Làm Bạn Với Thiện Đi Đến Giác Ngộ
Kinh Nikāya Giảng Giải
LÀM BẠN VỚI THIỆN ĐI ĐẾN GIÁC NGỘ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Làm bạn với thiện PAGEREF _Toc71879856 \h 1
II. Niệm giác chi PAGEREF _Toc71879857 \h 5
III. Lời cuối của Đức Phật PAGEREF _Toc71879858 \h 7
IV. Trạch pháp giác chi PAGEREF _Toc71879859 \h 10
V. Tinh tấn giác chi PAGEREF _Toc71879860 \h 11
VI. Hỷ giác chi PAGEREF _Toc71879861 \h 13
VII. Khinh an giác chi PAGEREF _Toc71879862 \h 15
VIII. Định giác chi – xả giác chi PAGEREF _Toc71879863 \h 15
I. Làm bạn với thiện
Kính thưa đại chúng, mấy ngày trước có một chúng tập sự xuất gia hỏi Minh Thành là sự kết hợp khi nhận diện năm Uẩn và tu tập bảy Giác Chi có được hay không. Lúc đó Minh Thành ở Bửu Liên Sài Gòn nên chưa tiện trả lời, hôm nay sẵn có cái duyên chúng ta sẽ tìm hiểu về bảy Giác Chi.
Bảy yếu tố giúp chúng ta đạt đến sự chứng ngộ, sự giác ngộ và bảy Giác Chi này là hết sức là cần thiết để chúng ta học hỏi, tìm hiểu,thực tập và hành trị . Đây là con đường của các bậc Chánh Đẳng Giác, không có một bậc Chánh Đẳng Giác nào thành tựu sự chứng ngộ mà không đi qua bảy Giác Chi. Cho nên đây là pháp định định đề, là những pháp mà nhất định những người học Phật trong tạng Nikāya của chúng ta nhất định phải nắm thật vững về lí thuyết và thực hành.
Trong bài kinh Giới, Tương Ưng Bộ kinh tập năm Đức Phật có nói rằng:
“Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào cụ túc giới, cụ túc định, cụ túc tuệ, cụ túc giải thoát, cụ túc giải thoát tri kiến, Ta nói rằng ai thấy các Tỷ-kheo ấy thì có rất nhiều lợi ích.
Ai nghe các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích. Ai yết kiến các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích. Ai thân cận các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích. Ai nhớ nghĩ đến các Tỷkheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích. Ai tùy thuận các Tỷ-kheo ấy xuất gia, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích.
Vì sao? Này các Tỷ-kheo, khi nghe pháp từ các Tỷ-kheo như vậy, vị nào sống viễn ly (vupakattho), được hai sự viễn ly: viễn ly về thân và viễn ly về tâm.
Vị sống viễn ly như vậy thì sẽ tùy niệm (anussarati) pháp ấy, tùy tầm pháp ấy.
Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo sống viễn ly như vậy, tùy niệm, tùy tầm pháp ấy; trong lúc ấy, niệm giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi; trong khi ấy, nhờ tu tập, niệm giác chi đi đến viên mãn.
Vị ấy trú với chánh niệm như vậy, với trí tuệ quyết trạch, tư sát, thành tựu quán sát pháp ấy.
Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chánh niệm như vậy, với trí tuệ quyết trạch, tư sát và đi đến quán sát pháp ấy; trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, trạch pháp giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy.”
(Tương Ưng Bộ Kinh Tập V, chương II, Tương Ưng Giác Chi, bài kinh Giới)
Chỗ này trước khi đi vào thất Giác Chi Minh Thành đọc đoạn kinh này để nhấn mạnh hai điểm cực kì quan trọng , là làm bạn với Thiện và như lý tác ý trong một bài kinh khác, bài kinh mặt trời cái này là điềm đi trước, cái này là tương báo trước của mặt trời mọc tức là rạng đông. Cũng vậy, này các Tì Kheo, cái này là điềm đi trước, cái này là tương báo trước của bảy Giác Chi sanh khởi tức là làm bạn với Thiện. Ai làm bạn với Thiện được chờ đợi rằng bảy Giác Chi sẽ được tu tập, bảy Giác Chi sẽ được làm cho sung mãn.
Trước nay chúng ta chưa nghe hoặc rất là ít nghe cái từ làm bạn với Thiện, nhưng mà trong Nikāya thì cái này là một Pháp hết sức là quan trọng . Làm bạn với Thiện , có yếu tố quyết định trong sự tu học của mình, làm bạn với Thiện, thân cận, gần gũi, thăm viếng, lắng nghe học hỏi và tu tập, với những vị đã thấy đã biết đã hiểu về đạo lộ của bậc Thánh về Chánh tri kiến.
Cho nên bài kinh vừa rồi cho chúng ta thấy được Đức phật nhấn mạnh rất nhiều rất nhiều lần, ai mà thấy được các vị đó thì sẽ được rất nhiều lợi ích, những vị đầy đủ giới định tuệ giải thoát tri kiến, bất cứ là thầy hay cô hay vị cư sĩ mà những vị nào thành tự được giới định đầy đủ được trí tuệ giải thoát tri kiến thấy biết về giải thoát thì ai mà nghe tới vị ấy, yết kiến các vị ấy, thân cận các vị ấy, nhớ nghĩ đến các vị ấy, thuận theo các vị ấy mà tu tập ta nói rằng có rất nhiều rất nhiều lợi ích.
Cho nên lợi ích của việc mà đến chùa không phải là đến dừng lại chỗ thắp nhang lạy Phật cúng dường tụng kinh, không phải dừng lại ở đó, mà vấn đề là Đức Phật dạy mình làm bạn với Thiện là lắng nghe thuyết Pháp. Nhiều lắm Đức Phật dạy rất là kĩ mình học đủ rồi mình mới lắng nghe đủ giá trị.
Trong bài kinh Vô Minh, Tăng Chi Bộ Kinh tập bốn Đức Phật dạy từng bước từng bước, chín bước để mà mình đi tới Minh và giải thoát. Giao thiệp với bậc Chân Nhân, Chân Nhân là người sống biết ơn, nhớ ơn, đền ơn, người biết nhân quả, tội phước, là bậc thấy biết con đường của Đức Phật. Chánh tri kiến giao thiệp với bậc Chân Nhân thì sao? Thì được nghe diệu Pháp, nghe diệu Pháp thì sao? Thì sẽ sanh khởi được lòng tin. Sanh khởi lòng tin thì sao? Thì sẽ làm cho được đầy đủ như lý tác ý, như lý tác ý là sự suy nghĩ suy xét đúng Chánh Pháp, khi mình đã có lòng tin rồi thì mình sẽ có được sự suy nghĩ, suy xét đúng Chánh Pháp.
Suy nghĩ suy xét đúng Chánh pháp như lý tác ý như vậy thì sao? Thì đưa đến cái gì? Đưa đến Chánh niệm và tỉnh giác. Chánh niệm và tỉnh giác thì đưa đến gì, các căn được chế ngự. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý của mình được chế ngự, được nhiếp phục, được hộ trì, được bảo vệ được gìn giữ. Mà khi mình có được cái sự chế ngự các căn, mắt tai mũi lưỡi thân ý mình được gìn giữ thì sao? Ba thiện hạnh được đầy đủ, ba thiện hạnh là nghĩ thiện, nói thiện và làm thiện.
Khi mình có được sự chế ngự các căn thì đi đến lần lần đi đến đầy đủ những suy nghĩ lành, những lời nói lành và những việc làm lành. Mà ba cái thiện hạnh này nó được đầy đủ thì nó đưa đến cái gì, đầy đủ bốn niệm xứ, bảy giác chi, minh và giải thoát được viên mãn.
Cho nên bài kinh này là hết sức quan trọng, bài kinh Vô Minh, Tăng Chi Bộ Kinh tập bốn và Đức Phật nói trình tự để mình làm bạn với Thiện, để mình tiếp xúc với Phật Pháp chớ không phải như cái tâm thường của mình là thói quen trong dân gian là đến chùa,thì lậy Phật, cúng tụng là giỏi rồi đó rồi xong đi về, mà này là giao thiệp với Chân Nhân dể nghe diệu Pháp, nghe diệu pháp để sanh khởi lòng tin, chánh tín , mà khi sanh khởi được lòng tin rồi đó thì cái suy nghĩ của mình nó sẽ đúng như Chánh Pháp.
Như lý tác ý mình có được sự canh chừng tâm ý được kiểm soát tâm ý, sự quản lí tâm ý, và có sự như lý tác ý đúng Pháp như vậy thì sao, Chánh niệm tịnh giác sẽ sanh khởi tĩnh giác. Như vậy là cái trình tự chế ngự các căn ba thiện hạnh nghĩ thiện, nói thiện, làm thiện, thân hành, khẩu hành, ý hành đều tốt lành. Phật nói buổi sáng mình nghĩ điều lành, nói lời lành, làm việc lành, buổi trưa mình nghĩ điều lành, nói lời lành, làm việc lành, buổi chiều buổi tối mình nghĩ điều lành, nói lời lành, làm việc lành thì người đó tất cả đều được an lành.
Cho nên hai cái Pháp ở đây mình phải để ý thật là kĩ là hai Pháp là gì, là làm bạn với Thiện và như lý tác ý. Hai cái này nó dẫn tới bảy giác chi được viên mãn, chứ không phải tự động mình nói mình tu được bảy giác chi. Khi Phật đưa một hình ảnh rát là tuyệt vời, cái này là điềm đi trước cái này là tương báo trước của mặt trời tức là rạng đông. Khi mình nhìn thấy ở trên trời mà cái ánh sáng bắt đầu là xuất hiện rạng đông , thì đó là mình biết được cái gì, là điềm đi trước là tương báo trước của mặt trời mọc. Cũng vậy, cấi này là điềm đi trước là tương báo trước của bảy giác chi dược sanh khởi, tức là làm bạn với Thiện. Gần gũi với bậc Thiện tri thức, bậc Chân Nhân, bậc Chánh tri kiến, những vị đã thấy đã biết con đường thì đó là gì, là cái điềm báo trước của mặt trời mọc, là cái điềm báo trước của thất giác chi, bảy giác chi sẽ được sanh khởi được viên mãn, sẽ được tu tập, sẽ được làm cho sung mãn, đầy đủ cái con đường dẫn đến sự giác ngộ của mình. Cho nên các Phật tử đường xa hàng trăm cây số, mưa gió bão bùng, núi đồi khó đi, mình vượt qua là gì là để mình làm bạn với Thiện. Tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn li, liên hệ đến li tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
II. Niệm giác chi
Giờ trả bài nhé, giờ trả bài niệm giác chi là gì?
Dạ nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, niệm giác chi gồm có bảy phần là Tì Kheo sống quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm và quán pháp trên pháp. Để các quý vị thấy là các Pháp nó liên hệ với nhau không phải bảy giác chi là nó riêng. Niệm giác chi là Tứ Niệm Xứ mà mình nói một cách đơn giản là mình luôn luôn nhớ nhìn lại kiểm soát thân thể cảm giác nội tâm và những thứ nó đang vận hành ở bên trong. Mình luôn luôn kiểm soát nhìn lại dòm ngó canh chừng thân thể, cảm giác, nội tâm và những thứ nó đang vận hành bên trong đó là tứ niệm xứ. Nhưng mình phải thuộc, mình nắm được.
Cái niệm thân là mấy phần, niệm thọ là sao, niệm tâm làm sao, niệm Pháp làm sao, mà nếu mình mới thì mình đọc phần niệm thân cho vững đi, mới thì mình từ từ thôi, riêng cái phần niệm thân mình phải nắm thật là vững. Cho nên là tại sao ở đây Minh Thành chưa chia sẻ bảy giác chi, tại vì nếu mà Tứ Niệm Xứ mà mình chưa nắm vững sao mình đi qua được bảy giác chi, tại vì niệm giác chi không đã bao trùm Tứ Niệm Xứ rồi.
Và trong Tứ Niệm Xứ đó là có thể mình chưa đầy đủ, một phần thôi là phần niệm thân do mình chưa thực hành nhưng mình phải biết mình hiểu và có khi thực hành mình sẽ gặp. Tại vì cái này nó ở trong thân tâm của mình, giờ thí dụ như bây giờ một người mà không thực hành Tứ Niệm Xứ thì nội tâm của họ có sanh khởi lên sự nóng giận, bực bội họ có biết không, biết rằng tôi đang có bực không, biết không. Họ biết mà họ biết trễ, chậm và họ biết cái kiểu của người không biết trong phật Pháp.
Chứ họ biết khi mình, khi một người bình thường họ nóng lên họ bực, họ biết là tôi đang bực không, biết không, biết chớ. Như mà họ biết cái bực này là từ đâu sanh khởi mà làm sao để nó chấm dứt họ không biết, mà họ biết cái bực này là khi đó cái bực này nó phựt lên họ mới biết, tức là nó đã biểu hiện ra một sự mạnh mẽ, thô bạo. Ở trên khẩu hành thân hành, trên ngôn ngữ và hành động.
Còn sự khác nhau giữ người có học có tu và Tứ Niệm Xứ là gì? Là nó mới vừa rục rịch, cục kịch, xục xịch, nó manh nha thôi, nó sanh khởi bên trong là mình thấy mình biết. Thì cái biết của người tu cũng là biết, mà cái biết của người không tu kia cũng biết nhưng mà một cái biết là biết ở trong vô minh, trong si ám, không có trong triết của Đức Phật, không có nương dựa theo Thánh Triết của Đức Phật để soi sáng, còn một cái biết là nương dựa theo Thánh tri kiến cho nên cái biết của Thánh tri kiến là sự tập khởi, sự sanh khởi của cơn giận, sự an trú của cơn giận, sự chấm dứt của cơn giận, biết được cái xào quyệt hang ổ căn cứ địa cái xuất phát điểm cái khởi nguyên của cơn giận đó từ đâu, ở trong cảm giác.
Biết được cơn giận nó an trú, vận hành như thế nào, và mình có những phương pháp mình tác động để cho mình chặn đứng lại, để cho nó giảm thiểu, thậm chí là để mình xóa tan xóa sạch thì đó là cái sự biết khác biệt đó gọi là Thánh trí về tham sân si, Chỗ này là chỗ đặc biệt đó, cũng là cái biết mà cái biết của vô minh, của si ám, của mê muội, cũng là cái biết đó mà mình dựa theo Thánh Triết của Đức Phật, Đức phật có nói là gì lời di chúc của Đức Phật lời cuối của Đức Phật là gì, ai học thuộc nhớ đứng lên đọc coi.
III. Lời cuối của Đức Phật
“Vậy nên, này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Này Ananda, thế nào là vị Tỷ-kheo hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.
Này Ananda, ở đời, vị Tỷ-kheo, đối với thân quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời; đối với các cảm thọ... đối với tâm... đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời. Này Ananda, như vậy vị Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.
Này Ananda, những ai sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những vị ấy, Này Ananda là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.”
(Trường Bộ Kinh – Kinh Đại Bát Niết Bàn)
Cho nên câu này là nhiều người hiểu lầm lắm, phải tự mình nương tựa chính mình đừng có nương tựa gì khác, thành ra cái câu này là cái câu dễ chết lắm. Bởi vì ngắt ngang như vậy hết sức là nguy hiểm, rồi sau Đức Phật giải thích nương tựa hãy nương tựa vô chánh pháp, lấy chánh pháp làm ngọn đèn.
Chánh pháp là gì là Tứ Niệm Xứ, mà Tứ Niệm Xứ là gì là sự quay trở lại kiểm soát thân tâm, mà kiểm soát thân tâm để chi, để mà nhiếp phục tham sân si. Tại sao phải nhiếp phục tham sân si, tại tham sân si là nguồn cội của tất cả khổ. Mình coi tất cả những tin tức thời sự hằng ngày báo chí đó, đó là cái hệ quả cái hậu quả của tham sân si, vì vậy mà cái nguồn của khổ là do tham sân si nó phát nguyên ra, nó bắt nguồn ra.
Mà bây giờ mình tu là gì, mình chặn cái nguồn của khổ đó, thì nó hết khổ. Phải thấy được vấn đề nó trọng điểm là ở chỗ đó. Như vậy thì lấy chánh pháp làm ngọn đèn, như vậy thì mình phải nương tựa nơi chánh pháp, mà nương tựa nơi chánh pháp là nương tựa nơi thánh triết lời dạy của Đức Phật. Nương tựa nơi thánh triết lời dạy của Đức Phật để mình thấy mình biết cái sự thật về thân và tâm. Mà cái sự thật về thân và tâm là sự thật gì? Điều đầu tiên Đức Phật nói với mình là quán thân trên thân. Cái phần quán thân trên thân này Minh Thành nói nhiều rồi nên là ở đây chúng ta không có nhắc lại.
Quán các cảm giác, chúng ta cũng chia sẻ rất là nhiều bài, quán tâm là mình nhìn coi nội tâm có tham hay là không tham, nội tâm có sân hay là không có sân và nó sanh khởi đã sanh khởi chưa sanh khởi hay là nó đã sanh khởi rồi mà bị dập tắt, hay là chưa sanh mà nay nó sanh khởi tất cả những cái đó mình phải quán, mình có một phương pháp xử lí và qua cái phần quán pháp. Trong phần quán pháp nó có quán về bảy giác chi.
Như vậy thì khi mà mình tu tập, tu tập Tứ Niệm Xứ hay là bảy giác chi này đó là để làm cái gì. Đức Phật nói là liên hệ đến viễn li liên hệ đến li tham, cái câu này đó là mình phải khắc vào tim khắc vào trí khắc vào tâm liên hệ đến viễn li, liên hệ đến li tham, liên hệ đến sự rời xa. Rời xa những gì, rời xa những cái gì mà nó làm phát triển tham sân si. Cái gì nó làm cho sanh khởi phát triển tham sân si mình phải rời xa nó. Rời xa cái gì, rời xa sắc, thọ, tưởng, hình, thức.
Hồi xưa mình chưa có thấy chưa biết chánh pháp thì mình đam mê ở trong những cái sắc tất cả mọi cảm giác, mình đam mê ở trong cảm giác ở trong những cái nghĩ tưởng, bám chắc và cho rằng sắc này là tôi, là của tôi, từ sắc trong cho đến sắc ngoài, nội sắc cho đến ngoại sắc, nội thân cho đến ngoại thân. Nội ngoại thắng liệt thô tế xa gần tất cả các sắc mình đều cho nó là tôi là của tôi hết. Bây giờ mình đi ở trên con đường bát chánh là cái đầu tiên là mình phải nhìn thấy được cái sự thật và cái sắc uẩn, và những cảm giác và những nghĩ tưởng.
Và mình tu tập tất cả những cái pháp này là nhằm xa rời và bớt tham lìa tham đối với năm uẩn. Mình biết cái mục đích của nó là vậy cho nên là bữa nào gtrước khi nghe pháp mình cũng đã cúi đầu đảnh lễ giáo pháp li tham tối thượng. Hai cái chữ li tham đó là nó bao trùm hết tổng cương lĩnh của giáo pháp. Tại vì mình còn tham ở trong sắc trong thọ trong tưởng trong hình trong thức là mình còn khổ, tại vì những thứ đó là vô thường, là vô ngã là những thứ đem lại những sự phiền phức, phiền não là phiền phức, là ưu não.
Bao nhiêu những suy nghĩ, bao nhiêu những lo lắng, bao nhiêu những sợ hãi, bao nhiêu những nước mắt mình giàn dụa là vòng vòng chung quanh những thân thể chúng ta, cảm giác và nghĩ tưởng. Cho nên cái mục đích của sự tu tập này là để rời xa cái sự dính mắc, lìa xa cái sự tham đắm trong những thứ đó, mình phải hiểu được cái mục đích của nó là như vậy. Tu là để đi đến chỗ đó, tu là để làm sao xác nhập vô cái chỗ đó, tu làm sao để liên hệ được chỗ đó, tu làm sao để đi đến được chỗ đó, tu làm sao để đạt đến cái chỗ đó như vậy gọi là liên hệ đến viễn li, liên hệ đến li tham, liên hệ đến từ bỏ, hướng đến từ bỏ.
IV. Trạch pháp giác chi
Mà khi mình luôn luông thường trực, mình luôn luôn nhớ thân, thọ, tâm, Pháp như vậy thì sao. Cái đó là mình đang thực tập, một chi phần thứ nhất để đưa đến giác ngộ. Do mình thường nhớ, thường nghĩ, thường nhìn như vậy thì trong nội tâm của mình nó sanh khởi một sự thấy biết rành rõ rồi thì trạch Pháp quyết trạch, giản trạch, một sự thấy biết rành rõ, minh bạch tường tận nó sẽ sanh khởi trong nội tâm của mình.
Vì trú với chánh niệm như vậy, với trí huệ quyết trạch tư sát thành tựu quán sát Pháp ấy, trạch Pháp giác chi bắt đầu phát khởi ở trong vị ấy. Tức là vị ấy an trú với chánh niệm như vậy, chánh niệm là Tứ Niệm Xứ do cái sự thực tập thường trực của mình nhìn lại thân tâm cho nên cái trí huệ quyết trạch tư sát nó sẽ thành tựu. Tại vì mình không nhìn làm sao mình thấy, mình không thấy làm sao mình biết cho nên khi mình thường nhìn lại thì mình sẽ thấy, mình thấy mình biét được thì mình sẽ có cái trí tuệ quyết trạch tư sát nhìn một cách thấu đáo, tường tận, tinh tế, tinh vi và sâu sắc.
Đối với những gì đang diễn ra bên trong thân tâm của mình như vậy gọi là trạch pháp giác chi nó sanh khởi. Khi quý vị thực hành trong thời gian vừa rồi, quý vị có nhìn thấy những cảm giác của mình không, có nhìn thấy các cái tường không, có nhìn thấy những suy nghĩ trong tâm không, mình có cảm thấy cái nào là cảm giác thiện, cái nào là cảm giác bất thiện không, cái nào là những cái tưởng dục tưởng ái, những cái tưởng li dục, cái nào là cái tưởng sân cái nào là những cái tưởng li sân, cái nào là những cái tưởng hại cái nào là cái tưởng đưa đến bất hại mình có thấy được không đó là trạch pháp giác chi đó.
Thành ra mình chưa học mình tưởng thấy xa nhưng mà thật sự mình đang sử dụng mà mình không biết, cái lúc mà mình nhìn thấy được các cảm giác nghĩ tưởng, cái nào ra cái nấy thiện và bất thiện, cái nào là vô minh và minh, cái nào là tuệ và không phải tuệ mình trạch pháp phân rõ như vậy đó là trạch pháp giác chi đang vận hành. Cái này là cái thấy rõ nhất là trong lúc mình ngồi thiền cho nên cái phần quán pháp trong pháp và bảy thất giác chi.
Như vậy thì Trí Hòa lúc ngồi thiền có nhìn thấy được không. Thì đó là mình đang tu tập bảy giác chi. Cái tâm của mình nó yên tịnh sáng tỏ như vậy thì Đức Phật thường nói là gì cái nội tâm yên tịnh như vậy thì các Pháp sẽ hiện rõ như thật, lúc đó mình sẽ thấy được như thật, các Pháp nó sanh khởi, nó an trú vận hành trong nội tâm mình mình sẽ thấy rõ tất cả. Cái đó là chỗ mình nghĩ là công năng của Thiền định cộng với trí huệ chánh tri kiến của mình, cộng với sự giới hạnh mình giữ gìn hộ trì căn trong hàng ngày, rồi cái đỉnh ba chân của thánh giới của thánh định uẩn và thánh tuệ uẩn kết hợp lại và cái thành quả cao cán, cái hiệu năng lúc đó là lúc các pháp nó sanh khởi là mình nhìn thấy mình biết có khả năng thuyết phục và chuyển hóa trong lúc ngồi thiền và trong lúc sinh hoạt hàng ngày, lúc đó là lúc các pháp nó sanh khởi hiện hành nó hoạt động mình thấy, mình biết, mình quản lí, mình kiểm soát mình làm chủ được.
Cho nên cái này là một cái mình tu mình thấy hay lắm, và cái thất giác chi này mình làm hàng ngày trong mọi lúc mọi nơi. Trong tâm mình có dục có tham, mình biết là có dục có tham thì mình biết cái dục tham này đưa đến cái khổ, đưa đến cái phiền phức, đưa đến sự hệ lụy trói buộc và nó muốn đi theo nó thì lúc đó mình mới quán bất tịnh.
V. Tinh tấn giác chi
Thì như vậy mình sanh khởi thêm cái gì nữa thất giác chi vị ấy trí tuệ quyết trạch tư sát và thành tựu quán sát pháp ấy thời tinh tấn không có thụ động phát khởi nơi vị ấy. Một khi mà trạch pháp nó rõ ràng thì tự động tinh tấn giác chi nó sẽ sanh khởi, cái đó là cái gì là sự vận hành là theo cái trình tự của cái tâm, không thể một người có tinh tấn giác chi mà thất giác chi nó không sanh khởi không thể có được, sớm muộn nó sẽ sanh khởi.
Giống như giờ mình lạc vô một cái chỗ đó rừng rậm mà mình nhìn thấy một con đường mình biết rõ một con đường này càng đi vô thì càng lạc thú dữ rắn rích trùng độc, một con đường này mình biết đi ra sẽ tốt đẹp thoát khỏi cánh rừng này. Khi mình biết rõ ràng như vậy rồi mình còn đi vô con đường nguy hiểm thú dữ nữa không, thì đó khi trạch pháp giác chi sanh khởi thì sự tinh tấn nổ lực sẽ sanh khởi mình thấy rõ cái nào đưa đến lạc cái nào đưa đến khổ cái nào đưa đến an và cái nào đưa đến nguy rồi thì lúc mình thấy rõ là trạch pháp giác chi nó sanh khởi.
Sự quyết trạch sự phân biệt rạch ròi rõ ràng các pháp ở trong thân tâm thì lúc đó tinh tấn giác chi nó sẽ sanh khởi, nổ lực đi nhanh lên đi lẹ đi mau lên thú dữ rắn rích thì như vậy tinh tấn giác chi nó sanh khởi. Minh Thành hay ví dụ đó, mình đang nằm ngủ giậc mình thức dậy mình thấy con rắn hổ mang nó nằm kế bên nó thò đầu nó đưa vô gần mình, thì lúc đó làm sao, mình thấy rõ là con rắn hổ mang rắn độc, thì lúc mình thấy rõ như vậy là mình trạch pháp rồi đó, lúc đó là mình nằm yên hay sao, mình chạy hay mình đánh đuổi nó ra thì cái đó là tinh tấn giác chi đó mình dùng đủ mọi phương tiện mọi cách thức hết để đánh đuổi những thứ độc hại những thứ nguy hiểm những tác hại mà nó đưa đến cho mình khổ, nguy hiểm thì tinh tấn giác chi nó sanh khởi.
Mấy chú thấy được cái này chưa, có không, có thực tập phải không. Nhưng mà cái này hồi đó nó có mình cũng làm mà mình không biết bây giờ mình nhận diện thất giác chi, khi mà mình biết rồi lúc đó mình mới phát huy nó tột độ hết mức khác nhau giữa chỗ biết và không biết, mình sử dụng mà mình không biết đó là trạch pháp giác chi là tinh tấn giác chi mình không biết. mà bây giờ mình biết để chi, mỗi khi mà cái đó nó có rồi là mình làm nó lớn mạnh tăng trưởng viên mãn tròn đầy ở trong thân tâm của mình.
VI. Hỷ giác chi
Rồi đó là gì tinh tấn giác chi nó sanh khởi thì sao nó đưa đến cái gì nữa, với cái vị mà tinh cần tinh tấn như vậy đó thì cái hỉ không liên hệ đến vật chất khởi là Đức Phật nói rất kỉ, hỉ là không liên hệ đến Phật pháp chứ Phật không có nói hỉ không, trong bài này là cái bài giảng kĩ. Cái sự hoan hỉ đó, cũng như giờ mình đang có một cơn giận mà mình tinh tấn mình tát ý mình đánh đuổi cơn giận đó ra bằng cái từ tâm giải thoát bằng cái sự bao dung tha thứ, bằng sự dập tắt được cơn giận coi như lúc đó mình có vui không, hỉ nó sanh khởi đó. Mà cái hỉ này là cái hỉ không liên hệ đến vật chất.
Cũng như mình đánh đuổi con rắn đó ra rồi mình thấy yên tâm khỏe rồi mình cười nãy hết sức nguy hiểm, giật mình cái tôi thấy con rắn hổ mang nằm kế bên, thì lúc đó mình thấy một cảm giác rất là nguy hiểm, lo lắng và sợ hãi, mà khi mình đánh đuổi nó ra rồi thì lúc đó mình vui khỏe rồi thấy an ổn có cảm giác an tọa. Nhưng mà lúc trước mình vẫn có hỉ chứ không phải không mà cái hỉ của mình có khi mình biết có khi mình không biết mà mình không phát huy cho nó lớn mạnh viên mãn như vậy gọi là mình không có tu tập bảy giác chi mà bảy giác chi nó vẫn vận hành.
Mà mình tu tập là gì mình thấy rõ biết rõ nó vun bồi, mình làm cho nó lớn mạnh tăng trưởng phát triển và đi đến chỗ viên mãn như vậy là mới gọi là tu tập, mà mình không thấy không biết thì không gọi là tu tập, nó đang có trong nội tâm mà mình không thấy không biết gì hết đó không gọi là tu tập. Như vậy mình muốn hỉ giác chi này nó sanh khởi lớn mạnh trong thân tâm mình thì mình phải tu tập phải tưới tẩm, phải nuôi dưỡng , mình phải làm cho nó phát triển, mỗi khi mà mình đánh đuổi được một cơn giận lên làm cho cái hỉ mình nó hoan hỉ sung mãn lên làm cho nó phát triển cảm giác hỉ lạc an vui, hạnh phúc tôi đánh đuổi được cái cơn giận.
Thấy mời ăn mời chơi cười vui mời đi du lịch tôi vui phải không chứ không ai nói hôm nay tôi vui vì tôi đánh đuổi được cơn giận trong tâm tôi đuổi được nó ra, phải không, mai mốt phải có cái vụ này nha. Sư phụ ơi thưa thầy nay con vui quá trong cái tuần lễ này con đánh ba chục cơn giận, con đánh gục con đuổi nó ra khỏi nội tâm con, sáng giờ con cũng là chằng ai khoai cũ, con chiến đấu liên tục từ sáng tới giờ bây giờ con đánh nó xong rồi, vui khỏe rồi, hỉ giác chi nó sanh khởi rồi.
Có mấy chú nào trẻ trẻ nói thầy ơi ba bốn ngày nay sư phụ đi ở nhà con đánh với cái dục con mệt hết sức mà bữa nay con đánh nó ổn rồi bữa nay vui quá con trình cho sư phụ. Rồi út sáu lên thưa thầy ơi bữa nay con chiến đấu được cái trầm hôm trước ngồi nghe pháp lờ đờ nó muốn gục rồi sao bữa nay đánh được rồi bữa nay nó không bị lờ đờ nữa không trầm nữa, mừng quá vui quá hân hoan lên thì mình phải làm cho cái hỉ nó hân hoan khi mình đánh đuổi được một cái thứ triền cái, một thứ vô minh, một thứ phiền não trong nội tâm mình thì cái hỉ lạc, sung sướng, vui thích đó nó nuôi dưỡng nó được tưới tẩm ,nó được chăm sóc nó được vun bồi, nó được o bế thì cái hỉ lạc nó mới lớn mạnh nó tăng trưởng lên từ từ nó đánh sập cái kia luôn và cái sự thiện pháp nó mới được là tứ chánh cần, nó được lớn mạnh trong thân tâm của mình.
Chứ còn cái này có cũng như không, không cũng như có, đánh xong cũng đều đều vậy cũng không có gì hết thì nó sẽ không được nuôi dưỡng. Khi mà mình đuổi được cái hôn trầm đó ra rồi mình phải thấy hân hoan vui thích lên, hoan hỉ lên làm cho cái cảm giác hỉ lạc mình cho phép nó sung mãn luôn, nó đầy giẫy hết từ đỉnh đầu cho đến gót chân của mình, mình cho phép cái cảm giác đó nó sanh khởi, mình tát ý cho nó hỉ lên. Vui quá thích quá hoan hỉ quá giờ nghe pháp thấy nó tỉnh táo, minh mẫn mà pháp nó vô vậy là mình nuôi lớn hỉ giác chi, mình đang tu tập hỉ giác chi.
VII. Khinh an giác chi
Do cái hỉ này nó sẽ không phải như vậy quài, lúc đầu thì mình nuôi lớn vậy nhưng mà cái hỉ này nó đi đến một cái mức thì nó sẽ bước qua tới cái gì, với vị có hỉ thân được khinh an tâm được khinh an, tại vì cái lúc nào cũng vậy, mới thì nó mạnh nhưng mà từ từ rồi nó sẽ bảo hòa.
Cho nên cái hỉ lúc đầu nó thô, khi mà mình được cái hỉ này nhiều rồi mình an trú rồi lần lần cái hỉ này sẽ đi đến trạng thái đi tới an tịnh nó bước qua khinh an giác chi nó được sanh khởi, một sự nhẹ nhàng, nãy đi thiền hành có thấy nhẹ không? Thấy khinh an thấy nhẹ nhàng, nó không vui giống như mình nghe nhạc hay là mình đi ăn nhà hàng đi chơi, nhưng mà nó vui cái chỗ nó nhẹ nhàng thảnh thơi an tịnh, khinh an giác chi. Rồi cái sự khinh an đó đó, khinh an này nó dẫn đến cái gì, với vị có cái thân khinh an lạc nó hiện hữu, với vị có lạc tâm được định tĩnh đó là cái trình tự của pháp.
Cho nên người ta hiểu lầm, người ta tưởng đi tu khổ, không phải, lạc nó mới đưa vào định, nếu một người mà có tâm không an lạc thì không có vô định được, người này đang giận ai làm sao vô định, đang bực bội làm sao định, đang khao khát ham muốn làm sao vô định, đang si mê ám chướng trì trệ mơ màng làm sao vô định.
VIII. Định giác chi – xả giác chi
Cho nên là với một cái thân khinh an như vậy đó thì lạc nó hiện hữu, cái sự an lạc hỉ lạc, an lạc này nó vi tế hơn cái hỉ, nó nhẹ cái sự vui nó rất là nhẹ. Nãy mình ngồi đó hành tâm hiền, thọ hiền vui vui nhè nhẹ, cái đó nó đi vào định, vui vui đó là lạc hiện hữu. Mà khi mà cái lạc hiện hữu như vậy đó thì tâm nó được định tĩnh tự động pháp nó vận hành như vậy, chứ còn ngồi mà ráng cố gắng đừng suy nghĩ này nọ kia thì cái đó nó khác, không phải là cái thánh chánh định của bát chánh đạo.
Vị ấy với cái tâm định tĩnh như vậy kheo trú xả nhìn sự vật, cái tâm định tĩnh như vậy là kheo trú xả, tại sao vậy, tại vì mình đi qua chánh tri kiến rồi, chánh tư duy rồi, các pháp mình đã chuẩn bị sẵn trong bát chánh đạo rồi cho nên chỗ an định thì thánh trí lúc đó nó tỏa sáng rực rỡ, chiếu sáng rực rỡ về tính chất vô thường hổ vô ngã của năm uẩn. Thì lúc trước mình cũng hiểu mà mình bị các thứ này nó che, ngũ cái nó che, tham sân si bản ngã vô minh nó đậy cho nên khi mờ khi tỏ.
Cho nên hồi nãy một chúng là vận hành bảy giác chi có lúc có thấy có lúc không, cũng như cái tưởng hình thọ của mình có lúc thấy có lúc không phải không, hay là lúc nào cũng thấy. Cái lúc tâm mình yên tịnh định thì mình thấy rõ nhưng lúc tâm mình bị dục tham chi phối hay là sân chi phối bị ôn trầm kì miên trạo cử chi phối thì lúc đó mình không thấy hoặc là thấy ít thấy không rõ.
Cho nên khi định này rồi thì thấy rõ thì xả nó sanh khởi, cho nên kheo tru xả là về vận dụng, trú vào trong cái tâm xả, thì lúc đó coi như xả để nhìn tất cả sự vật. Mình đọc kinh Tứ Niệm Xứ là cái câu gì, vị ấy thì sao, không có chắp chước, không có nương tựa chấp chước, cứ một vật gì trên đời đó là xả giác chi đấy.
Cho nên trong bài kinh Tứ Niệm Xứ là có sẵn bảy giác chi chứ không phải riêng, rồi khi mà các pháp mình thành tựu các trí rồi đó thì tất cả nó sẽ vận hành, trong một cái lúc đó nó có hết, trong Tứ Niệm Xứ nó có thất giác chi trong đó, khi mình nhận diện năm uẩn nó có hết. Nếu mình biết khéo léo vận dụng mà cái này đòi hỏi mình có trí huệ thiện xảo, pháp hành đầy đủ và phải vận dụng hết sức là khéo léo thì lúc đó mình mới biết cái gì đang có mặt, cái gì đang sanh khởi, cái gì đang phát triển cái gì bị thoái dạt mình phải biết phải thấy.
Còn cái quả của bảy giác chi nó khủng khiếp lắm, Minh Thành nói phớt qua thôi, Đức Phật nói các cái thánh quả. Này các tì kheo bảy giác chi được tu tập như vậy được làm cho sung mãn như vậy thành bảy quả lợi ích được chờ đợi nguy trong hiện tại lập tức được thành tựu thánh trí tức là chứng quả A La Hán bảy giác chi này mà được tu tập như vậy được lầm cho sung mãn như vậy thành bảy lợi ích được chờ đợi ngay trong hiện tại lập tức thành tựu chánh trí.
Nếu mà ngay trong hiện tại mà lập tức không thành tựu được chánh trí thời khi lâm chung thành tựu được chánh trí, sắp sửa ra đi, nên quả của bảy giác chi này nó kinh khiếp không. Đức Phật đưa xuống từ từ mà cũng y như vậy cũng thứ hai rồi xuống quả, thứ ba rồi xuống quả các cái quả, các từng cảnh giới của niết bàn, các cái bậc bất lai nhất lai,…
Như vậy là Minh Thành đã chia sẻ cái phần hai cái pháp để giúp cho mình thành tựu để tu tập, thứ nhất là làm bạn với thiện hết sức là quan trọng là Phật quyết định đây là toàn phần phạm hạnh. Những thành tựu là do làm bạn với thiện do bậc thiện tri thức toàn phần. Tại vì Đức Phật nói là có ai nói là phân nữa phạm hạnh là do bậc thiện tri thức thành tựu Đức Phật nói là đừng nói vậy là toàn phần phạm hạnh quyết định thành tựu trong tu hành của mình là do bậc thiện tri thức hoàn toàn quyết định thành tựu tu hành của mình, từ vị đó mà mình được chánh tri kiến.
Nếu mà mình không gặp được người chân nhân không gặp được chánh tri kiến không gặp được bậc minh nhãn thấy pháp người ta chỉ mình cái gì, đi theo tà kiến người mù thì xuống vực sâu, cho nên bậc thiện tri thức là quyết định toàn phần phạm hạnh, tích toàn bộ trong đời sống tu tập của mình, cho nên cái làm bạn với thiện là hết sức quan trọng trong bài kinh chánh giác cũng như vậy cũng nói làm bạn với thiện. Cái thứ hai là như lý tác ý là nó làm sanh khởi bảy giác chi, tất cả trong sự tuu hành của mình là như lý tác ý nó xuyên suốt hết từu bắt đầu cho đến kết thúc cho đến thành tựu A La Hán quả, cho nên mỗi một pháp như vậy Tứ Niệm Xứ mình muốn tu tập cũng phải dùng như lý tác ý.
Không như lý tác ý sao mà nhắc nhở tát động đánh đuổi được, rồi cái vấn đề trạch pháp cũng phải dùng như lý tác ý, tinh tấn hỉ khinh an… tất cả mọi cái là mình phải nhờ như lý tác ý. Rồi cho tới khi mà định rồi thì kheo tru xả cũng phải dùng cái tuệ lực để mà mình trú vào cái tâm xả. Rồi đó từ cái làm bạn với thiện đến như lý tác ý thực tập bảy giác chi viên mãn thì nó sẽ thành tựu thánh quả mà Đức Phật nói thành quả bảy kết quả cao nhất là thánh trí của tứ thánh quả.
LÀM BẠN VỚI THIỆN ĐI ĐẾN GIÁC NGỘ
Thích Minh Thành
MỤC LỤC
TOC \o "1-3" \h \z \u I. Làm bạn với thiện PAGEREF _Toc71879856 \h 1
II. Niệm giác chi PAGEREF _Toc71879857 \h 5
III. Lời cuối của Đức Phật PAGEREF _Toc71879858 \h 7
IV. Trạch pháp giác chi PAGEREF _Toc71879859 \h 10
V. Tinh tấn giác chi PAGEREF _Toc71879860 \h 11
VI. Hỷ giác chi PAGEREF _Toc71879861 \h 13
VII. Khinh an giác chi PAGEREF _Toc71879862 \h 15
VIII. Định giác chi – xả giác chi PAGEREF _Toc71879863 \h 15
I. Làm bạn với thiện
Kính thưa đại chúng, mấy ngày trước có một chúng tập sự xuất gia hỏi Minh Thành là sự kết hợp khi nhận diện năm Uẩn và tu tập bảy Giác Chi có được hay không. Lúc đó Minh Thành ở Bửu Liên Sài Gòn nên chưa tiện trả lời, hôm nay sẵn có cái duyên chúng ta sẽ tìm hiểu về bảy Giác Chi.
Bảy yếu tố giúp chúng ta đạt đến sự chứng ngộ, sự giác ngộ và bảy Giác Chi này là hết sức là cần thiết để chúng ta học hỏi, tìm hiểu,thực tập và hành trị . Đây là con đường của các bậc Chánh Đẳng Giác, không có một bậc Chánh Đẳng Giác nào thành tựu sự chứng ngộ mà không đi qua bảy Giác Chi. Cho nên đây là pháp định định đề, là những pháp mà nhất định những người học Phật trong tạng Nikāya của chúng ta nhất định phải nắm thật vững về lí thuyết và thực hành.
Trong bài kinh Giới, Tương Ưng Bộ kinh tập năm Đức Phật có nói rằng:
“Này các Tỷ-kheo, những Tỷ-kheo nào cụ túc giới, cụ túc định, cụ túc tuệ, cụ túc giải thoát, cụ túc giải thoát tri kiến, Ta nói rằng ai thấy các Tỷ-kheo ấy thì có rất nhiều lợi ích.
Ai nghe các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích. Ai yết kiến các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích. Ai thân cận các Tỷ-kheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích. Ai nhớ nghĩ đến các Tỷkheo ấy, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích. Ai tùy thuận các Tỷ-kheo ấy xuất gia, này các Tỷ-kheo, Ta nói rằng có rất nhiều lợi ích.
Vì sao? Này các Tỷ-kheo, khi nghe pháp từ các Tỷ-kheo như vậy, vị nào sống viễn ly (vupakattho), được hai sự viễn ly: viễn ly về thân và viễn ly về tâm.
Vị sống viễn ly như vậy thì sẽ tùy niệm (anussarati) pháp ấy, tùy tầm pháp ấy.
Này các Tỷ-kheo, trong khi Tỷ-kheo sống viễn ly như vậy, tùy niệm, tùy tầm pháp ấy; trong lúc ấy, niệm giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy. Trong khi Tỷ-kheo tu tập niệm giác chi; trong khi ấy, nhờ tu tập, niệm giác chi đi đến viên mãn.
Vị ấy trú với chánh niệm như vậy, với trí tuệ quyết trạch, tư sát, thành tựu quán sát pháp ấy.
Trong khi, này các Tỷ-kheo, Tỷ-kheo sống chánh niệm như vậy, với trí tuệ quyết trạch, tư sát và đi đến quán sát pháp ấy; trong khi ấy, này các Tỷ-kheo, trạch pháp giác chi bắt đầu phát khởi trong Tỷ-kheo ấy.”
(Tương Ưng Bộ Kinh Tập V, chương II, Tương Ưng Giác Chi, bài kinh Giới)
Chỗ này trước khi đi vào thất Giác Chi Minh Thành đọc đoạn kinh này để nhấn mạnh hai điểm cực kì quan trọng , là làm bạn với Thiện và như lý tác ý trong một bài kinh khác, bài kinh mặt trời cái này là điềm đi trước, cái này là tương báo trước của mặt trời mọc tức là rạng đông. Cũng vậy, này các Tì Kheo, cái này là điềm đi trước, cái này là tương báo trước của bảy Giác Chi sanh khởi tức là làm bạn với Thiện. Ai làm bạn với Thiện được chờ đợi rằng bảy Giác Chi sẽ được tu tập, bảy Giác Chi sẽ được làm cho sung mãn.
Trước nay chúng ta chưa nghe hoặc rất là ít nghe cái từ làm bạn với Thiện, nhưng mà trong Nikāya thì cái này là một Pháp hết sức là quan trọng . Làm bạn với Thiện , có yếu tố quyết định trong sự tu học của mình, làm bạn với Thiện, thân cận, gần gũi, thăm viếng, lắng nghe học hỏi và tu tập, với những vị đã thấy đã biết đã hiểu về đạo lộ của bậc Thánh về Chánh tri kiến.
Cho nên bài kinh vừa rồi cho chúng ta thấy được Đức phật nhấn mạnh rất nhiều rất nhiều lần, ai mà thấy được các vị đó thì sẽ được rất nhiều lợi ích, những vị đầy đủ giới định tuệ giải thoát tri kiến, bất cứ là thầy hay cô hay vị cư sĩ mà những vị nào thành tự được giới định đầy đủ được trí tuệ giải thoát tri kiến thấy biết về giải thoát thì ai mà nghe tới vị ấy, yết kiến các vị ấy, thân cận các vị ấy, nhớ nghĩ đến các vị ấy, thuận theo các vị ấy mà tu tập ta nói rằng có rất nhiều rất nhiều lợi ích.
Cho nên lợi ích của việc mà đến chùa không phải là đến dừng lại chỗ thắp nhang lạy Phật cúng dường tụng kinh, không phải dừng lại ở đó, mà vấn đề là Đức Phật dạy mình làm bạn với Thiện là lắng nghe thuyết Pháp. Nhiều lắm Đức Phật dạy rất là kĩ mình học đủ rồi mình mới lắng nghe đủ giá trị.
Trong bài kinh Vô Minh, Tăng Chi Bộ Kinh tập bốn Đức Phật dạy từng bước từng bước, chín bước để mà mình đi tới Minh và giải thoát. Giao thiệp với bậc Chân Nhân, Chân Nhân là người sống biết ơn, nhớ ơn, đền ơn, người biết nhân quả, tội phước, là bậc thấy biết con đường của Đức Phật. Chánh tri kiến giao thiệp với bậc Chân Nhân thì sao? Thì được nghe diệu Pháp, nghe diệu Pháp thì sao? Thì sẽ sanh khởi được lòng tin. Sanh khởi lòng tin thì sao? Thì sẽ làm cho được đầy đủ như lý tác ý, như lý tác ý là sự suy nghĩ suy xét đúng Chánh Pháp, khi mình đã có lòng tin rồi thì mình sẽ có được sự suy nghĩ, suy xét đúng Chánh Pháp.
Suy nghĩ suy xét đúng Chánh pháp như lý tác ý như vậy thì sao? Thì đưa đến cái gì? Đưa đến Chánh niệm và tỉnh giác. Chánh niệm và tỉnh giác thì đưa đến gì, các căn được chế ngự. Mắt, tai, mũi, lưỡi, thân ý của mình được chế ngự, được nhiếp phục, được hộ trì, được bảo vệ được gìn giữ. Mà khi mình có được cái sự chế ngự các căn, mắt tai mũi lưỡi thân ý mình được gìn giữ thì sao? Ba thiện hạnh được đầy đủ, ba thiện hạnh là nghĩ thiện, nói thiện và làm thiện.
Khi mình có được sự chế ngự các căn thì đi đến lần lần đi đến đầy đủ những suy nghĩ lành, những lời nói lành và những việc làm lành. Mà ba cái thiện hạnh này nó được đầy đủ thì nó đưa đến cái gì, đầy đủ bốn niệm xứ, bảy giác chi, minh và giải thoát được viên mãn.
Cho nên bài kinh này là hết sức quan trọng, bài kinh Vô Minh, Tăng Chi Bộ Kinh tập bốn và Đức Phật nói trình tự để mình làm bạn với Thiện, để mình tiếp xúc với Phật Pháp chớ không phải như cái tâm thường của mình là thói quen trong dân gian là đến chùa,thì lậy Phật, cúng tụng là giỏi rồi đó rồi xong đi về, mà này là giao thiệp với Chân Nhân dể nghe diệu Pháp, nghe diệu pháp để sanh khởi lòng tin, chánh tín , mà khi sanh khởi được lòng tin rồi đó thì cái suy nghĩ của mình nó sẽ đúng như Chánh Pháp.
Như lý tác ý mình có được sự canh chừng tâm ý được kiểm soát tâm ý, sự quản lí tâm ý, và có sự như lý tác ý đúng Pháp như vậy thì sao, Chánh niệm tịnh giác sẽ sanh khởi tĩnh giác. Như vậy là cái trình tự chế ngự các căn ba thiện hạnh nghĩ thiện, nói thiện, làm thiện, thân hành, khẩu hành, ý hành đều tốt lành. Phật nói buổi sáng mình nghĩ điều lành, nói lời lành, làm việc lành, buổi trưa mình nghĩ điều lành, nói lời lành, làm việc lành, buổi chiều buổi tối mình nghĩ điều lành, nói lời lành, làm việc lành thì người đó tất cả đều được an lành.
Cho nên hai cái Pháp ở đây mình phải để ý thật là kĩ là hai Pháp là gì, là làm bạn với Thiện và như lý tác ý. Hai cái này nó dẫn tới bảy giác chi được viên mãn, chứ không phải tự động mình nói mình tu được bảy giác chi. Khi Phật đưa một hình ảnh rát là tuyệt vời, cái này là điềm đi trước cái này là tương báo trước của mặt trời tức là rạng đông. Khi mình nhìn thấy ở trên trời mà cái ánh sáng bắt đầu là xuất hiện rạng đông , thì đó là mình biết được cái gì, là điềm đi trước là tương báo trước của mặt trời mọc. Cũng vậy, cấi này là điềm đi trước là tương báo trước của bảy giác chi dược sanh khởi, tức là làm bạn với Thiện. Gần gũi với bậc Thiện tri thức, bậc Chân Nhân, bậc Chánh tri kiến, những vị đã thấy đã biết con đường thì đó là gì, là cái điềm báo trước của mặt trời mọc, là cái điềm báo trước của thất giác chi, bảy giác chi sẽ được sanh khởi được viên mãn, sẽ được tu tập, sẽ được làm cho sung mãn, đầy đủ cái con đường dẫn đến sự giác ngộ của mình. Cho nên các Phật tử đường xa hàng trăm cây số, mưa gió bão bùng, núi đồi khó đi, mình vượt qua là gì là để mình làm bạn với Thiện. Tu tập niệm giác chi liên hệ đến viễn li, liên hệ đến li tham, liên hệ đến đoạn diệt, hướng đến từ bỏ.
II. Niệm giác chi
Giờ trả bài nhé, giờ trả bài niệm giác chi là gì?
Dạ nam mô bổn sư Thích Ca Mâu Ni Phật, niệm giác chi gồm có bảy phần là Tì Kheo sống quán thân trên thân, quán thọ trên thọ, quán tâm trên tâm và quán pháp trên pháp. Để các quý vị thấy là các Pháp nó liên hệ với nhau không phải bảy giác chi là nó riêng. Niệm giác chi là Tứ Niệm Xứ mà mình nói một cách đơn giản là mình luôn luôn nhớ nhìn lại kiểm soát thân thể cảm giác nội tâm và những thứ nó đang vận hành ở bên trong. Mình luôn luôn kiểm soát nhìn lại dòm ngó canh chừng thân thể, cảm giác, nội tâm và những thứ nó đang vận hành bên trong đó là tứ niệm xứ. Nhưng mình phải thuộc, mình nắm được.
Cái niệm thân là mấy phần, niệm thọ là sao, niệm tâm làm sao, niệm Pháp làm sao, mà nếu mình mới thì mình đọc phần niệm thân cho vững đi, mới thì mình từ từ thôi, riêng cái phần niệm thân mình phải nắm thật là vững. Cho nên là tại sao ở đây Minh Thành chưa chia sẻ bảy giác chi, tại vì nếu mà Tứ Niệm Xứ mà mình chưa nắm vững sao mình đi qua được bảy giác chi, tại vì niệm giác chi không đã bao trùm Tứ Niệm Xứ rồi.
Và trong Tứ Niệm Xứ đó là có thể mình chưa đầy đủ, một phần thôi là phần niệm thân do mình chưa thực hành nhưng mình phải biết mình hiểu và có khi thực hành mình sẽ gặp. Tại vì cái này nó ở trong thân tâm của mình, giờ thí dụ như bây giờ một người mà không thực hành Tứ Niệm Xứ thì nội tâm của họ có sanh khởi lên sự nóng giận, bực bội họ có biết không, biết rằng tôi đang có bực không, biết không. Họ biết mà họ biết trễ, chậm và họ biết cái kiểu của người không biết trong phật Pháp.
Chứ họ biết khi mình, khi một người bình thường họ nóng lên họ bực, họ biết là tôi đang bực không, biết không, biết chớ. Như mà họ biết cái bực này là từ đâu sanh khởi mà làm sao để nó chấm dứt họ không biết, mà họ biết cái bực này là khi đó cái bực này nó phựt lên họ mới biết, tức là nó đã biểu hiện ra một sự mạnh mẽ, thô bạo. Ở trên khẩu hành thân hành, trên ngôn ngữ và hành động.
Còn sự khác nhau giữ người có học có tu và Tứ Niệm Xứ là gì? Là nó mới vừa rục rịch, cục kịch, xục xịch, nó manh nha thôi, nó sanh khởi bên trong là mình thấy mình biết. Thì cái biết của người tu cũng là biết, mà cái biết của người không tu kia cũng biết nhưng mà một cái biết là biết ở trong vô minh, trong si ám, không có trong triết của Đức Phật, không có nương dựa theo Thánh Triết của Đức Phật để soi sáng, còn một cái biết là nương dựa theo Thánh tri kiến cho nên cái biết của Thánh tri kiến là sự tập khởi, sự sanh khởi của cơn giận, sự an trú của cơn giận, sự chấm dứt của cơn giận, biết được cái xào quyệt hang ổ căn cứ địa cái xuất phát điểm cái khởi nguyên của cơn giận đó từ đâu, ở trong cảm giác.
Biết được cơn giận nó an trú, vận hành như thế nào, và mình có những phương pháp mình tác động để cho mình chặn đứng lại, để cho nó giảm thiểu, thậm chí là để mình xóa tan xóa sạch thì đó là cái sự biết khác biệt đó gọi là Thánh trí về tham sân si, Chỗ này là chỗ đặc biệt đó, cũng là cái biết mà cái biết của vô minh, của si ám, của mê muội, cũng là cái biết đó mà mình dựa theo Thánh Triết của Đức Phật, Đức phật có nói là gì lời di chúc của Đức Phật lời cuối của Đức Phật là gì, ai học thuộc nhớ đứng lên đọc coi.
III. Lời cuối của Đức Phật
“Vậy nên, này Ananda, hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, hãy tự mình nương tựa chính mình, chớ nương tựa một gì khác. Dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, chớ nương tựa một gì khác. Này Ananda, thế nào là vị Tỷ-kheo hãy tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.
Này Ananda, ở đời, vị Tỷ-kheo, đối với thân quán thân, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời; đối với các cảm thọ... đối với tâm... đối với các pháp, quán pháp, tinh tấn, tỉnh giác, chánh niệm, nhiếp phục mọi tham ái, ưu bi trên đời. Này Ananda, như vậy vị Tỷ-kheo tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa một gì khác.
Này Ananda, những ai sau khi Ta diệt độ, tự mình là ngọn đèn cho chính mình, tự mình nương tựa chính mình, không nương tựa một gì khác, dùng Chánh pháp làm ngọn đèn, dùng Chánh pháp làm chỗ nương tựa, không nương tựa vào một pháp gì khác, những vị ấy, Này Ananda là những vị tối thượng trong hàng Tỷ-kheo của Ta, nếu những vị ấy tha thiết học hỏi.”
(Trường Bộ Kinh – Kinh Đại Bát Niết Bàn)
Cho nên câu này là nhiều người hiểu lầm lắm, phải tự mình nương tựa chính mình đừng có nương tựa gì khác, thành ra cái câu này là cái câu dễ chết lắm. Bởi vì ngắt ngang như vậy hết sức là nguy hiểm, rồi sau Đức Phật giải thích nương tựa hãy nương tựa vô chánh pháp, lấy chánh pháp làm ngọn đèn.
Chánh pháp là gì là Tứ Niệm Xứ, mà Tứ Niệm Xứ là gì là sự quay trở lại kiểm soát thân tâm, mà kiểm soát thân tâm để chi, để mà nhiếp phục tham sân si. Tại sao phải nhiếp phục tham sân si, tại tham sân si là nguồn cội của tất cả khổ. Mình coi tất cả những tin tức thời sự hằng ngày báo chí đó, đó là cái hệ quả cái hậu quả của tham sân si, vì vậy mà cái nguồn của khổ là do tham sân si nó phát nguyên ra, nó bắt nguồn ra.
Mà bây giờ mình tu là gì, mình chặn cái nguồn của khổ đó, thì nó hết khổ. Phải thấy được vấn đề nó trọng điểm là ở chỗ đó. Như vậy thì lấy chánh pháp làm ngọn đèn, như vậy thì mình phải nương tựa nơi chánh pháp, mà nương tựa nơi chánh pháp là nương tựa nơi thánh triết lời dạy của Đức Phật. Nương tựa nơi thánh triết lời dạy của Đức Phật để mình thấy mình biết cái sự thật về thân và tâm. Mà cái sự thật về thân và tâm là sự thật gì? Điều đầu tiên Đức Phật nói với mình là quán thân trên thân. Cái phần quán thân trên thân này Minh Thành nói nhiều rồi nên là ở đây chúng ta không có nhắc lại.
Quán các cảm giác, chúng ta cũng chia sẻ rất là nhiều bài, quán tâm là mình nhìn coi nội tâm có tham hay là không tham, nội tâm có sân hay là không có sân và nó sanh khởi đã sanh khởi chưa sanh khởi hay là nó đã sanh khởi rồi mà bị dập tắt, hay là chưa sanh mà nay nó sanh khởi tất cả những cái đó mình phải quán, mình có một phương pháp xử lí và qua cái phần quán pháp. Trong phần quán pháp nó có quán về bảy giác chi.
Như vậy thì khi mà mình tu tập, tu tập Tứ Niệm Xứ hay là bảy giác chi này đó là để làm cái gì. Đức Phật nói là liên hệ đến viễn li liên hệ đến li tham, cái câu này đó là mình phải khắc vào tim khắc vào trí khắc vào tâm liên hệ đến viễn li, liên hệ đến li tham, liên hệ đến sự rời xa. Rời xa những gì, rời xa những cái gì mà nó làm phát triển tham sân si. Cái gì nó làm cho sanh khởi phát triển tham sân si mình phải rời xa nó. Rời xa cái gì, rời xa sắc, thọ, tưởng, hình, thức.
Hồi xưa mình chưa có thấy chưa biết chánh pháp thì mình đam mê ở trong những cái sắc tất cả mọi cảm giác, mình đam mê ở trong cảm giác ở trong những cái nghĩ tưởng, bám chắc và cho rằng sắc này là tôi, là của tôi, từ sắc trong cho đến sắc ngoài, nội sắc cho đến ngoại sắc, nội thân cho đến ngoại thân. Nội ngoại thắng liệt thô tế xa gần tất cả các sắc mình đều cho nó là tôi là của tôi hết. Bây giờ mình đi ở trên con đường bát chánh là cái đầu tiên là mình phải nhìn thấy được cái sự thật và cái sắc uẩn, và những cảm giác và những nghĩ tưởng.
Và mình tu tập tất cả những cái pháp này là nhằm xa rời và bớt tham lìa tham đối với năm uẩn. Mình biết cái mục đích của nó là vậy cho nên là bữa nào gtrước khi nghe pháp mình cũng đã cúi đầu đảnh lễ giáo pháp li tham tối thượng. Hai cái chữ li tham đó là nó bao trùm hết tổng cương lĩnh của giáo pháp. Tại vì mình còn tham ở trong sắc trong thọ trong tưởng trong hình trong thức là mình còn khổ, tại vì những thứ đó là vô thường, là vô ngã là những thứ đem lại những sự phiền phức, phiền não là phiền phức, là ưu não.
Bao nhiêu những suy nghĩ, bao nhiêu những lo lắng, bao nhiêu những sợ hãi, bao nhiêu những nước mắt mình giàn dụa là vòng vòng chung quanh những thân thể chúng ta, cảm giác và nghĩ tưởng. Cho nên cái mục đích của sự tu tập này là để rời xa cái sự dính mắc, lìa xa cái sự tham đắm trong những thứ đó, mình phải hiểu được cái mục đích của nó là như vậy. Tu là để đi đến chỗ đó, tu là để làm sao xác nhập vô cái chỗ đó, tu làm sao để liên hệ được chỗ đó, tu làm sao để đi đến được chỗ đó, tu làm sao để đạt đến cái chỗ đó như vậy gọi là liên hệ đến viễn li, liên hệ đến li tham, liên hệ đến từ bỏ, hướng đến từ bỏ.
IV. Trạch pháp giác chi
Mà khi mình luôn luông thường trực, mình luôn luôn nhớ thân, thọ, tâm, Pháp như vậy thì sao. Cái đó là mình đang thực tập, một chi phần thứ nhất để đưa đến giác ngộ. Do mình thường nhớ, thường nghĩ, thường nhìn như vậy thì trong nội tâm của mình nó sanh khởi một sự thấy biết rành rõ rồi thì trạch Pháp quyết trạch, giản trạch, một sự thấy biết rành rõ, minh bạch tường tận nó sẽ sanh khởi trong nội tâm của mình.
Vì trú với chánh niệm như vậy, với trí huệ quyết trạch tư sát thành tựu quán sát Pháp ấy, trạch Pháp giác chi bắt đầu phát khởi ở trong vị ấy. Tức là vị ấy an trú với chánh niệm như vậy, chánh niệm là Tứ Niệm Xứ do cái sự thực tập thường trực của mình nhìn lại thân tâm cho nên cái trí huệ quyết trạch tư sát nó sẽ thành tựu. Tại vì mình không nhìn làm sao mình thấy, mình không thấy làm sao mình biết cho nên khi mình thường nhìn lại thì mình sẽ thấy, mình thấy mình biét được thì mình sẽ có cái trí tuệ quyết trạch tư sát nhìn một cách thấu đáo, tường tận, tinh tế, tinh vi và sâu sắc.
Đối với những gì đang diễn ra bên trong thân tâm của mình như vậy gọi là trạch pháp giác chi nó sanh khởi. Khi quý vị thực hành trong thời gian vừa rồi, quý vị có nhìn thấy những cảm giác của mình không, có nhìn thấy các cái tường không, có nhìn thấy những suy nghĩ trong tâm không, mình có cảm thấy cái nào là cảm giác thiện, cái nào là cảm giác bất thiện không, cái nào là những cái tưởng dục tưởng ái, những cái tưởng li dục, cái nào là cái tưởng sân cái nào là những cái tưởng li sân, cái nào là những cái tưởng hại cái nào là cái tưởng đưa đến bất hại mình có thấy được không đó là trạch pháp giác chi đó.
Thành ra mình chưa học mình tưởng thấy xa nhưng mà thật sự mình đang sử dụng mà mình không biết, cái lúc mà mình nhìn thấy được các cảm giác nghĩ tưởng, cái nào ra cái nấy thiện và bất thiện, cái nào là vô minh và minh, cái nào là tuệ và không phải tuệ mình trạch pháp phân rõ như vậy đó là trạch pháp giác chi đang vận hành. Cái này là cái thấy rõ nhất là trong lúc mình ngồi thiền cho nên cái phần quán pháp trong pháp và bảy thất giác chi.
Như vậy thì Trí Hòa lúc ngồi thiền có nhìn thấy được không. Thì đó là mình đang tu tập bảy giác chi. Cái tâm của mình nó yên tịnh sáng tỏ như vậy thì Đức Phật thường nói là gì cái nội tâm yên tịnh như vậy thì các Pháp sẽ hiện rõ như thật, lúc đó mình sẽ thấy được như thật, các Pháp nó sanh khởi, nó an trú vận hành trong nội tâm mình mình sẽ thấy rõ tất cả. Cái đó là chỗ mình nghĩ là công năng của Thiền định cộng với trí huệ chánh tri kiến của mình, cộng với sự giới hạnh mình giữ gìn hộ trì căn trong hàng ngày, rồi cái đỉnh ba chân của thánh giới của thánh định uẩn và thánh tuệ uẩn kết hợp lại và cái thành quả cao cán, cái hiệu năng lúc đó là lúc các pháp nó sanh khởi là mình nhìn thấy mình biết có khả năng thuyết phục và chuyển hóa trong lúc ngồi thiền và trong lúc sinh hoạt hàng ngày, lúc đó là lúc các pháp nó sanh khởi hiện hành nó hoạt động mình thấy, mình biết, mình quản lí, mình kiểm soát mình làm chủ được.
Cho nên cái này là một cái mình tu mình thấy hay lắm, và cái thất giác chi này mình làm hàng ngày trong mọi lúc mọi nơi. Trong tâm mình có dục có tham, mình biết là có dục có tham thì mình biết cái dục tham này đưa đến cái khổ, đưa đến cái phiền phức, đưa đến sự hệ lụy trói buộc và nó muốn đi theo nó thì lúc đó mình mới quán bất tịnh.
V. Tinh tấn giác chi
Thì như vậy mình sanh khởi thêm cái gì nữa thất giác chi vị ấy trí tuệ quyết trạch tư sát và thành tựu quán sát pháp ấy thời tinh tấn không có thụ động phát khởi nơi vị ấy. Một khi mà trạch pháp nó rõ ràng thì tự động tinh tấn giác chi nó sẽ sanh khởi, cái đó là cái gì là sự vận hành là theo cái trình tự của cái tâm, không thể một người có tinh tấn giác chi mà thất giác chi nó không sanh khởi không thể có được, sớm muộn nó sẽ sanh khởi.
Giống như giờ mình lạc vô một cái chỗ đó rừng rậm mà mình nhìn thấy một con đường mình biết rõ một con đường này càng đi vô thì càng lạc thú dữ rắn rích trùng độc, một con đường này mình biết đi ra sẽ tốt đẹp thoát khỏi cánh rừng này. Khi mình biết rõ ràng như vậy rồi mình còn đi vô con đường nguy hiểm thú dữ nữa không, thì đó khi trạch pháp giác chi sanh khởi thì sự tinh tấn nổ lực sẽ sanh khởi mình thấy rõ cái nào đưa đến lạc cái nào đưa đến khổ cái nào đưa đến an và cái nào đưa đến nguy rồi thì lúc mình thấy rõ là trạch pháp giác chi nó sanh khởi.
Sự quyết trạch sự phân biệt rạch ròi rõ ràng các pháp ở trong thân tâm thì lúc đó tinh tấn giác chi nó sẽ sanh khởi, nổ lực đi nhanh lên đi lẹ đi mau lên thú dữ rắn rích thì như vậy tinh tấn giác chi nó sanh khởi. Minh Thành hay ví dụ đó, mình đang nằm ngủ giậc mình thức dậy mình thấy con rắn hổ mang nó nằm kế bên nó thò đầu nó đưa vô gần mình, thì lúc đó làm sao, mình thấy rõ là con rắn hổ mang rắn độc, thì lúc mình thấy rõ như vậy là mình trạch pháp rồi đó, lúc đó là mình nằm yên hay sao, mình chạy hay mình đánh đuổi nó ra thì cái đó là tinh tấn giác chi đó mình dùng đủ mọi phương tiện mọi cách thức hết để đánh đuổi những thứ độc hại những thứ nguy hiểm những tác hại mà nó đưa đến cho mình khổ, nguy hiểm thì tinh tấn giác chi nó sanh khởi.
Mấy chú thấy được cái này chưa, có không, có thực tập phải không. Nhưng mà cái này hồi đó nó có mình cũng làm mà mình không biết bây giờ mình nhận diện thất giác chi, khi mà mình biết rồi lúc đó mình mới phát huy nó tột độ hết mức khác nhau giữa chỗ biết và không biết, mình sử dụng mà mình không biết đó là trạch pháp giác chi là tinh tấn giác chi mình không biết. mà bây giờ mình biết để chi, mỗi khi mà cái đó nó có rồi là mình làm nó lớn mạnh tăng trưởng viên mãn tròn đầy ở trong thân tâm của mình.
VI. Hỷ giác chi
Rồi đó là gì tinh tấn giác chi nó sanh khởi thì sao nó đưa đến cái gì nữa, với cái vị mà tinh cần tinh tấn như vậy đó thì cái hỉ không liên hệ đến vật chất khởi là Đức Phật nói rất kỉ, hỉ là không liên hệ đến Phật pháp chứ Phật không có nói hỉ không, trong bài này là cái bài giảng kĩ. Cái sự hoan hỉ đó, cũng như giờ mình đang có một cơn giận mà mình tinh tấn mình tát ý mình đánh đuổi cơn giận đó ra bằng cái từ tâm giải thoát bằng cái sự bao dung tha thứ, bằng sự dập tắt được cơn giận coi như lúc đó mình có vui không, hỉ nó sanh khởi đó. Mà cái hỉ này là cái hỉ không liên hệ đến vật chất.
Cũng như mình đánh đuổi con rắn đó ra rồi mình thấy yên tâm khỏe rồi mình cười nãy hết sức nguy hiểm, giật mình cái tôi thấy con rắn hổ mang nằm kế bên, thì lúc đó mình thấy một cảm giác rất là nguy hiểm, lo lắng và sợ hãi, mà khi mình đánh đuổi nó ra rồi thì lúc đó mình vui khỏe rồi thấy an ổn có cảm giác an tọa. Nhưng mà lúc trước mình vẫn có hỉ chứ không phải không mà cái hỉ của mình có khi mình biết có khi mình không biết mà mình không phát huy cho nó lớn mạnh viên mãn như vậy gọi là mình không có tu tập bảy giác chi mà bảy giác chi nó vẫn vận hành.
Mà mình tu tập là gì mình thấy rõ biết rõ nó vun bồi, mình làm cho nó lớn mạnh tăng trưởng phát triển và đi đến chỗ viên mãn như vậy là mới gọi là tu tập, mà mình không thấy không biết thì không gọi là tu tập, nó đang có trong nội tâm mà mình không thấy không biết gì hết đó không gọi là tu tập. Như vậy mình muốn hỉ giác chi này nó sanh khởi lớn mạnh trong thân tâm mình thì mình phải tu tập phải tưới tẩm, phải nuôi dưỡng , mình phải làm cho nó phát triển, mỗi khi mà mình đánh đuổi được một cơn giận lên làm cho cái hỉ mình nó hoan hỉ sung mãn lên làm cho nó phát triển cảm giác hỉ lạc an vui, hạnh phúc tôi đánh đuổi được cái cơn giận.
Thấy mời ăn mời chơi cười vui mời đi du lịch tôi vui phải không chứ không ai nói hôm nay tôi vui vì tôi đánh đuổi được cơn giận trong tâm tôi đuổi được nó ra, phải không, mai mốt phải có cái vụ này nha. Sư phụ ơi thưa thầy nay con vui quá trong cái tuần lễ này con đánh ba chục cơn giận, con đánh gục con đuổi nó ra khỏi nội tâm con, sáng giờ con cũng là chằng ai khoai cũ, con chiến đấu liên tục từ sáng tới giờ bây giờ con đánh nó xong rồi, vui khỏe rồi, hỉ giác chi nó sanh khởi rồi.
Có mấy chú nào trẻ trẻ nói thầy ơi ba bốn ngày nay sư phụ đi ở nhà con đánh với cái dục con mệt hết sức mà bữa nay con đánh nó ổn rồi bữa nay vui quá con trình cho sư phụ. Rồi út sáu lên thưa thầy ơi bữa nay con chiến đấu được cái trầm hôm trước ngồi nghe pháp lờ đờ nó muốn gục rồi sao bữa nay đánh được rồi bữa nay nó không bị lờ đờ nữa không trầm nữa, mừng quá vui quá hân hoan lên thì mình phải làm cho cái hỉ nó hân hoan khi mình đánh đuổi được một cái thứ triền cái, một thứ vô minh, một thứ phiền não trong nội tâm mình thì cái hỉ lạc, sung sướng, vui thích đó nó nuôi dưỡng nó được tưới tẩm ,nó được chăm sóc nó được vun bồi, nó được o bế thì cái hỉ lạc nó mới lớn mạnh nó tăng trưởng lên từ từ nó đánh sập cái kia luôn và cái sự thiện pháp nó mới được là tứ chánh cần, nó được lớn mạnh trong thân tâm của mình.
Chứ còn cái này có cũng như không, không cũng như có, đánh xong cũng đều đều vậy cũng không có gì hết thì nó sẽ không được nuôi dưỡng. Khi mà mình đuổi được cái hôn trầm đó ra rồi mình phải thấy hân hoan vui thích lên, hoan hỉ lên làm cho cái cảm giác hỉ lạc mình cho phép nó sung mãn luôn, nó đầy giẫy hết từ đỉnh đầu cho đến gót chân của mình, mình cho phép cái cảm giác đó nó sanh khởi, mình tát ý cho nó hỉ lên. Vui quá thích quá hoan hỉ quá giờ nghe pháp thấy nó tỉnh táo, minh mẫn mà pháp nó vô vậy là mình nuôi lớn hỉ giác chi, mình đang tu tập hỉ giác chi.
VII. Khinh an giác chi
Do cái hỉ này nó sẽ không phải như vậy quài, lúc đầu thì mình nuôi lớn vậy nhưng mà cái hỉ này nó đi đến một cái mức thì nó sẽ bước qua tới cái gì, với vị có hỉ thân được khinh an tâm được khinh an, tại vì cái lúc nào cũng vậy, mới thì nó mạnh nhưng mà từ từ rồi nó sẽ bảo hòa.
Cho nên cái hỉ lúc đầu nó thô, khi mà mình được cái hỉ này nhiều rồi mình an trú rồi lần lần cái hỉ này sẽ đi đến trạng thái đi tới an tịnh nó bước qua khinh an giác chi nó được sanh khởi, một sự nhẹ nhàng, nãy đi thiền hành có thấy nhẹ không? Thấy khinh an thấy nhẹ nhàng, nó không vui giống như mình nghe nhạc hay là mình đi ăn nhà hàng đi chơi, nhưng mà nó vui cái chỗ nó nhẹ nhàng thảnh thơi an tịnh, khinh an giác chi. Rồi cái sự khinh an đó đó, khinh an này nó dẫn đến cái gì, với vị có cái thân khinh an lạc nó hiện hữu, với vị có lạc tâm được định tĩnh đó là cái trình tự của pháp.
Cho nên người ta hiểu lầm, người ta tưởng đi tu khổ, không phải, lạc nó mới đưa vào định, nếu một người mà có tâm không an lạc thì không có vô định được, người này đang giận ai làm sao vô định, đang bực bội làm sao định, đang khao khát ham muốn làm sao vô định, đang si mê ám chướng trì trệ mơ màng làm sao vô định.
VIII. Định giác chi – xả giác chi
Cho nên là với một cái thân khinh an như vậy đó thì lạc nó hiện hữu, cái sự an lạc hỉ lạc, an lạc này nó vi tế hơn cái hỉ, nó nhẹ cái sự vui nó rất là nhẹ. Nãy mình ngồi đó hành tâm hiền, thọ hiền vui vui nhè nhẹ, cái đó nó đi vào định, vui vui đó là lạc hiện hữu. Mà khi mà cái lạc hiện hữu như vậy đó thì tâm nó được định tĩnh tự động pháp nó vận hành như vậy, chứ còn ngồi mà ráng cố gắng đừng suy nghĩ này nọ kia thì cái đó nó khác, không phải là cái thánh chánh định của bát chánh đạo.
Vị ấy với cái tâm định tĩnh như vậy kheo trú xả nhìn sự vật, cái tâm định tĩnh như vậy là kheo trú xả, tại sao vậy, tại vì mình đi qua chánh tri kiến rồi, chánh tư duy rồi, các pháp mình đã chuẩn bị sẵn trong bát chánh đạo rồi cho nên chỗ an định thì thánh trí lúc đó nó tỏa sáng rực rỡ, chiếu sáng rực rỡ về tính chất vô thường hổ vô ngã của năm uẩn. Thì lúc trước mình cũng hiểu mà mình bị các thứ này nó che, ngũ cái nó che, tham sân si bản ngã vô minh nó đậy cho nên khi mờ khi tỏ.
Cho nên hồi nãy một chúng là vận hành bảy giác chi có lúc có thấy có lúc không, cũng như cái tưởng hình thọ của mình có lúc thấy có lúc không phải không, hay là lúc nào cũng thấy. Cái lúc tâm mình yên tịnh định thì mình thấy rõ nhưng lúc tâm mình bị dục tham chi phối hay là sân chi phối bị ôn trầm kì miên trạo cử chi phối thì lúc đó mình không thấy hoặc là thấy ít thấy không rõ.
Cho nên khi định này rồi thì thấy rõ thì xả nó sanh khởi, cho nên kheo tru xả là về vận dụng, trú vào trong cái tâm xả, thì lúc đó coi như xả để nhìn tất cả sự vật. Mình đọc kinh Tứ Niệm Xứ là cái câu gì, vị ấy thì sao, không có chắp chước, không có nương tựa chấp chước, cứ một vật gì trên đời đó là xả giác chi đấy.
Cho nên trong bài kinh Tứ Niệm Xứ là có sẵn bảy giác chi chứ không phải riêng, rồi khi mà các pháp mình thành tựu các trí rồi đó thì tất cả nó sẽ vận hành, trong một cái lúc đó nó có hết, trong Tứ Niệm Xứ nó có thất giác chi trong đó, khi mình nhận diện năm uẩn nó có hết. Nếu mình biết khéo léo vận dụng mà cái này đòi hỏi mình có trí huệ thiện xảo, pháp hành đầy đủ và phải vận dụng hết sức là khéo léo thì lúc đó mình mới biết cái gì đang có mặt, cái gì đang sanh khởi, cái gì đang phát triển cái gì bị thoái dạt mình phải biết phải thấy.
Còn cái quả của bảy giác chi nó khủng khiếp lắm, Minh Thành nói phớt qua thôi, Đức Phật nói các cái thánh quả. Này các tì kheo bảy giác chi được tu tập như vậy được làm cho sung mãn như vậy thành bảy quả lợi ích được chờ đợi nguy trong hiện tại lập tức được thành tựu thánh trí tức là chứng quả A La Hán bảy giác chi này mà được tu tập như vậy được lầm cho sung mãn như vậy thành bảy lợi ích được chờ đợi ngay trong hiện tại lập tức thành tựu chánh trí.
Nếu mà ngay trong hiện tại mà lập tức không thành tựu được chánh trí thời khi lâm chung thành tựu được chánh trí, sắp sửa ra đi, nên quả của bảy giác chi này nó kinh khiếp không. Đức Phật đưa xuống từ từ mà cũng y như vậy cũng thứ hai rồi xuống quả, thứ ba rồi xuống quả các cái quả, các từng cảnh giới của niết bàn, các cái bậc bất lai nhất lai,…
Như vậy là Minh Thành đã chia sẻ cái phần hai cái pháp để giúp cho mình thành tựu để tu tập, thứ nhất là làm bạn với thiện hết sức là quan trọng là Phật quyết định đây là toàn phần phạm hạnh. Những thành tựu là do làm bạn với thiện do bậc thiện tri thức toàn phần. Tại vì Đức Phật nói là có ai nói là phân nữa phạm hạnh là do bậc thiện tri thức thành tựu Đức Phật nói là đừng nói vậy là toàn phần phạm hạnh quyết định thành tựu trong tu hành của mình là do bậc thiện tri thức hoàn toàn quyết định thành tựu tu hành của mình, từ vị đó mà mình được chánh tri kiến.
Nếu mà mình không gặp được người chân nhân không gặp được chánh tri kiến không gặp được bậc minh nhãn thấy pháp người ta chỉ mình cái gì, đi theo tà kiến người mù thì xuống vực sâu, cho nên bậc thiện tri thức là quyết định toàn phần phạm hạnh, tích toàn bộ trong đời sống tu tập của mình, cho nên cái làm bạn với thiện là hết sức quan trọng trong bài kinh chánh giác cũng như vậy cũng nói làm bạn với thiện. Cái thứ hai là như lý tác ý là nó làm sanh khởi bảy giác chi, tất cả trong sự tuu hành của mình là như lý tác ý nó xuyên suốt hết từu bắt đầu cho đến kết thúc cho đến thành tựu A La Hán quả, cho nên mỗi một pháp như vậy Tứ Niệm Xứ mình muốn tu tập cũng phải dùng như lý tác ý.
Không như lý tác ý sao mà nhắc nhở tát động đánh đuổi được, rồi cái vấn đề trạch pháp cũng phải dùng như lý tác ý, tinh tấn hỉ khinh an… tất cả mọi cái là mình phải nhờ như lý tác ý. Rồi cho tới khi mà định rồi thì kheo tru xả cũng phải dùng cái tuệ lực để mà mình trú vào cái tâm xả. Rồi đó từ cái làm bạn với thiện đến như lý tác ý thực tập bảy giác chi viên mãn thì nó sẽ thành tựu thánh quả mà Đức Phật nói thành quả bảy kết quả cao nhất là thánh trí của tứ thánh quả.