mình có sự tác ý, ở đây nó không có sự mâu thuẫn, mà ở đây tùy theo trường hợp mà mình tu. Lúc mà tâm của mình dao động, suy nghĩ nhiều quá, tâm mình đang rối trong trạng thái trạo cử, dao động, lăng xăng, rối rắm, suy nghĩ, căng thẳng thì lúc đó mình phải tu chỉ. Mình không có tác ý, không có quán chiếu tại vì lúc đó nó đang căng, nó đang suy nghĩ nhiều, nó đang dao động mà mình quán nữa thì nó loạn. Thành ra lúc mà nó đang dao động, lăng xăng, trạo cử nhiều thì lúc đó mình phải tu tập chỉ. Mình tập tâm lắng dịu, tâm dễ chịu, tâm an tịnh. Đối với các cô vừa mới biết pháp này cho nên phải thực tập thở vào niệm câu “Tâm lắng dịu”, thở ra niệm câu “Tâm dễ chịu. Tâm lắng dịu, tâm dễ chịu”. Trong những lúc mình khó chịu, bực bội, bất hòa, bị chỉ trích, mình sân mình phải thực tập cái này nhiều. Nhưng đợi tới lúc sân, đợi tới lúc bực bội thì mình mới thực tập thì nó không có kịp. Cho nên mình phải thực tập lúc bình thường: “Thở vào tâm lắng dịu, thở ra tâm dễ chịu, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, an tịnh”. Mình tập nở một nụ cười nhẹ để mình tạo cảm giác hừng hực, nó phừng phực, rừng rực. Những cảm giác mà nó hung hăng, dữ tợn, sân hận được lắng xuống, dịu xuống, an tịnh trở xuống. Thành ra mình phải thấy được hai khía cạnh của sự tu tập tâm: một khía cạnh là đình chỉ, dừng lại, an tịnh và một khía cạnh là mình tác động tâm ý cho nó mạnh mẽ lên. Lúc nó yếu đuối mình phải tác động cho nó mạnh mẽ lên. Lúc nó rã rượi mình phải tác động cho nó tinh cần tinh tấn. Lúc mà yếu đuối mình phải tác ý cho tinh cần, tinh tấn, dũng mãnh, mạnh mẽ, hùng tráng, im lặng hùng tráng, im lặng sấm sét để mình đánh đuổi cái hôn trầm, đánh đuổi cái tâm lười biếng, thụ động. Cho nên là mình phải biết cách dụng tâm trong tùy trường hợp chứ không phải lúc nào mình cũng quán hết, hay là lúc nào mình cũng chỉ hết. Phải biết vận dụng đúng thời điểm, đúng lúc, đúng trường hợp. Như là bệnh cảm phải uống thuốc cảm, đau bao tử phải uống thuốc đau bao tử cho nên chính vì những chỗ đó mà mình phải học, Mình phải học mình mới biết được khi nào thì dùng cái gì, khi nào thì mình dùng cái thuốc gì, lúc nào mình dùng cái pháp gì? Nếu mà mình không nắm vững được pháp thì tới lúc tâm mình nó vận hành, lúc đó mình không biết đặt để chỗ nào hết, mình không biết sử dụng ra làm sao, mình bị lẫn lộn cái pháp thì mình sẽ không có thành công. Cho lên lúc mình loạn như vậy mà mình quán nữa thì rất là căng, nó mệt mỏi lắm. Còn lúc mà cái tâm rã rượi, buồn ngủ mà mình chỉ, mình kêu nó lắng dịu, lắng dịu thì nó dịu luôn, rồi nó ngủ luôn cho nên phải biết sử dụng.
Câu hỏi về tinh tấn là mình phải luôn luôn tác động tâm ý của mình, luôn luôn giữ lửa, châm dầu, thêm nhiên liệu, bỏ củi vô để cho ngọn lửa tu tập của mình không có bị giảm thiểu, không có bị tắt. Mà nó phải luôn luôn cháy, luôn luôn rực cháy, luôn luôn bừng cháy, luôn luôn tỏa sáng bằng cách quan trọng nhất vẫn là cách mình nghe pháp. Mỗi một ngày mình ăn cơm ba cử thì nó nuôi cái thân xác, mà mình là nghe pháp tức là nó nuôi phần tinh thần tu tập của mình. Cho lên nghe pháp là một chất bổ dưỡng để nó nuôi sự tu học của mình. Chữ “tinh” là ròng rặc, không có lẫn lộn, tinh chuyên, tinh rộng, tinh túy. Chữ tấn là tiến tới, tiến về phía trước, không có dừng lại, không cho dừng lại chứ đừng nói chi là lùi.Con mời thầy Pháp Từ đọc bốn pháp tinh cần. Nhắc lại mấy bài kinh cho mấy sư cô nghe.
Thầy Pháp Từ:
“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý sư thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin phép được đọc 4 cái tinh cần mà đức Phật chỉ dạy trong kinh tạng Nikāya. Tinh cần thứ nhất là tinh cần hộ trì các căn. Tinh cần thứ hai là tinh cần đoạn tận tham, sân, si. Tinh cần thứ ba là tinh cần tu tập Bảy giác chi hay là tu tập Tứ Niệm Xứ. Và tinh cần thứ tư là tinh cần nhìn thấy những thiện pháp đã có, đã tu tập được.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Như vậy cái tinh tấn của mình không có nói chung chung. Trước nay học theo truyền thống, mình nghĩ tinh tấn là nên tụng kinh nhiều, niệm Phật nhiều, làm công chuyện chùa nhiều thì đó là cái quan niệm thông thường. Còn trong kinh tạng Nikāya, Đức Phật dạy tinh cần, tinh tấn là phải ở bốn phương diện. Thứ nhất là mình phải tinh cần hộ trì, là mình phải thường thường, luôn luôn và nhớ giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Giữ gìn con mắt của mình, khi mắt của mình tiếp xúc với sắc không có nắm giữ tướng chung, không có nắm giữ tướng riêng. Những ác bất thiện pháp nó sanh khởi thì lúc đó mình phải nỗ lực đoạn trừ, tức là mình phải biết giữ gìn cái con mắt. Nói tiếng Việt mình dễ hiểu là giữ gìn con mắt, nếu mình nhìn cái gì mà nó làm mình sanh khởi lên cái ác và bất thiện pháp thì đừng có nhìn. Những đối tượng làm mình sanh khởi ra dục, tham, ái; những đối tượng làm cho mình sanh khởi ra sân hận, bực bội, tức tối, khó chịu; những thứ làm cho mình sanh khởi ra đam mê, dính mắc thì mình phải không nhìn, hạn chế nhìn và giữ gìn con mắt. Đó là sự tinh tấn, chứ không phải người tu cái nào cũng nhìn hết, phải giữ gìn con mắt của mình. Thí dụ mình biết người kia không ưa mình, mình đừng có để ý người ta, bây giờ trong lúc mình chưa có hóa giải được, người ta chưa thông cảm cho mình được thì mình càng để ý người đó, mình càng nhìn kĩ người đó thì cái tâm sân của mình có sanh khởi không? Càng để ý cái người mà người ta không ưa mình thì lúc đó cái tâm mình dễ chịu hay khó chịu? Nhìn ánh mắt thôi là đã khó chịu rồi phải không? Rồi có khi họ nói cái này cái kia, rồi hành động nữa thì lúc đó mình phải hạn chế, phải giữ gìn con mắt.
Lúc đó mình cũng phải biết giữ gìn lỗ tai của mình, cái nào nghe, cái nào không nên nghe, và cái nào nghe rồi cũng như không nghe, chỗ này là cái chỗ hơi khó. Những người thông thường một là nghe, hai là không nghe, nhưng mà người tu có cái chỗ đặc biệt là nghe mà không có thọ nhận, đây là công lực của người tu. Lỡ nghe rồi tại vì chỗ đó mình không thể không nghe, tại giờ họ nói mà, lỡ nghe rồi nhưng mà mình nghe mà mình không thọ, tức là mình xả tâm ngay lập tức, cái này là cái mà mình phải thực tập đó. Thành ra sự phòng hộ ở đây là phải đi chung với sự tu tập để giảm thiểu và đoạn tận tham, sân, si. Tại vì cái nghe đó mà nó sanh khởi lên cái sân thì ngay lúc đó là mình phải sử dụng cái tinh tấn của tu tập. Tức là mình tác ý, ngay lập tức hóa giải cái cảm giác đó liền. Khi mình nghe cái câu đó thì mình thấy trong này nó biến động, giữa lồng ngực cái cảm giác của mình trong này nó biến động, nó thay đổi. Mình phải ngay lập tức tác ý “Cái cảm giác này là cái cảm giác thiêu đốt, cảm giác này là cái cảm giác cháy bỏng, cái cảm giác này là cái cảm giác đốt nhau, làm khổ cho nhau, cảm giác này là cái cảm giác ác, tàn ác”. Mình tác ý để mình làm cho nó tan, đánh tan cái cảm giác bực bội, khó chịu, sân hận khởi lên thì đó là sự tinh tấn tu tập.
Thành ra tuy mình nói bốn cái khác nhau nhưng thật ra nó diễn ra cùng một lúc. Sử dụng nó hài hòa, hòa quyện, liên kết với nhau để nó hoàn thành công phu tu tập của mình. Nếu như mình không có tinh tấn tu tập để nhìn lại thân thể, nhìn lại những cảm giác nghĩ tưởng, và sự vận hành của tâm thức gọi là Tứ Niệm Xứ, nếu mình không thường trực mình nhìn lại cái cảm giác toàn thân sao mình biết trong đây cái lồng ngực bây giờ có chuyện rồi, trong đây nó nóng lên rồi. Thành ra tuy là mình phân ra bốn cái, mình thấy giống như tinh tấn hộ trì là riêng, giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi là riêng, tinh tấn để đoạn tham, sân, si là riêng, tinh tấn để tu tập Tứ Niệm Xứ, Thất giác chi là riêng, tinh tấn giữ gìn thiện pháp là riêng. Không phải như vậy. Nó xảy ra, vận hành cùng một lúc. Khi mình làm thì mình mới thấy nó không phải từng cái, từng cái riêng. Nếu mình không thường trực kiểm soát hành vi của mình, không thường trực kiểm soát cảm giác của mình thì khi trong này nó bùng lên, nó hực lên một cái mà mình không thấy được là mình nhập cuộc luôn với cái cảm giác. Mình nóng giận thì nó phát ra miệng rồi nó biểu hiện ra hành động, như vậy thì làm sao gọi là tinh tấn nhiếp phục tham, sân, si, tinh tấn tu tập Tứ Niệm Xứ, làm sao mà gọi là mình tinh tấn để mình giữ gìn thiện pháp được. Thiện pháp là vô tham, vô sân, vô si, không có sân là thiện pháp. Cho nên do sự thường trực, để ý oai nghi hành động, cảm giác nội tâm, sự vận hành của các pháp ở bên trong đó nên khi nó sanh khởi là mình phát giác, phát hiện liền. Thậm chí nếu mà nói sâu sắc, sự tu của mình mà bén nhạy là chưa tới lúc nó sanh khởi, nó mới hướng tâm về hướng đó thôi là mình phát hiện liền. Đức Phật gọi là dục tầm, sân tầm và hại tầm. Tại sao thêm chữ tầm mà không nói là dục, là sân, là hại thôi, chứ nói chữ tầm làm chi? Đức Phật không bao giờ dùng dư chữ, cũng không bao giờ dùng thiếu chữ, Chánh Đẳng Chánh Giác mà, mỗi chữ trong đó là cả một cái trí tuệ thâm sâu.
Thế nào gọi là dục tầm? Tầm là cái tâm mình nó hướng tới, hướng tới. Thí dụ mình đang ngồi đây bỗng nhiên có con chó ngoài cửa nó sủa một cái hay có người nào bước vô nói cái tiếng gì đó, thì tự nhiên trong này cái tâm mình hướng tới là quay ra để coi con chó sủa ai hay người nào vô. Khi nó bắt đầu sanh khởi lên như vậy đó thì đó là lúc bắt đầu nó tầm, tức là nó hướng cái tâm nó về đó, rồi sau đó mới làm theo. Khi mà nó khởi lên một cái tầm như vậy, cái hướng tâm như vậy mình chộp nó liền. “Giờ này là giờ nghe pháp trang nghiêm, thanh tịnh, an định không có quay qua”, mình tác ý tức mình chấp, bốc, chụp, mình bắt chụp được những khoảnh khắc mà cái tâm nó hướng đi, nó hướng ngoại. Chỗ đó là chỗ sâu sắc lắm, chỗ bén nhạy, sắc bén của người tu. Sắc bén tức là mỗi cái gì mà nó rục rịch, nó cụt kịch, nó sục sịch, nó manh nha khởi bên trong là mình nhìn thấy được liền và mình bắt chụp cho được. Đó gọi là bậc trí, trí tuệ, nội quán.
Như vậy thì cái tâm nó hướng về dục là mình thấy nó có một cái chiều hướng đó. Cái bóng hồng đó đi qua rồi nhưng mà cũng muốn quay qua nhìn cái dáng phía đằng sau thôi. Cái đó là cái tầm, phải bắt chụp được cái đó. Rồi cái sân cũng vậy, nó muốn kiếm chuyện, nó thấy cái người đó, đi cái dáng qua đó, nó thấy cái mặt là bắt đầu nó để ý, nó dòm, muốn nói cái gì làm cái gì cho hả dạ. Cái để ý, muốn dòm đó thì cái đó là tầm, sân tầm. Cái tâm mình hướng theo chiều hướng nóng giận, phải chụp ngay cái khoảnh khắc đó, hộ trì căn ngay lập tức, quay trở về không thèm dòm cái đó nữa, không để ý cái đó nữa. Quay trở lại cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, chánh niệm trước mặt. Cái đó cũng là tu Thất giác chi tức là Niệm giác chi. Trạch pháp giác chi tức là quyết trạch và chọn lựa trong tâm của mình, thấy được cái nào là thiện cái nào là bất thiện, cái nào là sân, cái nào là tham, cái nào là dục? Cái nào là xả mình phải thấy được. Lúc này mình có tinh tấn, hay là lúc này mình không có tinh tấn. Lúc này mình đang buông lung, hay là lúc này mình đang hộ trì, giữ gìn. Mình thấy được từng pháp, từng pháp ở trong tâm như vậy gọi là Trạch pháp giác chi. Tại sao có sự thấy rõ đó là do sự chánh niệm. Tại sao có được cái chánh niệm đó? Là do phòng hộ, hộ trì căn cho nên nó có cái trình tự trong pháp. Do mình không phóng mắt, tai, mũi, lưỡi của mình ra ngoài, mình lo để ý trở lại thân tâm, nó sâu sắc lắm. Thí dụ tiếng tắc kè thôi mà nế mình không để ý lại thân tâm là cảm giác của mình bị biến động. “Đang nghe tự nhiên kêu hoài à”, trong đây nó rất là mau, siêu tốc luôn đó. Mấy cái nhanh ở ngoài không có nhằm gì đối với tâm của mình hết, nó siêu tốc luôn. Rồi khi mình an trú trở lại, mình coi cái cảm giác của mình nó như thế nào, an trú trở lại không có chạy theo cái tiếng đó. Như vậy do mình hộ trì căn, giữ gìn mắt, tai, thân thể, rồi mình mới để ý cảm giác, mình phải phát hiện bên trong cảm giác nó có cái gì ở trong đó? Nó có tham không? Nó có sân không? Nó có bản ngã không? Nó có dục không? Nó có khó chịu không? Nó có dễ chịu, có khoái không? Nhìn thấy mình mới xử lí, mà xử lí là phải xử lí mạnh mẽ, tinh tấn. Cho lên Niệm giác chi, Trạch pháp giác chi, Tinh tấn giác chi, từng bước từng bước rồi nó đi đến cái chỗ hoan hỉ rồi cái tâm mình nó mới yên định. Khi mình xử lí xong cái là mình khỏe rồi, nó không còn giận nữa rồi trở về cái xả, nó để cho cái vấn đề khó chịu đó được buông xuống thì đó gọi là tinh tấn tu tập. Mà tinh tấn tu tập như vậy thì mình mới giữ gìn được thiện pháp tức là giữ gìn được cái trạng thái tâm không có sân, giữ gìn được cái cảm giác nhẹ nhàng an tịnh, giữ gìn được một cái cảm giác nó ngọt ngào, nó bình dị. Giữ gìn được cái cảm giác đó nó lắng dịu, nó mát mẻ, nó mát rượi, những cái đó là giữ gìn thiện pháp.
Như vậy đó là tinh tấn giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Đó là tinh tấn diệt trừ tham, sân, si, bản ngã. Tinh tấn tu tập Tứ Niệm Xứ, tức là tinh tấn tu tập sự quay lại để ý thân thể, cảm giác, nghĩ tưởng nội tâm mà phát giác phát hiện ra cái thứ ác bất thiện ở trong cái đó để mình xử lí để cho nó tốt. Mình xử lí nó tốt như vậy đó thì cuối cùng mình được tinh tấn, giữ gìn các cái thiện pháp hộ trì các pháp lành. Như vậy thì cái sự tinh tấn của mình là phải biết bảo hộ 6 căn: thứ nhất là giữ gìn cảm giác, rồi cái nội soi ở trong cảm giác đó nó có giống gì ở trong đó, nó sạch hay dơ, nó thơm hay là nó thối hay là nó bình thường. Phải thấy được 3 trạng thái của cảm giác: khó chịu, dễ chịu và không khó chịu, không dễ chịu. Trong cảm giác khó chịu sân nó đi theo miên man trong đó, phải xử lí cái sân đó không được bỏ qua, không có cho nó qua. Phải xử lí để không có chấp nhận cái cảm giác bực bội, mà không có cảm giác tích tụ bực bội, không có chất chứa cái cảm giác bực bội. Ta mà chất chứa nó tới lúc nó mà quá tải, lúc mà nó đổ tới nỗi mà như cái lu hay là cái xô, cái chậu nó tràn ra thì lúc đó mới bung ra ngoài. Mình thấy những cái gọi là giết người, đốt nhà, anh em còn giết hại với nhau, sát hại nhau là không phải chỉ có một hai giọt nước mà lúc đó nó tràn ra rồi. Nó tích tụ từng chút, từng chút tới lúc nó tràn ra cái người ta mới biết nhưng mà thật sự nó không phải là lúc đó, lúc đó chỉ là giọt nước sau cùng thôi. Người tu là mình phải nhìn thấy từng những giọt nước ban đầu nó nhiễu xuống, nó đổ vô để mình giải tỏa từ lúc đầu thì làm sao nó tràn ra được. Chỗ này là chỗ sâu sắc trong thực tập cảm giác, tức là mình không có chấp nhận cái cảm giác sân hận này, cái cảm giác bực bội này, cái cảm giác khó chịu này không cho nó lưu trú.
Con hay ví dụ có người ta đi qua đường cái người ta mình mời người ta vô nhà ngồi chơi xơi nước nói chuyện, rồi thấy hợp rơ, ưa thích xong mời ở lại chơi mấy ngày. Ở lại chơi mấy ngày xong xin cho tạm trú tạm vắng, xin cho tạm trú xong cái mình vô KT3, vô KT3 xong mình nhập hộ khẩu, nhập hộ khẩu xong cái nó đá mình ra khỏi nhà nó làm chủ nhà luôn, ví dụ đó tức là gì? Là cảm giác sân hận lúc đầu nó chỉ là người khách qua đường thôi, nó nhìn thấy người đó là thấy bực bội khó chịu. Lúc đó nó chỉ là cảm giác qua đường thôi, xong mình cho nó lưu trú, cho cảm giác bực bội, khó chịu đó đi vô ở trong người mình, rồi xong mình kéo dài cái thời hạn ra rồi cuối cùng xong mình cho nó tạm trú lâu dài KT3 rồi cuối cùng nhập hộ khẩu luôn. Có rất nhiều Phật tử tới lễ, họ khóc nước mắt trào ra. Chị dâu với em chồng thôi nhưng mà họ khóc 15 năm không hóa giải được, đau khổ, muốn hành động cái gì đó, sân hận với nhau, khúc mắc đó mười mấy năm. Rồi có những người hai mươi mấy năm sân hận, không giải tỏa được, không giải quyết được, nó tích tụ như vậy rồi. Sự tu của mình tinh tấn là gì? Là thấy là xử nó liền, giải tỏa liền cái cảm giác, không cho nó lưu trú, không cho nó chất chứa lưu trữ, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển trong đó. Khi mà mình để cho nó chất chứa ở trong cái cảm giác của mình một cảm giác mà khó chịu, bực bội, sân hận như vậy đó là nó trở thành ung nhọt, sau đó nó tới ung bướu, sau đó tới ung thư mà ung thư tới giai đoạn cuối là không trị được. Như vậy cái nội tâm của mình là mình phải chăm sóc sức khỏe hết sức là quan trọng, đó là sức khỏe của cái tâm. Mình chỉ lo sức khỏe của thân thôi mà không lo sức khỏe của tâm. Trong khi cái tâm của mình là bị suy dinh dưỡng, nó bị suy nhược, suy thoái và thậm chí mang nhiều những chứng bệnh: ung thư, nan y và có thể người ta sẽ chết vì một cái nội tâm mà nan y đó, có không? Bây giờ bệnh trầm cảm rất nhiều, tự vẫn, rồi điên loạn thần kinh. Tất cả những cái đó là một cái nội tâm suy nhược, suy thoái, một nội tâm đầy những bệnh hoạn chất chứa bên trong. Người ta không biết được, không có chăm sóc, lãng quên, họ chỉ lo cái bên ngoài vật chất hình thức, thân xác thôi mà không biết cái gốc của mình là cái tâm. Một người đang khỏe mạnh đang tươi tốt vậy tự nhiên nghe một cái tin tức gì đó, người thân mình bị cái gì đó tự nhiên là sụp xuống mà có khi bị xỉu luôn. Như vậy rõ ràng cái tâm là chủ của thân nhưng mà không lo cho cái tâm, cứ lo thân xác rồi cứ lo cho tài sản, cứ lo cho danh vọng, địa vị mà không biết cái tâm an lạc đó mới là suối nguồn của hạnh phúc, mà cái tâm là gì? Là cái cảm giác, cái chính yếu là cái cảm giác, một cái cảm giác bình an, một cái cảm giác lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, một cái cảm giác cảm thông, tha thứ, thương yêu, mát dịu, đó là cái người hạnh phúc, người an lạc. Còn người khổ thì trong này có cảm giác bực bội khó chịu, những cái cảm giác sân hận, những cảm giác bức bối, bứt rứt, nó dày xéo tâm can mình thì làm sao mà có hạnh phúc. Mình ngồi trên đống vàng, ở trong một căn nhà đầy tiền thì mình cũng đau khổ thôi.
Cho nên mình trở lại vấn đề để nhìn thấy sự tinh tấn không phải để đi làm những cái hình thức ở bên ngoài, mà cái tinh tấn là để mình chăm sóc thân tâm của mình. Một khi mình chăm sóc cái tâm tốt rồi thì cái thân sẽ tốt theo và khi một cái tâm an, cái thân nó khỏe thì đương nhiên hiệu quả của công việc làm nó tuyệt vời. Làm đâu được đó, làm gì là nó tốt lấy, làm cái nào là hiệu quả cũng đạt cái mức tối đa hoặc là ngoài cái sức của người bình thường, ngoài sức tưởng tượng. Chính vì vậy mà Đức Phật dạy là dạy cội gốc của vấn đề chứ Đức Phật không có dạy cành ngọn, cành ngọn không giải quyết được. Một khi mà cái tâm an, cái trí sáng, cái thân khỏe thì người đó làm việc, suy nghĩ, tất cả đều tuyệt diệu hết. Thành ra sự tu học của mình là tinh tấn là tinh tấn vậy đó, tinh tấn chăm sóc giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Tinh tấn đoạn trừ tham, sân, si, bảng ngã, tinh tấn tu tập để nhìn lại nội tâm, quán chiếu tác ý mạnh mẽ để diệt trừ những cấu uế, tinh tấn giữ gìn những cái đẹp, những cái hay, những cái tốt, những cái thiện pháp, những cái hạnh thanh cao thánh thiện của một người tu. Đó là giải thích cái câu hỏi là tinh tấn.
Rồi bây giờ qua câu hỏi về ý, ý xúc. Cái này nó rất là sâu sắc, nhiều khi ngồi thiền 30 năm còn chưa biết nữa. Các cô nói rằng trong 6 thức thì rõ biết về hình sắc, rõ biết về âm thanh, rõ biết mùi, rõ biết vị, rõ biết về đụng chạm, về xúc chạm của thân thể cái đó là 5 thức trước. Cái thức thứ 6 là ý thức, là sự rõ biết được những cảm giác nghĩ tưởng. Ở đây con dùng Tiếng Việt, rõ biết được những cảm giác nghĩ tưởng ở bên trong cái đó gọi là ý thức. Hồi đó đến giờ mình học chung chung, trước nay mình học mình nói ý thức, ý thức mình cũng không biết ý thức là gì? Công năng tác dụng của nó là rõ biết được thọ, tưởng, hành tức là nó phải rõ biết được những cảm giác, những suy nghĩ và những hình bóng trong tâm, đó là công năng là tác dụng của ý thức. Khi trong tâm mình có những cảm giác nghĩ tưởng mà mình không có biết một cách tinh minh, rõ ràng thì ý thức của mình lúc đó là nó mờ. Nó bị chi phối bởi dục, bởi si, bởi sân, bởi những bản ngã thì ý thức nó sẽ mờ, nó không có sáng. Cho nên mình tu tập những cái tham, sân, si, bản ngã nó lắng dịu thì ý thức của mình nó tinh minh, nó sáng tỏ thì nó nhìn thấy rõ những cái gì ở bên trong của nó. Đó là nói về cái chữ gọi là thức, là 6 thức, bây giờ nói ý xúc là gì?
Ý xúc là khi mình ngồi yên, mình không có tiếp xúc với ai hết, nhưng mà lúc đó trong tâm mình hiện về những hình bóng mà mình đã từng tiếp xúc. Thí dụ khi mình đang ngồi thiền, bỗng nhiên mình nhớ lại cái người nào đó mà mình thấy người đó dễ thương, lúc mình nhớ lại như vậy thì trong tâm mình có hình bóng của người đó. Nó có cái cảm giác dễ chịu và nó có cái suy nghĩ xung quanh người đó. Lúc đó mình biết được trong tâm mình đang có hình bóng của người đó, có cảm giác dễ chịu, có suy nghĩ xung quanh người dễ thương đó, mình biết rõ thì cái đó đó là ý xúc – là cái sự tiếp xúc ở bên trong của ý thức. Cái này hơi khó hiểu một chút mấy cô nắm được không? Đầu tiên là mình để ý, con thí dụ bây giờ các cô đang ngồi đó tự nhiên mới để ý tới cái xương sống, nãy giờ ngồi chắc nó hơi mỏi rồi. Khi để ý tới nó tự nhiên mình có một cái sự rõ biết ở chỗ đó, hình bóng phía sau lưng mình nó hiện ra lờ mờ, mình còn có cái cảm giác hơi mỏi mỏi, đau đau vậy đó, có người bệnh thì nhức nhức, rồi mình có suy nghĩ “Nãy giờ ngồi hơi mỏi rồi nha”. Như vậy là do mình để ý chỗ đó thì hình bóng chỗ đó nó hiện ra, cái cảm giác mình nhận biết được. Mình cảm nhận được cảm giác đó rồi mình có suy nghĩ gì xung quanh cái chỗ đó. Như vậy là mình để ý thì lúc đó thọ, tưởng, hành nó sanh khởi, rồi cái ý thức nó rõ biết, nó rõ biết cái chỗ đó mà khi mình không để ý thì lúc đó mình không biết. Chẳng hạn mình đang ngồi, cái mình nói “Nhớ ba quá à!”, cái tâm của mình nhớ ba tức là bắt đầu nó hướng tâm. Hình bóng của ba mình bắt đầu hiện, tâm nó chú ý về cái hình bóng đó, rồi những cái gì mà mình tiếp xúc nó sẽ hiện về. Nó hiện về hình bóng, cảm giác, suy nghĩ, lúc đó ý thức của mình nó rõ biết.
Bây giờ giải thích tương đối như vậy thôi, rồi từ từ tu thêm nữa. Cái này nó còn nhiều cái sâu sắc hơn nữa, chứ bây giờ mới mà tìm hiểu nó sâu quá thì có khi mình sẽ rối. Thêm cái ví dụ nữa cho dễ hiểu. Làm công tác chùa hay gì đó thì tới chiều bỗng nhiên đói bụng. Mình suy nghĩ “giờ mà có cái món bún chả giò chiên, chang nước mắm chay vô, giờ mà có cái món nay thì ngon dữ nha”, lúc đó hình bóng của tô bún chả giò đó nó hiện ra và tưởng. Cảm giác cái lưỡi nó tuôn tuôn nước bọt ra dễ chịu. Suy nghĩ giờ này vô mà có được tô bún chả giò ngon là ngon lành nha. Thì đó là gì? Cái ý thức mà mình biết được có hình bóng đó, có cảm giác đó, có suy nghĩ đó do mình đói bụng mà mình nghĩ tới đồ ăn, mình để tâm suy nghĩ tới cái đồ ăn thì lúc đó nó ra những món đó. Như vậy đầu tiên, ý căn là cái sự để ý, để ý hướng tâm mình về cái chỗ đó. Sau đó là các cái thọ, tưởng, hành nó sẽ sanh khởi ra rồi mình có cái nhận thức về thọ, tưởng, hành đó, hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó.
Thí dụ giống như là trong đêm tối mà mình cầm cái đèn pin mình lia, mình muốn coi cái chỗ nào thì mình đưa cái đèn pin hướng ngay cái chỗ đó. Chỗ đó nó được ánh sáng của đèn pin rọi thì mình thấy chỗ đó, mấy chỗ khác mình không thấy. Ý căn của mình nó giống vậy, tức là mình lia cái đèn pin của tâm mình, dùng con mắt tâm của mình hướng qua chỗ đó thì chỗ đó nó hiện rõ ra. Chỗ đó có đá, có sỏi hay có cái gì đó thì chỗ đó hiện ra. Chỗ mà mình cần, mình muốn thấy, lúc đó hình bóng hiện ra, cảm giác hiện ra, suy nghĩ hiện ra và ý thức của mình nó rõ biết có những thứ đó. Ý căn của mình là chỗ mà để ý tới cái gì thì hiện ra chỗ đó, rồi cái ý thức mình nó nhận biết được, ví dụ này rõ không? Có cầm đèn pin mà đi soi trong tối không? Đi lên núi thế nào cũng có phải không? Như vậy tức là khi mình để ý vô chỗ nào đó, mình để tâm vào chỗ nào đó thì cái chỗ đó nó hiện rõ ra trong tâm mình, và mình không để ý thì nó không hiện ra, thấy vấn đề rõ không?
Thí dụ mình để ý về cái dục, cái tâm mình nó hướng tâm về những cái ham muốn. Thí dụ như ham muốn xe thì hiện ra mấy chiếc xe, hiện ra hết cửa hiệu này đến hàng hiệu kia, trong đó có hình bóng là tưởng. Cảm giác mình leo lên mấy chiếc này đã lắm, suy nghĩ xe gì như vậy tức là hình bóng, cảm giác, suy nghĩ nó hiện ra, ý thức lúc đó nó nhận biết. Bây giờ tâm mình hướng về Đà Lạt, tuy ngồi trên bồ đoàn nhưng suy nghĩ “Giờ Đà Lạt sao ta? Biết dịch thế này có đi chơi gì không? Dịch dịch cũng thấy đi chơi rầm rầm à”. Hình bóng Hồ Xuân Hương nó hiện ra, sữa đậu nành nóng bốc khói buổi tối ở chợ đêm hiện ra, bắp nướng rồi khoai lang, khoai lang lùi nướng lên hiện ra. Cái lưỡi nó có cảm giác khoái khoái nó hiện ra. Như vậy tức là ý căn của mình để ý tới chỗ nào đó, nó cầm đèn pin nó rà vô, nó lia vô thì chỗ đó sáng ra, còn mấy chỗ khác không sáng. Cho lên mới gọi là tâm sanh các pháp sanh. Tâm sanh tức là ý căn để ý vô chỗ đó, nó rọi chỗ đó thì nó sáng ra cái chỗ đó thôi. Rồi bắt đầu là thọ tưởng hành nó sanh, hình bóng đó nó sanh ra, cảm giác đó nó sanh ra, cái suy nghĩ nó sanh ra, cái ý thức nó biết nhiêu đó thôi. Cũng như giận ai, ngồi giận một hồi, nó vận hành trong này rồi ngồi đó bực, mặt mày sậm xị xuống. Rồi gặp ai ngồi kế bên là nói cho nó đã vậy đó, thậm chí là bốc điện thoại lên điện thì tự nhiên nó vận hành, thọ tưởng hành của mình nó cũng vận hành ở trong cái sân đó thôi. Còn thương yêu cũng vậy, nó vận hành nhiêu đó, cái mặt ra làm sao, cái mũi ra làm sao, cái mũi dọc dừa, cái môi ra làm sao. Từng chi tiết hiện ra hết, rồi ở trong đó đắm đuối mê say. Dục sanh khởi, tham sanh khởi, ái sanh khởi, suy nghĩ xung quanh đó hết, thấy cái tâm ghê gớm không? Đó là ý xúc.
Thấy người đó ngồi một mình chứ không phải là ngồi một mình, Đức Phật nói là có mấy mình trong đó chứ không phải một mình. Cái ý xúc này nó khiếp lắm. Vì ý xúc này mà người ta ở một mình không được, người ta ngồi thiền người ta không chịu nổi. Cho nên những cái môn tu niệm câu Phật hay tụng trì chú mình cứ lạy hoài, lạy hoài, làm những cái ở ngoài đó là để không có trực tiếp nhìn vô đó nổi. Cho nên mượn cái này, mượn cái kia làm phương tiện để chặn ở ngoài. Nhìn vô đối diện, trực diện, trực tiếp đối xúc, tiếp xúc với nội tâm là mình chịu không nổi. Bởi vì bao nhiêu cái chất chứa tích tụ hàng chục năm ở trong này, chưa kể vô số kiếp ở trong cái kho tàng rồi nó biểu hiện ra trong tâm. Ý xúc là cái thâm sâu cho nên sự tinh tấn tu tập của mình là soi rọi hết tất cả những thứ đó. Mình thấy được tính chất của tham, sân, si, bản ngã là vô thường, trống rỗng, là những thứ giả dối. Đức Phật có dạy mình quán sắc giống như đồ bỏ, quán thọ giống như bong bóng nước, quán tưởng giống như rắn mặt trời, quán hành giống như bẹ chuối, cây chuối lột ra cái bẹ là không có cái lõi ở trong, quán thức giống như trò ảo thuật. Mình đang ngồi có phải mình đang làm ảo thuật không? Như trò ảo thuật vậy đó, cái bong bóng nước nó nổi nổi lên nó nát, hết cái bong bóng này nó nổi lên tới bong bóng kia. Ngồi đó mình suy nghĩ đủ thứ, nghĩ quá không chịu nổi nó bung, sứt bản lề ra là điên. Nói một mình rồi đánh tầm bậy tầm bạ, tức là trong này nó bung ra hết không chịu nổi nữa, những cái thọ tưởng hành nó không còn trong nữa mà nó bung ra khẩu hành, thân hành luôn, trở thành người điên. Thành ra cái tâm mình nó tuyệt diệu lắm, mình học cái trí ngũ uẩn này rồi mình mới thấy sự tối thượng của Đức Phật là vi diệu, cùng cực. Mình giải mã hết tất cả nội tâm của mình. Nó sanh khởi ra làm sao? Nó an trú làm sao? Nó vận hành làm sao? Nó hoạt động làm sao? Nó làm cho mình đau khổ làm sao? Tất cả là mình đều giải mã hết, vén cái bức màn bí mật vô lượng, vô biên kiếp vừa qua. Cái Thánh trí ngũ uẩn này vén hết bức màn. Còn trước mình có biết gì đâu, mình ngồi lại là “Tui nghĩ, tui tính, tui khó chịu, tui bực mình, tui dễ chịu”, toàn là “tôi” không cái gì cũng gắn với tôi hết. Cái sắc mình gắn chữ tôi là tôi, thân thể tôi cũng gắn cái tôi vô; cảm giác tôi, cũng gắn tôi vô; những hình bóng trong đó là hình bóng của tôi, tưởng là tôi; rồi suy nghĩ đó là tôi suy nghĩ; cái hành cũng là tôi. Còn nhận thức thì khỏi nói, tôi nhận thức, tôi thấy biết, ngũ uẩn đó là tôi, như vậy là chết luôn ở trong đó.
Cho nên mình học cái bài vừa rồi sắc là than đỏ, những cảm giác là than đỏ, những nghĩ tưởng là than đỏ, nhận thức rõ biết là than đỏ. Nếu mà mình không dùng trí tuệ để nhìn năm uẩn thì trở thành 5 cục lửa than, 5 đống lửa than, 5 hầm lửa than. Nó đẩy mình xuống dưới đó, mình ở một mình nhưng ở trong này nhiệt não nóng bức thiêu đốt, nó thiêu đốt tâm can của mình. Cho nên người ta chịu không nổi rồi tự hủy hoại cuộc đời người ta hoặc là sa đọa, trụy lạc, không thôi là tự vẫn luôn, không thôi điên khùng. Có thể là do bị mất tình cảm, không thôi thì bị phá sản, không thôi người thân thương nhất của mình bị cảnh chia ly sinh tử. Tất cả những cái trong này vận hành nếu mình không có phương pháp, không nhìn thấy, không hiểu biết, không có cách hóa giải là bế tắc. Còn mình tu cái này là tất cả mọi cái gì nó đến là mình thấy, mình biết hết và mình có phương pháp hóa giải, mình giải mã hết, đó là tác dụng tối thượng của Thánh trí năm uẩn. Đó là con giải thích sơ về cái ý xúc cho các cô.
Bây giờ tới câu hỏi là con nói ở trong thất con ăn ngày có một bữa. Lúc đó con có suy nghĩ “Mình giờ cũng ngon, mình hay, mình tu được như vậy thì khá” lúc đó con thấy cái suy nghĩ đó là khen mình rồi mình sẽ nói cho người này người kia nghe. Con thấy cái đó danh lợi. Mình tu tập là mình phải luôn luôn quay lại nội tâm, những nghĩ tưởng, cảm giác của mình để mình thấy những cái nào mà nó tăng trưởng cái bản ngã, cái tôi ta. Dầu cho mình làm việc thiện, việc tốt mình cũng không cho cái bản ngã nương theo, không để nó bám vô, nó gá vô, nó bấu vô, nó víu vô cái việc thiện để nó tăng trưởng cái bản ngã. Tại vì chân lí sự thật là cái tôi là trống rỗng, trống không, trống trơn, trong tứ đại mình quán chiếu mình thấy rồi. Mỗi lần suy nghĩ không tương ưng với chân lí vô ngã thì mình đều phải phá dẹp nó, đánh phá nó và đưa nó trở về, thể nhập trí tuệ vô ngã chứ không cho nó đi ngược lại cái bản ngã. Mình phải đánh vỡ cái bản ngã để mình thể nhập cái vô ngã thì chỗ đó mới là cái chỗ bình an, cái chỗ hạnh phúc, chỗ an lạc của người tu.
Câu hỏi của quý sư cô:
“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên thầy, con kính bạch trên quý thầy cùng toàn thể đại chúng. Con có một thắc mắc là thầy có giảng khi tâm ta hướng về cái gì thì hình ảnh của cái đó hiện về trong ta. Hồi bữa tới giờ con cũng mới tập hành thiền, thì chắc chắn thời gian đầu thân thể của con nó rất là mỏi mệt như là lưng con bị đau hay cái chân con bị tê. Vậy để mà con có thể vượt qua cái cảm giác đau của thân thể thì con lên tiếp tục nhận diện nó hay là con nên dẫn qua quán sát hơi thở hay là cần một cái phương pháp nào khác thưa thầy. Dạ con kính bạch trên thầy giúp con.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Ai mà mới ngồi thiền cũng phải qua cái đau, cái tê, cái nhức hết, đó là bắt buộc phải vượt qua quan ải này. Cho nên đầu tiên mình phải sử dụng ý chí để chịu đựng, kiên nhẫn, nhiếp phục đó là cái thứ nhất. Mình phải trải qua cảm giác đó, phải nhiếp phục, phải vượt qua. Mình phải tập từ từ, ví dụ như lúc đầu mình ngồi chừng nửa tiếng, sau mình tăng lên 40 phút, rồi từ từ mình mới tăng lên thêm thêm cho đến một tiếng, nâng lên từ từ, đó là nói về cái thân xác, cảm giác. Giờ nói về mặt phương diện tâm thì mình phải là có nhiều cái tác ý tùy theo cái nào hợp với mình thì mình tác ý “Tại sao mấy huynh đệ làm được mà mình làm không được? Tại sao bao nhiêu người tu khác ở thiền viện người ta ngồi một ngày 4 tiếng, 6 tiếng được mà tại sao mình ngồi có 1 tiếng đồng hồ mà không được? Như vậy là nhục nhã. Người tu mà ngồi thiền không được, thì giống như là thợ mộc mà bào gỗ không được vậy đó, giống như thầy giáo dốt không biết chữ vậy. Cái này là nhục, mình phải làm cho bằng được, mình phải quyết tâm làm cho bằng được”. Rồi mình mới quán tưởng người bên ngoài ở tuổi như mình là phải đi làm thuê, vác mướn, đi ở đợ, đi lau chùi cầu tiêu, đi mà làm vệ sinh hốt rác ngoài đường. Mình quán cái cảnh bao nhiêu người khổ vậy đó ở ngoài đời vậy đó, mà mình giờ chỉ có ngồi thiền thôi không được thì làm cái gì? Nhục! Phải dùng cái tâm tinh tấn hùng liệt, mạnh mẽ tác ý để mà mình là vượt lên, nhiếp phục. Nói chung là đủ cách thức. Mình nhớ cha mẹ cho mình đi tu hi sinh như thế nào, rồi mình nhớ cái gương của Đức Thế Tôn, bậc thái tử mà đi vô rừng nhịn đói, nhịn khát, bão táp mưa sa, nóng bức, ở xứ Ấn Độ là 40, 50 độ C. Nói chung là mình tìm đủ mọi cách để mình tác ý nhiều khía cạnh để cho mình phải nỗ lực phấn đấu, nhiếp phục được cái cảm giác đó rồi mình vượt lên. Làm cho nó phát huy được cái sức tinh tấn, hùng dũng trong thân tâm của mình.
Rồi câu cuối cùng là trải tâm từ. Mấy cô giờ ở tuổi còn thanh thiếu niên, mấy cô cũng rất là trẻ, có 20 tuổi nên tu tâm từ bây giờ cũng chưa có phù hợp lắm. Mình phải tu tập Chánh tri kiến trước, quán bất tịnh nhiều hơn, tu tập Chánh tri kiến nhiều hơn, vô thường khổ, vô ngã. Khi mình trải tâm từ thì mình phải trải thương cho mình trước, phải nghe kĩ mấy cái bài con giảng về tâm từ, nhiều lắm. Phải nghe kĩ, nghe lại, quý thầy sẽ gửi cái tựa bài cho các cô nghe. Tâm từ nó không có giống như mình suy nghĩ là mình ngồi đó mình trải tình thương cho ai, cho ai đâu, mình phải thương mình trước. Hôm trước các cô có hỏi, con cũng có nói rồi trong khóa tu, cần phải xót thương cho cái sự vô minh, tham ái, ngu muội, suy ám của mình. Xót thương cho cái sự luyến ái, chấp thủ vô thân xác bất tịnh. Xót thương cho cái tham, sân, si, bản ngã của mình, xót thương thật là nhiều. Nó trào dâng một cái cảm giác mà xót xa, trắc ẩn đối với chính mình, đối với tất cả chúng sanh mới được. Cho nên trong giai đoạn này là giai đoạn tu tập Chánh tri kiến, quán bất tịnh nhiều hơn. Chứ không phải giai đoạn mới vô tu mà trải tâm từ, mình phải học kĩ cái phương pháp trải tâm từ nhiều hơn mới được. Khi mình trải tâm từ thì mình trải cho mình, trải cho những người ân nghĩa và những cái người đau khổ, như bệnh dịch chẳng hạn. Còn những đối tượng mà có tâm luyến ái thì mình đừng có trải, mình đừng có hướng tâm về cái đó. Nếu mà tâm hướng về cái đó thì mình chuyển hướng cái tâm, chuyển hướng tới những người nghèo khổ, những người bệnh dịch, những người bị thần kinh xiềng xích mười mấy, 30 năm. Đẩy cái hướng vào những cảnh khổ đau nhất của cuộc đời này, những đứa bé mới sanh ra đã bị bỏ rơi trước cổng chùa, bỏ trong thùng rác, bỏ trước bệnh viện, trải tới cái cảnh khổ nhiều hơn. Nhớ rằng trong giai đoạn này là giai đoạn tu tập Chánh tri kiến và quán bất tịnh nhiều hơn. Tại vì còn tuổi trẻ, cần phải nhiếp phục được dục, tham, ái trong giai đoạn nó sung mãn. Mình đặt nặng quán tứ đại, quán 32 thể trượt, quán bất tịnh, tu tập Chánh tri kiến, vô thường, khổ, không, vô ngã. Còn trải về tình thương là mình phải nhớ trải cho chính mình, trải cho những người ân nghĩa mình biết tập nhớ ơn, báo ơn, cảm ơn, đền ơn, trải cho những người khổ đau cùng tột nhất trong xã hội trên thế giới. Còn khi tâm mình nó hướng về những người, những đối tượng ái luyến thì mình phải chuyển hướng liền. Ngay lập tức ngay lúc đó dừng lại cái trải tâm từ mà mình giải phẫu người đó, giải phẫu 32 thể trượt của người đó, giải phẫu tự thân của mình, phá tan cảm giác ái đó xong rồi mình mới trải tâm từ tiếp. Đó là sự linh động, sắc bén, sự khéo léo, thiện xảo trong tu tập của chúng ta.
./.
THÍCH MINH THÀNH
“Cúi đầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác”
“Cúi đầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác”
“Cúi đầu đảnh lễ Đức Thế Tôn, bậc A La Hán Chánh Đẳng Giác”
Con xin mời quý sư cô có những câu hỏi về sự tu học trong tinh thần kinh Nikāya.
Câu hỏi của quý sư cô:
“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Mô Phật, con xin đặt câu hỏi. Lúc ngồi thiền tập trung vào hơi thở con không biết thọ, tưởng, hành của mình.
Trong lúc con ngồi nghe bài quán bất tịnh của thầy thì đến đoạn thầy suy nghĩ với bản thân của thầy là ăn gạo lứt một ngày một bữa nhưng mà trong suy nghĩ đó nó vẫn có cái gọi là bản ngã của mình. Thầy dạy trong lúc nếu mình nói với người khác ngoài hiện tại thì lúc đó là đúng. Còn nếu suy nghĩ như vậy thì là bản ngã. Con xin thầy giảng rõ về vấn đề đó.
Vào đoạn cuối của bài thuyết pháp thầy có nhắc đến sự tinh tấn, xin thầy dạy cho con về tinh tấn. Lúc nào mình cũng nghĩ tinh tấn là lên chánh điện tụng kinh đúng thời khóa hay siêng làm việc và thầy có nhắc đến bốn sự tinh tấn. Con xin thầy giảng giải cho con về sự tinh tấn, về bốn việc tinh tấn đó để con có thể áp dụng hằng ngày ạ.
Khi trải tâm từ mà trải đến đối tượng là người mình yêu thích thì con sinh ra tâm ái. Con không biết lúc đó mình có nên chuyển đề mục qua quán bất tịnh hay không? Mong thầy giải đáp cho con.
Mô Phật, bạch thầy con xin đặt câu hỏi. Lúc con ngồi thiền con chỉ tập trung vào hơi thở của mình thì lúc đó con không biết rõ được thọ, tưởng, hành của mình lúc đó như thế nào. Bạch thầy chỉ dạy cho con.
Mô Phật, bạch thầy con xin đặt câu hỏi. Khi chúng con tọa thiền thì ý thức của con và nhận thức rõ được nhãn căn, nhĩ căn, tỷ căn, thân căn còn ý căn thì con không rõ như nào? Thầy có thể chỉ rõ cho con ý căng là như thế nào để con quán chiếu.
Kính bạch thầy, kính thưa quý huynh đệ và đại chúng. Con xin phép đặt câu hỏi. Con nghe pháp của cô Chơn Tín Toàn, cô có dạy về ngũ uẩn. Cô có nói để cho mình có được sự lắng dịu thì mình không có đá động đến nó. Vậy thì bạch thầy con có thắc mắc là khi tâm mình yên lặng, không khởi niệm thì mình để yên đó hay là mình tác ý hoặc là mình tu tập như thế nào? Con nghe pháp cô nói mình cứ để yên đó cho nó định, khi nào nó khởi mình mới tác ý. Con không rõ vấn đề này. Mô Phật, mong thầy giải đáp.
Mô Phật, bạch thầy, hôm nay có ba chị em mới, các chị cũng chưa rõ về phép tu ngũ uẩn này và thực hành như thế nào trong đời sống xuất gia. Mong thầy giúp đỡ giùm chúng con trên bước đường tu học. Mô phật con xin hết, con cảm ơn thầy.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Con xin thưa về vấn đề các cô mà mới chưa biết gì hết thì phải nghe pháp. Các cô mà đã vào đây dự khóa tu rồi thì hướng dẫn cho các cô mới thực hành ba pháp và nhận diện năm uẩn. Chứ còn chưa nghe gì hết thì làm sao nói được. Các cô đã dự khóa tu trong đây hướng dẫn cho các cô mới thực hành ba pháp, cảm giác toàn thân, nhận diện năm uẩn. Con sẽ trả lời các câu hỏi theo tuần tự về pháp chứ không theo thứ tự về câu hỏi.
Một vị có hỏi mình chú tâm vô hơi thở thì không có nhận diện được thọ, tưởng, hành tức là không có nhận diện được những cảm giác, những hình bóng trong tâm và những suy nghĩ. Cái này tại vì mình mới, mình chưa quen, mình tập từ từ rồi sẽ quen. Tại vì trước đây mình hay quen niệm một câu Phật, không thôi là thở một hơi thở, không thôi là phồng xẹp gì đó, tâm mình chỉ trú trong một cái cách làm thôi. Còn bây giờ cùng một lúc mình nhận diện những cảm giác nghĩ tưởng và hơi thở nữa thì mình chưa quen nhưng mình tập từ từ rồi sẽ quen. Cảm giác lúc nào cũng có mặt hết, do mình không để ý cho nên mình không có nhận diện được, chỉ cần chịu khó để ý thì mình sẽ nhận diện được cảm giác lúc đó nó như thế nào. Thường thường cảm giác, hình bóng cũng như suy nghĩ nó dính chùm với nhau. Hễ nó suy nghĩ thì nó có những hình bóng, có những suy nghĩ, những hình bóng thì sẽ có cảm giác.
Thí dụ mình đang ngồi thiền mà bỗng nhiên mình nhớ về mẹ mình thì có hình bóng của người mẹ hiện ra, hình bóng đó là tưởng. Có những suy nghĩ không biết giờ mẹ đang làm gì? Khỏe không? Mà nếu lúc đó mình nhớ mẹ mình có bệnh, bị nhức lưng hay là bệnh gan, bệnh thận, lúc mình suy nghĩ về điều đó mình sẽ có một cảm giác lo lắng. Như vậy mình phải tập từ từ mới quen, lúc đầu sẽ không quen vì mình trước đây chỉ quen với hơi thở thôi, bây giờ tâm mình rộng mở, mình để ý là thấy được. Lúc đó có hình bóng của người mẹ ho bệnh hiện ra, có những suy nghĩ lo lắng, có những cảm giác là khó chịu. Rất là đơn giản không có khó tập từ từ đi sẽ quen. Những cảm giác, những hình bóng, những cái suy nghĩ đó nó có mặt nhưng mà do mình chú tâm nhiều vô hơi thở mình không thấy, không cảm nhận được. Bây giờ cái tâm của mình mở rộng ra. Giống như mình bước vô thiền đường Linh Quy Pháp Ấn mình chỉ chú tâm nhìn vô mấy cái ghế tre, mấy cái dãy để ghế tre thì mình không có nhìn thấy được hình Phật. Mà mình chú tâm hình Phật lại không nhìn thấy pháp tòa. Mình chú tâm, hướng tâm mình nhìn qua pháp tòa thì mình lại không thấy hỏa đường. Cũng vậy, tâm mình mà không tu tập đúng cách thì là một cái tâm nhỏ hẹp, chú ý vô cái gì thì nó chỉ biết cái đó thôi. Bây giờ mình tập tâm rộng mở, cũng như mình thực hành ba pháp rõ biết trước mặt vậy đó. Tức là tầm nhìn của mình rộng mở thì mới thấy được có thầy, có cô, có nam nữ Phật tử, có pháp tòa, có hình Phật, có trai đường đó là tâm mình rộng mở. Cũng vậy, trong tâm của mình khi mình thực tập nhìn lại thì mình phải thực tập một sự nhìn nhận đầy đủ, trọn vẹn. Trí tuệ năm uẩn là trí tuệ đầy đủ, viên mãn, đồng đều, trọn vẹn, phổ quát, còn gọi là Chánh biến tri tức là cái biết chân chính, cùng khắp. Còn cái biết của mình trước nay chưa có học trí ngũ uẩn thì cái biết đó là cái biết nhỏ hẹp, biết góc cạnh, biết phiến diện, biết cục bộ. Cho nên bây giờ là mình tập cái biết rộng lớn, rộng mở, cứ tập thì được, ai cũng vậy hết. Lúc đầu Minh Thành không có quen nhưng tập từ từ rồi sẽ quen. Cùng một lúc mình sẽ cảm nhận được hơi thở vào ra, cảm nhận được cảm giác cơ thể, cảm nhận được, thấy rõ được những hình bóng nội tâm, và cùng một lúc mình thấy được những suy nghĩ. Cho nên mình cần có thời gian mà thực tập.
Câu hỏi tiếp theo là hỏi tu về định, về tâm tịnh chỉ ngũ uẩn. Trong bài giảng của cô Chơn Tín Toàn, cô nói khi mình thấy nó yên tịnh thì mình để cho nó lắng dịu. Còn mình thực tập ở bên Như ý tác ý thì mình có sự tác ý, ở đây nó không có sự mâu thuẫn, mà ở đây tùy theo trường hợp mà mình tu. Lúc mà tâm của mình dao động, suy nghĩ nhiều quá, tâm mình đang rối trong trạng thái trạo cử, dao động, lăng xăng, rối rắm, suy nghĩ, căng thẳng thì lúc đó mình phải tu chỉ. Mình không có tác ý, không có quán chiếu tại vì lúc đó nó đang căng, nó đang suy nghĩ nhiều, nó đang dao động mà mình quán nữa thì nó loạn. Thành ra lúc mà nó đang dao động, lăng xăng, trạo cử nhiều thì lúc đó mình phải tu tập chỉ. Mình tập tâm lắng dịu, tâm dễ chịu, tâm an tịnh. Đối với các cô vừa mới biết pháp này cho nên phải thực tập thở vào niệm câu “Tâm lắng dịu”, thở ra niệm câu “Tâm dễ chịu. Tâm lắng dịu, tâm dễ chịu”. Trong những lúc mình khó chịu, bực bội, bất hòa, bị chỉ trích, mình sân mình phải thực tập cái này nhiều. Nhưng đợi tới lúc sân, đợi tới lúc bực bội thì mình mới thực tập thì nó không có kịp. Cho nên mình phải thực tập lúc bình thường: “Thở vào tâm lắng dịu, thở ra tâm dễ chịu, lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, an tịnh”. Mình tập nở một nụ cười nhẹ để mình tạo cảm giác hừng hực, nó phừng phực, rừng rực. Những cảm giác mà nó hung hăng, dữ tợn, sân hận được lắng xuống, dịu xuống, an tịnh trở xuống. Thành ra mình phải thấy được hai khía cạnh của sự tu tập tâm: một khía cạnh là đình chỉ, dừng lại, an tịnh và một khía cạnh là mình tác động tâm ý cho nó mạnh mẽ lên. Lúc nó yếu đuối mình phải tác động cho nó mạnh mẽ lên. Lúc nó rã rượi mình phải tác động cho nó tinh cần tinh tấn. Lúc mà yếu đuối mình phải tác ý cho tinh cần, tinh tấn, dũng mãnh, mạnh mẽ, hùng tráng, im lặng hùng tráng, im lặng sấm sét để mình đánh đuổi cái hôn trầm, đánh đuổi cái tâm lười biếng, thụ động. Cho nên là mình phải biết cách dụng tâm trong tùy trường hợp chứ không phải lúc nào mình cũng quán hết, hay là lúc nào mình cũng chỉ hết. Phải biết vận dụng đúng thời điểm, đúng lúc, đúng trường hợp. Như là bệnh cảm phải uống thuốc cảm, đau bao tử phải uống thuốc đau bao tử cho nên chính vì những chỗ đó mà mình phải học, Mình phải học mình mới biết được khi nào thì dùng cái gì, khi nào thì mình dùng cái thuốc gì, lúc nào mình dùng cái pháp gì? Nếu mà mình không nắm vững được pháp thì tới lúc tâm mình nó vận hành, lúc đó mình không biết đặt để chỗ nào hết, mình không biết sử dụng ra làm sao, mình bị lẫn lộn cái pháp thì mình sẽ không có thành công. Cho lên lúc mình loạn như vậy mà mình quán nữa thì rất là căng, nó mệt mỏi lắm. Còn lúc mà cái tâm rã rượi, buồn ngủ mà mình chỉ, mình kêu nó lắng dịu, lắng dịu thì nó dịu luôn, rồi nó ngủ luôn cho nên phải biết sử dụng.
Câu hỏi về tinh tấn là mình phải luôn luôn tác động tâm ý của mình, luôn luôn giữ lửa, châm dầu, thêm nhiên liệu, bỏ củi vô để cho ngọn lửa tu tập của mình không có bị giảm thiểu, không có bị tắt. Mà nó phải luôn luôn cháy, luôn luôn rực cháy, luôn luôn bừng cháy, luôn luôn tỏa sáng bằng cách quan trọng nhất vẫn là cách mình nghe pháp. Mỗi một ngày mình ăn cơm ba cử thì nó nuôi cái thân xác, mà mình là nghe pháp tức là nó nuôi phần tinh thần tu tập của mình. Cho lên nghe pháp là một chất bổ dưỡng để nó nuôi sự tu học của mình. Chữ “tinh” là ròng rặc, không có lẫn lộn, tinh chuyên, tinh rộng, tinh túy. Chữ tấn là tiến tới, tiến về phía trước, không có dừng lại, không cho dừng lại chứ đừng nói chi là lùi.Con mời thầy Pháp Từ đọc bốn pháp tinh cần. Nhắc lại mấy bài kinh cho mấy sư cô nghe.
Thầy Pháp Từ:
“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch sư phụ, con kính bạch quý sư thầy, quý sư cô và đại chúng. Con xin phép được đọc 4 cái tinh cần mà đức Phật chỉ dạy trong kinh tạng Nikāya. Tinh cần thứ nhất là tinh cần hộ trì các căn. Tinh cần thứ hai là tinh cần đoạn tận tham, sân, si. Tinh cần thứ ba là tinh cần tu tập Bảy giác chi hay là tu tập Tứ Niệm Xứ. Và tinh cần thứ tư là tinh cần nhìn thấy những thiện pháp đã có, đã tu tập được.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Như vậy cái tinh tấn của mình không có nói chung chung. Trước nay học theo truyền thống, mình nghĩ tinh tấn là nên tụng kinh nhiều, niệm Phật nhiều, làm công chuyện chùa nhiều thì đó là cái quan niệm thông thường. Còn trong kinh tạng Nikāya, Đức Phật dạy tinh cần, tinh tấn là phải ở bốn phương diện. Thứ nhất là mình phải tinh cần hộ trì, là mình phải thường thường, luôn luôn và nhớ giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Giữ gìn con mắt của mình, khi mắt của mình tiếp xúc với sắc không có nắm giữ tướng chung, không có nắm giữ tướng riêng. Những ác bất thiện pháp nó sanh khởi thì lúc đó mình phải nỗ lực đoạn trừ, tức là mình phải biết giữ gìn cái con mắt. Nói tiếng Việt mình dễ hiểu là giữ gìn con mắt, nếu mình nhìn cái gì mà nó làm mình sanh khởi lên cái ác và bất thiện pháp thì đừng có nhìn. Những đối tượng làm mình sanh khởi ra dục, tham, ái; những đối tượng làm cho mình sanh khởi ra sân hận, bực bội, tức tối, khó chịu; những thứ làm cho mình sanh khởi ra đam mê, dính mắc thì mình phải không nhìn, hạn chế nhìn và giữ gìn con mắt. Đó là sự tinh tấn, chứ không phải người tu cái nào cũng nhìn hết, phải giữ gìn con mắt của mình. Thí dụ mình biết người kia không ưa mình, mình đừng có để ý người ta, bây giờ trong lúc mình chưa có hóa giải được, người ta chưa thông cảm cho mình được thì mình càng để ý người đó, mình càng nhìn kĩ người đó thì cái tâm sân của mình có sanh khởi không? Càng để ý cái người mà người ta không ưa mình thì lúc đó cái tâm mình dễ chịu hay khó chịu? Nhìn ánh mắt thôi là đã khó chịu rồi phải không? Rồi có khi họ nói cái này cái kia, rồi hành động nữa thì lúc đó mình phải hạn chế, phải giữ gìn con mắt.
Lúc đó mình cũng phải biết giữ gìn lỗ tai của mình, cái nào nghe, cái nào không nên nghe, và cái nào nghe rồi cũng như không nghe, chỗ này là cái chỗ hơi khó. Những người thông thường một là nghe, hai là không nghe, nhưng mà người tu có cái chỗ đặc biệt là nghe mà không có thọ nhận, đây là công lực của người tu. Lỡ nghe rồi tại vì chỗ đó mình không thể không nghe, tại giờ họ nói mà, lỡ nghe rồi nhưng mà mình nghe mà mình không thọ, tức là mình xả tâm ngay lập tức, cái này là cái mà mình phải thực tập đó. Thành ra sự phòng hộ ở đây là phải đi chung với sự tu tập để giảm thiểu và đoạn tận tham, sân, si. Tại vì cái nghe đó mà nó sanh khởi lên cái sân thì ngay lúc đó là mình phải sử dụng cái tinh tấn của tu tập. Tức là mình tác ý, ngay lập tức hóa giải cái cảm giác đó liền. Khi mình nghe cái câu đó thì mình thấy trong này nó biến động, giữa lồng ngực cái cảm giác của mình trong này nó biến động, nó thay đổi. Mình phải ngay lập tức tác ý “Cái cảm giác này là cái cảm giác thiêu đốt, cảm giác này là cái cảm giác cháy bỏng, cái cảm giác này là cái cảm giác đốt nhau, làm khổ cho nhau, cảm giác này là cái cảm giác ác, tàn ác”. Mình tác ý để mình làm cho nó tan, đánh tan cái cảm giác bực bội, khó chịu, sân hận khởi lên thì đó là sự tinh tấn tu tập.
Thành ra tuy mình nói bốn cái khác nhau nhưng thật ra nó diễn ra cùng một lúc. Sử dụng nó hài hòa, hòa quyện, liên kết với nhau để nó hoàn thành công phu tu tập của mình. Nếu như mình không có tinh tấn tu tập để nhìn lại thân thể, nhìn lại những cảm giác nghĩ tưởng, và sự vận hành của tâm thức gọi là Tứ Niệm Xứ, nếu mình không thường trực mình nhìn lại cái cảm giác toàn thân sao mình biết trong đây cái lồng ngực bây giờ có chuyện rồi, trong đây nó nóng lên rồi. Thành ra tuy là mình phân ra bốn cái, mình thấy giống như tinh tấn hộ trì là riêng, giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi là riêng, tinh tấn để đoạn tham, sân, si là riêng, tinh tấn để tu tập Tứ Niệm Xứ, Thất giác chi là riêng, tinh tấn giữ gìn thiện pháp là riêng. Không phải như vậy. Nó xảy ra, vận hành cùng một lúc. Khi mình làm thì mình mới thấy nó không phải từng cái, từng cái riêng. Nếu mình không thường trực kiểm soát hành vi của mình, không thường trực kiểm soát cảm giác của mình thì khi trong này nó bùng lên, nó hực lên một cái mà mình không thấy được là mình nhập cuộc luôn với cái cảm giác. Mình nóng giận thì nó phát ra miệng rồi nó biểu hiện ra hành động, như vậy thì làm sao gọi là tinh tấn nhiếp phục tham, sân, si, tinh tấn tu tập Tứ Niệm Xứ, làm sao mà gọi là mình tinh tấn để mình giữ gìn thiện pháp được. Thiện pháp là vô tham, vô sân, vô si, không có sân là thiện pháp. Cho nên do sự thường trực, để ý oai nghi hành động, cảm giác nội tâm, sự vận hành của các pháp ở bên trong đó nên khi nó sanh khởi là mình phát giác, phát hiện liền. Thậm chí nếu mà nói sâu sắc, sự tu của mình mà bén nhạy là chưa tới lúc nó sanh khởi, nó mới hướng tâm về hướng đó thôi là mình phát hiện liền. Đức Phật gọi là dục tầm, sân tầm và hại tầm. Tại sao thêm chữ tầm mà không nói là dục, là sân, là hại thôi, chứ nói chữ tầm làm chi? Đức Phật không bao giờ dùng dư chữ, cũng không bao giờ dùng thiếu chữ, Chánh Đẳng Chánh Giác mà, mỗi chữ trong đó là cả một cái trí tuệ thâm sâu.
Thế nào gọi là dục tầm? Tầm là cái tâm mình nó hướng tới, hướng tới. Thí dụ mình đang ngồi đây bỗng nhiên có con chó ngoài cửa nó sủa một cái hay có người nào bước vô nói cái tiếng gì đó, thì tự nhiên trong này cái tâm mình hướng tới là quay ra để coi con chó sủa ai hay người nào vô. Khi nó bắt đầu sanh khởi lên như vậy đó thì đó là lúc bắt đầu nó tầm, tức là nó hướng cái tâm nó về đó, rồi sau đó mới làm theo. Khi mà nó khởi lên một cái tầm như vậy, cái hướng tâm như vậy mình chộp nó liền. “Giờ này là giờ nghe pháp trang nghiêm, thanh tịnh, an định không có quay qua”, mình tác ý tức mình chấp, bốc, chụp, mình bắt chụp được những khoảnh khắc mà cái tâm nó hướng đi, nó hướng ngoại. Chỗ đó là chỗ sâu sắc lắm, chỗ bén nhạy, sắc bén của người tu. Sắc bén tức là mỗi cái gì mà nó rục rịch, nó cụt kịch, nó sục sịch, nó manh nha khởi bên trong là mình nhìn thấy được liền và mình bắt chụp cho được. Đó gọi là bậc trí, trí tuệ, nội quán.
Như vậy thì cái tâm nó hướng về dục là mình thấy nó có một cái chiều hướng đó. Cái bóng hồng đó đi qua rồi nhưng mà cũng muốn quay qua nhìn cái dáng phía đằng sau thôi. Cái đó là cái tầm, phải bắt chụp được cái đó. Rồi cái sân cũng vậy, nó muốn kiếm chuyện, nó thấy cái người đó, đi cái dáng qua đó, nó thấy cái mặt là bắt đầu nó để ý, nó dòm, muốn nói cái gì làm cái gì cho hả dạ. Cái để ý, muốn dòm đó thì cái đó là tầm, sân tầm. Cái tâm mình hướng theo chiều hướng nóng giận, phải chụp ngay cái khoảnh khắc đó, hộ trì căn ngay lập tức, quay trở về không thèm dòm cái đó nữa, không để ý cái đó nữa. Quay trở lại cảm giác toàn thân, nội tâm tỉnh giác, chánh niệm trước mặt. Cái đó cũng là tu Thất giác chi tức là Niệm giác chi. Trạch pháp giác chi tức là quyết trạch và chọn lựa trong tâm của mình, thấy được cái nào là thiện cái nào là bất thiện, cái nào là sân, cái nào là tham, cái nào là dục? Cái nào là xả mình phải thấy được. Lúc này mình có tinh tấn, hay là lúc này mình không có tinh tấn. Lúc này mình đang buông lung, hay là lúc này mình đang hộ trì, giữ gìn. Mình thấy được từng pháp, từng pháp ở trong tâm như vậy gọi là Trạch pháp giác chi. Tại sao có sự thấy rõ đó là do sự chánh niệm. Tại sao có được cái chánh niệm đó? Là do phòng hộ, hộ trì căn cho nên nó có cái trình tự trong pháp. Do mình không phóng mắt, tai, mũi, lưỡi của mình ra ngoài, mình lo để ý trở lại thân tâm, nó sâu sắc lắm. Thí dụ tiếng tắc kè thôi mà nế mình không để ý lại thân tâm là cảm giác của mình bị biến động. “Đang nghe tự nhiên kêu hoài à”, trong đây nó rất là mau, siêu tốc luôn đó. Mấy cái nhanh ở ngoài không có nhằm gì đối với tâm của mình hết, nó siêu tốc luôn. Rồi khi mình an trú trở lại, mình coi cái cảm giác của mình nó như thế nào, an trú trở lại không có chạy theo cái tiếng đó. Như vậy do mình hộ trì căn, giữ gìn mắt, tai, thân thể, rồi mình mới để ý cảm giác, mình phải phát hiện bên trong cảm giác nó có cái gì ở trong đó? Nó có tham không? Nó có sân không? Nó có bản ngã không? Nó có dục không? Nó có khó chịu không? Nó có dễ chịu, có khoái không? Nhìn thấy mình mới xử lí, mà xử lí là phải xử lí mạnh mẽ, tinh tấn. Cho lên Niệm giác chi, Trạch pháp giác chi, Tinh tấn giác chi, từng bước từng bước rồi nó đi đến cái chỗ hoan hỉ rồi cái tâm mình nó mới yên định. Khi mình xử lí xong cái là mình khỏe rồi, nó không còn giận nữa rồi trở về cái xả, nó để cho cái vấn đề khó chịu đó được buông xuống thì đó gọi là tinh tấn tu tập. Mà tinh tấn tu tập như vậy thì mình mới giữ gìn được thiện pháp tức là giữ gìn được cái trạng thái tâm không có sân, giữ gìn được cái cảm giác nhẹ nhàng an tịnh, giữ gìn được một cái cảm giác nó ngọt ngào, nó bình dị. Giữ gìn được cái cảm giác đó nó lắng dịu, nó mát mẻ, nó mát rượi, những cái đó là giữ gìn thiện pháp.
Như vậy đó là tinh tấn giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Đó là tinh tấn diệt trừ tham, sân, si, bản ngã. Tinh tấn tu tập Tứ Niệm Xứ, tức là tinh tấn tu tập sự quay lại để ý thân thể, cảm giác, nghĩ tưởng nội tâm mà phát giác phát hiện ra cái thứ ác bất thiện ở trong cái đó để mình xử lí để cho nó tốt. Mình xử lí nó tốt như vậy đó thì cuối cùng mình được tinh tấn, giữ gìn các cái thiện pháp hộ trì các pháp lành. Như vậy thì cái sự tinh tấn của mình là phải biết bảo hộ 6 căn: thứ nhất là giữ gìn cảm giác, rồi cái nội soi ở trong cảm giác đó nó có giống gì ở trong đó, nó sạch hay dơ, nó thơm hay là nó thối hay là nó bình thường. Phải thấy được 3 trạng thái của cảm giác: khó chịu, dễ chịu và không khó chịu, không dễ chịu. Trong cảm giác khó chịu sân nó đi theo miên man trong đó, phải xử lí cái sân đó không được bỏ qua, không có cho nó qua. Phải xử lí để không có chấp nhận cái cảm giác bực bội, mà không có cảm giác tích tụ bực bội, không có chất chứa cái cảm giác bực bội. Ta mà chất chứa nó tới lúc nó mà quá tải, lúc mà nó đổ tới nỗi mà như cái lu hay là cái xô, cái chậu nó tràn ra thì lúc đó mới bung ra ngoài. Mình thấy những cái gọi là giết người, đốt nhà, anh em còn giết hại với nhau, sát hại nhau là không phải chỉ có một hai giọt nước mà lúc đó nó tràn ra rồi. Nó tích tụ từng chút, từng chút tới lúc nó tràn ra cái người ta mới biết nhưng mà thật sự nó không phải là lúc đó, lúc đó chỉ là giọt nước sau cùng thôi. Người tu là mình phải nhìn thấy từng những giọt nước ban đầu nó nhiễu xuống, nó đổ vô để mình giải tỏa từ lúc đầu thì làm sao nó tràn ra được. Chỗ này là chỗ sâu sắc trong thực tập cảm giác, tức là mình không có chấp nhận cái cảm giác sân hận này, cái cảm giác bực bội này, cái cảm giác khó chịu này không cho nó lưu trú.
Con hay ví dụ có người ta đi qua đường cái người ta mình mời người ta vô nhà ngồi chơi xơi nước nói chuyện, rồi thấy hợp rơ, ưa thích xong mời ở lại chơi mấy ngày. Ở lại chơi mấy ngày xong xin cho tạm trú tạm vắng, xin cho tạm trú xong cái mình vô KT3, vô KT3 xong mình nhập hộ khẩu, nhập hộ khẩu xong cái nó đá mình ra khỏi nhà nó làm chủ nhà luôn, ví dụ đó tức là gì? Là cảm giác sân hận lúc đầu nó chỉ là người khách qua đường thôi, nó nhìn thấy người đó là thấy bực bội khó chịu. Lúc đó nó chỉ là cảm giác qua đường thôi, xong mình cho nó lưu trú, cho cảm giác bực bội, khó chịu đó đi vô ở trong người mình, rồi xong mình kéo dài cái thời hạn ra rồi cuối cùng xong mình cho nó tạm trú lâu dài KT3 rồi cuối cùng nhập hộ khẩu luôn. Có rất nhiều Phật tử tới lễ, họ khóc nước mắt trào ra. Chị dâu với em chồng thôi nhưng mà họ khóc 15 năm không hóa giải được, đau khổ, muốn hành động cái gì đó, sân hận với nhau, khúc mắc đó mười mấy năm. Rồi có những người hai mươi mấy năm sân hận, không giải tỏa được, không giải quyết được, nó tích tụ như vậy rồi. Sự tu của mình tinh tấn là gì? Là thấy là xử nó liền, giải tỏa liền cái cảm giác, không cho nó lưu trú, không cho nó chất chứa lưu trữ, nuôi dưỡng, tăng trưởng, phát triển trong đó. Khi mà mình để cho nó chất chứa ở trong cái cảm giác của mình một cảm giác mà khó chịu, bực bội, sân hận như vậy đó là nó trở thành ung nhọt, sau đó nó tới ung bướu, sau đó tới ung thư mà ung thư tới giai đoạn cuối là không trị được. Như vậy cái nội tâm của mình là mình phải chăm sóc sức khỏe hết sức là quan trọng, đó là sức khỏe của cái tâm. Mình chỉ lo sức khỏe của thân thôi mà không lo sức khỏe của tâm. Trong khi cái tâm của mình là bị suy dinh dưỡng, nó bị suy nhược, suy thoái và thậm chí mang nhiều những chứng bệnh: ung thư, nan y và có thể người ta sẽ chết vì một cái nội tâm mà nan y đó, có không? Bây giờ bệnh trầm cảm rất nhiều, tự vẫn, rồi điên loạn thần kinh. Tất cả những cái đó là một cái nội tâm suy nhược, suy thoái, một nội tâm đầy những bệnh hoạn chất chứa bên trong. Người ta không biết được, không có chăm sóc, lãng quên, họ chỉ lo cái bên ngoài vật chất hình thức, thân xác thôi mà không biết cái gốc của mình là cái tâm. Một người đang khỏe mạnh đang tươi tốt vậy tự nhiên nghe một cái tin tức gì đó, người thân mình bị cái gì đó tự nhiên là sụp xuống mà có khi bị xỉu luôn. Như vậy rõ ràng cái tâm là chủ của thân nhưng mà không lo cho cái tâm, cứ lo thân xác rồi cứ lo cho tài sản, cứ lo cho danh vọng, địa vị mà không biết cái tâm an lạc đó mới là suối nguồn của hạnh phúc, mà cái tâm là gì? Là cái cảm giác, cái chính yếu là cái cảm giác, một cái cảm giác bình an, một cái cảm giác lắng dịu, dễ chịu, ngọt ngào, một cái cảm giác cảm thông, tha thứ, thương yêu, mát dịu, đó là cái người hạnh phúc, người an lạc. Còn người khổ thì trong này có cảm giác bực bội khó chịu, những cái cảm giác sân hận, những cảm giác bức bối, bứt rứt, nó dày xéo tâm can mình thì làm sao mà có hạnh phúc. Mình ngồi trên đống vàng, ở trong một căn nhà đầy tiền thì mình cũng đau khổ thôi.
Cho nên mình trở lại vấn đề để nhìn thấy sự tinh tấn không phải để đi làm những cái hình thức ở bên ngoài, mà cái tinh tấn là để mình chăm sóc thân tâm của mình. Một khi mình chăm sóc cái tâm tốt rồi thì cái thân sẽ tốt theo và khi một cái tâm an, cái thân nó khỏe thì đương nhiên hiệu quả của công việc làm nó tuyệt vời. Làm đâu được đó, làm gì là nó tốt lấy, làm cái nào là hiệu quả cũng đạt cái mức tối đa hoặc là ngoài cái sức của người bình thường, ngoài sức tưởng tượng. Chính vì vậy mà Đức Phật dạy là dạy cội gốc của vấn đề chứ Đức Phật không có dạy cành ngọn, cành ngọn không giải quyết được. Một khi mà cái tâm an, cái trí sáng, cái thân khỏe thì người đó làm việc, suy nghĩ, tất cả đều tuyệt diệu hết. Thành ra sự tu học của mình là tinh tấn là tinh tấn vậy đó, tinh tấn chăm sóc giữ gìn mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý. Tinh tấn đoạn trừ tham, sân, si, bảng ngã, tinh tấn tu tập để nhìn lại nội tâm, quán chiếu tác ý mạnh mẽ để diệt trừ những cấu uế, tinh tấn giữ gìn những cái đẹp, những cái hay, những cái tốt, những cái thiện pháp, những cái hạnh thanh cao thánh thiện của một người tu. Đó là giải thích cái câu hỏi là tinh tấn.
Rồi bây giờ qua câu hỏi về ý, ý xúc. Cái này nó rất là sâu sắc, nhiều khi ngồi thiền 30 năm còn chưa biết nữa. Các cô nói rằng trong 6 thức thì rõ biết về hình sắc, rõ biết về âm thanh, rõ biết mùi, rõ biết vị, rõ biết về đụng chạm, về xúc chạm của thân thể cái đó là 5 thức trước. Cái thức thứ 6 là ý thức, là sự rõ biết được những cảm giác nghĩ tưởng. Ở đây con dùng Tiếng Việt, rõ biết được những cảm giác nghĩ tưởng ở bên trong cái đó gọi là ý thức. Hồi đó đến giờ mình học chung chung, trước nay mình học mình nói ý thức, ý thức mình cũng không biết ý thức là gì? Công năng tác dụng của nó là rõ biết được thọ, tưởng, hành tức là nó phải rõ biết được những cảm giác, những suy nghĩ và những hình bóng trong tâm, đó là công năng là tác dụng của ý thức. Khi trong tâm mình có những cảm giác nghĩ tưởng mà mình không có biết một cách tinh minh, rõ ràng thì ý thức của mình lúc đó là nó mờ. Nó bị chi phối bởi dục, bởi si, bởi sân, bởi những bản ngã thì ý thức nó sẽ mờ, nó không có sáng. Cho nên mình tu tập những cái tham, sân, si, bản ngã nó lắng dịu thì ý thức của mình nó tinh minh, nó sáng tỏ thì nó nhìn thấy rõ những cái gì ở bên trong của nó. Đó là nói về cái chữ gọi là thức, là 6 thức, bây giờ nói ý xúc là gì?
Ý xúc là khi mình ngồi yên, mình không có tiếp xúc với ai hết, nhưng mà lúc đó trong tâm mình hiện về những hình bóng mà mình đã từng tiếp xúc. Thí dụ khi mình đang ngồi thiền, bỗng nhiên mình nhớ lại cái người nào đó mà mình thấy người đó dễ thương, lúc mình nhớ lại như vậy thì trong tâm mình có hình bóng của người đó. Nó có cái cảm giác dễ chịu và nó có cái suy nghĩ xung quanh người đó. Lúc đó mình biết được trong tâm mình đang có hình bóng của người đó, có cảm giác dễ chịu, có suy nghĩ xung quanh người dễ thương đó, mình biết rõ thì cái đó đó là ý xúc – là cái sự tiếp xúc ở bên trong của ý thức. Cái này hơi khó hiểu một chút mấy cô nắm được không? Đầu tiên là mình để ý, con thí dụ bây giờ các cô đang ngồi đó tự nhiên mới để ý tới cái xương sống, nãy giờ ngồi chắc nó hơi mỏi rồi. Khi để ý tới nó tự nhiên mình có một cái sự rõ biết ở chỗ đó, hình bóng phía sau lưng mình nó hiện ra lờ mờ, mình còn có cái cảm giác hơi mỏi mỏi, đau đau vậy đó, có người bệnh thì nhức nhức, rồi mình có suy nghĩ “Nãy giờ ngồi hơi mỏi rồi nha”. Như vậy là do mình để ý chỗ đó thì hình bóng chỗ đó nó hiện ra, cái cảm giác mình nhận biết được. Mình cảm nhận được cảm giác đó rồi mình có suy nghĩ gì xung quanh cái chỗ đó. Như vậy là mình để ý thì lúc đó thọ, tưởng, hành nó sanh khởi, rồi cái ý thức nó rõ biết, nó rõ biết cái chỗ đó mà khi mình không để ý thì lúc đó mình không biết. Chẳng hạn mình đang ngồi, cái mình nói “Nhớ ba quá à!”, cái tâm của mình nhớ ba tức là bắt đầu nó hướng tâm. Hình bóng của ba mình bắt đầu hiện, tâm nó chú ý về cái hình bóng đó, rồi những cái gì mà mình tiếp xúc nó sẽ hiện về. Nó hiện về hình bóng, cảm giác, suy nghĩ, lúc đó ý thức của mình nó rõ biết.
Bây giờ giải thích tương đối như vậy thôi, rồi từ từ tu thêm nữa. Cái này nó còn nhiều cái sâu sắc hơn nữa, chứ bây giờ mới mà tìm hiểu nó sâu quá thì có khi mình sẽ rối. Thêm cái ví dụ nữa cho dễ hiểu. Làm công tác chùa hay gì đó thì tới chiều bỗng nhiên đói bụng. Mình suy nghĩ “giờ mà có cái món bún chả giò chiên, chang nước mắm chay vô, giờ mà có cái món nay thì ngon dữ nha”, lúc đó hình bóng của tô bún chả giò đó nó hiện ra và tưởng. Cảm giác cái lưỡi nó tuôn tuôn nước bọt ra dễ chịu. Suy nghĩ giờ này vô mà có được tô bún chả giò ngon là ngon lành nha. Thì đó là gì? Cái ý thức mà mình biết được có hình bóng đó, có cảm giác đó, có suy nghĩ đó do mình đói bụng mà mình nghĩ tới đồ ăn, mình để tâm suy nghĩ tới cái đồ ăn thì lúc đó nó ra những món đó. Như vậy đầu tiên, ý căn là cái sự để ý, để ý hướng tâm mình về cái chỗ đó. Sau đó là các cái thọ, tưởng, hành nó sẽ sanh khởi ra rồi mình có cái nhận thức về thọ, tưởng, hành đó, hình bóng, cảm giác, suy nghĩ đó.
Thí dụ giống như là trong đêm tối mà mình cầm cái đèn pin mình lia, mình muốn coi cái chỗ nào thì mình đưa cái đèn pin hướng ngay cái chỗ đó. Chỗ đó nó được ánh sáng của đèn pin rọi thì mình thấy chỗ đó, mấy chỗ khác mình không thấy. Ý căn của mình nó giống vậy, tức là mình lia cái đèn pin của tâm mình, dùng con mắt tâm của mình hướng qua chỗ đó thì chỗ đó nó hiện rõ ra. Chỗ đó có đá, có sỏi hay có cái gì đó thì chỗ đó hiện ra. Chỗ mà mình cần, mình muốn thấy, lúc đó hình bóng hiện ra, cảm giác hiện ra, suy nghĩ hiện ra và ý thức của mình nó rõ biết có những thứ đó. Ý căn của mình là chỗ mà để ý tới cái gì thì hiện ra chỗ đó, rồi cái ý thức mình nó nhận biết được, ví dụ này rõ không? Có cầm đèn pin mà đi soi trong tối không? Đi lên núi thế nào cũng có phải không? Như vậy tức là khi mình để ý vô chỗ nào đó, mình để tâm vào chỗ nào đó thì cái chỗ đó nó hiện rõ ra trong tâm mình, và mình không để ý thì nó không hiện ra, thấy vấn đề rõ không?
Thí dụ mình để ý về cái dục, cái tâm mình nó hướng tâm về những cái ham muốn. Thí dụ như ham muốn xe thì hiện ra mấy chiếc xe, hiện ra hết cửa hiệu này đến hàng hiệu kia, trong đó có hình bóng là tưởng. Cảm giác mình leo lên mấy chiếc này đã lắm, suy nghĩ xe gì như vậy tức là hình bóng, cảm giác, suy nghĩ nó hiện ra, ý thức lúc đó nó nhận biết. Bây giờ tâm mình hướng về Đà Lạt, tuy ngồi trên bồ đoàn nhưng suy nghĩ “Giờ Đà Lạt sao ta? Biết dịch thế này có đi chơi gì không? Dịch dịch cũng thấy đi chơi rầm rầm à”. Hình bóng Hồ Xuân Hương nó hiện ra, sữa đậu nành nóng bốc khói buổi tối ở chợ đêm hiện ra, bắp nướng rồi khoai lang, khoai lang lùi nướng lên hiện ra. Cái lưỡi nó có cảm giác khoái khoái nó hiện ra. Như vậy tức là ý căn của mình để ý tới chỗ nào đó, nó cầm đèn pin nó rà vô, nó lia vô thì chỗ đó sáng ra, còn mấy chỗ khác không sáng. Cho lên mới gọi là tâm sanh các pháp sanh. Tâm sanh tức là ý căn để ý vô chỗ đó, nó rọi chỗ đó thì nó sáng ra cái chỗ đó thôi. Rồi bắt đầu là thọ tưởng hành nó sanh, hình bóng đó nó sanh ra, cảm giác đó nó sanh ra, cái suy nghĩ nó sanh ra, cái ý thức nó biết nhiêu đó thôi. Cũng như giận ai, ngồi giận một hồi, nó vận hành trong này rồi ngồi đó bực, mặt mày sậm xị xuống. Rồi gặp ai ngồi kế bên là nói cho nó đã vậy đó, thậm chí là bốc điện thoại lên điện thì tự nhiên nó vận hành, thọ tưởng hành của mình nó cũng vận hành ở trong cái sân đó thôi. Còn thương yêu cũng vậy, nó vận hành nhiêu đó, cái mặt ra làm sao, cái mũi ra làm sao, cái mũi dọc dừa, cái môi ra làm sao. Từng chi tiết hiện ra hết, rồi ở trong đó đắm đuối mê say. Dục sanh khởi, tham sanh khởi, ái sanh khởi, suy nghĩ xung quanh đó hết, thấy cái tâm ghê gớm không? Đó là ý xúc.
Thấy người đó ngồi một mình chứ không phải là ngồi một mình, Đức Phật nói là có mấy mình trong đó chứ không phải một mình. Cái ý xúc này nó khiếp lắm. Vì ý xúc này mà người ta ở một mình không được, người ta ngồi thiền người ta không chịu nổi. Cho nên những cái môn tu niệm câu Phật hay tụng trì chú mình cứ lạy hoài, lạy hoài, làm những cái ở ngoài đó là để không có trực tiếp nhìn vô đó nổi. Cho nên mượn cái này, mượn cái kia làm phương tiện để chặn ở ngoài. Nhìn vô đối diện, trực diện, trực tiếp đối xúc, tiếp xúc với nội tâm là mình chịu không nổi. Bởi vì bao nhiêu cái chất chứa tích tụ hàng chục năm ở trong này, chưa kể vô số kiếp ở trong cái kho tàng rồi nó biểu hiện ra trong tâm. Ý xúc là cái thâm sâu cho nên sự tinh tấn tu tập của mình là soi rọi hết tất cả những thứ đó. Mình thấy được tính chất của tham, sân, si, bản ngã là vô thường, trống rỗng, là những thứ giả dối. Đức Phật có dạy mình quán sắc giống như đồ bỏ, quán thọ giống như bong bóng nước, quán tưởng giống như rắn mặt trời, quán hành giống như bẹ chuối, cây chuối lột ra cái bẹ là không có cái lõi ở trong, quán thức giống như trò ảo thuật. Mình đang ngồi có phải mình đang làm ảo thuật không? Như trò ảo thuật vậy đó, cái bong bóng nước nó nổi nổi lên nó nát, hết cái bong bóng này nó nổi lên tới bong bóng kia. Ngồi đó mình suy nghĩ đủ thứ, nghĩ quá không chịu nổi nó bung, sứt bản lề ra là điên. Nói một mình rồi đánh tầm bậy tầm bạ, tức là trong này nó bung ra hết không chịu nổi nữa, những cái thọ tưởng hành nó không còn trong nữa mà nó bung ra khẩu hành, thân hành luôn, trở thành người điên. Thành ra cái tâm mình nó tuyệt diệu lắm, mình học cái trí ngũ uẩn này rồi mình mới thấy sự tối thượng của Đức Phật là vi diệu, cùng cực. Mình giải mã hết tất cả nội tâm của mình. Nó sanh khởi ra làm sao? Nó an trú làm sao? Nó vận hành làm sao? Nó hoạt động làm sao? Nó làm cho mình đau khổ làm sao? Tất cả là mình đều giải mã hết, vén cái bức màn bí mật vô lượng, vô biên kiếp vừa qua. Cái Thánh trí ngũ uẩn này vén hết bức màn. Còn trước mình có biết gì đâu, mình ngồi lại là “Tui nghĩ, tui tính, tui khó chịu, tui bực mình, tui dễ chịu”, toàn là “tôi” không cái gì cũng gắn với tôi hết. Cái sắc mình gắn chữ tôi là tôi, thân thể tôi cũng gắn cái tôi vô; cảm giác tôi, cũng gắn tôi vô; những hình bóng trong đó là hình bóng của tôi, tưởng là tôi; rồi suy nghĩ đó là tôi suy nghĩ; cái hành cũng là tôi. Còn nhận thức thì khỏi nói, tôi nhận thức, tôi thấy biết, ngũ uẩn đó là tôi, như vậy là chết luôn ở trong đó.
Cho nên mình học cái bài vừa rồi sắc là than đỏ, những cảm giác là than đỏ, những nghĩ tưởng là than đỏ, nhận thức rõ biết là than đỏ. Nếu mà mình không dùng trí tuệ để nhìn năm uẩn thì trở thành 5 cục lửa than, 5 đống lửa than, 5 hầm lửa than. Nó đẩy mình xuống dưới đó, mình ở một mình nhưng ở trong này nhiệt não nóng bức thiêu đốt, nó thiêu đốt tâm can của mình. Cho nên người ta chịu không nổi rồi tự hủy hoại cuộc đời người ta hoặc là sa đọa, trụy lạc, không thôi là tự vẫn luôn, không thôi điên khùng. Có thể là do bị mất tình cảm, không thôi thì bị phá sản, không thôi người thân thương nhất của mình bị cảnh chia ly sinh tử. Tất cả những cái trong này vận hành nếu mình không có phương pháp, không nhìn thấy, không hiểu biết, không có cách hóa giải là bế tắc. Còn mình tu cái này là tất cả mọi cái gì nó đến là mình thấy, mình biết hết và mình có phương pháp hóa giải, mình giải mã hết, đó là tác dụng tối thượng của Thánh trí năm uẩn. Đó là con giải thích sơ về cái ý xúc cho các cô.
Bây giờ tới câu hỏi là con nói ở trong thất con ăn ngày có một bữa. Lúc đó con có suy nghĩ “Mình giờ cũng ngon, mình hay, mình tu được như vậy thì khá” lúc đó con thấy cái suy nghĩ đó là khen mình rồi mình sẽ nói cho người này người kia nghe. Con thấy cái đó danh lợi. Mình tu tập là mình phải luôn luôn quay lại nội tâm, những nghĩ tưởng, cảm giác của mình để mình thấy những cái nào mà nó tăng trưởng cái bản ngã, cái tôi ta. Dầu cho mình làm việc thiện, việc tốt mình cũng không cho cái bản ngã nương theo, không để nó bám vô, nó gá vô, nó bấu vô, nó víu vô cái việc thiện để nó tăng trưởng cái bản ngã. Tại vì chân lí sự thật là cái tôi là trống rỗng, trống không, trống trơn, trong tứ đại mình quán chiếu mình thấy rồi. Mỗi lần suy nghĩ không tương ưng với chân lí vô ngã thì mình đều phải phá dẹp nó, đánh phá nó và đưa nó trở về, thể nhập trí tuệ vô ngã chứ không cho nó đi ngược lại cái bản ngã. Mình phải đánh vỡ cái bản ngã để mình thể nhập cái vô ngã thì chỗ đó mới là cái chỗ bình an, cái chỗ hạnh phúc, chỗ an lạc của người tu.
Câu hỏi của quý sư cô:
“Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.
Con kính bạch trên thầy, con kính bạch trên quý thầy cùng toàn thể đại chúng. Con có một thắc mắc là thầy có giảng khi tâm ta hướng về cái gì thì hình ảnh của cái đó hiện về trong ta. Hồi bữa tới giờ con cũng mới tập hành thiền, thì chắc chắn thời gian đầu thân thể của con nó rất là mỏi mệt như là lưng con bị đau hay cái chân con bị tê. Vậy để mà con có thể vượt qua cái cảm giác đau của thân thể thì con lên tiếp tục nhận diện nó hay là con nên dẫn qua quán sát hơi thở hay là cần một cái phương pháp nào khác thưa thầy. Dạ con kính bạch trên thầy giúp con.
Nam mô Bổn Sư Thích Ca Mâu Ni Phật.”
Ai mà mới ngồi thiền cũng phải qua cái đau, cái tê, cái nhức hết, đó là bắt buộc phải vượt qua quan ải này. Cho nên đầu tiên mình phải sử dụng ý chí để chịu đựng, kiên nhẫn, nhiếp phục đó là cái thứ nhất. Mình phải trải qua cảm giác đó, phải nhiếp phục, phải vượt qua. Mình phải tập từ từ, ví dụ như lúc đầu mình ngồi chừng nửa tiếng, sau mình tăng lên 40 phút, rồi từ từ mình mới tăng lên thêm thêm cho đến một tiếng, nâng lên từ từ, đó là nói về cái thân xác, cảm giác. Giờ nói về mặt phương diện tâm thì mình phải là có nhiều cái tác ý tùy theo cái nào hợp với mình thì mình tác ý “Tại sao mấy huynh đệ làm được mà mình làm không được? Tại sao bao nhiêu người tu khác ở thiền viện người ta ngồi một ngày 4 tiếng, 6 tiếng được mà tại sao mình ngồi có 1 tiếng đồng hồ mà không được? Như vậy là nhục nhã. Người tu mà ngồi thiền không được, thì giống như là thợ mộc mà bào gỗ không được vậy đó, giống như thầy giáo dốt không biết chữ vậy. Cái này là nhục, mình phải làm cho bằng được, mình phải quyết tâm làm cho bằng được”. Rồi mình mới quán tưởng người bên ngoài ở tuổi như mình là phải đi làm thuê, vác mướn, đi ở đợ, đi lau chùi cầu tiêu, đi mà làm vệ sinh hốt rác ngoài đường. Mình quán cái cảnh bao nhiêu người khổ vậy đó ở ngoài đời vậy đó, mà mình giờ chỉ có ngồi thiền thôi không được thì làm cái gì? Nhục! Phải dùng cái tâm tinh tấn hùng liệt, mạnh mẽ tác ý để mà mình là vượt lên, nhiếp phục. Nói chung là đủ cách thức. Mình nhớ cha mẹ cho mình đi tu hi sinh như thế nào, rồi mình nhớ cái gương của Đức Thế Tôn, bậc thái tử mà đi vô rừng nhịn đói, nhịn khát, bão táp mưa sa, nóng bức, ở xứ Ấn Độ là 40, 50 độ C. Nói chung là mình tìm đủ mọi cách để mình tác ý nhiều khía cạnh để cho mình phải nỗ lực phấn đấu, nhiếp phục được cái cảm giác đó rồi mình vượt lên. Làm cho nó phát huy được cái sức tinh tấn, hùng dũng trong thân tâm của mình.
Rồi câu cuối cùng là trải tâm từ. Mấy cô giờ ở tuổi còn thanh thiếu niên, mấy cô cũng rất là trẻ, có 20 tuổi nên tu tâm từ bây giờ cũng chưa có phù hợp lắm. Mình phải tu tập Chánh tri kiến trước, quán bất tịnh nhiều hơn, tu tập Chánh tri kiến nhiều hơn, vô thường khổ, vô ngã. Khi mình trải tâm từ thì mình phải trải thương cho mình trước, phải nghe kĩ mấy cái bài con giảng về tâm từ, nhiều lắm. Phải nghe kĩ, nghe lại, quý thầy sẽ gửi cái tựa bài cho các cô nghe. Tâm từ nó không có giống như mình suy nghĩ là mình ngồi đó mình trải tình thương cho ai, cho ai đâu, mình phải thương mình trước. Hôm trước các cô có hỏi, con cũng có nói rồi trong khóa tu, cần phải xót thương cho cái sự vô minh, tham ái, ngu muội, suy ám của mình. Xót thương cho cái sự luyến ái, chấp thủ vô thân xác bất tịnh. Xót thương cho cái tham, sân, si, bản ngã của mình, xót thương thật là nhiều. Nó trào dâng một cái cảm giác mà xót xa, trắc ẩn đối với chính mình, đối với tất cả chúng sanh mới được. Cho nên trong giai đoạn này là giai đoạn tu tập Chánh tri kiến, quán bất tịnh nhiều hơn. Chứ không phải giai đoạn mới vô tu mà trải tâm từ, mình phải học kĩ cái phương pháp trải tâm từ nhiều hơn mới được. Khi mình trải tâm từ thì mình trải cho mình, trải cho những người ân nghĩa và những cái người đau khổ, như bệnh dịch chẳng hạn. Còn những đối tượng mà có tâm luyến ái thì mình đừng có trải, mình đừng có hướng tâm về cái đó. Nếu mà tâm hướng về cái đó thì mình chuyển hướng cái tâm, chuyển hướng tới những người nghèo khổ, những người bệnh dịch, những người bị thần kinh xiềng xích mười mấy, 30 năm. Đẩy cái hướng vào những cảnh khổ đau nhất của cuộc đời này, những đứa bé mới sanh ra đã bị bỏ rơi trước cổng chùa, bỏ trong thùng rác, bỏ trước bệnh viện, trải tới cái cảnh khổ nhiều hơn. Nhớ rằng trong giai đoạn này là giai đoạn tu tập Chánh tri kiến và quán bất tịnh nhiều hơn. Tại vì còn tuổi trẻ, cần phải nhiếp phục được dục, tham, ái trong giai đoạn nó sung mãn. Mình đặt nặng quán tứ đại, quán 32 thể trượt, quán bất tịnh, tu tập Chánh tri kiến, vô thường, khổ, không, vô ngã. Còn trải về tình thương là mình phải nhớ trải cho chính mình, trải cho những người ân nghĩa mình biết tập nhớ ơn, báo ơn, cảm ơn, đền ơn, trải cho những người khổ đau cùng tột nhất trong xã hội trên thế giới. Còn khi tâm mình nó hướng về những người, những đối tượng ái luyến thì mình phải chuyển hướng liền. Ngay lập tức ngay lúc đó dừng lại cái trải tâm từ mà mình giải phẫu người đó, giải phẫu 32 thể trượt của người đó, giải phẫu tự thân của mình, phá tan cảm giác ái đó xong rồi mình mới trải tâm từ tiếp. Đó là sự linh động, sắc bén, sự khéo léo, thiện xảo trong tu tập của chúng ta.
./.