Thư Viện Linh Quy
← Danh sách

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 27 - Trình Pháp Tổng Quát Pháp Hành 1

2026-03-03 00:56:17
Tinh Hoa Nikāya

Tóm Tắt Ngũ Uẩn Giảng Giải 27

Trình Pháp Tổng Quát Pháp Hành 1

Thích Minh Thành

MỤC LỤC

TOC \o "1-3" \h \z \u I. Nhận diện ngũ uẩn PAGEREF _Toc204009750 \h 1

II. Trình pháp PAGEREF _Toc204009751 \h 3

III. Hộ trì căn PAGEREF _Toc204009752 \h 5

IV. Trí tuệ về hành PAGEREF _Toc204009753 \h 10

V. Trình pháp PAGEREF _Toc204009754 \h 12

I. Nhận diện ngũ uẩn

Sư cô 1: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch thầy giáo thọ cùng toàn để đại chúng, cảm thọ của con là con đang rất là mệt, tưởng của con là tất cả các suy nghĩ đều con nhức đầu cho nên cái cảm thọ con nó đang mệt.

Sư Phụ: Tưởng gì?

Sư cô 1: Bây giờ con không có tưởng được gì.

Sư Phụ: Nhắm mắt lại đi, nhắm mắt lại xem có tưởng gì.

Sư cô 1: Con nhắm mắt lại thì cái hình ảnh của thầy ở trong tưởng của con.

Sư Phụ: Thì cái đó là cái gì?

Sư cô 1: Là tưởng

Sư Phụ: Rồi hành gì?

Sư cô 1: Con đang suy nghĩ về những hình động của thầy.

Sư Phụ: Rồi lúc đó thức ra sao?

Sư cô 1: Dạ cái thức của con biết rõ là thầy đang hiện hữu ở lớp học của con.

Sư Phụ: Thức là biết được cái gì?

Sư cô 1: Dạ biết rõ được sắc; thọ; tưởng; hành.

Sư Phụ: Thầy nhận diện ngũ uẩn trong thời gian nghỉ học vừa qua.

Sư thầy 2: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên thượng tọa giáo thọ sư và quý huynh đệ đồng học, con xin nhận diện sắc; thọ; tưởng; hành; thức ngũ uẩn trong kỳ nghỉ học vừa qua. Vừa qua là vào ngày chủ nhật tuần rồi, con cơ thể không có được khỏe, do làm việc bị trúng mưa nên là cơ thể không khỏe, nó mệt mỏi, đau nhức, đó là thọ của con. Tưởng của con là những hình bóng mà con tiếp xúc, chẳng hạn như khi những cô chú Phật tử về chùa nói chuyện thì những cái hình bóng của họ còn lưu trú, những cái hình ảnh đó cũng như những cảnh vật như bông hoa, cây cảnh cũng còn lưu trú ở trong tâm của con, đó là tưởng. Còn hành là những cái suy nghĩ, khi con bị bệnh có những cái tư tưởng không có được tích cực là lười biếng, chỉ muốn ngủ thôi không có muốn học tập cũng như là công phu nhiều. Thức con thì rõ biết về thọ; tưởng; hành, rõ biết về cái sắc của mình nó đang buồn bã, đang mệt mỏi, đau nhức đó.

Sư Phụ: Trong khi bệnh thầy có quán chiếu không?

Sư thầy 2: Dạ trong khi con bệnh thì con ít có quán chiếu, lúc đó là cơ thể mệt mỏi nên đa phần chỉ muốn nằm để cho cơ thể được hồi phục, nó khỏe thôi.

Sư Phụ: Từ khi đầu bệnh tới lúc cuối bệnh diễn biến cảm thọ như thế nào thầy có biết không?

Sư thầy 2: Dạ từ lúc khởi bệnh thì cơ thể sẽ bị nóng sốt do bị nhiễm mưa, sau khi nóng sốt uống thuốc vô thì nó hạ được chút xíu, huynh đệ cạo gió thì cơ thể được nhẹ nhàng chút xíu rồi xong cũng nóng lạnh trở lại, cơ thể rất là mệt mỏi, uể oải và cái cảm thọ đó dai dẳng cỡ hai ngày.

Sư Phụ: Hai ngày mà không có như lý tác ý, không có quán chiếu gì hết? Trong suốt cái thời gian bệnh không có thiền quán, không có tác ý, không có chiêm nghiệm, không có đem pháp ra thực hành. Có lúc nào thực hành không?

Sư thầy 2: Cũng có tác ý mà tác ý cái cảm thọ mạnh quá nên tác ý không xi nhê gì hết.

Sư Phụ: Tác ý ra sao?

Sư thầy 2: Tác ý cảm thọ là vô thường, đừng có đau nhức nữa, đừng có mệt mỏi nữa, cũng tác ý một vài lần nhưng mà thấy nó cũng…

Sư Phụ: Thầy tác ý như vậy đâu có đúng chiều hướng, bệnh là phải tác ý "cái thân này là ổ chứa nhóm bệnh hoạn, cái thân này là nơi đồn trú của tất cả những thứ bệnh hoạn, cái thân này là mong manh, là dễ vỡ, là dễ hoại, là dễ tan, dễ nát. Thân này do cha mẹ sanh, do tứ đại tác thành, do cơm cháo nuôi dưỡng, vô thường, biến hoại, hủy hoại, hoại diệt". Thầy phải tác ý vào cái sự nhàm chán, ly tham đối với thân, phải triển khai thiền quán về tứ đại, quán ba mươi hai thể trược, quán chín giai đoạn tử thi, phá cái thân kiến, phá cái sắc thủ uẩn, cái tâm nắm chặt vào thân trong cái lúc bệnh thì cái lúc bệnh chính là cơ hội để làm bài tập, chính là cơ hội để tu tập, chính là cơ hội để làm bài thi, chính là cơ hội để cho mình vượt lên những cái cấp độ tu tập thâm sâu của trí tuệ về quán thân ở trên hơn thân, Thân Hành Niệm cho nên khi bệnh mà không biết quán tu là uổng lắm, rất là uổng.

Bệnh chính là chỗ rất thuận lợi để cho mình quán tại vì lúc mình khỏe thì mình quán ai đâu á, còn giờ bệnh nó đang ngay diễn ra trên thân, chính mình thấy, chính mình biết, chính mình cảm thọ, chính mình thức tri. Cho nên những cái cơ hội bệnh đó là cơ hội để mình tu tập, mình tăng thượng, nắm bắt những cái cơ hội đó mình tu, chứ hai ngày mà không có quán gì hết là rất uổng.

II. Trình pháp

Sư thầy 3: Nam mô bổn sư Thích-ca Mâu-ni Phật, kính bạch trên thầy giáo thọ cùng các thầy cô, trong thời gian con nghỉ học môn pháp hành Nikāya nay thì ở chùa của con Tăng chúng cũng ít cho nên công việc cũng nhiều. Đôi khi sự hành trì với lại công cung quả cũng hơi nhiều cho nên thời gian nghỉ ngơi cũng ít, đôi khi con cũng có sanh cái tâm phiền muộn cũng như mệt mỏi, cũng có đôi lúc mình có tâm chán nản tại vì công việc áp lực mình quá cho nên đôi khi mình cũng không muốn làm việc để mình nghỉ ngơi. Nhưng mà công việc ngày nào cũng vậy cho nên cũng cố gắng để vượt qua.

Những lúc con có cái tâm chán nản thì con cũng có tác ý là mình phải cố gắng, cố gắng hơn nữa vì cuộc sống của mình rất là tạm bợ, mong manh, rất là vô thường nên mình cố gắng công phu, công quả để tăng trưởng phước lành cũng như việc tu tập của mình.

Sư Phụ: Trong suốt thời gian cả tháng như vậy thầy có thực hành pháp gì không? Cái pháp nào thực hành nhiều nhất, thực hành như thế nào?

Sư thầy 3: Dạ mô Phật thầy, ở chùa con chỉ có tụng kinh và niệm Phật.

Sư Phụ: Và ngoài cái giờ đó là tu là sao, có tu không?

Sư thầy 3: Dạ mô Phật ngoài giờ đó ra con cũng soạn bài cũng như là học bài để mình thực tập diễn giảng.

Sư Phụ: Trong suốt một tháng vừa qua cái gì là ấn tượng nhất ở trong tâm của thầy? Có điều gì ấn tượng nhất trong tâm của thầy không? Trong suốt mấy tháng vừa qua ấn tượng về pháp, về sự tu tập hành trì là gì? Cái thiện pháp nào nổi trội nhất, cái bất thiện pháp nào là nó rõ rệt nhất, ấn tượng nhất trong thân tâm của mình?

Sư thầy 4: Một tháng vừa qua thì con được thầy trụ trì nhờ đi cái hai cái đám tang của Phật tử ruột của thầy trì. Một người thì con được tiếp xúc, trước khi chú này mất là một người từ trước tới giờ thì họ không có đi chùa, nhưng mà vợ con của họ thì đi chùa, khi họ nằm trên giường bệnh, những lúc họ nằm thoi thóp thì con lại nói với chú, giống như là mình nhắc nhở với chia sẻ cho chú một vài điều. Ngay lúc đó trong tâm con suy nghĩ một điều tại sao lúc mình còn khỏe, mình còn đầy đủ sự sáng suốt, tại sao mình không tu tập để lúc cận kề với sanh tử thì lúc đó hoảng loạn. Con nhìn vào thân xác của chú lúc đó rất là đau đớn, những lúc đó con nghĩ cảm thọ của họ gọi là khổ thọ.

Từ cái bệnh của chú đó thì con nghĩ lại cho bản thân con và con suy nghĩ những hình bóng trong tâm của mình, những cái lúc mình giận hờn, mình trách móc, những lúc mình sân si thì như con nhìn cá hình ảnh của chú đó thì con nghĩ cuộc sống này sao nó quá ngắn ngủi mà mình không chịu tu tập, không chịu làm một việc gì để cho có ích cho bản thân và cho phật pháp. Suốt ngày chúng ta cứ sống theo bản năng của mình, suốt ngày mình vui theo những cái giả tạo, con suy nghĩ trong tâm của con nếu mình không tu tập thì những lúc như vậy, những cái biến cố của cuộc đời khi mình gặp thì mình cũng y chang như chú này vậy thôi.

Ngay lúc đó những cái những cái tâm giải đãi của con, những cái tâm hơn thua, những giận hờn của mình đối với những đối tượng đã làm cho mình buồn, làm cho mình giận, thì lúc đó những cái tâm tiêu cực dần tan biến. Đám thứ hai thì trong lúc mà đi đưa đám về có một cô đó con của bà cụ mất nói với con một câu rằng "Chào thầy về nha, mong rằng là tụi con không có gặp lại thầy lần nữa", con nghe được câu đó trong tâm của con ngay đó có một chút gợn, khó chịu và đâu đó có một chút buồn. Ngay lúc đó những cái suy nghĩ, những cái hình bóng trong tâm hiện về, tại sao một cái đạo Phật rất là rất, một cái đạo giúp cho con người mình giải quyết những cái khổ đau và chính bản thân con cũng học tập, không phải họ nhìn ở khía cạnh là một vị thầy chỉ suốt ngày lo việc cúng tế.

Ngay cái lúc đó thì cảm thọ của con là khổ, trong tâm con lúc đó có một chút xíu buồn và một chút gọi là hơi nóng, tại vì họ nói không đúng về con người của mình, nhưng mà con nghĩ nếu lúc đó mình nói ra những cái điều gì để đáp trả lại câu nói của cái cô, mình với cái tâm sân si thì ngay lúc đó mình không phải là một tu sĩ đàng hoàng nữa mà mình sẽ y chang như lời của cái cô đó nói. Ngay lúc đó cái suy nghĩ trong tâm của con là thương cô nhiều hơn tại vì cô chưa có thật sự hiểu mình và chưa có thật sự có cái nhìn đúng về đạo Phật. Sau đó con lắng cái tâm sân hận của mình, cái tâm buồn của mình xuống một chút để con nói những lời nhẹ nhàng với cô để giải thích "chúng tôi không phải là như vậy mà chúng tôi đến vì một cái gọi là trả ơn, từ hai mươi mấy năm các vị cũng đã có cái duyên với chùa và cũng có đóng góp cho chùa. Hôm nay gia đình có hữu sự thì chúng tôi đến".

Bên cạnh đó không phải là đến với cái việc cúng kiến nhưng sau đó có chia sẻ một vài vấn đề về cuộc sống vô thường, và cũng có nhắc nhở nhắc nhở cho họ làm những điều thiện, khuyên họ tu tập để họ giải quyết, họ đem cái phước đó để họ hồi hướng cho người mất, cũng đem cái phước đó, đem sự tu tập để giúp cho họ trong cuộc sống hiện tại. Ngay sau buổi đó thì đến buổi cúng thất thì họ nhìn con và họ đối xử với con một cách gọi là thân thiện hơn, họ lại gần kế bên nói "tụi con cảm ơn thầy, nhờ thầy mà tụi con hiểu ra được một phần nào", lúc đó trong cái thọ của con có lạc thọ tại vì mình thấy hoan hỉ, mình vui khi họ nói được những lời đó. Thành ra trong lúc đó những cái giận hờn, những cái buồn đối với họ trong tâm của con tan biến đi.

Sư Phụ: Rất là tốt, chúng ta cho tràng vỗ tay lớn đi. Mình phải thực tập, chiêm nghiệm về pháp, mình phải khéo như lý tác ý, khéo tác động tâm ý của mình bằng những lời Đức Phật đã dạy, bằng trí tuệ mà mình đã được học khi mình gặp chuyện, khi mình tiếp xúc. Trong mọi cái sinh hoạt hằng ngày làm sao mình phải thấy được pháp ở trong đó, không phải đợi tới lúc mở sách ra mới thấy pháp, lên lớp mới thấy pháp. Phải thực tập, hiện giờ ngồi có pháp không ạ? Hiện bây giờ có pháp gì đang diễn ra?

Sư thầy 5: Dạ mô Phật, bạch thầy hiện tại con thấy được cảm thọ của con là cảm thọ lạc và con đang nhớ lại những lời của thầy dạy trong những tiết học trước. Đôi khi con không nhớ nhiều nhưng mà những lời dạy để cho con giải quyết những cái tham lam, những cái sân hận của mình khi nó xuất hiện thì con lại nhớ lại lời dạy, và trong lòng con có một cái gì đó gọi là phấn khích trong mỗi tiết học như vậy. Mỗi lần như vậy tự nhiên trong tâm của con có một cái gì đó, một cái động lực gì đó thôi thúc để con trú tâm và muốn học cái tiết học này, thời gian sẽ nhiều hơn, nhìn lại chính mình nhiều hơn. Lúc này thân, khẩu, ý của con trong hiện tại đang chỉ hướng về một hướng và đặt hết những cái của mình, đặt hết thân, khẩu, ý của mình và trong lớp.

III. Hộ trì căn

Sư Phụ: Cái sự học Phật của chúng ta là cái sự quay trở về thân tâm của chính mình, làm sao mà lúc nào mình cũng thấy được cái thân này nó đang như thế nào, cảm giác này nó đang như thế nào, hình bóng trong tâm đang có hình bóng gì, đang có suy nghĩ gì, đang có nhận thức gì. Khi mình biết được những điều đó nó diễn ra tức là mình đang biết được mình, còn cái tâm bình thường vô văn phàm phu là một cái tâm hướng ngoại, luôn luôn lúc nào cũng nhìn ra ngoài. Thí dụ như một cái âm thanh đó, nếu mình không có an trú cảm giác toàn thân ở nơi thân tâm của mình, nghe một cái âm thanh khó chịu là bắt đầu mình hướng ra bực bội. Nếu mình hướng tâm ra ngoài chỉ cần nghe cái tiếng đó thôi là mình thấy khó chịu rồi, nhưng nếu mình biết quay trở về cảm giác toàn thân, mình có một sự nhiếp phục và chế ngự cảm thọ của mình, chuyện người ta thì người ta làm, chuyện mình thì mình làm.

Tại sao mình đem chuyện ở bên ngoài đưa vô mình cho mình mệt, cho mình khó chịu? Mình có tập một cái sự an tịnh, lắng dịu ở trong cái cảm thọ của mình, đó là một ví dụ điển hình, thực tế ngay hiện tại, còn nhiều cái khác nữa. Chúng ta có nhớ thực tập cảm giác toàn thân không hay là quên hết rồi? Trong lúc bệnh mình tu như thế nào? Về mở loạt bài "Làm an tâm người bệnh" lên xem, đó là bài học ngoại khóa và những tiết sau vô chúng ta phải trình pháp. Bệnh thì phải tu như thế nào, nếu mình bệnh mình cũng than, cũng rên, cũng đau giống như người ngoài đời vậy thì mình tu có lợi ích gì? Uổng công mình tu, nếu mà mình tu ba năm, năm năm, mười năm, mười lăm năm mà mình bệnh mình cũng rên đau giống như người đời vậy tu làm gì? Không có gì khác với người không tu cho nên mình phải có một cái trí tuệ đối với thân tâm này.

Điều hết sức quan trọng là sự nhiếp phục và chế ngự căn của mình, phòng hộ các căn, bảo vệ các căn, nhiếp phục và chế ngự các căn, không có để cho mắt; tai; mũi; lưỡi; thân; ý của mình luôn luôn lúc nào cũng chạy ra bên ngoài, hướng ở bên ngoài, rong ruổi ở bên ngoài. Mỗi khi mắt thấy sắc, tai nghe tiếng, mũi ngửi mùi, lưỡi nếm vị, thân xúc chạm, ý nhận thức các pháp thọ; tưởng; hành bên trong là mình đều phải quay trở về chính mình, coi bên trong của mình thiện hay là bất thiện, không phải chỉ đơn thuần nhận diện là bây giờ con có cảm giác khó chịu, con có hình bóng vậy đó, con có suy nghĩ vậy là xong. Không phải, không có dừng lại ở đó mà bây giờ trong cảm giác, trong hình bóng, cái suy nghĩ nó là bất thiện, nó là ác pháp thì phải xử lý.

Bây giờ ở nhà mình con mèo, con chó ị một đống phân ngay trước cửa, mình cứ đi vô ra, cứ ngồi đó, mình để vậy thôi hay sao? Mình phải đi quét, đi hốt, chẳng những quét hốt mà còn lau chùi, tẩy rửa, thậm chí là xịt mấy cái nước cho hết mùi đó. Như vậy căn phòng, căn nhà, ngôi chùa mình biết vệ sinh mà tại sao cái tâm mình không biết vệ sinh? Tại sao không biết vệ sinh cái tâm mình? Không biết lau chùi, quét dọn, tẩy sạch cái tâm của mình? Nếu mình muốn vệ sinh cái tâm mình, lau chùi, quét dọn, tẩy sạch cái tâm của mình thì mình phải biết quay trở về nhìn tâm thường xuyên. Mình không có nhìn tâm mình cứ nhìn cảnh thì làm sao mình thấy được cái tâm nó dơ, nó bẩn, nó uế nhiễm, nó cấu nhiễm, nó ô nhiễm.

Cho nên trong sự tu mà mình muốn tu cho tiến bộ, mình muốn tu có sự tăng thượng, tăng trưởng thì cái hết sức quan trọng là phải chế ngự và nhiếp phục được cái tâm hướng ngoại. Nếu không nhiếp phục được cái tâm này là không có tu được, khi chúng ta đó nhận diện thì tại cái này, tại cái kia, tại cái nọ, bệnh tu không được, làm công việc tu không được, bận rộn đi học bài tu không được, như vậy là mình chưa có sâu sắc về pháp. Bây giờ mình còn trẻ, còn khỏe, còn thanh thiếu niên, mình bệnh chút xíu cảm đó thôi mình chịu không được rồi lúc mình đối diện với cái chết thì sao mình chống lại được? Lúc mình đối diện với cái chết, với tai nạn thì làm sao mình bình tĩnh được? Mình tu là để làm gì? Mục đích cuối cùng của mình là cái gì? Mình có thể liễu sanh thoát tử, tâm mình thấu rõ được cái bản chất sanh tử và tự tại trong cái sống chết đó.

Bây giờ bệnh có chút là mình mất pháp hết, mình không có pháp gì hết rồi mai này bệnh nặng ra sao? Bệnh trầm kha rồi sao? Tai nạn đến thì sao? Đối diện cái chết lúc đó thế nào? Cho nên sự tu học của chúng ta như vậy còn rất yếu kém, rất là yếu kém và chúng ta phải cố gắng thật nhiều trong pháp học, pháp hành. Phải cố gắng thật là nhiều trong pháp học, pháp hành, làm sao phải đem cái pháp đặt lên trên đầu của mình, làm bàn thờ của mình, làm hơi thở của mình, làm sinh mạng của mình, làm lẽ sống của mình, không có lúc nào mà không thấy pháp. Mình học đạo là học cái gì? Sanh, già, bệnh, chết, sầu, bi, khổ, ưu, não, sanh này là khổ, sanh này là khổ, già là khổ, bệnh là khổ, chết là khổ, xa lìa người yêu thương là khổ, gặp gỡ người oán ghét là khổ, mong cầu không được là khổ, năm thủ uẩn là khổ, sự nắm giữ vào trong sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là khổ đau.

Bản chất của sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là đau khổ, bây giờ tới chừng bệnh cái khổ rõ ràng như vậy mà lúc đó mình không thấy. Pháp mất tiêu rồi, đâu có pháp đâu, lúc đó mình lo rên, lo đau, lo buồn, lo chán, lo muốn làm sao phải lẹ lẹ thoát ra cái cảm giác này đi cho nó khỏe, giờ cảm giác này mệt quá. Lúc đó mình có một cái tôi đang bệnh chứ không thấy được pháp là tứ đại, nó đang bất hòa, sắc pháp đang biến đổi, biến hoại, vô thường. Lúc đó mình cảm nhận, mình chiêm nghiệm, mình quán chiếu, mình gặm nhắm, mình thấm thía, mình thấm đẫm, mình thấm nhuần, mình thấm gội ở trong thánh trí tuệ về khổ. Nó thấm từ làn da, thớ thịt, đi vào trong xương, tủy, não của mình, đây là khổ, khổ là đây, mang một cái thân máu mủ, mỡ, thịt này, cái xương da này là đau khổ, là bất an, là lo lắng, là khổ sầu, là sợ hãi, là tai nạn, là bệnh hoạn, là hoạn nạn, là khốn nạn, là khổ nạn, ách nạn, hiểm nạn, là nguy nan, là tai họa. Mình phải mang vác một cái thân bệnh hoạn như vậy, đau đớn như vậy, khó chịu như vậy, bất an như vậy, đáng nhàm, đáng chán như vậy, lo lắng như vậy, mệt mỏi như vậy.

Lúc đó mình triển khai thiền quán ngay trên giường bệnh, thánh trí rực sáng, tỏ sáng, chiếu sáng, bừng sáng, chói sáng trên giường bệnh. Nếu ngay chỗ đó mình có ra đi là mình đi thẳng lên thánh đệ tử thiên, là chư thiên thánh nhân, lúc đó tâm mình ly dục, ly ác bất thiện pháp, lúc đó mình an trú vào thánh trí tuệ thì mình đi phải lên thánh quả, thánh đạo. Ngược lại mình nằm đó rên, mình đau, "Trời ơi tôi khổ quá, Tôi bệnh quá, tôi mệt quá", nếu mình chết là mình đi vô trong cõi phàm, những cái cảnh khổ. Tại vì có một cái tự ngã đang bệnh, có một cái ta đang bệnh, có cái tôi đang bệnh mà không thấy rằng đây là ngũ uẩn.

Trong Tương Ưng Uẩn có một ông lớn tuổi đi đến Đức Phật, bạch Thế Tôn con lớn tuổi, con đã già, con đã tới tuổi trưởng lão, trưởng thượng rồi, xin Thế Tôn hãy dạy cho con vắn tắt để con tu. Này gia chủ ông phải tác ý như sau, dầu cho thân tôi có bệnh nhưng mà tâm tôi không có bệnh, này gia chủ nếu như một người nào suy nghĩ rằng tôi không có bệnh dầu chỉ trong giây lát người ấy là kẻ ngu. Này gia chủ ông hãy học tập như sau, dầu cho thân tôi có bệnh nhưng mà tâm tôi không có bệnh.

"Một thời Thế Tôn sống giữa dân chúng Bhayga, tại núi Cá Sấu, rừng Bhesaka, vườn Nai.

Rồi gia chủ Nakulapità đi đến Thế Tôn; sau khi đến, đảnh lễ Thế Tôn rồi ngồi xuống một bên.

Ngồi xuống một bên, gia chủ Nakulapità bạch Thế Tôn:

-- Bạch Thế Tôn, con đã già, tuổi lớn, trưởng lão, cao niên, đã đạt đến tuổi thọ, thân bịnh hoạn, luôn luôn ốm đau. Bạch Thế Tôn, con không được thường thấy Thế Tôn và các vị Tỳ-kheo đáng kính. Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy giáo giới cho con! Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy giảng dạy cho con! Nhờ vậy, con được hạnh phúc, an lạc lâu dài.

-- Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thật sự là vậy, này Gia chủ. Thân của Gia chủ, này Gia chủ, là bịnh hoạn, ốm đau, bị nhiễm ô che đậy. Ai mang cái thân này, này Gia chủ, lại tự cho là không bịnh, dầu chỉ trong một giây phút; người ấy phải là người ngu! Do vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập như sau: 'Dầu cho thân tôi có bịnh, tâm sẽ không bị bịnh'. Như vậy, này Gia chủ, Gia chủ cần phải học tập." (Tương Ưng Uẩn, Tập III - Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (a), A. Năm Mươi Kinh Căn Bản, I. Phẩm Nakulapità, I. Nakulapità)

Chúng ta thấy không? Làm sao mình có được những cái tác ý này nếu mình không nghe pháp, mình không nghe lời Đức Phật, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, mình chưa từng nghe, chưa từng học, chưa từng đọc, chưa từng ghi nhớ thì làm sao mình có tác ý, mà mình không có tác ý sao mình quán chiếu, không quán chiếu thì làm sao sanh trí tuệ. Đó là lý do tại sao Đức Phật gọi đệ tử của ngài là Đa văn thánh đệ tử, đệ tử Phật là những người nghe nhiều trí tuệ của bậc thánh ở trong kinh tạng Nikāya, những lời nguyên chất của Đức Phật. Lúc nào mà mình cho rằng mình còn trẻ, mình còn khỏe, mình dễ gì bệnh, biết chừng nào mình già, mình chết, mình nghĩ như vậy là mình đang ngu.

Bây giờ hãy học tập như sau thân tôi có bệnh mà tâm không có bệnh, nếu mình tác ý được như vậy mạnh mẽ mình có thể đang bệnh nhưng vẫn ngồi thiền được, vẫn nghe pháp được, vẫn quán chiếu được bởi vì cái thân người tứ đại nó bệnh, sắc uẩn nó bệnh chứ cái tâm không có bệnh, cái trí không có bệnh, cái tuệ không có bệnh. Mới bệnh chút xíu là trầm cảm, là chìm vô trong cái cảm giác bệnh, may là còn trẻ, mới hai mươi mấy ba mươi thôi, sau này bảy mươi tuổi thì làm sao? Cho nên hãy học tập "thân tôi dầu có bệnh mà tâm tôi không có bệnh", phải nhớ cái câu này vì đây là một cách để mình tác ý, quán chiếu, để mình đừng có bị trầm cảm trong cơn bệnh, tức là mình bị chìm vô trong cái cảm giác đau bệnh đó không đi ra khỏi, ai hỏi cũng tôi bệnh, tôi mệt, đi đâu cũng cho biết mình bệnh. Nói ra để làm gì? Thích yếu ớt lắm hả? Thích bệnh hoạn lắm hả? Thích người khác quan tâm lắm hả? Không cần, mạnh mẽ lên, vững trú lên, sống ở trong cái trí bất tử.

Trí tuệ là bất tử, không có bệnh, chỉ có cái thân bệnh thôi, mình cứ trú tâm vô cái thân này thì mình có già, bệnh, chết, trú tâm vào cái trí tuệ bất tử thì mình liễu sanh thoát tử, an trú vào cái trí tuệ đó. Khi mình tác ý như vậy mạnh lên chưa? tinh thần bây giờ có khác với hồi nãy không?

Sư cô 6: Dạ có.

Sư Phụ: Khác như thế nào?

Sư cô 6: Dạ kính bạch thầy giáo thọ cùng toàn thể đại chúng, chắc là con khỏe hơn hồi nãy rồi.

Sư Phụ: Khỏe hơn bao nhiêu phần trăm?

Sư cô 6: Hồi nãy con nhức đầu nhưng nghe giảng nãy giờ thì hết nhức đầu luôn rồi ạ.

Sư Phụ: Cho tràng vỗ tay lớn đi, Đức Phật nói tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi cho nên cái suy nghĩ của mình mới làm sanh khởi ra cái pháp đó. Thí dụ mình làm công chuyện mà mình nghĩ "mệt quá, mệt quá" là một lát mình mệt làm không nổi. Nhưng khi mình làm rất mệt nhưng lại tác ý rất khỏe, làm được, không sao hết là mình làm được, cho nên tất cả pháp lấy tác ý làm sanh khởi.

Sư thầy 7: Dạ mô Phật, nãy giờ con nghe bài pháp của thầy thì con đã cảm thấy khỏe hơn trước.

Sư Phụ: Cho tràng vỗ tay lớn đi, thầy diễn tả thêm sự vận hành của tâm, thọ; tưởng; hành ở trong đó như thế nào.

Sư thầy 7: Nãy giờ những lời pháp con nghe qua tai thì tự nhiên thấy thân tâm khoan khoái, nhẹ nhàng, vui vẻ và không có chìm vô những cảm giác khó chịu đó nữa, thấy tâm mạnh mẽ hơn, nó không có yếu giống như lúc mình không có tác ý.

IV. Trí tuệ về hành

Sư Phụ: Cho tràng vỗ tay lớn, phải học thuộc hai câu kinh này một ngàn lần, mười ngàn lần, "tất cả pháp lấy cảm thọ làm chỗ hội tụ, làm chỗ quy tụ". Câu này rất là quan trọng cho nên mình nhớ hồi xưa mình đi năm non bảy núi, núi Cấm, núi Yên Tử, đi mệt lắm, xa lắm, đường dài lắm, núi cao lắm, nhiều khi có những chỗ chục cây số mà người lớn kêu mình phải nói là khỏe, không được nói mệt, khỏe quá, cuối cùng là đi tới. Đó là tác ý, khi mình gặp chuyện khó thì đừng có nghĩ rằng cái này khó mà phải nghĩ là dễ, làm được, phải làm được thì cái khó biến thành dễ. Nhiều khi mới vào tu, mới chỉ cho mình đi giữ giới thì nghĩ "trời, giới giữ khó quá, thiền định sao ngồi được trời, cái thánh tuệ này bậc thánh mới làm chứ mình phàm sao làm", thánh thì còn tu gì nữa cho nên những cái suy nghĩ như vậy gọi là phi như lý tác ý, tức là sự suy nghĩ không có trúng, nghĩ sai, nghĩ trật, nghĩ lầm, nghĩ lạc, nghĩ quấy, nghĩ vậy là đưa mình đi xuống, không có tu học được nên phải có cái sức mạnh ở trong cái suy nghĩ.

Hôm nay chúng ta đi qua bảy trí về hành, là những tư duy, suy nghĩ, nói thầm, nghĩ thầm ở trong tâm và cái suy nghĩ này nó rất là quan trọng, nó cực kỳ quan trọng, nó quyết định hết tất cả.

"Này các Tỳ-kheo, thế nào gọi là hành? Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi nên gọi là hành. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi gì? Làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, làm cho hiện hành thọ với thọ tánh, làm cho hiện hành tưởng với tưởng tánh, làm cho hiện hành các hành với hành tánh, làm cho hiện hành thức với thức tánh. Làm cho hiện hành (pháp) hữu vi, này các Tỳ-kheo, nên gọi là các hành" (Tương Ưng Bộ, Tập III. Thiên Uẩn, Chương I. Tương Ưng Uẩn (d), III. Phẩm Những Gì Được Ăn, VIII. Đáng Được Ăn)

Chúng ta thấy cái suy nghĩ nó làm hiển lộ ra sắc; thọ; tưởng; hành; thức, chính cái suy nghĩ biểu hiện ra ngũ uẩn. Câu kinh này có nghĩa là: Những tư duy, suy nghĩ đã làm cho sanh khởi, làm cho hiện hành ra sắc, thọ, tưởng, hành, thức với bản tánh là duyên sanh và vô thường, hoại diệt. Hữu là có, vi là thấy. Hữu vi là những pháp có thể thấy biết và có thể trình bày rõ sự sanh khởi, sự an trú và sự hoại diệt của chúng. Khi nói pháp hữu vi là nói về năm uẩn. Ngũ uẩn là những pháp có thể thấy biết và có thể trình bày rõ sự sanh khởi, sự an trú và sự hoại diệt của nó. chỗ này là chỗ hết sức quan trọng mà chúng ta không nắm được cái này thì sự tu của mình không có đi tới đâu hết.

Tu là phải dùng cái suy nghĩ để tu chứ không phải tu là không cho suy nghĩ, khi mình tập thiền chỉ, khi mình tập thiền định là lúc đó mình làm cho cái suy nghĩ của mình nó an tịnh, lắng dịu xuống là thiền chỉ để cho cái tâm mình lắng dịu xuống, nó bớt nghĩ lan man. Nhưng một mặt thiền quán là mình phải làm cho sanh khởi những cái suy nghĩ chân chánh, đúng pháp, những cái suy nghĩ trí tuệ chứ không phải tu là không có suy nghĩ. Phải chánh tư duy là để đâu? Chánh Tư duy là cái suy nghĩ đúng, còn gọi là suy nghĩ của bậc thánh, là thánh tư duy, không phải thánh là không có suy nghĩ mà là suy nghĩ đúng, suy nghĩ chân chánh, suy nghĩ đên đưa đến lìa tham, lìa sân, lìa si, suy nghĩ lìa vô minh, lìa dục ái, lìa bản ngã. Như vậy gọi là suy nghĩ của bậc thánh, gọi là chánh tư duy, gọi là thánh tư duy, là suy nghĩ chân chánh, là suy nghĩ đúng.

Cho nên ở đây chúng ta mới thấy suy nghĩ của mình là rất quan trọng ở trong sự tu, chúng ta không biết vận dụng cái suy nghĩ này để tu là coi như mình tu không có đi tới đâu, cứ ngồi thừ lừ như ông Địa, cứ ngồi đó hoài. Bây giờ trong nhà cứt mèo, cứt chó, cứt chuột, chó chết, chuột chết, gián chết, mèo chết, hôi thối, dơ bẩn mà cứ ngồi im ru như vậy, biết nó chết được rồi, tự động nó rã ra thôi thì làm sao được. Phải đi hốt, đi dọn, đi quét, đi rửa, đi tẩy, đi chà chứ đâu phải mình ngồi im ru đó mà tự động mấy cái phân, mấy cái xác chết đó được sạch cho nên có chánh tư duy là có chánh tinh tấn, nỗ lực làm việc, tác động tâm ý, tư duy, suy nghĩ để từ bỏ.

Làm cho hiện hành các pháp hữu vi là làm cho hiện hành sắc với sắc tánh, thí dụ mình nhìn cây hoa lan thì trong đầu mình nghĩ "đây là lan hồ điệp, một tháng mới tàn", cái suy nghĩ đó là nó làm cho hiện hành sắc với sắc tánh. Lan hồ điệp có phải là sắc pháp không? Một tháng nữa nó tàn có phải là vô thường không, biến hoại, hoại diệt không? Đó là cái suy nghĩ nó làm cho hiển lộ sắc với sắc tánh, sắc và cái tính chất của sắc được hiển lộ ở trong cái suy nghĩ của mình, trong cái tư duy của mình. Nhờ cái suy nghĩ đó mà nó hiện hành ra ngũ uẩn nó biểu hiện ra ngũ uẩn, nó thể hiện ra ngũ uẩn, nó thể hiện ra tất cả các pháp.

Chẳng hạn như nói "Dạ thưa thầy, bữa nay con bệnh" thì cái câu nói đó ở trong cái suy nghĩ hiển lộ sắc chới sắc tánh là sao?

V. Trình pháp

Sư cô 8: Con là sắc, bị bệnh là bản tính của sắc là bệnh hoạn, là tan hoại, là biến hoại, là huỷ hoại, là hoại diệt.

Sư Phụ: Trong cái suy nghĩ của mình làm hiển lộ ra ngũ uẩn, nó làm hiển lộ ra cái bản tánh, cái tánh chất của ngũ uẩn. Nãy giờ cảm giác của sư cô là sao?

Sư cô 9: Dạ mô Phật, bạch thầy cảm giác của con thấy an lạc, nghe những lời pháp của thầy vừa giảng qua con cũng ngộ ra những sắc; thọ; tưởng; hành; thức đó là vô thường.

Sư Phụ: Có thấy rõ vô thường không? Bây giờ ci cảm giác của con nãy giờ an lạc khi nghe pháp nhưng khi nghe giảng con cũng thấy được ngũ uẩn này, sắc; thọ; tưởng; hành; thức này là vô thường, vô ngã, thì như vậy có đầy đủ thọ với thọ tánh. Cái cảm giác là thọ, cái tính chất của cái cảm giác này nó có đổi thay, nó biến đổi, nó biến hoại, nó vô thường thì đó là biểu hiện thọ với thọ tánh. Nãy giờ trong tâm thầy có hình bóng gì?

Sư thầy 10: Dạ mô Phật, kính bạch thầy nãy giờ khi con nghe thầy giảng có những lúc thầy đánh cái chuông thì trong những tiếng thầy đánh chuông có một cái tiếng nó trầm, con nghe cảm thấy rất là êm nhưng có những cái tiếng đánh hơi chát thì nghe giống như thầy nói là không có an trú trong cái tâm, không có đối trị được cái tiếng chát đó. Thành ra khi thầy hỏi con có hình bóng thì con không có nghĩ tới.

Sư Phụ: Làm sao không có? Thầy nhắm mắt lại nhìn vô trong tâm.

Sư thầy 10: Dạ hình bóng khi à thầy hỏi các huynh đệ trình pháp một tháng vừa qua thì con cũng ngồi ngẫm lại những cái hình ảnh đó. Trong thời gian qua con cũng có rất là nhiều chuyện nên khi thầy hỏi thì những cái đó cũng ùa về.

Sư Phụ: Nhưng mà cụ thể đó là cái chuyện gì?

Sư thầy 10: Cụ thể là chuyện con chở một thầy kia đi khám bệnh, cái đó giống như là một cái ấn tượng phải nói là sâu sắc trong thời gian qua. Khi con chở thầy đó đi đến chỗ chuyên khám bệnh tâm thần, rất là nhiều người đến khám thì con chỉ đứng ngoài chờ người đó thôi. Trong thời gian chờ đợi cũng có quan sát những người đến khám bệnh, trong đó cũng có những cô gái trẻ và cũng có nhìn những cô đó, cái tâm cũng vận hành, có khi mình nhìn rồi có khi mình không nhìn, rồi nó thôi thúc lại nhìn và cũng có khởi tác ý lên "Ủa tại sao mà nó thôi thúc mình như vậy, rồi mình tìm gì để mà mình đối trị lại đây".

Con cũng có nghĩ tới quán bất tịnh và nhớ ba mươi hai thể trược nhưng mà không thể nào nhớ tất cả được ba mươi hai thể trược, chỉ có nhớ được một cái đầu đó là tóc, lông, răng, móng. Lúc đó con nương theo tóc, lông, răng, móng và lúc đó trong tâm lại khởi thêm nhiều cái là tóc là gì, lông là gì, răng là gì, móng là gì. Khi nhớ tới tóc thì cái tóc bày hiện ra và tự nhiên lúc đó suy nghĩ nếu mà một người không có tóc thì rất là xấu và một người không có móng thì lại hiện ra hình ảnh một thằng sư đệ của con là nó bị cùi móng thì cũng rất là xấu.

Tự nhiên lúc đó con chỉ nhớ được những cái đầu tiên của ba mươi hai thể trược thành ra con chỉ quán được một chút xíu đó thôi. Trong ngay lúc đó còn có cái ý định là về sẽ tìm hiểu kỹ về ba mươi hai thể trược này, con có ý định sẽ lên trên mạng để mà tìm kiếm hình ảnh của ba mươi hai cái đó và in ảnh ra thành ba mươi hai thứ, lại có cái suy nghĩ là dán những cái ảnh đó từng thứ, từng thứ một để nhìn rõ từng thứ, từng thứ. Khi mà có cái tâm niệm đó thì tự nhiên cảm thấy mình có một đường hướng để mình dấn thân đi trên con đường này, giống như tìm ra một cách mà không biết có phải là pháp tu hay không nhưng con nghĩ cũng rất là hay vì khi con nghĩ từng cái, từng cái như vậy thì mình thấy rất là rõ và mình cũng đối trị lại được cái tâm ham thích ngay lúc đó.

Khi nãy con đọc cái cuốn này, lật ra ngay chỗ cái trang đó Đức Phật nói về ba mươi hai thể trược thì hình bóng ở trong những ngày đó hiện về như vậy.

Sư Phụ: Rất là tốt nhưng mà khi thầy nhìn thấy những người trai trẻ trực tiếp là huynh đệ của mình, cho đến những cái cô gái trẻ đi khám bệnh ở trong chỗ khám tâm thần như vậy, lúc đó cảm thọ như thế nào, thầy có suy nghĩ gì?

Sư thầy 10: Dạ khi con thấy những cô đó thì rất nhiều hình dạng khác nhau, có người thì trắng trẻo, có người thì giống như nói là thon gọn. Khi mình thấy cũng có khởi tâm niệm là thích đó thầy, và thích thì thích thôi chứ cũng không có… nhưng mà con nghĩ thích cũng là lạc thọ ở trong đó rồi.

Sư Phụ: Rất là tốt, cứ trình bày sự thật nó là vậy, mấy thầy không có cười, nhiếp niệm không có cười.

Sư thầy 10: Thêm một cái nữa là tuy chỗ đó có mái che nhưng mà ngồi rất là nóng, lúc đó con có cầm một cái khẩu trang quạt. Tự nhiên mình nói "Ủa sao tự nhiên mình nóng có chút xíu mà mình cầm khẩu trang quạt quạt, thấy tự nhiên cũng mất oai nghi", không quạt nữa thì đứng lên đi tới đi lui, mà đứng lên đi tới đi lui thấy cũng không có oai nghi luôn. Con nhìn qua bên kia thấy có băng ghế đá mà chỗ đó có bóng cây, con qua bên đó con ngồi thì nó đỡ nóng, đó là cái cảm giác khó chịu khi nóng, còn cái cảm giác thấy mấy cô đó vô xong đi đâu mất tiêu thì mình lại có cái tâm "Ủa không biết đi đâu rồi", có sự mong cầu, thôi thúc mình, nhiều cái thôi thúc, rồi những người xung quanh đó bán hàng mình cũng nhìn.

Tự nhiên mình tỉnh lại "Ủa sao mình cứ nhìn vậy hoài" rồi mới bắt đầu nghĩ tới ba mươi hai thể trược mà con nãy con có nói thầy và có ý định tìm kiếm cái đó để quán chiếu sâu vô. Tại vì con không thể nào nhớ hết được từng cái.

Sư Phụ: Phải học thuộc lòng, phải nghe thường và học thuộc lòng mới được, ngoài cái cảm giác thúc giục nhìn, tìm, tầm, tứ, tức là cái tâm mình sẽ hướng tới đối tượng đó thì còn có cảm giác nào khác không, có suy nghĩ nào khác không? Khi nhìn những người bệnh tâm thần như vậy mình có suy nghĩ nào nữa không? Khi mình thấy những người như vậy mà bệnh tâm thần thì mình có cảm giác gì nữa không?

Sư thầy 10: Dạ con thấy thì con chỉ có cái sự tìm kiếm vậy thôi chứ không có suy nghĩ gì.

Sư Phụ: Rất là tốt, rất là tốt, cho tràng vỗ tay đi. Nhận diện ngũ uẩn như vậy đó rất là tốt, mình sẽ thấy được sự sanh khởi, an trú, vận hành của sắc; thọ; tưởng; hành; thức này, nói đơn giản là thọ; tưởng; hành của mình.

Sư thầy 11: Dạ thầy cho con hỏi một cái là khi con nghe thầy này nói về cô gái đó tự nhiên trong tâm con có một cái suy nghĩ về một cái hình bóng của một người con gái nào đó, nhưng mà có một cái này con thắc mắc, con muốn hỏi thầy khi con gặp được một người đó có một cái sắc đẹp, con vẫn quán chiếu về những cái như thầy nói là về ba mươi hai thể trược, về cửu khiếu, về những cái bất tịnh ở trong thân thể của người con gái đẹp đó. Nhưng sao cũng quán, quán một hồi mình lại thấy người đó còn đẹp hơn lúc mình chưa quán. Thầy cho con hỏi như vậy ạ.

Sư Phụ: Đúng là vậy đó cho nên có nhiều huynh đệ hồi lúc trước ở bên trường Trung Cấp nói "sao mà con quán bất tịnh nhưng mà con thấy tịnh không à", những người trình pháp đều có nói như vậy. Chỗ này là chỗ hết sức quan trọng của chúng ta cho nên chúng ta mới tu, qua cái sự trình pháp và câu hỏi của hai thầy rất nhiều cái pháp ở trong này để mình triển khai, để mình quán chiếu, để mình tu tập. Thứ nhất hồi nãy thầy nói đó là cái này không biết có phải là pháp tu không, cái câu nói như vậy làm con rất là đau lòng, chúng ta đã được nghe, đã được học không biết bao nhiêu lần đây là cái pháp quán của đức Chánh Đẳng Chánh Giác mà bây giờ mình nói không biết cái này có phải là pháp tu không thì cho thấy một cái sự học của mình hết sức là hời hợt, mình không có lòng tin đối với pháp, đối với Phật.

Câu đó làm tim con nhói lên hết, nó đau đớn, mình không có cung kính pháp, đây là cái bài học chung, không có nói đối tượng riêng, chung chung người học là vậy. Mình không có tôn trọng pháp, mình không có quý trọng lời của Đức Phật, mình không có tôn trọng tuyệt đối Đức Phật cho nên cái pháp Đức Phật dạy mà mình giờ còn hỏi cái này không biết có phải là pháp tu không. Vậy hằng ngày mình vô trước chánh điện, mình lạy tượng Phật đó là lạy cái gì? Hằng ngày mình mở kinh mình tụng, mình đi học vậy là học cái gì? Chính những cái đó là chúng ta được học rất là nhiều lần, đã học qua thánh trí về sắc uẩn, bây giờ tới trường hợp đó mà mình nói là không biết cái này có phải pháp tu không, nghi ngờ về pháp, đây là một trong ngũ cái, năm triền cái che đậy tâm làm yếu ớt trí huệ, tác thành mù lòa, tác thành không mắt, tác thành vô trí, phân vân, nghi ngờ về pháp.

Đây là pháp tu của bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, ngài nhờ cái pháp tu này mà thành giác ngộ tối thượng, ngài nhờ cái pháp tu này mà ngài phá thân kiến, phá chấp thủ đối với sắc, phá sắc thủ uẩn. Ngài nhờ cái pháp tu này mà ngài phá đổ hết tất cả những cái tâm mê ở trong sắc thân này, ở trong cái sắc tướng này, ở trong cái sắc pháp này, ở trong cái sắc uẩn này cho nên phải xác quyết tuyệt đối đây là pháp của Đức Phật tu và mình phải tu cái pháp đó. Cái đó là điều thứ nhất phải xác quyết tuyệt đối, không có nghi ngờ, không có một chút nghi ngờ nào hết thì mình mới tu được. Bây giờ mình làm một chuyện mà mình không biết cái này làm có được hay không thì xác suất thành công bao nhiêu? Bảy mươi, tám mươi phần trăm là thất bại, đó là điều thứ nhất, phải để ý, phải tin tuyệt đối vào kinh tạng Nikāya một trăm phần trăm. Tất cả từng chữ, từng câu ở trong đó là thánh trí tuệ của Đức Phật chứng ngộ, đó là cái điều thứ nhất xác tín, quyết tín, tịnh tín bất động tức là Nhập Lưu thánh quả.

Đức Phật nói trong kinh tạng Nikāya chỉ cần tin tưởng ngài là đã Nhập Lưu thánh quả cho nên bốn dự lưu phần là tịnh tín bất động đối với Phật, đối với pháp, đối với Tăng, đầy đủ các giới là vào Dự Lưu Tu-đà-hoàn. Cho nên trong ngũ căn ngũ lực thì tín đứng đầu, đó là tín – tấn – niệm – định – tuệ, bây giờ mình cái tín đầu tiên mình có thì làm sao mình có được mấy cái sau, làm sao mình tinh tấn, nỗ lực được, mình không tinh tấn thì làm sao mình có được chánh niệm, lúc nào cũng nghĩ nhớ về cái đó hết, mình không nghĩ nhớ gì hết thì sao tâm mình tập trung để định, tâm không tập trung để quán sát sâu sắc về cái bản chất của nó thì làm sao trí tuệ phát sanh. Cho nên cái tín rất là quan trọng, đứng đầu.

Sự trình pháp của thầy rất là sâu sắc, tức là một cái sự hướng nội của thầy, sự học nhận diện ngũ uẩn như vậy là rất tốt, cố gắng thực tập và phát huy nó. Cái thứ hai mình thấy được cái đó là chỗ bệnh tâm thần, là cái chỗ mà biểu hiện ra được sự thật, bản chất của cái thân đau đớn, khổ sầu, bệnh hoạn này. Con hỏi tới hỏi lùi hai, ba, bốn lần để con chờ có một cái tương ứng với pháp mà không thấy nói, chờ cái trí tuệ của mình để mình nghiêng về cái pháp để mình thấy cái thân này là khổ đau, thân này là bệnh hoạn, là điên loạn, là điên đảo, là điên cuồng. Chờ hoài, hỏi ba bốn lần, hỏi tới hỏi luôn để nặn cho nó ra được mà nặn hoài không ra cái trí tuệ đó, chỗ này là chỗ chúng ta thiếu sót.

Chỗ đó là cái chỗ mình phải sanh khởi lên được một trí trệ nhàm chán cái thân xác này, nhàm chán cái bộ óc, bộ não, thần kinh này. Cái này là cái thứ điên, cái thứ thần kinh, cái thứ si mê, điên đảo, điên vọng, điên cuồn, điên loạn là cái thân này, là cái bộ não này, là cái tâm thức này. Nhìn vô đó mình thấy nhàm chán, ngao ngán, không có gì chắc chắn ở trong cuộc đời này hết, không có gì tỉnh táo trong cuộc này, tất cả chúng ta đều là bị thần kinh hết trừ các bậc thánh, còn tất cả chúng sanh là bị thần kinh hết. Nó là biến đổi mà mình cho nó vậy hoài, nó là nhơ nhớt mà mình cho nó là sạch sẽ, mình đam mê, nó là khổ đau mà mình cho nó là vui sướng, nó là trống rỗng, trống trơn, trống không mà mình cho nó có một cái tôi, có một cái ngã, có một cái chắc chắn, có một cái chủ thể. Như vậy vô thường cho là thường, khổ cho là vui, bất tịnh, cho là tịnh, vô ngã cho là ngã. Đó là cái bệnh thần kinh nặng nề nhất của tất cả chúng sanh, là bốn thứ điên, bốn thứ khùng, bốn thứ vô minh, bốn thứ ngu.

Đó là tứ đảo, bốn sự điên đảo của chúng sanh, vậy mình có học, mình có vốn liếng, mình có hiểu biết, mình có nhớ pháp thì tới lúc hữu sự mới triển khai thiền quán được, mới y cứ vào pháp được, mình mới tác ý được, mình mới quán sâu. Còn mình không có nghe, mình không có học, mình không có nhớ thì làm sao lúc đó mình quán, cái đó là quáng gà. Cái lỗi là mình nghe ít, còn cái đặc sắc là thầy nhìn thấy được những cảm giác thúc giục bên trong tâm, trong này có một cái thúc giục muốn nhìn, muốn tìm kiếm coi đi đâu rồi, tức là trong tâm có dục tầm, dục tứ, dục tưởng, dục tư.

Dục tầm là truy tầm, là tầm cầu, có một cảm thọ, suy nghĩ trong này thúc giục hướng tâm về đới tượng mà mình thích, muốn nhìn. Khi mà mình nhìn thấy rồi thì mình bám vào đó gọi là dục tứ, dục tưởng, dục tư là mình không gặp nữa nhưng hình bóng đó còn trong tâm, suy nghĩ về đối tượng đó hay còn gọi là pháp tưởng, pháp tư. Như vậy có cảm giác thúc giục nhè nhẹ ở trong tâm mình, cái này phải có nhận diện mình mới thấy, không có nhận diện ngũ uẩn là mình không có biết, mình chỉ biết nhìn là nhìn thôi nhưng đó lại là sự thúc giục bên trong của cảm thọ, một sự tìm kiếm, sau đó để ý cả tướng chung lẫn tướng riêng. Những điều này Đức Phật dạy rất kỹ, nắm giữ tước chung và nắm giữ tướng riêng nếu mình không có hộ trì các căn, không có nhiếp phục, chế ngự.

Nắm giữ tướng chung là người đó cao thấp, mập ốm, trắng đen thì gọi là nắm giữ tướng chung. Nắm giữ tướng riêng là có lỗ mũi cao sao, con mắt màu gì, những cái chi tiết như vậy đó là tướng riêng, còn cái tướng chung là cái tổng quát. Đó là thánh trí tuệ chứ không phải tu học không biết gì hết, tu tới đâu không biết, đi tới đâu cũng không biết, tham, sân, si cũng không biết, có nhiếp phục được chưa cũng không biết thì tu cái gì. Phải nhìn thấy được hết sự manh động, sự manh nha của cái tâm thức này, nó rục rịch, nó sục sịt, nó sanh khởi ra sao mình thấy rõ được sự vận hành, mình nhiếp phục, chế ngự và đoạn tận, tẩy sạch, diệt tận nó, đó là tu.

./.